Tải bản đầy đủ (.doc) (90 trang)

Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Metronic Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (559.26 KB, 90 trang )

LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bản luận văn tốt nghiệp “NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH
DOANH TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN METRONIC VIỆT
NAM” do em tự thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. ĐINH TIẾN DŨNG. Mọi số
liệu và biểu đồ mô tả trong luận văn đều do em trực tiếp thu thập và được sự đồng ý
của Ban Giám Đốc công ty TNHH Một thành viên Metronic Việt Nam.
Đề hoàn thiện luận văn này, em chỉ sử dụng những tài liệu được ghi trong
TÀI LIỆU THAM KHẢO ở cuối luận văn, ngoài những tài liệu trên em không
sử dụng bất cứ một tài liệu nào khác. Nếu phát hiện sai sót, em xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm.
Học viên
Nguyễn Văn Huynh
LỜI CẢM ƠN
Đề hoàn thành bản luận văn này em đã nhận được sự giúp đỡ từ nhiều phía.
Em xin được chân thành cảm ơn TS. ĐINH TIẾN DŨNG, người hướng dẫn
khoa học đã hướng dẫn tận tình, chi tiết để em có phương pháp nghiên cứu phù hợp
với đề tài được giao.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô khoa Quản trị kinh doanh đã chia sẻ
và truyền đạt những kiến thức quý báu về lĩnh vực quản trị nói riêng, kinh tế nói
chung. Những kiến thức này giúp em có định hướng và phương pháp luận để hoàn
thiện đề tài luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể Ban Giám Đốc, phòng kế toán đã nhiệt
tình giúp đỡ em trong việc thu thập dữ liệu và tư vấn về tình hình hoạt động của
Công ty.
Trong quá trình viết luận văn, do kinh nghiệm và thời gian còn hạn chế nên
các giải pháp đưa ra khó tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những
đóng góp thiết thực và bổ ích để luận văn của em có tính khả thi hơn.
Học viên
Nguyễn Văn Huynh
MỤC LỤC
2.2.1.Nhóm các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 19


2.2.2.Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 21
DANH MỤC VIẾT TẮT
MTV : Một Thành Viên
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
MVCL : Công ty TNHH MTV Metronic Việt Nam
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
2.2.1.Nhóm các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 19
2.2.2.Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 21
a.Nhân tố vốn 21
b.Nhân tố con người 22
c.Nhân tố trình độ kỹ thuật công nghệ 22
d.Nhân tố quản trị doanh nghiệp 22
e.Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin 23
a.Về mặt thời gian 24
b.Về mặt không gian 24
c.Về mặt định lượng 25
d.Về mặt định tính 25
Tăng thu ngân sách 30
Tạo thêm công ăn, việc làm cho người lao động 31
Nâng cao đời sống người lao động 31
Tái phân phối lợi tức xã hội 31
a.Định hướng phát triển thị trường tiêu thụ 64
b.Định hướng phát triển sản phẩm 64
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giai đoạn năm 2008 - 2009, cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ đã bắt đầu
lan rộng và ảnh hưởng đến các công ty lớn nhỏ trên khắp thế giới. Nguyên nhân sâu
xa của cuộc kủng hoảng đó do bắt nguồn từ khủng hoảng thị trường nhà đất dưới
chuẩn tại Mỹ, và lan ra các nền kinh tế lớn, nhỏ toàn cầu. Cuộc khủng hoảng đã làm

sụp đổ toàn bộ hệ thống tiền tệ của các ngân hàng hàng đầu thế giới và dẫn đến sự
phá sản của hàng loạt tập đoàn kinh tế. Đây là sự thất bại của chính sách, các đứt
gãy mang tính hệ thống. Cuộc khủng hoảng cũng buộc thế giới phải xét lại triết lí
đạo đức của sự phát triển.
Năm 2012-2013 cuộc khủng hoảng lan rộng quy mô toàn cầu. Từ châu Mỹ
đến Châu Âu, đến Châu Á, hàng loạt các cuốc gia lâm vào tình trạng nợ công, gánh
nặng tài chính. Thậm chí khủng hoảng còn là nguyên nhân sâu xa hình thành các
cuộc xung đột, tranh giành quyền lực và nội chiến ở Hy Lạp, Libia, Ai Cập
v.v Trong phạm vi một quốc gia, khủng hoảng không những ảnh hưởng trực tiếp
đến nền kinh tế của quốc gia đó mà còn ảnh hưởng các doanh nghiệp và mức sống
của người dân.
Ở Việt Nam, giai đoạn năm 2011 - 2012, là những năm rất tồi tệ với các
doanh nghiệp Việt Nam. Theo thống kê tính đến ngày 30/11/2012, cả nước đã có
65.091 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 418.853 tỷ đồng, giảm
10% về số lượng doanh nghiệp và giảm 8,4% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm
2011. Trong khi đó, số lượng doanh nghiệp tạm dừng hoạt động và giải thể là
48.473 doanh nghiệp, trong đó 39.936 doanh nghiệp dừng hoạt động và 8.537
doanh nghiệp đã giải thể [Nguồn:Cục Quản lý đăng ký kinh doanh thuộc Bộ Kế
hoạch và Đầu tư]. Những con số trên phản ảnh rõ nét về tính hình và thực trạng nền
kinh tế Việt Nam. Chắc chắn rằng con số doanh nghiệp dừng hoạt động, phá sản sẽ
còn tăng trong năm nay khi nhà nước thực hiện một loạt các chính sách quản lý và
siết chặt tài chính, ngân hàng và tiền tệ. Trong bối cảnh tình hình kinh tế như hiện
1
nay, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những bước đi sáng suốt, những chiến lược
phát triển phù hợp.
Công ty TNHH 1TV Metronic Việt Nam là một doanh nghiệp gián tiếp tham
gia vào các lĩnh vực liên quan đến bất động sản như: cung cấp, lắp đặt hệ thống điện
trong các dự án tòa nhà văn phòng, chung cư, khách sạn. Vì vậy tình hình kinh
doanh của công ty bị ảnh hưởng trực tiếp bởi khủng hoảng kinh tế và thị trường bất
động sản Việt Nam. Giai đoạn đầu từ 2008-2009, ban lãnh đạo công ty đầu tư vào

