Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

Hình tượng người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (200.47 KB, 24 trang )

1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
6. Cấu trúc đề tài
Chương 1: Giới thiệu về Nam Cao
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Nam Cao
1.2. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Chương 2: Hình tượng người nông dân trong
một số truyện ngắn Nam Cao
2.1. Người nông dân có cuộc sống đói rét, bóc lột
2.2. Người nông dân khát khao cuộc sống đầy đủ về vật chất và tinh thần
2.3. Những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng hình tượng người nông dân trong một số
truyện ngắn Nam Cao
3.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Nam Cao
3.2. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Nam Cao là cây bút tiêu biểu nhất của trào lưu văn học hiện thực
phê phán ở nước ta trong thời kỳ 1930 - 1945. Sáng tác của Nam Cao rất đa
dạng và phong phú nhưng ông đạt thành tựu hơn ở thể loại tiểu thuyết và
truyện ngắn. Ông được coi là một bậc thầy về truyện ngắn, một nhà nhân đạo


chủ nghĩa lớn trong nền văn học dân tộc. Các sáng tác của Nam Cao có ý
nghĩa khẳng định sự nghiệp văn học của ông. Bên cạnh đó còn có ý nghĩa to
lớn đối với sự phát triển của nền văn học Việt Nam.
1.2. Trước Cách mạng tháng Tám, sáng tác của Nam Cao tập trung vào
hai đối tượng chính là người nông dân và tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Với đề
tài viết về người nông dân, Nam Cao là người đến muộn. Khi đó đã có nhiều
tác phẩm thành công gắn với tên tuổi của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất
Tố Trên cơ sở kế thừa, học hỏi thành tựu của những người đi trước, Nam
Cao bằng cái nhìn sắc sảo, bằng tài năng nghệ thuật độc đáo, ông đã cho ra
đời những tác phẩm tiêu biểu về hình tượng người nông dân. Nam Cao đã xây
dựng hình ảnh người ông dân Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp. Nhà
văn đã viết lên những trang văn sâu sắc, đi vào thế giới tâm hồn của họ để mở
ra những giá trị đẹp đẽ, từ đó làm tôn lên hình ảnh người nông dân Việt Nam.
1.3. Tác giả Nam Cao có vị trí quan trọng nên được đưa vào giảng dạy ở
trong chương trình ngữ văn bậc phổ thông. Trước cách mạng tiêu biểu với
Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa. Sau cách mạng có tác phẩm Đôi mắt. Tác
phẩm của Nam Cao đạt được những thành tựu đáng kể về giá trị trị nội dung
cũng như giá trị nghệ thuật. Trong tương lai, tôi sẽ là một giáo viên dạy văn
nên việc thực hiện đề tài này là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn và
3
ý nghĩa khoa học. Những nghiên cứu của đề tài sẽ giúp tôi học tập và giảng
dạy tốt hơn về truyện ngắn Nam Cao.
Những lý do trên đây là động lực khiến chúng tôi muốn chọn đề tài
"Hình tượng người nông dân trong một số truyện ngắn của Nam Cao " làm
đối tượng để nghiên cứu. Từ đó, giúp tôi có cái nhìn toàn diện về những đóng
góp của Nam Cao đối với nền văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930
-1945 nói chung và trào lưu văn học hiện thực phê phán nói riêng.
2. Lịch sử vấn đề
Nam Cao là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam
hiện đại. Ông là một nhà văn được nghiên cứu từ rất sớm. Ngay từ 1941 đã có

người nghiên cứu về tác phẩm của ông. Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã
bàn về sáng tác của Nam Cao, nhưng mỗi công trình nghiên cứu chỉ dừng lại
ở một vấn đề nào đó trong hệ thống quan niệm và thực tiễn sáng tác của ông.
Chẳng hạn các công trình: Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945 (Nguyễn
Hoành Khung, Nxb GD, H, 1973); Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của
nhà văn (Nguyễn Đăng Mạnh, Nxb GD, H, 1996); Nam Cao, đời văn và tác
phẩm (Hà Minh Đức, Nxb VH, H, 1997); Nghĩ tiếp về Nam Cao (Nhiều tác
giả, Nxb Hội nhà văn, H, 1999); Nam Cao, về tác gia và tác phẩm (Nhiều tác
giả, Nxb GD, H, 1999); Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao (Trần Đăng Suyền,
Nxb KHXH, H, 2001).
Nhìn toàn bộ sự nghiệp văn học của Nam Cao, ta thấy những sáng tác
của ông trước Cách mạng tháng Tám phong phú hơn, có giá trị và chiếm vị trí
chủ chốt. Nguyễn Hoành Khung nhận xét về truyện ngắn của Nam Cao như
sau: "Vào khoảng vài chục năm lại đây càng ngày càng có sức hấp dẫn đặc
biệt với công chúng" và "Về nhiều mặt, tác phẩm Nam Cao đã đánh dấu một
bước phát triển mới của văn xuôi quốc ngữ Việt Nam, mới hình thành trong
vòng hơn nửa thế kỷ nhưng đang hiện đại hóa với một tốc độ thật nhanh
chóng" [Nguyễn Hoành Khung (1990), Truyện ngắn Việt Nam 1930 - 1945
4
(Tập 1), Nxb GD, Hà Nội, tr14]. Trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao,
truyện ngắn của ông xứng đáng được xem là một di sản vô cùng quý báu cần
được nghiên cứu thấu đáo.
Qua những truyện ngắn đặc sắc trước cách mạng tháng Tám, Nam Cao
đã dựng lên một bức tranh tuy không rộng lớn và đồ sộ, nhưng rất mực chân
thực về cuộc sống của xã hội thực dân phong kiến hết sức phản động ở nước
ta thời kỳ khủng hoảng sâu sắc nhất. Truyện ngắn Nam Cao - "Đó chính là
phẩm chất của những gì thật sự ưu tú, là các giá trị đã có thể đi dần vào quỹ
đạo của những gì thuộc về cổ điển" [Phong Lê (1988), Tuyển tập Thạch Lam,
Nxb Văn học, 5].
Vấn đề hình tượng người nông dân trong sáng tác của Nam Cao cũng

