Tải bản đầy đủ (.pdf) (95 trang)

Vận dụng công cụ phái sinh quản trị rủi ro lãi suất tại các NHTM CP Việt Nam Luận văn thạc sĩ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (926.89 KB, 95 trang )




BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG

VẬN DỤNG CÔNG CỤ PHÁI
SINH TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO
LÃI SUẤT TẠI CÁC NHTM CP
VIỆT NAM


Chuyên ngành: Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.31.12




LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ




NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA
HỌC
TS. LÊ THỊ KIM XUÂN











TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU
NỘI DUNG TRANG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT VÀ CÁC CÔNG CỤ PHÁI
SINH TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT 1
1.1 Tổng quan về lãi suất, rủi ro lãi suất, quản trị rủi ro lãi suất 1
1.1.1 Tổng quan về lãi suất 1
1.1.1.1 Khái niệm lãi suất 1
1.1.1.2 Phân loại lãi suất 1
1.1.1.3 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường 3
1.1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất 5
1.1.2 Rủi ro lãi suất 6
1.1.2.1 Khái quát về rủi ro lãi suất 6
1.1.2.2 Nguyên nhân của rủi ro lãi suất 7
1.1.2.3 Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất đối với hoạt động kinh doanh của
ngân hàng 8
1.1.3 Quản trị rủi ro lãi suất 9

1.1.3.1 Mục tiêu của hoạt động quản trị rủi ro lãi suất 9
1.1.3.2 Quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất 9
1.1.3.3 Quản lý khe hở kỳ hạn. 11
1.2 Tổng quan về các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất 13
1.2.1 Hợp đồng lãi suất kỳ hạn 13
1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm 13
1.2.1.2 Vận dụng FRA trong phòng ngừa rủi ro lãi suất 13


1.2.2 Hợp đồng lãi suất tương lai 14
1.2.2.1 Khái niệm và đặc điểm 14
1.2.2.2 Vận dụng hợp đồng lãi suất tương lai trong phòng ngừa rủi ro lãi
suất 15
1.2.3 Quyền chọn 16
1.2.3.1 Khái niệm và đặc điểm 16
1.2.3.2 Vận dụng công cụ quyền chọn trong phòng ngừa rủi ro lãi suất 17
1.2.4 Hoán đổi 18
1.2.4.1 Khái niệm 18
1.2.4.2 Vận dụng hợp đồng hoán đổi lãi suất trong phòng ngừa rủi ro lãi
suất 19
1.3 Vận dụng các công cụ phái sinh vào quản trị phòng ngừa rủi ro lãi
suất một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 21
1.3.1 Vận dụng các công cụ phái sinh vào quản trị phòng ngừa rủi ro lãi
suất 21
1.3.1.1 Tại Mỹ 21
1.3.1.2 Tại Anh 22
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 23
1.4 Tính hai mặt của các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi
suất 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH
TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NHTMCP VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN QUA 25
2.1 Tình hình kinh tế xã hội từ năm 1986 đến nay 25
2.2 Tổng quan về chính sách lãi suất của NHNN VN trong thời gian qua . 27
2.2.1 Giai đoạn trước 1996: chuyển từ cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi
suất thực dương. 27
2.2.1.1 Giai đoạn trước tháng 6/1992: lãi suất thực âm 27


2.2.1.2 Giai đoạn từ tháng 6/1992-1995: chuyển từ cơ chế lãi suất thực âm
sang lãi suất thực dương. 29
2.2.2 Giai đoạn từ 1996 đến tháng 7/2000: áp dụng mức trần lãi suất cho
vay 30
2.2.3 Giai đoạn từ tháng 8/2000 đến tháng 5/2002: cơ chế lãi suất cơ bản
cộng biên độ dao động trong từng thời kỳ. 32
2.2.4 Giai đoạn từ tháng 6/2002 đến tháng 5/2008: cơ chế lãi suất thỏa
thuận 33
2.2.5 Giai đoạn từ tháng 6/2008 đến nay: cơ chế lãi suất cơ bản bên cạnh lãi
suất thoả thuận. 35
2.3 Thực trạng vận dụng các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro lãi
suất tại các NHTMCP Việt Nam trong thời gian qua. 40
2.3.1 Thực trạng phát triển hệ thống NHTMCP Việt Nam trong thời gian
qua 40
2.3.2 Thực trạng vận dụng các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro lãi
suất tại các NHTMCP Việt Nam. 41
2.3.2.1 Tại NHTMCP Á Châu – ACB 41
2.3.2.2Tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín - Sacombank 43
2.3.2.3Tại NHTMCP Xuất Nhập Khẩu – Eximbank 44
2.3.2.4Tại NHTMCP Kỹ Thương – Techcombank 45

2.3.2.5Tại NHTM Ngoại Thương – Vietcombank 46
2.4 Những hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong quản trị rủi ro lãi suất
tại các NHTMCP Việt Nam trong thời gian qua 47
2.4.1 Hạn chế 47
2.4.2 Nguyên nhân các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại
các NHTMCP Việt Nam chưa phát triển trong thời gian qua 48
2.4.2.1 Góc độ vĩ mô 48
2.4.2.2 Góc độ vi mô 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52