phát triển các nguồn lực và phát triển thị trường của công ty. Giai đoạn tiếp theo
công ty đẩy mạnh thực hiện các dự án. Cụ thể năm 2010, Công ty có dự án đầu tiên.
Tuy nhiên công ty vẫn chưa có lợi nhuận. Năm 2011, Công ty tiếp tục triển khai dự
án, lợi nhuật đạt trên 700 triệu. Trong năm 2012, thị trường BĐS có dấu hiệu đi
xuống, kéo theo phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản
gặp nhiều khó khăn. Tình hình kinh doanh của Công ty cũng bị sụt giảm theo, lợi
nhuận chưa bằng 1/10 năm trước [Báo cáo tài chính năm 2012]. Do đó vấn đề cấp
thiết đặt ra hiện nay, lãnh đạo công ty cần phải có những biện pháp và chiến lược
đúng đắn, phù hợp để đưa công ty không bị rơi vào khủng hoảng và nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh trong giai đoạn tới. Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “
Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành
viên Metronic Việt Nam ” nhằm đưa ra các giải pháp cụ thể và khả thi để đề xuất
với lãnh đạo và Ban giám đốc.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả hướng tới một số
mục tiêu sau:
a. Xác định các yếu tố, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
b. Xác định các vấn đề tác động xấu tới các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh.
c. Lựa chọn, đề xuất các giải pháp nâng cao các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Nghiên cứu sẽ được thực hiện trong khuôn khổ của Công ty
TNHH 1TV Metronic Việt Nam. Và không giới hạn các báo cáo, số liệu sẵn có của
công ty.
2
Phạm vi nghiên cứu là tình hình kinh doanh của Công ty TNHH 1TV
Metronic Việt Nam giai đoạn 2010-2012
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng vận dụng phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp với các phương pháp thống kê, tổng hợp,
so sánh, phân tích tình huống để rút ra các kết luận.

Nguồn dữ liệu: Các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo
kiểm toán hàng năm. Việc nghiên cứu được thực hiện theo trình tự từ lý luận, khảo
sát đánh giá thực trạng từ đó đề xuất các giải pháp
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn lựa chọn, đề xuất những giải pháp mang tính thực tiễn cao để áp
dụng nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty. Xa hơn nữa là áp dụng cho các
công ty khác có mô hình kinh doanh gần giống hoặc tương tự với công ty TNHH
Một thành viên Metronic Việt Nam.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận chung và danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu.
Chương 2. Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh và sự cần thiết nâng cao
hiệu quả kinh doanh.
Chương 3. Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH
1TV Metronic Việt Nam.
Chương 4. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
Công ty TNHH 1TV Metronic Việt Nam.
7. Tóm tắt luận văn
Đề tài liên quan đến “hiệu quả kinh doanh” đã và đang được đề cập rất nhiều
trong các nghiên cứu gần đây. Đây là chủ đề rất cấp thiết, phản ánh thực trạng nền
kinh tế hiện nay cũng như xu hướng vận động của các doanh nghiệp ở Việt Nam.
3
Là một học viên nghành quản trị kinh doanh nhận thấy đây là một đề tài sẽ
giúp em vận dụng một cách toàn diện các kiến thức đã được học tập trong thời gian
vừa qua. Chính vì vậy em lựa chọn đề tài: “ Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công
ty TNHH MTV Metronic Việt Nam”. Luận văn được xây dựng với kết cấu 4
chương:
Chương 1: Khái quát về nội dung cơ bản các công trình nghiên cứu phản
ánh các khía cạnh của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó em có những

đánh giá cụ thể và hướng đi rõ ràng hơn để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Đặc biệt các đề tài này còn giúp em nhìn ra những khoảng trống để tiếp tục nghiên
cứu và áp dụng với công ty mình.
Chương 2: Hệ thống hóa và đưa ra cơ sở lý luận chung về hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt, trong chương này đưa ra các nhân tố phản ánh
hiệu quả kinh doanh.
Chương 3: Khái quát đặc trưng của công ty, phân tích về thực trạng kinh
doanh của công ty. Chương này tập trung phân tích các nhận tố ảnh hưởng đến hiệu
quả kinh doanh của công ty. Từ đó rút ra những đánh giá về tình hình kinh doanh
của doanh nghiệp.
Chương 4: Căn cứ vào những vấn đề còn tồn tại, hạn chế của công ty.
Chương này đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của
Công ty. Cụ thể, các nhóm giải pháp gồm.
- Nhóm giải pháp giảm chi phí sản xuất.
- Nhóm giải pháp phát triển và mở rộng thị trường.
- Nhóm giải pháp nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan nội dung các công trình nghiên cứu có liên quan đến
đề tài
Không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của bất
kỳ ai, bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động kinh doanh. Nâng cao hiệu
quả kinh doanh cũng là vấn đề bao trùm và xuyên suốt mọi hoạt động kinh doanh,
thể hiện chất lượng của toàn bộ công tác quản lý kinh tế. Bởi vì, suy cho cùng, quản
lý kinh tế là đảm bảo tạo ra kết quả và hiệu quả cao nhất của mọi quá trình, mọi giai
đoạn và hoạt động kinh doanh.
Do vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn được các doanh nghiệp đặt lên
hàng đầu trong quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp. Để thành công
trong quá trình kinh doanh, buộc doanh nghiệp phải kết hợp sử dụng nhiều yếu tố