được đề cập nhiều. Tuy nhiên do những mục đích nghiên cứu về đối tượng
khác nhau nên các tác giả chỉ nhìn nhận ở một số vấn đề mang tính chất
chung chung. Các tác giả chưa đi sâu khám phá, phân tích hình tượng nhân
vật người nông dân. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đề cập đến hình
tượng người nông dân trong một số truyện ngắn Nam Cao với mong muốn
đóng góp một phần nhỏ của mình đem lại cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về
truyện ngắn của nhà văn đã từng tạo được dấu ấn riêng trong nền truyện ngắn
Việt Nam 1930 - 1945 nói chung và trong trào lưu văn học hiện thực nói
riêng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hình tượng người nông dân qua một
số truyện ngắn của nhà văn Nam Cao.
3.2. Phạm vi tư liệu khảo sát
Trọng tâm khảo sát và nghiên cứu của đề tài là một số truyện ngắn của
Nam Cao trước cách mạng tháng Tám 1945 như: Chí Phèo, Lão Hạc và Một
bữa no, với nguồn tài liệu sau: Tuyển tập truyện ngắn Nam Cao (tên tập
5
truyện mà em khảo sát)
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Giới thiệu chung về nhà văn Nam Cao
- Nhiệm vụ trọng tâm là nghiên cứu về hình tượng người nông dân qua
một số truyện ngắn của Nam giai đoạn 1930 - 1945.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi phối hợp sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát - thống kê
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
6. Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
đề tài được triển khai gồm ba chương:
Chương 1. Giới thiệu về Nam Cao
Chương 2. Hình tượng người nông dân trong một số truyện ngắn Nam Cao
Chương 3. Nghệ thuật xây dựng hình tượng người nông dân trong truyện
ngắn của Nam Cao
6
Chương 1
GIỚI THIỆU VỀ NAM CAO
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Nam Cao
1.1.1. Cuộc đời nhà văn Nam Cao
Nam Cao (1915 – 1951) là bút danh của nhà văn - nhà báo - liệt sĩ Trần
Hữu Tri. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân tại làng Đại Hoàng, tổng
Cao Đà, huyện Nam Sang, nay thuộc Hòa Hậu, Lí Nhân, Hà Nam (cách thành
phố Nam Định chừng hơn 10 km). Học xong thành chung, Nam Cao bôn ba
nhiều nơi, nhưng bệnh tật đẩy ông về quê. Từ đó, Nam Cao sống chật vật
bằng nghề dạy học và viết văn. Năm 1943, ông vào Hội Văn hoá cứu quốc.
Tham gia Tổng khởi nghĩa ở quê hương, ông được cử làm chủ tịch xã.
Sau Cách mạng, với tư cách phóng viên - Nam Cao có mặt trong đoàn
quân Nam tiến, rồi lên chiến khu Việt Bắc làm công tác văn nghệ. Cuối tháng
11 năm 1951, trên đường đi công tác vào vùng địch tạm chiếm, Nam Cao anh
dũng hi sinh tại làng Vũ Đại, huyện Gia Viễn, Ninh Bình, khi tài năng đang
nở rộ; gần đây (1998), mộ phần của ông đã được đưa về quê hương.
Nam Cao là cây bút xuất sắc của dòng văn học hiện thực (1930 - 1945).
Ông là người đi tiên phong trong việc xây dựng nền văn học mới. Nam Cao
được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
(đợt 1,1996).
1.1.2. Sự nghiệp sáng tác
Trước 1945, tài năng Nam Cao kết tinh trong gần 60 truyện ngắn, một
truyện vừa Chuyện người hàng xóm, và tiểu thuyết Sống mòn. Tác phẩm của

ông chủ yếu xoay quanh hai đề tài: người trí thức nghèo và nông dân bần
cùng.
7
Những tác phẩm tiêu biểu ở đề tài người trí thức nghèo như: Những
truyện không muốn viết (1942), Trăng sáng (1943), Đời thừa (1943), Quên
điều độ (1943), Sống mòn (tiểu thuyết - 1944).
Qua các sáng tác trên, Nam Cao miêu tả sâu sắc tấn bi kịch tinh thần của
người tri thức nghèo trong xã hội cũ. Đó là những “giáo khổ trường tư”, nhà
văn túng quẫn, viên chức nhỏ - nghèo Qua họ, ông nêu lên nhiều triết lí sâu
sắc, có ý nghĩa xã hội to lớn. Trí thức trong sáng tác của Nam Cao là những
người có tài năng, tâm huyết, biết tự trọng và ôm ấp hoài bão lớn lao (xây
dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý) nhưng không thực hiện được vì nạn áo
cơm ghì sát đất. Hộ thiết tha viết tác phẩm ăn giải Nô-ben; Thứ mong muốn
được đóng góp công sức làm đổi thay nền giáo dục để xã hội công bằng. Vậy
mà cả hai đều bị dồn vào tình trạng “chết mòn”, phải sống như “một kẻ vô
ích, một người thừa”. Qua đề tài này, Nam Cao phê phán xã hội cũ đã giết
chết tài năng, tàn phá tâm hồn những người nghệ sĩ. Ông cũng thể hiện thành
công quá trình người trí thức tự đấu tranh, khắc phục mặt hạn chế, vươn lên
giữ lối sống đẹp.
Ở đề tài người nông dân nghèo, Nam Cao viết chừng hai mươi truyện
ngắn phản ánh cuộc đời tăm tối, số phận bi thảm của người nông dân; tiêu
biểu là: Chí Phèo (1941), Trẻ con không được ăn thịt chó (1942), Lão Hạc
(1943), Một bữa no (1943), Một đám cưới (1944)
Trong số những truyện ngắn trên thì truyện "Chí Phèo” xứng đáng là kiệt
tác. Viết về đề tài này, Nam Cao khắc họa bức tranh chân thực về nông thôn
Việt Nam xơ xác , bần cùng trong khoảng thời gian 1930 -1945. Ông đặc biệt
quan tâm tới tình trạng nghèo đói và quá trình của những người thấp cổ bé
họng bị tha hóa, bị cự tuyệt quyền làm người. Càng hiền lành họ càng bị chà
đạp phũ phàng. Viết về nông dân, Nam Cao kết án đanh thép xã hội thực dân
phong kiến đã huỷ hoại nhân hình, sói mòn nhân tính của những con người