CHƯƠNG III: VẬN DỤNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TRONG QUẢN
TRỊ PHÒNG NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG LÃI SUẤT TẠI CÁC NHTMCP
VIỆT NAM 53
3.1 Bối cảnh vận dụng các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro lãi
suất tại các NHTMCP Việt Nam 53
3.1.1 Định hướng hội nhập trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ 53
3.1.2 Phân tích SWOT của các NHTMCP Việt Nam hiện nay trong việc
vận dụng các công cụ phái sinh phòng ngừa rủi ro lãi suất. 56
3.2 Các giải pháp vận dụng công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro lãi
suất 64
3.2.1 Các điều kiện cần thiết để phát triển các công cụ tài chính phái sinh
trong quản trị rủi ro lãi suất tại Việt Nam. 64
3.2.1.1 Điều kiện về thị trường 64
3.2.1.2 Điều kiện môi trường pháp lý 65
3.2.1.3 Điều kiện về con người 66
3.2.1.4 Điều kiện về công nghệ 66
3.2.2 Về phía cơ quan quản lý 67
3.2.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý 67
3.2.2.2 Hoàn thiện và phát triển thị trường tài chính, tiền tệ theo chiều sâu 71

3.2.2.3 Hiện đại hóa hạ tầng thanh toán liên ngân hàng 71
3.2.3 Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần 72
3.2.3.1 Nâng cao nhận thức đội ngũ quản lý ngân hàng về vận dụng sản
phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất. 72
3.2.3.2 Tâm lý trách nhiệm 72
3.2.3.3 Đào tạo nguồn nhân lực ngân hàng 73
3.2.3.4 Phổ biến rộng rãi các kiến thức về sản phẩm phái sinh lãi suất 74
3.2.3.5 Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng 74
3.2.3.6 Xây dựng chương trình quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng. 74
3.2.3.7 Tăng cường cơ chế kiểm soát nội bộ 76


KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80




LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “VẬN DỤNG CÔNG CỤ PHÁI
SINH TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NHTMCP VIỆT
NAM” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu trong luận văn là số
liệu trung thực.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2010




NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG
Học viên cao học khóa 16
Chuyên ngành: Kinh tế - Tài chính – Ngân hàng
Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

FRA : Hợp đồng lãi suất kỳ hạn
CAP : Quyền chọn lãi suất trần
FLOORS : Quyền chọn lãi suất sàn
COLLAR : Quyền chọn lãi suất trần-sàn
NIM : Tỉ lệ thu nhập lãi cận biên
TSC : Tài sản có
TSN : Tài sản nợ
R : Khe hở nhạy cảm lãi suất
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
TMCP : Thương mại cổ phần
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
WB : Ngân hàng thế giới
IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế
ADB : Ngân hàng phát triển châu Á
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
EU : Liên minh châu Âu
AFTA : Khu vực thương mại tự do Asean
ASEM : Diễn đàn Á-Âu
APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương
CEPT : Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
TSC : Tài sản có

TSN : Tài sản nợ
VCB : Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
ACB : Ngân hàng TMCP Á Châu
ALCO : Hội đồng quản lý tài sản nợ-có
Sacombank : Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
Eximbank : Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu
Techcombank : Ngân hàng TMCP Kỹ Thương
Vietcombank : Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
VPĐD : Văn phòng đại diện
CN, PGD : Chi nhánh, phòng giao dịch
NHQD : Ngân hàng quốc doanh
NHNNg : Ngân hàng nước ngoài
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NIM : Khả năng sinh lời
ISDA : Hiệp hội quốc tế về hoán đổi và phái sinh
TCTD : Tổ chức tín dụng
BIS : Ngân hàng thanh toán quốc tế



DANH MỤC BẢNG
BIỂU
Trang
Bảng 1.1. Luồng tiền trong giao dịch hoán đổi lãi suất 20
Bảng 2.1. Lãi suất giai đoạn trước 1992 (% tháng, cuối mỗi giai đoạn) 28
Bảng 2.2. Lãi suất thực giai đoạn từ 1992 đến 1995 30
Bảng 2.3. Trần lãi suất cho vay từ 1998 đến năm 2000 (%năm) 31
Bảng 2.4. Biến động lãi suất cơ bản trong năm 2008-2009 (%) 37
Bảng 2.5. Số lượng các tổ chức tài chính tại Việt Nam 41
Bảng 3.1 Mô hình SWOT của các NHTMCP Việt Nam 56



DANH MỤC HÌNH, ĐỒ
THỊ

Trang
Hình 1.1. Giá trị phái sinh tại ngân hàng Anh 22

Hình 2.1.Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á,
Trung Quốc từ 1995-2007 26
Hình 2.2. Lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu trong năm 2008-2009 37
Hình 2.3. Độ sâu tài chính (M2/GDP) tại một số quốc gia trong khu vực (%) 48



PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo xu hướng hội nhập và phát triển của nền kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt
Nam cũng đang dần phát triển. Sự gia tăng của cải xã hội, mức sống và dân trí của
người dân cũng được nâng dần. Theo đó, thị trường tài chính Việt Nam cũng có
những cải tiến và phát triển theo chiều sâu. Kinh tế thị trường có sự điều tiết của
Nhà nước đang được định hình. Sự can thiệp một cách trực tiếp, hành chính của
Nhà nước đang dần hạn chế. Tự do hoá và hội nhập là một xu thế tất yếu trong sự
phát triển kinh tế Việt Nam. Do đó, công cụ lãi suất trong nền kinh tế sẽ có những
biến động, phản ánh cung và cầu tiền tệ trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn.
Trước sự biến động không thể dự đoán được của lãi suất, các ngân hàng thương
mại cấp thiết phải xây dựng cho mình một chương trình phòng ngừa các rủi ro về
lãi suất nhằm tối thiểu hoá chi phí và tối đa hoá lợi nhuận cho ngân hàng.
Việc sử dụng các công cụ phái sinh là một trong những phương cách phòng

ngừa những ảnh hưởng xấu mà lãi suất có thể gây ra. Trong đề tài, tác giả tập trung
nghiên cứu thực trạng và tìm hiểu nguyên nhân tồn tại của việc vận dụng các công
cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất tại các NHTMCP Việt Nam từ đó đề
ra các giải pháp đồng bộ và cụ thể.