trong kinh tế, quản trị. Chính vì vậy, chủ đề nâng cao hiệu quả kinh doanh đã và
đang là chủ để, đề tài của rất nhiều luận văn, bài báo nghiên cứu. Bởi không phải
công ty, doanh nghiệp nào hoạt động cũng giống nhau, do vậy các đề tài sẽ khai
thác, nghiên cứu từng khía cạnh của vấn đề kinh doanh, quản trị để đảm bảo hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đề tài “Huy động và sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh tại công ty TNHH
Niềm tin – Thực trạng và giải pháp” của tác giả Lê Thị Lan Phương (2006), luận
văn thạc sỹ, ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. Luận văn đã hệ thống những vấn đề lý
luận cơ bản về vốn và hiệu quả huy động vốn, sử dụng vốn trong nền kinh tế thị
trường đồng thời khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả huy động
và sử dụng vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó luận
văn cũng đã nêu lên được các vấn đề còn tồn tại trong việc huy động và sử dụng
vốn tại công ty TNHH Niềm Tin, điều này làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Bởi lẽ vốn là một nhân tố thiết yếu để doanh nghiệp hoạt động, giúp doanh
nghiệp hiện thực hóa các chiến lược và phát triển kinh doanh.
Trên cơ sở những tồn tại đó, tác giả cũng đề xuất những định hướng và giải
pháp tăng cường khả năng huy động vốn và nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng
5
vốn của công ty, góp phần quan trọng trong việc thực hiện chiến lược của công ty
trong thời gian tới.
- Xây dựng chính sách huy động vốn hợp lý bao gồm việc xem xét cơ cấu vốn,
lựa chọn và quyết định hình thức huy động vốn.
- Xây dựng kế hoạch huy động vốn và sử dụng vốn.
- Cải tiến hoạt động quản lý và sử dụng vốn.
- Cải tiến tình trạng đọng vốn tồn kho.
- Đảm bảo vốn cố định phù hợp với nguồn vốn kinh doanh chiến lược của
công ty.
Đề tài này là nguồn tham khảo rất có ích. Nâng cao hiệu quả kinh doanh thông
qua việc tiếp cận, sử dụng và quản trị vốn là một trong những giải pháp thiết thực
đối với các doanh nghiệp. Tuy nhiên luận văn cần phải phân tích cụ thể, so sánh

giữa các phương án huy động vốn. Trên cơ sở đó doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương
án huy động tối ưu phù hợp với chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty liên hợp xây
dựng Vạn Cường” của tác giả Văn Đức Phúc (2003), luận văn thạc sỹ, ĐH Kinh tế
Quốc dân, Hà Nội. Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường và làm rõ các yêu cầu cơ bản trong
việc đánh giá hiệu quả kinh doanh, luận văn đã phân tích những nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Ngoài
ra, luận văn cũng đưa ra được những tồn tại ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp trong quá trình phân tích và đánh giá như: hiệu quả sử dụng vốn thấp,
chất lượng nguồn lực chưa tương xứng với sự phát triển của thị trường. Trên cơ sở
thực trạng như vậy, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp và định hướng để nâng
cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Luận văn đã nêu bật được những tồn tại chủ yếu trong các doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở Việt Nam. Hầu hết những doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức tham
gia các dự án gặp phải các vấn đề phổ biến như vốn, chất lượng nguồn lao động.
Tuy nhiên, luận văn cũng có một số hạn chế mà tác giả chưa nêu ra đó là vấn
đề liên quan đến quản lý dự án. Bởi lẽ, các doanh nghiệp kinh doanh theo mô hình
6
này, chi phí thường nằm trong quá trình triển khai và thực hiện dự án. Vì vậy nếu
doanh nghiệp quản lý dự án tốt sẽ đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt.
Đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty TNHH Vận tải
Duyên Hải” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh (2005), luận văn thạc sỹ, ĐH Kinh Tế
Quốc Dân, Hà Nội. Luận văn đã có một số đóng góp như:
Trình bày rõ khái niệm, mục đích, ý nghĩa, nội dung cơ bản của việc nâng cao
hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải hàng hóa đường bộ nói riêng và
các công ty TNHH nói chung.
Phân tích được thực trạng và hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH Duyên
hải trong thời gian qua, nêu rõ ưu-nhược điểm, tồn tại và nguyên nhân của nó.
Đề xuất được các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của

Công ty TNHH Duyên Hải trong thời gian tới.
Đề tài “Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ trên địa bàn Quảng Nam-Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà (1998),
luận văn thạc sỹ, ĐH Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội. Luận văn đã trình bày được một
số nội dung cơ bản về loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) như
Hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận cơ bản về DNVVN, đặc biệt đã đưa
ra và lý giải tiêu thức để xác định DNVVN ở nước ta hiện nay. Khẳng định vai trò
to lớn va lâu dài của các DNVVN trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, thực hiện
nhiệm vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Đánh giá, phân tích một cách toàn diện, cụ thể tình hình hoạt động và hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNVVN thuộc các thành phần kinh tế trên
địa bàn Quảng Nam – Đà Nẵng. Luận văn đã chỉ rõ ưu nhược điểm trong hoạt động
kinh doanh hiện nay của các doanh nghiệp thuộc loại hình này. Luận văn cũng chỉ
rõ những nguyên nhân của các hạn chế mà doanh nghiệp cần phải xem xét để nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Chỉ có con đường nâng cao hiệu quả
các DNVVN mới tự khẳng định được vai trò to lớn của mình trong nền kinh tế .
Luận văn đã đưa ra bốn quan điểm định hướng phát triển các DNVVN ở
Quảng Nam – Đà Nẵng, đồng thời đề xuất một hệ thống các giải pháp nhằm nâng
7
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DNVVN hiện nay.
Tóm lại, luận văn đã thể hiện tương đối đầy đủ các khó khăn, thách thức mà
các DNVVN sẽ gặp phải trong quá trình phát triển. Đặc biệt, luận văn đã đưa ra
những hướng giải pháp phù hợp đề nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đây là tài liệu
tham khảo rất tốt cho em để thực hiện luận văn.
Đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty Xăng Dầu khu
vực 1” của tác giả Bùi Duy Nhị (2002), luận văn thạc sỹ, ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà
Nội. Tác giả đã đưa ra những cách tiếp cận mới về hiệu quả kinh doanh trong lĩnh
vực xăng dầu. Tác giả nhấn mạnh chủ yếu vào thị trường và chính sách của Nhà
nước về kinh doanh xăng dầu.
Đổi mới phương thức kinh doanh để phù hợp với sự phát triển, vận động của