lương thiện. Không “bôi nhọ” nông dân, ông đi sâu vào nội tâm nhân vật để
8
phát hiện, khẳng định nhiều phẩm chất cao cả của những người bị xã hội dập
vùi.
Đó là hai đề tài quen thuộc, nhưng vì biết khơi những nguồn chưa ai khơi,
Nam Cao vẫn tạo được sự hấp dẫn. Viết về nông dân hay trí thức, sáng tác
của Nam Cao luôn luôn thể hiện nỗi băn khoăn day dứt trước số phận con
người và thường lấy nguyên mẫu từ quê hương, bản thân. Sáng tác của ông
chứa đựng nội dung triết học sâu sắc. Sau Cách mạng, Nam Cao vẫn tiếp tục
viết về đề tài người nông dân và trí thức nghèo.
1.2. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
1.2.1. Nhân vật trong tác phẩm văn học
Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được nhà văn miêu tả, thể
hiện trong tác phẩm. Nhân vật có khi là con người có tên, có khi không có tên
như những thằng bán tơ, kẻ nịnh thần, có khi là một hiện tượng nào đó của
thiên nhiên mang nội dung biểu tượng. Nhân vật có thể được thể hiện bằng
nhiều hình thức khác nhau nhất. Những nhân vật khái quát nổi bật những tính
cách có ý nghĩa phổ biến sâu xa sẽ là những nhân vật điển hình. Tuy nhiên,
không phải nhà văn nào trong tác phẩm nào cũng xây dựng được hình tượng
của mình. Một hình tượng chỉ được gọi là điển hình khi hình tượng ấy khái
quát được những nét, những tính cách con người, những tư tưởng, những hiện
tượng có ý nghĩa quan trọng đối với xã hội lại đươc miêu tả qua những chi tiết
cụ thể sinh động hấp dẫn. Điển hính là khái quát cao của sáng tạo nghệ thuật.
Nhân vật trong tác phẩm văn học có vai trò hết sức quan trọng. Văn học
không thể thiếu nhân vật, bởi vì nó là hình thức cơ bản để qua đó văn học
miêu tả thế giới một cách hình tượng. Nhà văn sáng tạo nên nhân vật là để thể
hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm về các cá nhân đó. Nói
cách khác, nhân vật là phương tiện khái quát các tính cách, số phận con người
và các quan niệm của chúng.
Trong tác phẩm văn học, hình tượng người nông dân cũng được đề cập

9
đến nhiều. Hình tượng người nông dân là hình tượng phổ biến trong các tác
phẩm văn học viết về hiện thực đời sống. Hình tượng nhân vật người nông
dân được xây dựng và khắc họa qua số phận cuộc đời đầy bi thảm. Nhân vật
người nông dân là những con người ở bậc thang xã hội cuối cùng, cuộc đời
không thể nào khổ hơn nữa. Họ bị hoàn cảnh xă hội vùi dập, bị chà đạp cả thể
xác lẫn nhân phẩm. Hình tượng người nông dân được các nhà văn Nam Cao,
Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố viết nhiều nhất trong văn học giai đoạn 1930 -
1945. Văn học giai đoạn này phản ánh rõ nét về cuộc sống cơ cực, bần cùng
của người nông dân trước cách mạng. Qua đó, các nhà văn xây dựng hình
tượng người nông dân với những nét đặc sắc nhất.
1.2.2. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao
Nhân vật người nông dân nghèo
Các tác phẩm viết về người nông dân: Chí Phèo với nhân vật Chí Phèo;
Trẻ con không được ăn thịt chó với nhân vật cái gái, cu Nhớn, cu Nhỡ; Lão
Hạc với nhân vật Lão Hạc; Một bữa no với nhân vật Bà Cái Tý, Một đám
cưới với nhân vật Dần
Nhà văn dựng lên một bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam trước
1945 nghèo đói, xơ xác trên con đường phá sản, bần cùng, hết sức thê thảm;
càng hiền lành, càng nhẫn nhục thì càng bị chà đạp, hắt hủi, bất công, lăng
nhục tàn nhẫn; người nông dân bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa.
Nam Cao không hề bôi nhọ người nông dân, trái lại, ông đã đi sâu vào nội
tâm nhân vật để khẳng định nhân phẩm và bản chất lương thiện ngay cả khi bị
vùi dập, cướp mất cà nhân hình, nhân tính của người nông dân. Kết án đanh
thép cái xã hội tàn bạo đó trước 1945.
+ Nhân vật người trí thức tiểu tư sản
Các tác phẩm tiêu biểu viết về người trí thức: Trăng sáng với nhân vật
Điền; Đời thừa với nhân vật Hộ; Sống mòn với nhân vật Thứ…
Nam Cao miêu tả sâu sắc tấn bi kịch tinh thần của người trí thức nghèo
10

trong xã hội đương thời trước 1945, những nhà văn nghèo, những viên chức
nhỏ. Họ là những trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm,
có hoài bão, tâm huyết và tài năng, muốn xây dựng một sự nghiệp tinh thần
cao quý; nhưng lại bị gánh nặng áo cơm và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm
cho "chết mòn", phải sống như "một kẻ vô ích, một người thừa".
Nội dung các tác phẩm của Nam Cao phê phán sâu sắc xã hội ngột ngạt,
phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người, đồng thời nói lên
khao khát một lẽ sống lớn, có ích, có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con
người
Chương 2
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG
MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN NAM CAO
2.1.Người nông dân có cuộc sống đói rét, bóc lột
Nam Cao đã dựng lên một bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam
trước 1945 nghèo đói, cái nghèo, cái đói xơ xác của người nông dân lúc bấy
giờ. Cuộc sống của họ bần cùng, hết sức thê thảm, sống trong cảnh đời đói rét
tối tăm, càng hiền lành, càng nhẫn nhục thì càng bị chà đạp, bóc lột một cách
không thương tiếc, con người lâm vào cảnh luôn bị hắt hủi và đầy rẫy những
bất công bao quanh. Họ còn bị lăng nhục tàn nhẫn dẫn đến người nông dân bị
đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa dưới một xã hội tối tăm lúc bấy
giờ.
Trong cuốn Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, tác giả Lê Quang
Hưng có viết : "Đi vào số phân người nông dân dưới đáy cùng xã hội ở thời kì
ngột ngạt, đen tối, nhiều tác phẩm Nam Cao thể hiện sự bần cùng hóa của họ.
Đặc biệt, quá trình bần cùng hóa này được Nam Cao gắn với sự đe dọa lưu
manh hóa. Hoàn cảnh xã hội điên đảo với sức tàn phá thật khóc liệt. Con
11
người bị đẩy vào bước đường cùng, bị chà đạp cả thể xác lẫn nhân phẩm.
Điều làm Nam Cao khổ nhất và khai thác nhiều nhất các nhân vật nông dân là
nhân phẩm bị xúc phạm: tâm hồn thui chột, tính cách mèo mó, ngay đến bộ

