Tải bản đầy đủ (.doc) (9 trang)

Bình luận vai trò của ASEAN trong việc giải quyết các tranh chấp khu vực

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (128.51 KB, 9 trang )

Bài tập lớn học kỳ Công pháp quốc tế
Đề số 8: Bình luận vai trò của ASEAN trong việc giải quyết các tranh
chấp khu vực.
LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………..…2
I, Khái quát chung về giải quyết tranh chấp khu vực của ASEAN……..……2
II, Vai trò của ASEAN trong giải quyết các tranh chấp khu vực…………….3
1, Giải quyết tranh chấp trong an ninh – chính trị……………………………3
a, Cơ sở pháp lý:……………………………………………………...………3
b, Các tranh chấp về an ninh – chính trị…………………………………...…3
2, Giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại………………………….…….4
a, Cơ sở pháp lý…………………………………………………………...….4
b, Các tranh chấp về kinh tế - thương mại……………………………………5
KẾT LUẬN……………………………………………………………….….8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………..9
1
Bài tập lớn học kỳ Công pháp quốc tế
LỜI MỞ ĐẦU
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations,
viết tắt là ASEAN) là tổ chức liên chính phủ được thành lập ngày 8/8/1967 tại
Băng-cốc, Thái Lan trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc với 5 thành viên ban đầu, với
mục tiêu tăng cường hợp tác chính trị, an ninh, kinh tế và văn hoá - xã hội giữa
các nước thành viên, tạo điều kiện hội nhập sâu hơn với khu vực và thế giới. Qua
quá trình phát triển, ASEAN đã mở rộng bao gồm 10 quốc gia ở Đông Nam Á.
Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, ASEAN luôn phải đối diện với các
tranh chấp trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Những tranh chấp này
thường rất phức tạp, động chạm đến nhiều vấn đề nhạy cảm nên chứa đựng nguy
cơ bùng nổ gây xung đột, ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình và an ninh khu vực. Vì
vậy, để có thể thực hiện mục tiêu xây dựng Đông Nam Á phát triển bền vững, hòa
bình và ổn định, ASEAN cần có những hành động tích cực thúc đẩy quá trình giải
quyết các tranh chấp trông nội khối, khẳng định vai trò lớn mạng của Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam Á – ASEAN.


I, Khái quát chung về giải quyết tranh chấp khu vực của ASEAN
Căn cứ khoa học Luật quốc tế, ta có thể hiểu “tranh chấp quốc tế” theo nghĩa
rộng là những xung đột về lợi ích của chủ thể Luật quốc tế, nó bao gồm cả tình thế
xung đột có khả năng đe dọa hòa bình, gây ảnh hưởng đến lợi ích của họ trong
quan hệ quốc tế; theo nghĩa hẹp là sự xung đột giữa các chủ thể cùng tham gia vào
một quan hệ, đối tượng tranh chấp nhất định.
Giải quyết tranh chấp quốc tế tại các tổ chức khu vực là một trong những
phương pháp hòa bình giải quyết tranh chấp được ghi nhận trong Hiến chương
Liên hợp quốc. ASEAN là một tổ chức quốc tế khu vực, được hoạt động dựa trên
nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp công
việc nội bộ của nhau, đồng thuân, bình đẳng và cùng có lợi. Trong giải quyết các
2
Bài tập lớn học kỳ Công pháp quốc tế
tranh chấp khu vực, ASEAN luôn khẳng định nguyên tắc “tôn trọng công lý và
nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các nước trong vùng, tuân thủ các nguyên
tắc của Hiến chương Liên hợp quốc” (tuyên bố Bangkok năm 1967). Để cụ thể
hóa nguyên tắc giải quyết tranh chấp và bảo đảm hào bình, an ninh khu vực Đông
Nam Á, tháng 2/1976 tại Hội nghị thượng đỉnh các nước ASEAN lần 1, thỏa thuận
thông qua Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á.
II, Vai trò của ASEAN trong giải quyết các tranh chấp khu vực
1, Giải quyết tranh chấp trong an ninh – chính trị
a, Cơ sở pháp lý:
An ninh – chính trị là vấn đề hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới hòa
bình và sự tồn tại. Trong tiến trình phát triển, ASEAN đã đưa ra các văn kiện pháp
lý nhằm giải quyết các tranh chấp trong khu vực: Nghị định thư Malina bổ sung
Hiệp ước Bali năm 1987 nhằm mở rộng phạm vi của các chủ thể, Quy tắc tố tụng
của Hội đồng cấp cao Hiệp ước Bali năm 2001 đã đề ra trình tự thủ tục giải quyết
các tranh chấp quốc tê và Tuyên bố Bali II năm 2003 với mục đích tăng cường cơ
chế giải quyết tranh chấp.
b, Các tranh chấp về an ninh – chính trị