thị trường sẽ mang lại những hiệu quả quả mới. Nâng cao hiệu quả kinh doanh cần
thống nhất nhận thức quan điểm kinh doanh xăng dầu, phát triển và hoàn thiện cơ
chế kinh doanh phải gắn bó chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của
đất nước, với việc thiết lập tổ chức, cải tiến quản lý hành chính, mở rộng quan hệ
quốc tế.
Luận văn cũng đề xuất một số kiên nghị như: Sắp xếp tổ chức kinh doanh
xăng dầu theo đứng chức năng và lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm tiêu chuẩn lựa
chọn. Cho công ty nước ngoài và các thành phần kinh tế khác tham gia thị trường
xăng dầu để đảm bảo tính cạnh tranh lành mạnh, kích thích kinh doanh có hiệu quả,
đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xăng dầu của đất nước.
8
CHƯƠNG 2
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ SỰ
CẦN THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH
2.1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh
2.1.1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động
kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc
thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất
lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có mối quan hệ mật
thiết của vấn đề hiệu quả kinh doanh. Bởi vì việc nâng cao năng suất đồng nghĩa với
việc tăng thêm chi phí sản xuất như đầu tư vào máy móc, con người. Do vậy các
yếu tố lao động xã hội sẽ tăng lên. Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng
chúng có tính chất cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hôị,
đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để đạt
được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội
tại, phát huy năng lực, hiệu lực của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí.
Như vậy, hiệu quả kinh doanh phải là một đại lượng so sánh; so sánh giữa đầu
vào với đầu ra, so sánh giữa chi phí kinh doanh bỏ ra với kết quả kinh doanh thu

được… Đứng trên góc độ xã hội, chi phí xem xét phải là chi phí xã hội do có sự kết
hợp của các yếu tố lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động theo một tương
quan cả về số lượng và chất lượng lao động trong quá trình kinh doanh để tạo ra sản
phẩm, dịch vụ đủ tiêu chuẩn cho người dùng. Cũng như vậy, kết quả thu được phải
là một kết quả tốt, kết quả có ích. Kết quả đó có thể là một đại lượng vật chất được
tạo ra do có sự chi phí hay mức độ được thỏa mãn của nhu cầu ( số lương sản phẩm,
nhu cầu đi lại, giao tiếp, trao đổi…) và có phạm vi xác định.
Từ đó, có thể khẳng định rằng: bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả của lao
động xã hội được xác định bằng cách so sánh lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu
9
được với lượng hao phí lao động xã hội. Do vậy, thước đo hiệu quả là sự tiết kiệm
hao phí lao động xã hội và tiêu chuẩn của hiệu quả là việc tối đa hóa kết quả hoặc
tối thiểu hóa chi phí dựa trên nguồn lực sẵn có.
Tóm lại, “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu tổng hợp, đánh giá sự phát
triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh sự khai thác các nguồn lực một cách tốt nhất
phục vụ các mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp”.
[Giáo trình Phân tích hiệu quả kinh doanh]
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải được xem xét một cách toàn diện,
cả về mặt thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân.
2.1.2.Các phương pháp phân loại hiệu quả kinh doanh
Trong thực tiễn có nhiều cách phân loại hiệu quả kinh doanh khác nhau. Dưới
dây là một số cách phân loại hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp.
2.1.2.1. Hiệu quả tuyệt đối và tương đối
Căn cứ theo phương pháp tính hiệu quả, người ta chia ra thành hiệu quả tuyệt
đối và hiệu quả tương đối.
Hiệu quả tuyệt đối: Hiệu quả tuyệt đối là phạm trù chỉ lượng hiệu quả cho
từng phương án kinh doanh, từng thời kì kinh doanh, từng doanh nghiệp. Nó được
tính toán bằng cách xác định mức lợi ích thu được với chi phí bỏ ra.
Hiệu quả tương đối: Hiệu quả so sánh là phạm trù phản ánh trrình độ sử dụng

các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp. Nó được tính toán bằng công thức:
H1 = KQ/CP (1)
H2 = CP/KQ (2)
Trong đó, H1, H2 là hiệu quả kinh doanh, CP là chi phí, KQ là kết quả.
Công thức (1) cho biết kết quả mà doanh nghiệp đạt được từ một phương án kinh
doanh, từng thời kì kinh doanh. Công thức (2) cho biết một đơn vị chi phí thì tạo
ra bao nhiêu đơn vị kết quả hoặc một đơn vị kết quả thì được tạo ra từ bao nhiêu
đơn vị chi phí.
10
2.1.2.2. Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài
Căn cứ vào thời gian đem lại hiệu quả, người ta phân ra làm hai loại:
Hiệu quả trước mắt: Hiệu quả trước mắt là hiệu quả kinh doanh thu được trong thời
gian ngắn hạn gần nhất.
Hiệu quả lâu dài: Hiệu quả lâu dài là hiệu quả thu được trong khoảng thời
gian dài.
Doanh nghiệp cần xem xét thực hiện các hoạt động kinh doanh sao cho mang
lại cả lợi ích trước mắt cũng như lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp. Không vì lợi ích
trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài. Vì lợi ích lâu dài mới đem lại sự phát triển ổn
định cho doanh nghiệp.
2.1.2.3. Hiệu quả kinh tế – tài chính và hiệu quả kinh tế – xã hội
Căn cứ vào khía cạnh tác động khác nhau của hiệu quả, người ta phân ra làm
hai loại:
Hiệu quả kinh tế – tài chính: Hiệu quả kinh tế – tài chính của doanh nghiệp là
hiệu quả kinh doanh thu được từ các hoạt động thương mại của từng doanh nghiệp
kinh doanh. Biểu hiện chung là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp thu được.
Hiệu quả kinh tế – xã hội: Hiệu quả kinh tế – xã hội (hiệu quả kinh tế quốc
dân) là sự đóng góp của chính doanh nghiệp vào xã hội, mang lại các lợi ích cho xã
hội như: tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho ngân sách, tăng tích lũy
ngoại tệ, tăng năng suất lao động, nâng cao trình độ lao động, phát triển phương
pháp sản xuất mới, thay đổi cơ cấu kinh tế…