mặt cũng không còn nguyên vẹn" [Giáo trình văn học Việt Nam hiện
đại,trang 262].
Trong tác phẩm Chí Phèo, hình ảnh Chí hiện lên là một kẻ lưu manh
hóa, bị xã hội vùi lấp đi những gì mà đáng ra con người phải có. Hắn là một
đứa con rơi, ra đời trong cái lò gạch cũ, lớn lên bằng tình thương bố thí của
những người nghèo. Khi lớn lên làm canh điền trong nhà Bá Kiến lại bị vợ ba
Bá Kiến gọi lên “bóp chân”; Bá Kiến sanh lòng ghen tuông nên đưa đi tù.
Thời gian sau, Chí Phèo lại trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại tác oai tác
quái dân lành. Chí Phèo chìm trong cơn say, chỉ có một lần hắn tỉnh thật sự
vào một buổi sáng (đã được Thị Nở đánh thức). Nhưng rồi tình yêu bị đổ vỡ.
Bế tắc, đi tìm lương thiện, hắn giết Bá Kiến rồi tự giết mình. Chí Phèo chết
nhưng chưa hết truyện. Thị Nở “nhìn nhanh xuống bụng” và “và thoáng hiện
ra cái lò gạch cũ”. Một “Chí Phèo con” sắp ra đời.
Là một cố nông lương thiện, lẽ ra với khả năng lao động, hiền lành, Chí
phải được ấm no hạnh phúc, nhưng bị Bá Kiến vu oan, phải tù bảy, tám năm
liền. Tính chất lưu manh, ngang ngược của Chí khi về làng không phải là bản
chất của Chí, mà chính là do xã hội thối nát tạo ra. Chí đã bị xã hội cũ thối nát
lưu manh hóa, trụy lạc trong thời gian đi tù. Phẩm chất, nhân cách của người
cố nông lương thiện trước kia không còn nữa, mà nay trở về làng với bề ngoài
rất côn đồ, bê tha, trở thành một tay anh chị.
Nhưng khi nghe tiếng chửi tục tĩu, khuôn mặt đầy vết sẹo bước chân
chuyệnh choạng ngật ngưỡng của Chí Phèo bước đi trên những dòng văn của
Nam Cao ta mới thấy rằng đó mới là kẻ khốn cùng ở nông dân Việt Nam
ngày trước. Mặt khác, tiếng chửi của chí còn chứa đựng một khát khao lớn,
khát khao được giao tiếp với cộng đồng, khát khao được nhìn thấy dẫu chỉ
12
qua tiếng chửi, bởi "không có gì đau khổ bằng nỗi đau bị tách ra khỏi xã hội ".
Ẩn sâu trong tiếng chửi rủa của một Chí Phèo trong con dốc tha hoá, chính là
nỗi khát khao rất con người, rất lương thiện. Tình cảm của Chí Phèo khác hẳn
với các nhân vật Lão Hạc, Dần…, Chí là một anh canh điền khoẻ mạnh và

trung thực nhưng bị vu oan biến anh thành một tên lưu manh mất hết nhân
tính lẫn nhân hình.
Những bi kịch đau đớn nhất như những cơn dông bão ập xuống quất vào
số phận của Chí Phèo. Chí Phèo khi đã mất cả nhân hình và nhân tính thì mất
hết tất cả. Chí không chấp nhận trở lại làm người với lý lịch đầy bất hảo bộ
mặt sứt sẹo, hành động côn đồ, Chí Phèo đã làm cho cả làng Vũ Đại không
một ai tôn trọng. Không còn một chút lương tâm nào hết, vì vậy Chí Phèo bị
cả làng Vũ Đại chối bỏ và sa vào tấn bi kịch đau đớn nhất bị từ chối làm
người.
Xã hội cũ không cho người lao động thực hiện ước mơ được sống hạnh
phúc lương thiện. Bằng thái độ của Thị Nở và lời nói của bà cô Thị. Nam Cao
cho ta thấy xã hội cũ đã hắt hủi, đã phũ phàng chà đạp lên mọi ước mơ chân
chính của Chí. Chí muốn làm người nông dân lương thiện trong điều kiện vẫn
bị địa chủ ràng buộc, lợi dụng đó là điều không thể được. Chí lại căm uất.
Căm thù cao độ và không còn lối thoát, Chí giết Bá Kiến và tự sát.
Cái chết của Chí thật đột ngột. Lấy sự hủy diệt đời mình để giải quyết cái
bế tắc đời mình, cái bi kịch của Chi phản ánh sự bế tắc của một số nông dân
cùng khổ, chưa gặp cách mạng, bị dồn vào con đường cùng. Ý nghĩa phê phán
xã hội qua cái chết của Chí Phèo thật là mãnh liệt. Bọn thống trị trong xã hội
cũ phải chịu trách nhiệm trước hiện tượng xã hội bi thảm này.
Trong tác phẩm Lão Hạc thì hình ảnh Lão Hạc hiện lên cũng không kém
phần đáng thương vì cái nghèo, cái đói mà số phận của Lão lâm vào bần
cùng, cơ cực. Đọc truyện Lão Hạc, ta bắt gặp bao con người, bao số phận, bao
mảnh đời đáng thương, bao tấm lòng đáng trọng: Lão Hạc và cậu con trai
13
“phẫn chí” đi phu đồn điền cao su, ông giáo và người vợ, Binh Tư và thằng
Mục, thằng Xiên…
Lão Hạc là một người nông dân chất phác, hiền lành. Lão vốn góa vợ và
có một đứa con trai nhưng vì quá nghèo nên không thể lo cho người con trai
một cuộc sống hạnh phúc. Người con trai lão do quẫn trí đã đăng kí đi làm ở

đồn điền cao su ở miền Nam. Lão luôn trăn trở, suy nghĩ về tương lai của đứa
con. Lão sống bằng nghề làm vườn, mảnh vườn mà vợ lão đã mất bao công
sức để mua về và để lại cho con trai lão. Nhưng do một trận bão mà cả một
sào hoa màu đã mất trắng. Lại bởi do một trận ốm nên bao nhiêu tiền bạc lão
dành dụm đã mang ra dùng gần hết và vì lão cũng đã "tàn sức" rồi, người ta
làm tranh hết việc của lão. Lão có con Vàng - một con chó mà lão vừa coi như
con vừa coi như một người bạn trung thành. Nhưng vì cần tiền để lo cho con
trai nên lão đã quyết định bán con chó đi. Lão đã rất dằn vặt bản thân mình
khi mang một "tội lỗi" là đã nỡ tâm "lừa một con chó". Lão tự dành tiền cho
đám ma của chính mình để không làm phiền đến hàng xóm láng giềng. Lão
không nhận bất kỳ sự giúp đỡ của bất kỳ ai. Lão đã chọn một cái chết bằng bả
chó, một cái chết dữ dội và đau đớn. Lão làm thế là để trừng phạt bản thân
mình đã làm cái việc dằn vặt, tội lỗi ấy và có thể lão đã được giải thoát sau
bao tháng ngày cùng cực, đau khổ.
Khoảnh khắc “lão cố làm ra vui vẻ” cũng không giấu được khuôn mặt
“cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước”. Nỗi đau đớn cố kìm nén của lão
Hạc như cắt nghĩa cho việc làm bất đắc dĩ, khiến ông giáo là người được báo
tin cũng không tránh khỏi cảm giác ái ngại cho lão. Ông giáo hiểu được tâm
trạng của một con người phải bán đi con vật bầu bạn trung thành của mình.
Cảm giác ân hận theo đuổi dày vò lão tạo nên đột biến trên gương mặt: “Mặt
lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt
chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu
như con nít. Lão hu hu khóc…” [Tuyển Tập Nam Cao, trang 252]. Những suy
14
nghĩ của một ông lão suốt đời sống lương thiện có thể làm người đọc phải
chảy nước mắt theo: “Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một
con chó”[Tuyển Tập Nam Cao, trang 252]. Bản chất của một con người lương
thiện, tính cách của một người nông dân nghèo khổ mà nhân hậu, tình nghĩa,
trung thực và giàu lòng vị tha được bộc lộ đầy đủ trong đoạn văn đầy nước
mắt này. Nhưng không chỉ có vậy, lão Hạc còn trải qua những cảm giác chua