2. Mục đích, ý nghĩa và đối tượng nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đi tìm câu trả lời cho việc vận dụng
các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất tại các NHTMCP Việt Nam.
Luận văn tập trung vào 2 câu hỏi lớn:
- Thực trạng vận dụng các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các
NHTMCP Việt Nam như thế nào? Những tồn tại và nguyên nhân ra sao?
- Giải pháp nào để các NHTMCP tại Việt Nam có thể sử dụng hiệu quả các
công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất nhằm hạn chế những ảnh hưởng
xấu mà biến động lãi suất gây ra.
Ý nghĩa: Kết quả nghiên cứu nhằm giúp các NHTM tại Việt Nam nhận thức
tầm quan trọng của việc quản trị rủi ro lãi suất và vận dụng các công cụ phái sinh


trong phòng ngừa những rủi ro mà biến động lãi suất gây ra.
Đối tượng nghiên cứu: là rủi ro lãi suất có thể gây ra đối với các NHTMCP
Việt Nam.
3. Giới hạn đề tài nghiên cứu

Trong quá trình hoạt động của ngân hàng, rủi ro lãi suất là một trong những
rủi ro không thể tránh khỏi nhất là trong xu thế tự do hoá lãi suất. Lãi suất luôn gắn
liền với hoạt động ngân hàng. Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản trị rủi ro
lãi suất tại các NHTMCP Việt Nam đến năm 2009 mà cụ thể là Ngân hàng TMCP
Á Châu, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương
Việt Nam, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, Ngân hàng TMCP
Ngoại Thương.

4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyết về lãi suất, rủi ro lãi suất cũng như tổng quan về các
công cụ phái sinh, mục tiêu nghiên cứu đã được xác định từ trước, tác giả chủ
yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích nhằm làm rõ các phương thức
quản trị rủi ro lãi suất tại các NHTMCP Việt Nam; nguyên nhân còn tồn tại của
việc vận dụng các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất.

5. Kết cấu luận văn
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu và phần kết luận gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về lãi suất, rủi ro lãi suất , quản trị rủi ro lãi suất
và các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất.
Chương 2: Thực trạng việc vận dụng các công cụ phái sinh trong quản trị rủi
ro lãi suất tại các NHTMCP Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Giải pháp vận dụng các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro lãi
suất tại các NHTMCP Việt Nam.
1

CHƯƠNG I
: TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT VÀ CÁC CÔNG
CỤ PHÁI SINH TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT
1.1 Tổng quan về lãi suất, rủi ro lãi suất, quản trị rủi ro lãi suất
1.1.1 Tổng quan về lãi suất
1.1.1.1 Khái niệm lãi suất
Theo tiến trình phát triển của nền sản xuất hàng hóa ngày càng rộng khắp,
phân công lao động ngày càng sâu sắc, một bộ phận dân cư thừa vốn nhàn rỗi và
ngược lại. Chính lúc đó phát sinh nhu cầu vay và cho vay lẫn nhau. Khái niệm
lãi suất gắn liền với hoạt động này. Lãi suất bắt nguồn từ khoản lợi tức mà người
cho vay được hưởng, nó được hiểu là cái giá mà người đi vay phải trả để sử dụng
khoản vay trong một thời gian nhất định. Ở giác độ người cho vay, lợi tức cũng
được hiểu là khoản tăng thêm so với vốn gốc cho vay ban đầu, đó là giá trị tăng

lên của tiền tệ theo thời gian.
Lãi suất ở đây được hiểu là tỷ suất lợi tức. Tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lãi
vay (lợi tức) và tổng số tiền đã bỏ ra cho vay trong một khoản thời gian nhất
định, thường tính theo năm được gọi là lãi suất.
Lãi suất được tính theo công thức như sau:
Lãi suất trong kỳ = (Tổng số lợi tức trong kỳ/Tổng số tiền cho vay trong
kỳ)*100%.
Khi việc vay mượn vốn trên thị trường tự do thì lãi suất do cung và cầu về
vốn trên thị trường quyết định. Lãi suất cũng được xem là giá cả trên thị trường
tài chính và là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ của ngân
hàng trung ương.
1.1.1.2 Phân loại lãi suất
Để việc tiếp cận lãi suất một cách dễ dàng, chúng ta căn cứ vào các giác
độ khác nhau để phân chia lãi suất ra nhiều loại:
- Căn cứ vào tiêu thức nghiệp vụ tín dụng:

+ Lãi suất tiền gửi: là lãi suất ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào
ngân hàng hay còn gọi là lãi suất huy động vốn. Lãi suất này có nhiều mức khác
nhau tùy thuộc vào thời hạn và quy mô khoản tiền gửi.
+ Lãi suất tiền vay: (Lãi suất cho vay), là lãi suất mà người đi vay phải trả
cho ngân hàng. Các mức lãi suất này tùy thuộc vào loại hình vay, mức độ quan
hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng như sự thỏa thuận giữa hai bên. Sự thay
2