Giữa hiệu quả kinh tế – tài chính và hiệu quả kinh tế – xã hội có mối quan hệ
nhân quả với nhau và tác động qua lại với nhau. Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có
thể đạt được trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp. Ngược lại, tính
hiệu quả của bộ máy kinh tế sẽ là tiền đề tích cực, là nền tảng cơ sở cho mọi hoạt
động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Đó chính là mối quan hệ giữa cái chung và
cái riêng, giữa bộ phận và toàn bộ. Tính hiệu quả của nền kinh tế xuất phát từ tính
11
hiệu quả của mỗi doanh nghiệp và nền kinh tế vận hành tốt là môi trường thuận lợi
cho sự hoàn thiện của doanh nghiệp.
Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh của mình các doanh nghiệp cần quan tâm
đến cả hiệu quả kinh tế – xã hội, bảo đảm lợi ích riêng hài hoà với lợi ích chung. Về
phía cơ quan quản lý với vai trò định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế cần
tạo mọi điều kiện và môi trường kinh doanh thuận lợi để doanh nghiệp có thể hoạt
động đạt hiệu quả cao nhất.
2.1.2.4. Hiệu quả kinh doanh khái quát và bộ phận
Căn cứ vào phạm vi tính toán hiệu quả nguời ta phân ra làm hai loại: Hiệu
quả kinh doanh khái quát và hiệu quả kinh doanh bộ phận.
Hiệu quả kinh doanh khái quát: Hiệu quả kinh doanh khái quát là phạm trù
kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình
độ khai thác các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu
kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là thước đo hết sức quan trọng của sự tăng
trưởng kinh tế và là chỗ dựa cho việc đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của
doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Hiệu quả kinh doanh bộ phận: Hiệu quả kinh doanh bộ phận là sự thể hiện
trình độ và khả năng sử dụng bộ phận trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Đây là thước đo quan trọng của sự tăng trưởng từng bộ phận và cùng
với hiệu quả kinh doanh khái quát làm cơ sở để đánh giá việc thực hiện mục tiêu
kinh doanh của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp đều tiến hành sản xuất kinh doanh của mình trong các điều
kiện cụ thể về trình độ trang thiết bị, trình độ tổ chức quản lý lao động, quản lý kinh

doanh… mà Paul Samuelson gọi đó là “hộp đen” kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Bằng khả năng của mình họ cung ứng cho xã hội sản phẩm của mình với chi phí cá
biệt nhất định và nhà kinh doanh nào cũng muốn tiêu thụ hàng hoá của mình nhiều
nhất với giá cao nhất. Tuy vậy, thị trường vận hành theo qui luật riêng và mỗi
doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường đều phải chấp nhận “luật chơi” đó. Một
12
trong những qui luật thị trường tác động rõ nét nhất đến các chủ thể của nền kinh tế
là qui luật giá trị. Hàng hoá được thị trường thừa nhận tại mức chi phí trung bình xã
hội cần thiết dể tạo ra hàng hoá đó. Qui luật giá trị đã đặt yêu cầu cho các doanh
nghiệp phải sản xuất với mức chi phí cá biệt khác nhau trên một mặt bằng trao đổi
chung - giá cả thị trường.
Suy cho cùng, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội nhưng đối với mỗi
doanh nghiệp mà ta đánh giá hiệu quả kinh doanh thì chi phí lao động xã hội đó
được thể hiện dưới dạng các chi phí khác nhau: Giá thành sản xuất, chi phí sản xuất,
chi phí ngoài sản xuất… Bản thân mỗi loại chi phí này lại có thể được phân chia
một cách tỉ mỉ hơn. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh không thể không đánh
giá hiệu quả tổng hợp của các loại chi phí trên, mà còn đồng thời cần thiết phải
đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí đó.
Tóm lại: Trong quản lý quá trình kinh doanh, phạm trù hiệu quả kinh doanh
được biểu hiện ở các loại khác nhau. Việc phân loại hiệu quả kinh doanh là cơ sở để
xác định các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh, phân tích hiệu quả kinh doanh và xác
định những giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh.
2.1.3. Vai trò hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanh
nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh. Khi tiến hành bất kỳ một hoạt động
sản xuất kinh doanh nào thì các doanh nghiệp đều phải huy động và sử dụng các
nguồn lực mà doanh nghiệp có khả năng tạo ra kết quả phù hợp với mục tiêu mà
doanh nghiệp đề ra. Ở mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp đều có nhiều mục
tiêu khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng bao trùm toàn bộ qúa trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở sử dụng tối ưu các nguồn