chát tủi cực của một kiếp người, ý thức về thân phận của một ông lão nghèo
khổ, cô đơn cũng từ liên tưởng giữa kiếp người – kiếp chó: “Kiếp con chó là
kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng
hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn”[Tuyển Tập Nam Cao,
trang 253]. Suy cho cùng, việc bán chó cũng xuất phát từ tấm lòng của một
người cha thương con và luôn lo lắng cho hạnh phúc, tương lai của con. Tấm
lòng ấy đáng được trân trọng! Hiện thực thật nghiệt ngã đã dứt đứa con ra
khỏi vòng tay của lão, cái đói cái nghèo lại tiếp tục cướp đi của lão người bạn
cậu Vàng. Bản thân lão như bị dứt đi từng mảng sự sống sau những biến cố,
dù cho cố “cười gượng” một cách khó khăn nhưng lão dường như đã nhìn
thấy trước cái chết của chính mình. Những lời gửi gắm và món tiền trao cho
ông giáo giữ hộ sau lúc bán chó có ngờ đâu cũng là những lời trăng trối. Kết
cục số phận của lão Hạc là cái chết được báo trước nhưng vẫn khiến mọi
người bất ngờ, thương cảm. Quyết định dữ dội tìm đến cái chết bằng bả chó là
giải pháp duy nhất đối với lão Hạc, để lão đứng vững trên bờ lương thiện
trước vực sâu tha hoá. Kết thúc bi kịch cũng là thật sự chấm dứt những dằn
vặt riêng tư của lão Hạc, nhưng để lại bao suy ngẫm về số phận những con
người nghèo khổ lương thiện trong xã hội cũ.
Sống trong chính cuộc đời, con người luôn phải có nhiều nỗi lo toan
trăm bề mà trong truyện "Lão Hạc" của Nam Cao lại là một bức tranh hiện
thực sâu sắc, trong bức tranh ấy người nông dân chân chất hiện lên, với những
suy nghĩ, lo toan, tính toán cho tương lai, cái nghèo cái đói vẫn luôn đeo đẳng
15
trong cái xã hội cũ.
Còn trong Một bữa no, cái nghèo cái đói của người nông dân lúc bấy giờ
cũng thể hiện rõ qua nhân vật bà cái Tý, mà cụ thể là cái chết, chết bất thường
"chết no" đã cho người đọc biết bao suy nghĩ về thực trạng xã hội của nước ta
lúc bấy giờ.
Nhà văn dựng lên bữa tiệc trong nhà bà Phó Thụ như một điển hình về
cách sống của bọn trưởng giả keo kiệt. Đó thực sự là miếng nhục khi bà lão

ngồi ăn dưới cái lườm nguýt của bà Thụ, cái ngại ngùng và xấu hổ của cái Tý
– sao người bà mà nó vẫn luôn kính yêu lại chỉ vì một bữa ăn mà để người
khác khinh bỉ như vậy? Trong đầu óc non dại của cái Tý cũng như những ai
chưa từng trải qua nỗi khổ bị cái đói hành hạ như bà lão hẳn không thể hiểu
được tại sao bà lại hành động như vậy.
Sau bữa ăn huy hoàng, bà về nhà với cái bụng căng tròn đầy mệt nhọc.
Có lẽ vì bà ăn quá nhiều, lại ăn mặn (ăn mắm) nên bà uống rất nhiều nước mà
vẫn còn thấy khát "Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không
đã khát. Bà chỉ càng thêm tức bụng" [Tuyển Tập Nam Cao, trang 235]. Điều
đó làm cho bà khó chịu vô cùng, bà đau bụng, bà thổ, bà tả,…kéo dài nửa
tháng thì bà chết. Cái chết là cái giá phải trả cho một bữa no đầy tủi
nhục. Trong cơn đói khát hành hạ, bà không còn giữ được nhân phẩm, bà đã
ăn một bữa ăn đầy tủi hờn, để rồi chết một cách nhục nhã. Bà vốn là một
người nhân hậu, hiền lành nhưng định mệnh cuộc đời đã cướp đi của bà quá
nhiều khiến bà phải lâm vào hoàn cảnh bần cùng, đói khát. Bà đã không còn
giữ được phẩm chất của mình, bà đã bị cái đói làm cho tha hóa, biến chất. Cái
chết cũng là cách giải thoát tốt nhất dành cho bà lão khi không còn đủ sức
chống chọi trước xã hội đương thời. Tác phẩm không miêu tả quang cảnh
bóng đêm nhưng người đọc lại thấy một màu xám ngắt bao trùm khắp nơi
nơi, nó phủ kín và nuốt chửng tất cả những người nông dân nghèo khổ, cùng
cực không lối thoát. Người bà trong Một bữa no chỉ là một cá nhân tiêu biểu
16
trong số rất nhiều con người cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự trong xã hội
Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.
Cái đói cái khổ, sự bóc lột nặng nề trong xã hội cũ đã được nhà văn Nam
Cao phần nào thể hiện được qua các hình tượng người nông dân như: Chí
Phèo với sự tha hóa hay Lão Hạc cũng chỉ vì cái đói cái khổ mà phải bán đi
Con Vàng và đi đến cái chết đau lòng là bà cái Tý vì đói mà cố ăn, ăn cho no,
ăn mà bỏ qua sự dèm pha của người khác, để thỏa mãn cái cơn đói lâu ngày,
dẫn đến cái "chết no". Những hình ảnh đó gợi lên biết bao suy nghĩ cho người