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, các quốc gia Đông Nam Á vẫn
gặp phải các vấn đề về tranh chấp biên giới lãnh thổ, xung đột sắc tộc tôn giáo,…
Cụ thể như tranh chấp Thái Lan với Lào về biên giới trên bộ dọc song Mêkông;
tranh chấp Thái và Myanma trong việc phân định lãnh hải trong vùng biển
Andaman và chủ quyền với một số đảo, đảo đá; tranh chấp Malaysia với
Philippines về vùng biển Xulu và vấn đề Xaba; tranh chấp chủ quyền trên quần
đảo Trường Sa,…
Các tranh chấp về an nninh – chính trị này đã được ASEAN giải quyết dựa
trên nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế. Với vai trò là người
3
Bài tập lớn học kỳ Công pháp quốc tế
hòa giải, ASEAN đã giải quyết các tranh chấp thông qua đàm phán và đi đến các
hiệp định mang tính chất có lợi cho cả hai bên.
Năm 1977, Việt Nam đã ký Hiệp ước hoạch định biên giới với Lào. Năm
1983 và 1985, Việt Nam đã ký Hiệp ước hoạch định biên giới trên đất liền với
Campuchia. Tranh chấp trên biển, Việt Nam đã ký kết Hiệp định về hoạch định
biên giới trên biển với Thái Lan năm 1997, thỏa thuận về hợp tác khai thác chung
vùng chồng lấn với Malaysia năm 1992 và Hoạch định phân định thềm lục địa với
Indonesia năm 2003. Indonesia ký với Malaysia hai Hiệp định về phân định lãnh
hải trong eo biển Lalacca năm 1969 và phân định thềm lục địa năm 1970, việc
phân định này được hai quốc gia hoàn tất vào năm 1975. Indonesia ký với
Malaysia và Thái Lan Hiệp định phân định thềm lực địa của 3 nước nằm ở phần
phía Bắc eo biển Lalacca năm 1971, ký với Singapore Hiệp định phân định lãnh
hải trong eo biển Singapore năm 1973. Malaysia ký với Thái Lan hai Hiệp định về
phân định lãnh hải và phân định thềm lục địa trong vịnh Thái lan năm 1979, ký
Hiệp định về hoaạch định biên giứoi trong vùng biển Andaman với Thái Lan năm
1980 và hoạch định biên giới trên đất liền với Lào năm 1994.
Bên cạnh việc sử dụng biện pháp thương lượng, hòa bình giải quyết tranh
chấp, sự hợp tác than thiện, hữu nghị giữa các bên luôn nỗ lực trong khả năng có
thể để ngăn không cho tình hình trở nên xấu đi cũng như việc đe dọa dung vũ lực

hoặc dung vũ lực để uy hiếp tới nền hòa bình của các bên tranh chấp.
2, Giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại
a, Cơ sở pháp lý
Trong bối cảnh kinh tế ngày càng phát triển, các nước trên thế giới đang cạnh
tranh không ngừng nghỉ. Để bắt kịp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Hiệp hôi
các quốc gia Đông Nam Á đã có những chính sách nhất định. Trong Hiệp ước Bali
năm 1976, ASEAN đã bày tỏ quan tâm và chú trọng nhiều hơn đến sự hợp tác
4
Bài tập lớn học kỳ Công pháp quốc tế
kinh tế. Sau hiệp ước Bali năm 1976, nhiều văn kiện pháp lý về lĩnh vực này đã
được kí kết.
Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 4 đã diễn ra tại Singapore,
mức độ hợp tác kinh tế của ASEAN mới đạt được nhiều bước tiến quan trọng. Hội
nghị đã thông qua Tuyên bố Singapore, Hiệp định khung về tăng cường hợp tác
kinh tế ASEAN và đặc biệt là thành lập Khu vưc mậu dịch tự do – AFTA. Đầu
năm 1995, nhóm cộng tác kinh tế về triển khai Hiệp định CEPT đã được đưa ra
thảo luận, xem xét việc xây dựng dự thảo cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh
vực kinh tế - thương mại. Từ đó, Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp
năm 1996 ra đời. Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN đặc biệt không chính thức
đã họp tại Jakatar tháng 7/2003 và nhất trí thành lập một cơ chế bổ sung để hỗ trợ
cho cưo chế giải quyết tranh chấp hiện có. Sau tuyên bố Bali II năm 2003, cộng
đồng kinh tế đã được thành lập với chương trình hoạt động mở rộng hợp tác, cải
thiện tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp khu vực. Nghị định thư tăng cường
giải quyết tranh chấp ra đời năm 2004 thay thế cho Nghị định thư năm 1996. Nghị
định thư đưa ra theo đúng Hiến chương ASEAN: “các tranh chấp liên quan đến
việc giải thích hoặc áp dụng các hiệp định kinh tế ASEAN sẽ được giải quyết theo
Nghị định thư ASEAN về tăng cường cưo chế giải quyết tranh chấp”.
Năm 1987, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư đã được ký kết trong
khuôn khổ ASEAN. Vào năm 1996, Nghị định thư sửa đổi Hiệp định này được
thông qua đã ghi nhận một cơ chế riêng cho việc giải quyết tranh chấp liên quan

đến việc giải thích và áp dụng Hiệp định về đầu tư. Ngay sau đó, Hiệp định khung
về khu vực đầu tư ASEAN (AIA) năm 1998 và Hiệp định đầu tư toàn diện
(ACIA) tháng 2/2009 lần lượt được kí kết. Hiệp định ra đời nhằm hướng tới việc
tạo ra một cơ chế đầu tư tự do, thông thoáng đề thu hút đầu tư và hội nhập kinh tế
quốc tế.
b, Các tranh chấp về kinh tế - thương mại
5

×