lực của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp phải sử dụng nhiều biện pháp và công
cụ khác nhau để đạt được mục tiêu đó. Trong đó, hiệu quả kinh doanh là công cụ
hữu hiệu nhất để các nhà quản trị đảm bảo đạt được mục tiêu. Thông qua việc tính
toán hiệu quả sản xuất kinh doanh không những cho phép các nhà quản trị kiểm tra
13
đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
(các hoạt động có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt ở mức độ nào), mà còn cho
phép các nhà quản trị phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến các hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để từ đó đưa ra được các biện pháp điều chỉnh
thích hợp trên cả hai phương diện giảm chi phí tăng kết quả nhằm nâng cao hiệu
quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với tư cách là một công
cụ quản trị kinh doanh hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ được sử dụng để
kiểm tra, đánh giá và phân tích trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào
trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn được sử dụng để kiểm tra đánh giá trình
độ sử dụng từng yếu tố đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như ở từng
bộ phận cấu thành của doanh nghiệp. Do vậy xét trên phương diện lý luận và thực
tiễn thì phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng và không
thể thiếu được trong việc kiểm tra đánh giá và phân tích nhằm đưa ra các giải pháp
tối ưu nhất, lựa chọn được các phương pháp hợp lý nhất để thực hiện các mục tiêu
của doanh nghiệp đã đề ra.
Đối với các doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh không những là thước đo chất
lượng phản ảnh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn.
Trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng phát triển, cùng với quá trình hội nhập
của nền kinh tế, doanh nghiệp muốn tồn tại, muốn vươn lên phía trước thì trước hết,
kinh doanh phải mang lại hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh càng cao, doanh nghiệp
càng có điều kiện để mở mang và phát triển kinh tế, càng có điều kiện đầu tư, mua
sắm máy móc, thiết bị, phương tiện hiện đại cho kinh doanh, áp dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật và quy trình công nghệ mới, cải tiến và nâng cao đời sống người
lao động, thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, trong nhiều trường hợp các nhà quản trị còn coi hiệu quả kinh tế như

là các nhiệm vụ, các mục tiêu để thực hiện. Vì đối với các nhà quản trị khi nói đến
các hoạt động sản xuất kinh doanh thì họ đều quan tâm đến tính hiệu quả của nó.
Do vậy mà hiệu quả sản xuất kinh doanh có vai trò là công cụ để thực hiện nhiệm
vụ quản trị kinh doanh đồng thời vừa là mục tiêu để quản trị kinh doanh.
Một khi các nhà quản trị nhận thức đúng đắn vai trò và tầm quan trọng của
14
hiệu quả kinh doanh. Vấn đề đặt ra lúc này là làm sao để nâng cao hiệu quả kinh
doanh. Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt kết quả
tối đa với chi phí tối thiểu, hay là phải đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc
ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây được hiểu theo
nghĩa rộng là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải
bao gồm cả chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là chi phí của sự lựa chọn tốt nhất đã bị
bỏ qua, hay là chi phí của sự hy sinh công việc kinh doanh khác để thực hiện hoạt
động kinh doanh này. Chi phí cơ hội phải được bổ sung vào chi phí kế toán và phải
loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thấy rõ lợi ích kinh tế thực. Cách tính như vậy sẽ
khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các mặt
hàng sản xuất có hiệu quả hơn.
2.1.4. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp
Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp phải luôn gắn mình với thị
trường, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay đặt các doanh nghiệp trong sự cạnh
tranh gay gắt lẫn nhau. Do đó để tồn tại được trong cơ chế thị trường cạnh tranh
hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoạt động một cách có hiệu quả hơn.
Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm: càng ngày người
ta càng sử dụng nhiều các nhu cầu khác nhau của con người. Trong khi các nguồn
lực sản xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người lại ngày càng đa
dạng. Điều này phản ánh quy luật khan hiếm. Quy luật khan hiếm bắt buộc mọi
doanh nghiệp phải trả lời chính xác ba câu hỏi: sản xuất cái gì? Sản xuất như thế
nào? Sản xuất cho ai? Vì thị trường chỉ chấp nhận cái nào sản xuất đúng loại sản
phẩm với số lượng và chất lượng phù hợp. Để thấy được sự cần thiết của việc
nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị

trường, trước hết chúng ta phải nghiên cứu cơ chế thị trường và hoạt động của
doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
Thị trường là nơi diễn ra quá trình trao đổi hàng hoá. Nó tồn tại một cách
khách quan không phụ thuộc vào một ý kiến chủ quan nào. Bởi vì thị trường ra đời
và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá.
Ngoài ra thị trường còn có một vai trò quan trọng trong việc điều tiết và lưu
15
thông hàng hoá. Thông qua đó các doanh nghiệp có thể nhận biết được sự phân phối
các nguồn lực thông qua hệ thống giá cả trên thị trường. Trên thị trường luôn tồn tại
các quy luật vận động của hàng hoá, giá cả, tiền tệ Như các quy luật giá trị, qui
luật thặng dư, quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh Các quy luật này tạo thành hệ
thống thống nhất và hệ thống này chính là cơ chế thị trường. Như vậy cơ chế thị
trường được hình thành bởi sự tác động tổng hợp trong sản xuất và trong lưu thông
hàng hoá trên thị trường. Thông qua các quan hệ mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị
trường nó tác động đến việc điều tiết sản xuất, tiêu dùng, đầu tư và từ đó làm thay
đổi cơ cấu sản phẩm, cơ cấu ngành. Nói cách khác cơ chế thị trường điều tiết quá
trình phân phối lại các nguồn lực trong sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu
xã hội một cách tối ưu nhất.
Tóm lại, với sự vận động đa dạng, phức tạp của cơ chế thị trường dẫn đến sự
cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của các
doanh nghiệp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Tuy nhiên để tạo ra được sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định cho mình một
phương thức hoạt động riêng, xây dựng các chiến lược, các phương án kinh doanh
một cách phù hợp và có hiệu quả.
Như vậy trong cơ chế thị trường việc nâng cao hiệu quả kinh doanh vô cùng
quan trọng, nó được thể hiện thông qua:
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở cơ bản để đảm bảo sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp. Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định
bởi sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường, mà hiệu quả kinh doanh lại là
nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại này, đồng thời mục tiêu của doanh nghiệp là