đọc về thực trạng xã hội cũ.
2.2. Người nông dân khát khao cuộc sống đầy đủ về vật chất và tinh
thần.
Trong cái tình cảnh cái đói, cái rét bao quanh nhưng chúng ta luôn cảm
thấy được sự khát khao tìm ẩn của người nông dân qua tác phẩm của Nam
Cao. Dù cuộc sống có gian khổ đang đeo đẳng họ hằng ngày, hằng giờ nhưng
người nông dân vẫn luôn mơ ước có cuộc sống tốt đẹp hơn và khát khao sống
một cuộc sống đúng bản chất con người, không bị tha hóa dưới chế độ xã hội
cũ.
Trong "Chí Phèo", Chí như một kiếp tồn tại ngoài vòng xa hội, bị gạt ra
ngoài lề của cuộc sống, cô độc. Chí bị đẩy vào bi kịch, bị lãng quên, bị chối
bỏ, tiếng chửi buông xuống kẻ "chết mẹ nào đã đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng
Chí phèo". Tiếng chửi thấm mùi vị xót xa đồng thời mở ra cho người đọc một
từng ý nghĩ. Ai đã tạo nên Chí Phèo, kẻ bị bần cùng hoá, lưu manh hoá? Đó
có phải là Bá Kiến, là xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ. Tiếng chửi
của Chí Phèo là tiếng kêu thống thiết, là tiếng lên án mạnh mẽ xã hội bất
nhân, không công lí của nước ta thời kì đó. Mặt khác, tiếng chửi của Chí còn
chứa đựng một khát khao lớn, khát khao được giao tiếp với cộng đồng, khát
khao được nhìn thấy dẫu chỉ qua tiếng chửi, bởi "không có gì đau khổ bằng
nỗi đau bị tách ra khỏi xã hội". Ẩn sâu trong tiếng chửi rủa của một Chí Phèo
17
trong sự tha hoá, chính là nỗi khát khao rất con người, rất lương thiện.
Chí đã từng mơ ước: "Khi còn trẻ hắn đã ao ước có một mái ấm gia đình
nho nhỏ, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải nuôi heo" [Tài liệu, trang].
Mơ ước của hắn thật bình dị bằng sức lao động chân chính, cái hạnh phúc đơn
sơ nhưng ấm cúng tình người tưởng chừng ai cũng có được nhưng với Chí lại
quá xa vời.
Tình yêu của Thị Nở làm cho hắn “bỗng thèm lương thiện”, bát cháo hành
đã đưa Chí rẽ vào bước ngoặc mới, bát cháo hành là biểu tượng của sự cảm
thông, yêu thương giữa những con người cùng cảnh ngộ, nó mãi mãi đi vào

cuộc sống văn chương với tư cách là biểu tượng của chủ nghĩa nhân đạo. Hắn
cảm động quá! cảm động vì lần đầu tiên hắn được ăn một thứ ngon như thế.
Hơn nữa muốn có cơm ăn, rượu uống Chí phải dọa, cướp giật. Lần đầu tiên có
người tự nguyện cho hắn ăn, đặc biệt hơn đó lại là đàn bà nên con quỷ dữ đã
mềm ra thành từng giọt nước mắt. Cùng với những giọt nước mắt là Chí
"nghe được tiếng chim hót buổi sáng, tiếng gõ mái chèo của người thuyền
chày đuổi cá trên sông, tiếng trò chuyện của những người đi chợ sớm"[Tài
liệu, trang]. Cái đẹp của tự nhiên, cái đẹp lần đầu chứa chan tình người, tất cả
thật đơn sơ nhưng cũng thật gần gủi thân thiết, những âm thhắn này ngày nào
cũng có nhưng đây là lần đầu tiên chí cảm nhận được. Giọt nước mắt của Chí
cùng những âm thanh buổi sáng đã làm nên một Chí Phèo khác hẳn, anh canh
điền lương thiện năm nào đã sống lại. Đây là lần đầu tiên Chí tỉnh và lần đầu
tiên nhận thức được tội lỗi, sự ân hận muộn màng nhưng dù sao cũng đáng
ghi nhận. Đó là biểu hiện của sự làm lành “hắn muốn làm hòa với mọi người
biết bao”. Chí mong muốn được mọi người bỏ qua cho tất cả. Thị Nở sẽ giúp
hắn làm loại từ đầu, niềm khát khao mới người làm sao!.
Còn Lão Hạc, cái mơ ước có dược cuộc sống bình yên, có đủ tiền cưới vợ
cho con Lão. Cái ước nhìn thì thật đơn giản nhưng trong cái xã hội đó muốn
thực hiện được cũng vô cùng khó khăn. Cái chết của Lão Hạc dù kết cục bi
18
thảm như thế nào, lão vẫn giữ lại cho chúng ta bức thông điệp về nỗi trăn trở
của một con người trong niềm đau nhân cách. Ta không đưa Lão Hạc đến tận
huyệt mồ, nhưng vẫn thấy sâu thẳm huyệt lòng một niềm rưng rưng không
nguôi. Người cha “Thà chết chứ không chịu bán đi một sào…” [Tài liệu,
trang], cái mảnh vườn thân yêu dành cho đứa con khốn khổ. Đó cũng là cái
mong ước của người cha giành cho đứa con trai mình, mong muốn cái thế hệ
sau chúng nó không còn khổ như mình nữa.
Trong Một bữa no, chúng ta cũng bắt gặp được cái ước mơ, cái ước mơ
thiết thực nhất trong cái xã hội cũ, trong tình cảnh nạn đói năm 1945 đó là
muốn được ăn "No" . Cái "No" là khát vọng của biết bao nhiê người trong

tình cảnh như bà cái Tý.
Từ những ước mơ, khát khao trong cuộc sống, các tác phẩm trên đã ngấm
ngầm đưa ra giải thích định nghĩa về con người và cuộc sống con người: Loài
người phải có khả năng sống bằng bàn tay, sức lao động của mình, làm người
phải biết tự trọng, có quyền được sống, được hưởng hạnh phúc và công bằng.
Tuy nhiên, họ bị bóc lột đến tận xương tủy, những người nông dân bị rơi vào
tình trạng bi kịch, bị trù dập, đối xử thiếu công bằng.
Và ý nghĩa của những ước mơ đó như ngôi sao Bắc đẩu lấp lánh rọi
đường cho những nhân vật trong truyện của ông mò mẫm đi giữa bối cảnh mờ
mịt của chế độ phong kiến thực dân đương thời, nhờ đó họ có thể ngẩng mặt
sống trườn qua cơn xoáy ác liệt của hư vô.
2.3. Những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân
Nam Cao đã dựng lên hình ảnh đặt sắc - đôi lúc đến dị hợm như: cái chết
vật vã của Lão Hạc vì ăn bã chó, cái chết no của bà cái Tý trong Một bữa no,
cũng như vẻ lưu manh hóa của Chí Phèo khi ra tù nhưng đều đáng thương.
Họ là những tầng lớp thấp cùng của xã hội phong kiến, họ có đời sống bần
cùng, nhưng lại có phẩm chất cao đẹp. Cao đẹp chứ không phải “cao thượng”,
những điều hoa mỹ, sự tế nhị dường như không có chỗ đứng trong tác phẩm
19
của Nam Cao.
Trong "Giáo trình văn học việt nam hiện đại", tác giả Lê Quang Hưng có
viết "Mọi vấn đề xã hội, mọi số phận con người đều được Nam Cao gắn với
câu chuyện và nhân cách trong tình cảnh xót thương, trân trọng và đòi hỏi cao
của con người. Tính nhất quán và tầm lớn lao tư tưởng nghệ thuật Nam Cao
chính ở chỗ đó. Miêu tả người nông dân, Nam Cao không chỉ vạch ra cảnh
bần cùng hoá, nghèo đói thê thảm ở phương diện nghèo đói vật chất mà chỉ
quan tâm đến vấn đề nhân phẩm bị chà đạp, tinh thần bị hủy hoại" [Giáo trình
văn học việt nam hiện đại, trang 265].
Nam Cao dùng ngòi bút của ông giành cho những nhân vật nồng nàn yêu
thương. Ông phát hiện trong chiều sâu của nhân vật là bản tính tốt đẹp, chỉ

cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống mãnh liệt, tha thiết.
Sự xuất hiện của nhân vật Thị Nở trong tác phẩm có ý nghĩa thật đặc sắc.
Con người xấu đến “ma chê quỷ hờn”, kì diệu thay, lại là nguồn ánh sáng duy
nhất đã rọi vào chốn tăm tối của tâm hồn Chí Phèo làm cho Chí thức tỉnh.
Điều đó gợi dậy bản tính lương thiện của Chí Phèo, thắp sáng trái tim bao
ngày tháng bị vùi dập hắt hủi. Chính cuộc tình ngắn ngủi với Thị Nở trong
đêm trăng đã vô tình thắp lên ngọn lửa cuộc sống trong Chí. Lần đầu tiên
trong đời, Chí đã chợt tỉnh dậy sau bao ngày ngủ quên trong sự tha hóa.
Nam Cao để cho nhân vật Lão Hạc của mình suy nghĩ một cách tầm
thường. Lấy vợ cho con mình thì “xem có đám nào khá mà nhẹ tiền hơn sẽ
liệu, chẳng lấy đứa này thì lấy đứa khác; làng này đã hết con con gái đâu mà
sợ” [Tuyển Tập Nam Cao, trang 249]. Thương con đứt ruột nhưng lại bất lực
khi thấy con ra đi: “Thẻ của nó người cha giữ. Hình của nó, người ta đã chụp
rồi. Nó lại đã lấy tiền của người ta. Nó là người người ta rồi, chứ đâu còn là
con tôi”[Tuyển Tập Nam Cao, trang 249]. Tiếng nấc nghẹn ngào bật ra từ đáy
lòng của người cha dường như không còn chút gì ấm ức, cam chịu. Lời lẽ
ngậm ngùi đó khiến ta có cảm tưởng của một bà mẹ hơn một người cha. Ở
20
đây, Nam Cao dựng lên một người cha bị cái đói khổ đến cùng cực kéo lão ra
giữa vòng lẩn quẩn, và lão đã trụ lại một cách vững chãi trên mảnh đất nhân
phẩm trơn tru và mờ nhạt, khó mà phân biệt ranh giới của chúng. Trong cái
nền xám xịt âm u đó, Lão Hạc đã chọn cho mình một cái chết. Chết nhưng
không rơi vào đáy mồ hư vô. Ta lặng lẽ đi phúng điếu Lão Hạc và cũng ngậm
ngùi đón nhận cái nghĩa cử thiêng liêng của lão giành cho người ở lại: “Bởi
không muốn liên luỵ đến hàng xóm, láng giềng”. Tình thương lão giành cho
người ở lại giường như đã vắt cạn hết lòng tự trọng của một con người, xoá
sạch sự cao ngạo đối với một con chó và đầy ắp sự cưu mang đối với giá trị
nhân phẩm con người. Cái chết của Lão Hạc dù “vật vã trên giường… vật vã
đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết”, nhưng ai hiểu được cái bên trong tội
nghiệp đến rùng mình ấy còn ẩn chứa một điều vô giá lấp lánh rạng ngời niềm

vui tiếc hạnh.
Trong tác phẩm Một bữa no của nhà văn Nam Cao, chi tiết hay nhất và có
ý nghĩa nhất chính là "cái chết của bà lão". Cái chết ấy là tiếng nói tố cáo hiện
thực xã hội lúc bấy giờ. Nạn đói năm Ất Dậu 1945 đã khiến cho "từ Quảng
Trị đến Bắc kỳ, hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói" [Tuyên ngôn độc lập - Hồ
Chí Minh, trang 2]. Trong bối cảnh lịch sử đó, con người thường chết vì đói,
nhưng nhân vật "bà lão" trong tác phẩm này lại chết vì "một bữa no".Cái chết
của bà lão thể hiện một cái nhìn nhân đạo, một sự cảm thông sâu sắc của tác
giả đối với những thân phận nghèo nàn, bất hạnh: Dù họ có vùng vẫy tìm sự
sống trong cái chết, dù họ có thể trở thành "thực dụng" đi nữa thì thẳm sâu
trong nhân cách của những người nghèo vẫn toát lên vẻ đẹp tuy có phần
nghiêng về bản năng sinh tồn: "Bà lão đến thăm con cháu đang ở đợ cho bà
chủ nhà giàu, đã cố tình đến vào giờ cơm trưa để được "một bữa no" vì mấy
ngày nay Bà bị đói, bà lại cố ăn hết cả phần cơm chấy ở đáy nồi cho thật no"
[Tài liệu, trang]. Tuy nhiên, ở bà vẫn lấp lánh tình yêu thương đối với cô cháu
gái. Tội hơn nữa là có thể nói gặp cháu gái lần này của bà là lần gặp cuối
21
cùng
Bên cạnh cái đói và sự tha hóa, chúng ta còn cảm nhận được vẻ đẹp tâm
hồn, những phẩm chất cao quí của họ qua ước mơ, khát khao nhu cầu hạnh
phúc chính đáng và cuộc sống ấm no bình yên con người trong xã hội cũ lúc
bấy giờ. Đồng thời lên án những tàn dư và sự áp bức bất công mà cái xã hộ đó
mang lại dẫn đến biết bao sự khốn khổ của người nông dân.
Chương 3
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO
3.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật
Nam Cao đã xây dựng ngoại hình của một số nhân vật như: vẻ lưu
manh hóa của Chí Phèo, hình ảnh Lão Hạc, bà cái Tý…và để lại những ấn
tượng khó phai mờ trong lòng người đọc.