đổi lãi suất cho vay có tác dụng đến quy mô cho vay và khả năng cung ứng tiền
vào lưu thông.
+ Lãi suất chiết khấu: lãi suất này phát sinh khi ngân hàng cho khách
hàng vay dưới dạng chiết khấu thương phiếu hay các loại giấy tờ có giá khác
chưa đến hạn thanh toán của khách hàng. Tiền lãi này được ngân hàng khấu trừ
ngay khi cho khách hàng vay. Như vậy, lãi suất chiết khấu được trả trước cho

ngân hàng chứ không phải trả sau như lãi suất thông thường.
+ Lãi suất tái chiết khấu của ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng
thương mại. Đó là lãi suất tồn tại khi cho vay dưới hình thức tái chiết khấu
thương phiếu hoặc giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán. Lãi suất này
cũng được tính bằng tỉ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và cũng
được khấu trừ ngay khi ngân hàng trung ương cấp tiền vay cho ngân hàng
thương mại.
+ Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng cho nhau
khi các ngân hàng vay trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất này chịu sự chi
phối bởi lãi suất mà ngân hàng trung ương cho các ngân hàng trung gian vay.
- Căn cứ vào tiêu thức quản lý vĩ mô:

+ Lãi suất sàn và lãi suất trần: là mức lãi suất thấp nhất và cao nhất mà
ngân hàng trung ương ấn định cho các ngân hàng thương mại trong việc huy động
vốn và cho vay.
Từ mức lãi suất sàn và lãi suất trần hình thành khung lãi suất, các ngân
hàng thương mại xây dựng lãi suất kinh doanh trong phạm vi khung này.
+ Lãi suất cơ bản: là lãi suất do ngân hàng trung ương công bố làm cơ sở
xác định mức lãi suất kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Lãi suất cơ bản
được hình thành khác nhau ở các quốc gia và ở từng thời kỳ.
- Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất:

+ Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất được tính theo giá trị danh nghĩa không
kể đến tác động của lạm phát. Lãi suất danh nghĩa thường được ghi nhận trên
hợp đồng tín dụng. Đó lãi suất thị trường ở các thời kỳ.
+ Lãi suất thực tế: Là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những
thay đổi về lạm phát. Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực như
sau:
Theo hiệu ứng Fisher: Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát.
1





1
PGS.TS Trần Ngọc Thơ, PGS.TS Nguyễn Ngọc Định, Tài Chính Quốc Tế, Nhà Xuất Bản Thống Kê
năm 2005 [169]
3

- Căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất:

+ Lãi suất cố định: là loại lãi suất được quy định cố định trong thời hạn
vay. Ưu điểm của lãi suất này là lãi cố định và dự tính trước, tuy nhiên nhược
điểm là ràng buộc vào một mức lãi suất nhất định mặc dầu lãi suất thị trường đã
thay đổi. Trong trường hợp lãi suất trên thị trường có xu hướng giảm thì người đi
vay chịu thiệt và người cho vay có lợi và ngược lại.
+ Lãi suất thả nổi: là lãi suất được quy định có thể thay đổi cùng lãi suất
thị trường trong thời hạn tín dụng. Lãi suất thả nổi chứa đựng cả rủi ro và lợi
nhuận. Khi lãi suất tăng lên người đi vay bị thiệt hại so với lãi suất cố định và
ngược lại.
- Căn cứ vào loại tiền cho vay:

+ Lãi suất nội tệ: là lãi suất cho vay và đi vay bằng đồng nội tệ
+ Lãi suất ngoại tệ: là lãi suất cho vay và đi vay bằng đồng ngoại tệ.
- Căn cứ vào nguồn tín dụng trong nước hay nước ngoài:

+ Lãi suất trong nước: còn gọi là lãi suất quốc gia, là lãi suất áp dụng
trong các hợp đồng tín dụng trong nước.
+ Lãi suất quốc tế: là lãi suất áp dụng đối với các hợp đồng tín dụng quốc
tế. Có các loại lãi suất quốc tế như: LIBOR, NIBOR, TIBOR, SIBOR…

Nếu các hợp đồng tín dụng quốc tế áp dụng mức lãi suất quốc gia thì lãi
suất quốc gia trở thành lãi suất quốc tế.
Ngoài các tiêu thức trên, người ta còn căn cứ vào thời hạn tín dụng, mức độ
ưu đãi đối với người vay… mà có các phân loại khác nhau.
1.1.1.3Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường
a/ Lãi suất tín dụng là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
Lãi suất là một trong những công cụ của ngân hàng trung ương thực hiện
chính sách tiền tệ của quốc gia, điều tiết kinh tế-xã hội. Vai trò của lãi suất được
thể hiện trên nhiều mặt:
- Ngân hàng trung ương có thể thông qua công cụ lãi suất để điều tiết khối
lượng cung tiền trong nền kinh tế, từ đó tác động đến lượng hàng hóa sản xuất ra,
điều tiết kinh tế, ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát và tạo công ăn việc làm trong
xã hội.
- Công cụ lãi suất giúp tác động đến tổng cung và tổng cầu hàng hóa trong
nền kinh tế bằng việc ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, sản xuất của doanh
nghiệp, tiêu dùng và tiết kiệm trong dân cư. Nếu lãi suất tăng cao sẽ hạn chế hoạt
động đầu tư của doanh nghiệp, tiêu dùng trong dân cư và tăng tiết kiệm còn
ngược lại lãi suất tín dụng giảm sẽ giúp mở rộng hoạt động đầu tư cũng như tín
4