luôn tồn tại và phát triển một cách vững chắc. Do đó việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt
động trong cơ chế thị trường hiện nay. Do yêu cầu của sự tồn tại và phát triển
của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu nhập của doanh nghiệp phải không
ngừng tăng lên. Nhưng trong điều kiện nguồn vốn và các yếu tố kỹ thuật cũng
như các yếu tố khác của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất
định, để tăng lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh
16
doanh. Như vậy, hiệu quả kinh doanh là điều kiện hết sức quan trọng trong việc
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Một cách nhìn khác là sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự tạo
ra hàng hoá, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội,
đồng thời tạo ra sự tích luỹ cho xã hội. Để thực hiện được như vậy thì mỗi doanh
nghiệp đều phải vươn lên để đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí bỏ ra và có lãi
trong qúa trình hoạt động kinh doanh. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu tái
sản xuất trong nền kinh tế. Và như vậy chúng ta buộc phải nâng cao hiệu quả
kinh doanh một cách liên tục trong mọi khâu của quá trình hoạt động kinh doanh
như là một yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, sự tồn tại mới chỉ là yêu cầu mang tính
chất giản đơn còn sự phát triển và mở rộng của doanh nghiệp mới là yêu cầu
quan trọng. Bởi vì sự tồn tại của doanh nghiệp luôn luôn phải đi kèm với sự phát
triển mở rộng của doanh nghiệp, đòi hỏi phải có sự tích luỹ đảm bảo cho quá
trình tái sản xuất mở rộng theo đúng quy luật phát triển. Như vậy để phát triển và
mở rộng doanh nghiệp, mục tiêu lúc này không còn là đủ bù đắp chi phí bỏ ra để
phát triển quá trình tái sản xuất giản đơn mà phải đảm bảo có tích luỹ đáp ứng
nhu cầu tái sản xuất mở rộng, phù hợp với quy luật khách quan và một lần nữa
nâng cao hiệu quả kinh doanh được nhấn mạnh.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và
tiến bộ trong kinh doanh. Chính việc thúc đẩy cạnh tranh yêu cầu các doanh
nghiệp phải tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh. Chấp nhận cơ
chế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh. Trong khi thị trường ngày càng phát

triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn.
Sự cạnh tranh lúc này không còn là cạnh tranh về mặt hàng mà cạnh tranh cả về
chất lượng, giá cả và các yếu tố khác. Trong khi mục tiêu chung của các doanh
nghiệp đều là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố làm các doanh nghiệp mạnh lên
nhưng ngược lại cũng có thể là các doanh nghiệp không tồn tại được trên thị
trường. Để đạt được mục tiêu là tồn tại và phát triển mở rộng thì doanh nghiệp
phải chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường. Do đó doanh nghiệp phải có
hàng hoá dịch vụ chất lượng tốt, giá cả hợp lý. Mặt khác hiệu quả kinh doanh là
17
đồng nghĩa với việc giảm giá thành tăng khối lượng hàng hoá bán, chất lượng
không ngừng được cải thiện nâng cao
Thứ ba, mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi
nhuận. Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến hành mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trường. Muốn vậy,
doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhất định. Doanh
nghiệp càng sử dụng tiết kiệm các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để
thu được nhiều lợi nhuận bấy nhiêu. Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh tính
tương đối của việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực xã hội nên là điều kiện để thực
hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh càng cao
càng phản ánh doanh nghiệp đã sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất. Vì vậy,
nâng cao hiệu quả kinh doanh là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện mục
tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận. Chính sự nâng cao hiệu quả kinh
doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát triển của mỗi
doanh nghiệp.
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài
Nâng cao hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp là yêu cầu quan
trọng và là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Chính vì vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là việc nâng cao hiệu quả của
tất cả các hoạt động trong qúa trình kinh doanh. Hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp chịu sự tác động của rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng khác nhau.
Để đạt được hiệu qủa nâng cao đòi hỏi phải có các quyết định chiến lược và
quyết sách đúng trong qúa trình lựa chọn các cơ hội hấp dẫn cũng như tổ chức,
quản lý và điều khiển hoạt động kinh doanh cần phải nghiên cứu một cách toàn
diện và hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh có thể được chia thành hai
nhóm đó là nhóm các nhân tố ảnh hưởng bên ngoài doanh nghiệp và nhóm các
nhân tố ảnh hưởng bên trong doanh nghiệp. Mục tiêu của quá trình nghiên cứu
các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh nhằm mục đích lựa chọn các
18
phương án kinh doanh phù hợp. Tuy nhiên việc nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến hiệu quả kinh doanh cần phải được thực hiện liên tục trong suốt qúa
trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường.
2.2.1. Nhóm các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
a. Môi trường kinh doanh quốc gia
Môi trường kinh doanh quốc gia của doanh nghiệp là tổng hợp các các yếu tố
luật pháp, chính trị, văn hoá và kinh tế địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động. Hệ
thống luật pháp của quốc gia nào rõ ràng đầy đủ, nhất quán và mở rộng sẽ tạo diều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, đồng thời tiết kiệm được các chi phí do luật
pháp không rõ ràng, không nhất quán gây ra. Sự ổn định hay bất ổn của hệ thống
chính trị cũng tác động đến việc tăng kết quả kinh doanh hay giảm chi phí kinh
doanh. Sự đa dạng về văn hoá có thể tạo điều kiện cho một số sản phẩm này tăng
doanh thu nhưng có thể lại làm cho một số sản phẩm khác phải tăng các chi phí để
làm thích nghi hoá sản phẩm cho phù hợp với thị hiếu địa phương. Các yếu tố kinh
tế như giá cả, lãi suất, thuế và sự thay đổi của nó đều có tác động trực tiếp đến các
yếu tố của thị trường đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp. Do đó, nó tác động đến
tăng giảm các chỉ tiêu kết quả kinh doanh hoặc tăng giảm một số loại chi phí kinh
doanh. Sự biến động chung có thể là cùng chiều giữa các yếu tố trên nhưng với tốc
độ khác nhau cũng tạo ra sự biến động không đều của các chỉ tiêu kết quả và chi phí
và do đó cũng tác động tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