Nhiều nhân vật của Nam Cao thật sự là những phát hiện mới mẻ, hết sức
độc đáo qua cách miêu tả ngoại hình nhân vật với những nét riêng, nét độc
đáo. Đó là các nhân vật như: Chí Phèo, Thị Nở, Lang Rận, Lão Hạc. Người
ta cũng rất khó quên nhân vật như: Bá Kiến, Dì Hảo, Thứ, Hộ…Có thể nói,
nhân vật Nam Cao rất sinh động. Người đọc tưởng như có thể nhìn thấy họ
đang đi lại, ăn uống, nói năng, cười khóc trước mặt mình. Chất sống của
những nhân vật Nam Cao là do chất sống của đời thực mang lại. Nhà văn lựa
chọn rất độc đáo những mẫu người, những chi tiết miêu tả ngoại hình đặc sắc
nhất để đưa vào tác phẩm.
Trong miêu tả nhân vật không phải lúc nào Nam Cao cũng chú ý đến
ngoại hình. Nhưng khi cần, Nam Cao cũng chứng tỏ biệt tài khắc họa nhân
vật. Thí dụ như trường hợp Chí Phèo, Thị Nở, Lang Rận…Những con người
với ngoại hình không bình thường, quái dị mà ta vẫn gặp ở ngoài đời, nhưng
ngòi bút Nam Cao giúp chúng ta nhìn chăm chú vào họ và có cảm nhận rõ về
22
khía cạnh hình tượng người nông dân nghèo.
(Miêu tả vẻ xấu xí thô kệch của Thị Nở, hình dáng say khướt của Chí
Pheo từ đầu đến cuối tác phẩm )
3.2. Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật
Nam Cao thể hiện sở trường miêu tả nội tâm, miêu tả diễn biến tâm lí
nhân vật. Nhà văn thường để cho nhân vật bộc lộ suy nghĩ, tâm trạng của
mình, một mình tự nói với mình, sử dụng rộng rãi biện pháp độc thoại nội
tâm. Điều này thể hiện qua cảnh Chí Phèo tự nói với bản thân mình, Lão Hạc
nói chuyện với Cậu Vàng của Lão cũng như nội tâm nhân vật của các nhân
vật tri thức như Điền, như Hộ, như Thứ. Xây dựng nhân vật điển hình, Bá
Kiến, Chí Phèo vừa tiêu biểu cho những loại người có bề dầy trong xã hội,
vừa là những cá tính độc đáo và có sức sống mạnh mẽ. Tâm lí nhân vật được
miêu tả thật tinh tế sắc sảo, tác giả có khả năng đi sâu vào nội tâm để diễn tả
những diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật.
Đời sống nội tâm, sự suy nghĩ, sự trăn trở là dấu hiệu của tình người. Nét

đặc trưng có sức lôi cuốn mạnh nhất trong tài năng và phong cách của Nam
Cao là chất trữ tình ấm áp, thể hiện rõ qua các tác phẩm của Ông. Chất trữ
tình này bắt nguồn từ nỗi buồn thương của Ông trước nỗi khổ khốn cùng của
con người, về lòng khao khát của Ông về cuộc sống có tình người, có phẩm
giá, có tư cách.
(Phân tích một chút về diễn biến nhân vật Chí Phèo lúc gặp Thị Nở và
lúc đến nhà Bá Kiến. Nhân vật Lão Hạc có tâm trạng thế nào khi phải bán con
vàng )
3.3. Ngôn ngữ nhân vật
Ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao biến hoá. Lúc thì trần thuật gián tiếp,
lúc thì xen kẽ các câu mệnh đề vừa trực tiếp vừa gián tiếp và là sự phối hợp
giữa ngôn ngữ bên trong, ngôn ngữ bên ngoài, ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ
nhân vật.
23
Các từ ngữ xưng hô trong tác phẩm Chí Phèo được Nam Cao sử dụng vô
cùng phong phú. Có thể nói mỗi một nhân vật lại có một kho các từ ngữ xưng
hô khác nhau. Trong từng hoàn cảnh nhất định, Nam Cao gắn cho nhân vật
của mình một lối xưng hô riêng, đầy dụng ý. Từ xưng hô trong tác phẩm này
chính là một loại phương tiện hữu hiệu để biểu đạt ý nghĩa tình thái: thái độ
của nhà văn đối với nhân vật, thái độ của các nhân vật trong tác phẩm đối với
nhau và trong tác phẩm Lão Hạc cũng như tác phẩm Một bữa no cũng như
vậy.
Tóm lại, cách xây dựng nhân vật: điển hình, sinh động và độc đáo bằng
sở trường phân tích tâm lí nhân vật. Kết cấu không theo trình tự thời gian mà
vẫn rất chặt chẽ, cách kể chuyện tự nhiên, linh hoạt, hấp dẫn. Ngôn ngữ lời
văn giản dị, gắn với khẩu ngữ, mang hơi thở của đời sống và có nhiều giọng
điệu đan xen tạo nên ấn tượng cho người đọc.
(Phân tích một chút về ngôn ngữ đối thoại của Thị Nở, Bá Kiến, Chí
Phèo "Ai cho tao lương thiện")
KẾT LUẬN

Sau khi chúng tôi nghiên cứu về hình tượng người nông dân của nhà văn
Nam Cao qua ba tác phẩm: Chí Phèo, Lão Hạc, Một bữa no, chúng tôi thấy
rằng:
Những nhân vật nông dân trong truyện ngắn Nam Cao qua mỗi tác phẩm
của nhà văn Nam Cao là một lời tố khổ chân thực, cảm động về cuộc sống tối
tăm, thê thảm của người nông dân Việt Nam trước cách mạng Tháng Tám.
Nông thôn trong tác phẩm Nam Cao là nông thôn Việt Nam vốn triền miên
trong bần cùng, giờ đây đang tiến tới thảm họa khủng khiếp 1945. Cảnh chết
đói: lão Hạc ăn bả chó tự tử để tránh chết đói. Bà cái Tí chết vì một bữa quá
no, một kiểu chết đói đau thương của người nông dân trước cách mạng Tháng
24
Tám. Và sự tha hóa của con người trong chế độ phong kiến thể hiện qua hình
tượng Chí Phèo.
Nam Cao không chỉ nói đến tình cảnh bị bóc lột về thể chất mà đi sâu
vào nổi khổ, tâm hồn con người bị đày đọa, nhân phẩm bị xúc phạm, giá trị
làm người bị tước đoạt.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Tuyển Tập Nam Cao; Nhà xuất bản Thời Đại.
2) TRẦN ĐĂNG SUYỀN- NGUYỄN VĂN LONG(Đồng chủ biên) Lê
Văn Hưng-Trịnh Thu Tiết; Giáo trình Văn học Việt Nam Hiện Đại Tập 1;
Nhà xuất bản Đại Học Sư Phạm.
3) NGUYỄN THẾ VINH; Nam Cao Những Mạch Nguồn Văn; Nhà
xuất bản Văn Hóa-Thông Tin.
4) ĐOÀN THỊ HUỆ; Tác phẩm văn học và thể loại văn học.

×