dụng tiêu dùng tăng trưởng. Chính động thái này ảnh hưởng đến tổng cung cũng
như tổng cầu hàng hóa trong nền kinh tế.
- Lãi suất còn là công cụ điều hòa cung cầu ngoại tệ, góp phần cân bằng cán
cân thanh toán quốc tế. Trong điều kiện lãi suất trong nước tăng so với lãi suất
nước ngoài sẽ theo nguyên tắc “nước chảy về chỗ trũng” dẫn đến nguồn ngoại tệ
trong nước tăng lên, cung ngoại tệ tăng và ngược lại.
- Trong một chừng mực nhất định nào đó người ta có thể dùng công cụ lãi
suất để điều chỉnh cơ cấu ngành, khu vực của nền kinh tế tạo sự phát triển cân
bằng, hài hòa giữa các vùng, miền. Bằng việc thực thi lãi suất tín dụng ưu đãi ở
khu vực nông thôn, miền sâu, miền xa giúp tăng trưởng kinh tế ở các khu vực

này.
b/ Lãi suất tín dụng là công cụ kích thích đầu tư phát triển kinh tế
- Việc tăng hay giảm lãi suất đặc biệt là lãi suất cho vay khiến cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng hoặc thu hẹp.
- Lãi suất tín dụng là căn cứ để các chủ thể kinh tế lựa chọn cơ hội đầu tư.
Doanh nghiệp chỉ đầu tư khi tỷ suất sinh lợi cao hơn lãi suất tín dụng. Bên cạnh
đó, lãi suất tác động trực tiếp đến tiêu dùng, tiết kiệm trong dân cư.
- Ở giác độ vi mô, lãi suất tín dụng là công cụ để thực hiện hoạt động của
các tổ chức tín dụng như: tập trung nguồn vốn, cho vay… đảm bảo nguồn lực tài
chính để thực hiện hạch toán kinh doanh.
c/ Lãi suất tín dụng là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng
vốn có hiệu quả
Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất tín dụng được coi là công cụ quan
trọng để phân phối vốn hợp lý và phù hợp với đường lối phát triển kinh tế trong
từng thời kỳ. Nếu nhằm mục đích chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ưu tiên đầu tư phát
triển vùng miền thì doanh nghiệp, cá nhân vùng, miền này sẽ được vay vốn với
mức lãi suất ưu đãi. Ngược lại để kìm hãm tốc độ phát triển quá nóng của một số
ngành thì áp dụng mức lãi suất cho vay cao.
Nguyên tắc hoạt động của tín dụng là người vay phải trả đầy đủ vốn gốc
và lãi đúng thời hạn. Nếu người đi vay không trả nợ đúng hạn thì chịu phạt theo
lãi suất nợ quá hạn. Điều này kích thích người đi vay sử dụng vốn đúng mục
đích, có hiệu quả, trả nợ đúng hạn.
d/ Lãi suất tín dụng là công cụ kích thích cạnh tranh giữa các tổ chức
tín dụng
Trong cơ chế tự do hóa lãi suất thì lãi suất là công cụ quan trọng để kích
thích cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng. Để tăng khối lượng nguồn vốn huy
5

động, mở rộng cho vay, các tổ chức tín dụng có thể nâng lãi suất huy động và hạ
thấp lãi suất cho vay. Chỉ có tổ chức tín dụng nào có mức lãi suất linh hoạt, đủ

sức hấp dẫn mới thu hút được nhiều nguồn vốn và mở rộng cho vay.
e/ Lãi suất là một trong những công cụ đánh giá sức khoẻ của nền kinh
tế
Sức khỏe của nền kinh tế được thể hiện thông qua công cụ lãi suất. Mức
lãi suất cao tương đối ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển. Tại
các nước đang phát triển, nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển là rất lớn. Thêm
vào đó, tỷ suất sinh lợi tương đối cao nên nhìn chung mức lãi suất cao tương đối
so với các nước phát triển. Khi lãi suất trong nền kinh tế tăng hoặc giảm một
cách đột biến đều ảnh hưởng đến tình hình tăng trưởng kinh tế. Lãi suất tăng làm
hạn chế kênh huy động vốn cho hoạt động đầu tư, phát triển của doanh nghiệp,
dân cư. Lãi suất giảm với biên độ rộng cũng phản ánh sự bảo hoà, đang dần suy
thoái trong tiến trình phát triển và động thái giảm lãi suất là nhằm kích thích,
thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế.
1.1.1.4Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
Như đã nói ở trên, lãi suất chính là “giá cả” của hoạt động vay và cho vay
vốn. Do đó, nó chịu ảnh hưởng tác động từ phía cung và cầu về vốn.
a/ Mức cung, cầu tiền tệ:

Cầu về vốn là nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng
của các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế. Cầu về vốn lại chịu tác động các
nhân tố sau:
- Nhu cầu vốn của các doanh nghiệp, hộ gia đình nhằm hình thành vốn đầu
tư cũng như trang trãi các chi phí liên quan đến sản xuất và tiêu dùng.
- Nhu cầu vốn của chính phủ nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước.
- Nhu cầu vốn của các chủ thể nước ngoài như doanh nghiệp, chính phủ
nước ngoài hoặc các trung gian tài chính nước ngoài.
Tổng hợp các nhu cầu trên chính là nhu cầu về vốn của xã hội và yếu tố
này biến động ngược chiều với lãi suất.
Trong khi đó nguồn cung về vốn là nguồn cung ứng vốn cho nền kinh tế lại
phụ thuộc vào các yếu tố:

- Tiền gửi tiết kiệm của hộ gia đình. Trong điều kiện bình thường, lượng
tiền gửi tiết kiệm phụ thuộc rất nhiều vào lãi suất. Nếu lãi suất tăng sẽ tăng nhu
cầu tiết kiệm và ngược lại. Tuy nhiên mức độ nhạy cảm này còn tùy thuộc vào
tình trạng của nền kinh tế như thói quen tiết kiệm, tiêu dùng của dân cư.
6

- Nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức như các khoản tiền gửi
không kỳ hạn. Nguồn vốn này cũng đồng biến với lãi suất. Khi lãi suất tăng khi
thì nguồn vốn này tăng và ngược lại.
- Các khoản thu chưa sử dụng đến của ngân sách nhà nước. Bộ phận này chỉ
chiếm một phần nhỏ trong tổng cung vốn vay trong nền kinh tế và hầu như
không biến động theo lãi suất.
- Nguồn vốn của các cá nhân, tổ chức nước ngoài. Nguồn vốn này cũng biến
động cùng chiều với lãi suất.
Như vậy trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, cung về vốn tăng khi
lãi suất tăng và ngược lại.
b/ Lạm phát dự tính

Lãi suất rõ ràng chịu tác động của lạm phát. Khi dự tính tỷ lệ lạm phát gia
tăng chắn chắn sẽ dẫn đến sự gia tăng trong lãi suất danh nghĩa. Trong thời điểm
năm 2008, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam có lúc tăng trên 20%năm đã khiến cho sự
gia tăng trong lãi suất cơ bản cũng như lãi suất trên thị trường tại thời điểm đó.
c/ Tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế

Hoạt động của doanh nghiệp là nền tảng của hoạt động tín dụng. Do đó, tỷ suất
lợi nhuận bình quân của nền kinh tế là cơ sở để xác định lãi suất tín dụng hợp lý.
Thông thường mức lãi suất tín dụng nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân. Lãi
suất tín dụng cũng là cơ sở để xác định tỉ suất hoàn vốn cho các dự án đầu tư.
d/ Các chính sách tài chính của Nhà nước, chính sách tiền tệ của ngân
hàng trung ương

Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô của nền kinh tế. Việc thay đổi chính
sách kinh tế của nhà nước như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách
tỷ giá, chính sách thuế…cũng tác động ngược lại đối với lãi suất. Nếu nhằm thực
thi chính sách tài khóa mở rộng cho đầu tư phát triển buộc nhà nước phải có sự
điều chỉnh giảm trong lãi suất. Chính sách tiền tệ và tài khóa thực hiện cùng một
lúc cho mục tiêu điều tiết vĩ mô của nền kinh tế.
1.1.2 Rủi ro lãi suất
1.1.2.1 Khái quát về rủi ro lãi suất
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro. “Rủi ro là khả
năng xảy ra một kết quả có lợi hoặc không có lợi từ mối nguy hiểm hiện hữu”
2

hoặc là rủi ro còn có thể được hiểu “là những điều không chắc chắn của những


2
PGS.TS Nguyễn Quang Thu, Quản Trị Rủi Ro và Bảo Hiểm trong doanh nghiệp, Nhà Xuất Bản Thống Kê, 2008
[9]
7

kết quả trong tương lai hay là những khả năng của kết quả bất lợi”
3
. Rủi ro lãi
suất là một trong những rủi ro mà ngân hàng gặp phải.
Rủi ro lãi suất là những tổn thất phát sinh khi có sự thay đổi lãi suất giữa tài
sản sinh lãi và nguồn vốn huy động gây thiệt hại đến ngân hàng. Rủi ro lãi suất
càng lớn khi ngân hàng huy động vốn bằng trái phiếu hoặc đầu tư tài chính khá
lớn theo lãi suất thị trường.
4


Khi lãi suất thay đổi, ngân hàng ít nhất phải đương đầu với hai loại rủi ro lãi
suất: rủi ro về giá và rủi ro tái đầu tư.
Rủi ro về giá phát sinh khi lãi suất thị trường tăng sẽ làm giảm giá trị các
khoản đầu tư dài hạn lãi suất cố định của ngân hàng. Nếu ngân hàng muốn bán
những công cụ tài chính này trong giai đoạn lãi suất tăng, ngân hàng phải chấp
nhận tổn thất.
Rủi ro tái đầu tư xuất hiện khi lãi suất thị trường hạ khiến ngân hàng phải
chấp nhận đầu tư nguồn vốn của mình vào những tài sản có mức sinh lợi thấp
hơn, hạ thấp thu nhập kỳ vọng trong tương lai của ngân hàng.
Cả hai trường hợp rủi ro về giá và rủi ro tái đầu tư đều tồn tại sự không phù
hợp về kỳ hạn của tài sản và nguồn vốn trong điều kiện các hợp đồng huy động
và tài trợ với lãi suất cố định. Tình trạng này kết hợp cùng sự thay đổi lãi suất
ngoài dự kiến của thị trường làm nảy sinh tổn thất cho ngân hàng.
1.1.2.2Nguyên nhân của rủi ro lãi suất
- Sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn và tài sản.
Sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn và tài sản được đo bằng khe hở lãi
suất.
Khe hở lãi suất = tài sản nhạy cảm lãi suất – nguồn vốn nhạy cảm lãi suất.
Các tài sản và nguồn vốn nhạy cảm thường là các loại mà số dư nhanh
chóng chuyển sang lãi suất mới khi lãi suất thay đổi. Chẳng hạn khoản tiền gửi
ngắn hạn, các khoản cho vay và đi vay trên thị trường liên ngân hàng, chứng
khoán ngắn hạn của chính phủ, các khoản cho vay ngắn hạn. Các loại ít nhạy cảm
thuộc về tài sản và nguồn trung và dài hạn với lãi suất cố định.
Ngân hàng có khe hở dương nếu tài sản nhạy cảm lớn hơn nguồn nhạy cảm
(kỳ hạn huy động dài hơn sử dụng) và ngược lại có khe hở âm nếu tài sản nhạy
cảm nhỏ hơn nguồn nhạy cảm.