b. Môi trường kinh doanh quốc tế
Môi trường kinh doanh quốc tế và sự biến động của nó cũng tác động không
nhỏ tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu như các biến động trong môi
trường kinh doanh quốc tế trở nên thuận lợi sẽ mở ra nhiều cơ hội cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, nó có thể sẽ làm cho doanh thu tăng do nhu cầu về
sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường thế giới tăng lên và ngược
lại. Giá cả của các sản phẩm trên thị trường thế giới biến động theo hướng tăng lên
hay giảm di tác động trực tiếp đến giá cả yếu tố đầu vào và đầu ra của doanh
nghiệp. Sự biến động về lãi suất tỷ giá giữa các đồng tiền, đặc biệt là các đồng
19
ngoại tệ mạnh cũng ảnh hưởng tới chi phí vốn, đến giá các yếu tố đầu vào, đầu ra
của doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Các tác động từ thiên nhiên như thảm họa động đất, lũ lụt cũng có vai trò to
lớn đến tình hình sản xuất của các nước trên thế giới, qua đó làm biến đổi môi
trường kinh doanh quốc tế.
c. Đối thủ cạnh tranh
Bao gồm các đối thủ cạnh tranh sơ cấp (cùng tiêu thụ các sản phẩm đồng
nhất) và các đối thủ cạnh tranh thứ cấp (sản xuất và tiêu thụ những sản phẩm có khả
năng thay thế). Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng cao hiệu
quả kinh doanh sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Bởi vì doanh nghiệp lúc này chỉ
có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng, giảm giá thành
sản phẩm để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu tăng vòng quay của vốn, yêu
cầu doanh nghiệp phải tổ chức lại bộ máy hoạt động phù hợp tối ưu hơn, hiệu quả
hơn để tạo cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh về giá cả, chất lượng, chủ loại,
mẫu mã Như vậy đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu
quả kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời tạo ra sự tiến bộ trong kinh doanh,
tạo ra động lực phát triển của doanh nghiệp. Việc xuất hiện càng nhiều đối thủ cạnh
tranh thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ càng khó khăn và
sẽ bị giảm một cách tương đối.
d. Thị trường

Nhân tố thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra
của doanh nghiệp. Nó là yếu tố quyết định qúa trình tái sản xuất mở rộng của doanh
nghiệp. Đối với thị trường đầu vào: cung cấp các yếu tố cho quá trình sản xuất như
nguyên vật liệu, máy móc thiết bị Cho nên nó tác động trực tiếp đến giá thành sản
phẩm, tính liên tục và hiệu quả của qúa trình sản xuất. Còn đối với thị trường đầu ra
quyết định doanh thu của doanh nghiệp trên cơ sở chấp nhận hàng hoá, dịch vụ của
doanh nghiệp, thị trường đầu ra sẽ quyết định tốc độ tiêu thụ, tạo vòng quay vốn
nhanh hay chậm từ đó tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
e. Mối quan hệ và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
20
Đây chính là tiềm lực vô hình của doanh nghiệp tạo nên sức mạnh của doanh
nghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình, nó tác động rất lớn tới sự thành bại
của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Sự tác động này là sự tác động phi lượng
hoá bởi vì chúng ta không thể tính toán, định lượng được. Một hình ảnh, uy tín tốt
về doanh nghiệp liên quan đến hàng hoá, dịch vụ chất lượng sản phẩm, giá cả là
cơ sở tạo ra sự quan tâm của khách hàng đến sản phẩm của doanh nghiệp, mặt khác
tạo cho doanh nghiệp một ưu thế lớn trong việc tạo nguồn vốn, hay mối quan hệ với
bạn hàng Với mối quan hệ rộng sẽ tạo cho doanh nghiệp nhiều cơ hội, nhiều đầu
mối và từ đó doanh nghiệp lựa chọn những cơ hội, phương án kinh doanh tốt nhất
cho mình.
Ngoài ra môi trường kinh doanh còn có các nhân tố khác như hàng hoá thay
thế, hàng hoá phụ thuộc doanh nghiệp, môi trường cạnh tranh nó tác động trực
tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy
doanh nghiệp cũng cần phải quan tâm đến nó để có những cách ứng xử với thị
trường trong từng doanh nghiệp từng thời điểm cụ thể.
2.2.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Các nhân tố chủ quan trong doanh nghiệp chính là thể hiện tiềm lực của một
doanh nghiệp. Cơ hội, chiến lược kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp luôn phụ thuộc chặt chẽ vào các yêú tố phản ánh tiềm lực của một doanh
nghiệp cụ thể. Tiềm lực của một doanh nghiệp không phải là bất biến có thể phát

triển mạnh lên hay yếu đi, có thể thay đổi toàn bộ hay bộ phận. Chính vì vậy trong
quá trình kinh doanh các doanh nghiệp luôn phải chú ý tới các nhân tố này nhằm
nâng cao hiệu qủa kinh doanh của doanh nghiệp hơn nữa.
a. Nhân tố vốn
Đây là một nhân tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua
khối lượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả
năng phân phối, đầu tư có hiệu quả các nguồn vốn, khả năng quản lý có hiệu quả
các nguồn vốn kinh doanh.
Yếu tố vốn là yếu tố chủ chốt quyết định đến quy mô của doanh nghiệp và quy
21

×