3
PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt, Đầu tư tài chính, NXB Thống Kê năm 2006 [6].


4
PGS.TS Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp Vụ Ngân hàng Thương Mại, Nhà Xuất Bản Thống Kê, 2008 [1048-1049]

8

- Sự thay đổi của lãi suất thị trường khác với dự kiến của ngân hàng.
Lãi suất thị trường thường xuyên thay đổi. Ngân hàng luôn nghiên cứu và
dự báo lãi suất. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp ngân hàng không thể dự báo
chính xác mức độ thay đổi của lãi suất.
Nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương:
+ Khi lãi suất trên thị trường tăng, chênh lệch lãi suất tăng
+ Khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lệch lãi suất giảm
Nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất âm:
+ Khi lãi suất trên thị trường tăng, chênh lệch lãi suất giảm
+ Khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lệch lãi suất tăng.
- Ngân hàng sử dụng lãi suất cố định trong các hợp đồng.
Một nguồn huy động và cho vay có cùng kỳ hạn với mức lãi suất cố định
xét về mặt lý thuyết là không có rủi ro lãi suất. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều
doanh nghiệp vay lớn có quyền trả nợ trước hạn và vay lại theo lãi suất mới trong
trường hợp lãi suất cho vay trên thị trường giảm. Trong điều kiện cạnh tranh về
tín dụng, ngân hàng buộc phải chấp nhận yêu cầu của khách hàng. Trong khi đó
chi phí trả lãi cho việc huy động vẫn ở mức cao. Từ đó, thu nhập ngân hàng giảm
sút.
1.1.2.3Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất đối với hoạt động kinh doanh của ngân
hàng
- Ảnh hưởng đến tài chính: Rủi ro lãi suất có thể làm tăng chi phí nguồn vốn
(tài sản có), giảm thu nhập từ tài sản nợ. Từ đó giá trị vốn chủ sở hữu của doanh
nghiệp bị hạ thấp, ảnh hưởng đến các giá trị trên bảng cân đối kế toán và báo cáo
kết quả kinh doanh của ngân hàng.

- Ảnh hưởng đến uy tín: Trong trường hợp rủi ro lãi suất gây ảnh hưởng
mạnh đến tình hình tài chính của ngân hàng sẽ mang lại một “hình ảnh xấu” về
tình hình hoạt động, chính điều này đã giảm uy tín của ngân hàng. Ngân hàng mà
uy tín bị giảm sút sẽ ảnh hưởng rất xấu đến tình hình kinh doanh của ngân hàng.
- Ảnh hưởng đến tình hình kinh tế, xã hội: Việc rủi ro lãi suất gây ra những
tổn thất đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến sự kiệt quệ tài chính của ngân hàng.
“Sức khỏe” của một ngân hàng không đảm bảo sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến
các ngân hàng khác trong hệ thống từ đó tác động đến tình hình chung của kinh
tế và xã hội. Thị trường tài chính bị “lung lay” tất yếu ảnh hưởng đến các thị
trường khác trong nền kinh tế.


9

1.1.3 Quản trị rủi ro lãi suất
1.1.3.1 Mục tiêu của hoạt động quản trị rủi ro lãi suất
Quản trị rủi ro lãi suất nghĩa là các ngân hàng thương mại sử dụng năng
lực của chính mình để đề phòng và chuẩn bị cho sự biến động của lãi suất thị
trường hơn là chờ đợi sự biến động rồi mới tìm cách để đối phó lại. Quản trị rủi
ro lãi suất là sự xem xét, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro lãi suất và
phối hợp các phương cách quản trị nhằm giảm thiểu rủi ro và ổn định thu nhập
dự kiến.
Mục tiêu quan trọng trong hoạt động quản trị rủi ro lãi suất là bảo vệ thu
nhập dự kiến ở mức tương đối ổn định bất chấp sự thay đổi của lãi suất. Để đạt
được mục tiêu này, ngân hàng phải duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) cố
định. Đây là hệ số giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lãi của ngân
hàng thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và tìm kiếm những nguồn
vốn có chi phí thấp nhất. Hệ số này cho thấy nếu chi phí huy động vốn tăng nhanh
hơn lãi thu từ cho vay và đầu tư hoặc lãi thu từ cho vay và đầu tư giảm nhanh hơn
chi phí huy động vốn sẽ làm cho NIM bị thu

hẹp lại, rủi ro lãi suất sẽ lớn.
NIM = (Thu nh
ập lãi – Chi phí lãi)/Tổng tài sản có (TSC) sinh lời *100

Trong đó:
Thu nhập lãi: lãi cho vay, đầu tư, lãi tiền gửi tại ngân hàng khác, lãi đầu tư
chứng khoán,…
Chi phí lãi: chi phí huy động vốn, đi vay,
Tổng TSC sinh lời = Tổng TSC – Tiền mặt + Tài sản cố định
Thông qua việc duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên chúng ta thấy rằng, việc
phối hợp giữa quản trị TSN và TSC phải luôn luôn được thực hiện song song,
hỗ trợ lẫn nhau mới có thể bảo vệ thu nhập dự kiến của Ngân hàng khỏi rủi ro
lãi suất. Để có thể thấy rõ hơn quan hệ giữa quản trị TSN và quản trị TSC, chúng
ta xem xét cách phòng chống rủi ro lãi suất thông qua việc xác định - kiểm soát
khe hở nhạy cảm lãi suất và việc quản lý khe hở kỳ hạn của các ngân hàng.

1.1.3.2 Quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất
Để thực hiện việc quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất, ngân hàng cần tiến hành
phân tích kỳ hạn, định giá lại các cơ hội gắn với những tài sản sinh lợi của ngân
hàng, những khoản tiền gửi cũng như với những khoản vốn vay trên thị trường.
Tại bất cứ thời điểm nào, ngân hàng có thể tự bảo vệ trước những thay đổi của lãi
suất bằng cách bảo đảm cân bằng sau:
10

Giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất = Giá trị nợ nhạy cảm lãi suất
Trong đó:
Tài sản nhạy cảm lãi suất là những TSC thể được định giá lại khi lãi suất
thay đổi: các khoản cho vay sắp đến hạn, các khoản cho vay và chứng khoán có lãi
suất thả nổi, …
Nợ nhạy cảm lãi suất là những khoản vốn mà lãi suất được điều chỉnh theo

điều kiện thị trường: tiết kiệm ngắn hạn, tiền gửi mang lãi suất thả nổi,…
Khi giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất và giá trị nợ nhạy cảm lãi suất không
cân bằng, khe hở nhạy cảm lãi suất được hình thành:
Khe hở nhạy cảm lãi suất (R) = Giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất - Giá trị
nợ nhạy cảm lãi suất
Trong mỗi giai đoạn kế hoạch (ngày, tuần, tháng,…), nếu giá trị tài sản
nhạy cảm lãi suất lớn hơn giá trị nợ nhạy cảm lãi suất, ta có khe hở nhạy cảm lãi
suất dương hay khe hở nhạy cảm tài sản. Và ngược lại, nếu giá trị tài sản nhạy cảm
lãi suất nhỏ hơn giá trị nợ nhạy cảm lãi suất, ta có khe hở nhạy cảm lãi suất âm
hay khe hở nhạy cảm nợ.
Trường hợp R = 0: giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất bằng giá trị nợ nhạy
cảm lãi suất. Khi lãi suất tăng hay giảm cũng không làm ảnh hưởng đến lợi nhuận
của ngân hàng.
Trường hợp R > 0: giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất lớn hơn giá trị nợ nhạy
cảm lãi suất. Khi lãi suất thị trường tăng, lợi nhuận của ngân hàng sẽ tăng. Và
ngược lại, khi lãi suất thị trường giảm, thu nhập từ lãi giảm nhanh hơn chi phí lãi
phải trả, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Trường hợp R < 0: Giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất nhỏ hơn giá trị nợ nhạy
cảm lãi suất. Khi lãi suất thị trường giảm, lợi nhuận của ngân hàng sẽ tăng. Và
ngược lại, khi lãi suất thị trường tăng, thu lãi tăng chậm hơn chi phí lãi, rủi ro lãi
suất xuất hiện làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Như vậy:
Khi R = 0: Rủi ro lãi suất không xuất hiện
Khi R > 0: Rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất thị trường giảm vì NIM
giảm. Lúc đó, ngân hàng có thể không làm gì vì nghĩ lãi suất sẽ tăng lại hoặc ổn
định; hoặc kéo dài kỳ hạn của TSC hoặc thu hẹp kỳ hạn của danh mục TSN; hoặc
tăng TSN nhạy cảm lãi suất hoặc giảm TSC nhạy cảm lãi
suất

Khi R < 0: Rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất thị trường tăng vì NIM

giảm. Ngân hàng có thể không làm gì vì nghĩ lãi suất sẽ giảm hoặc ổn định;
hoặc thu hẹp kỳ hạn của TSC hoặc kéo dài kỳ hạn của danh mục TSN; hoặc giảm
11

TSN nhạy cảm lãi suất hoặc tăng TSC nhạy cảm lãi suất.
Mức thay đổi lợi nhuận = R * Mức thay đổi lãi suất.
Nếu ngân hàng tin vào khả năng dự báo lãi suất của mình, họ thường xuyên
thay đổi khe hở nhạy cảm lãi suất, đặt ngân hàng vào trạng thái nhạy cảm TSC
hoặc nhạy cảm TSN. Đây được gọi là phương pháp quản lý khe hở
năng động:
Những dự
đoán của ngân
hàng về sự thay
đổi của lãi suất.

Giá trị khe hở
nhạy cảm lãi
suất tối ưu

Phản ứng của các nhà
quản lý

Kết quả (nếu dự đoán
đúng)

Lãi suất thị
trường tăng

Khe hở
dương

Tăng tài sản nhạy
cảm lãi suất
Giảm nợ nhạy cảm
lãi suất
Thu nhập lãi từ
TSC sẽ tăng nhiều
hơn chi phí trả lãi

Lãi suất thị
trường giảm

Khe hở
âm
Giảm tài sản nhạy
cảm lãi suất
Tăng nợ nhạy cảm lãi
suất
Chi phí trả lãi cho
các khoản nợ sẽ
giảm nhiều hơn thu
lãi.
Tuy nhiên, chiến lược quản lý năng động buộc các ngân hàng phải đối
mặt với nhiều rủi ro hơn vì khả năng dự đoán đúng chiều hướng thay đổi của lãi
suất rất thấp nên phần lớn các ngân hàng chỉ sử dụng để phòng ngừa rủi ro chứ
không phải để tăng thu nhập.
Các ngân hàng lớn ngày nay thường sử dụng máy vi tính để xác định giá trị
TSC nhạy cảm lãi suất và giá trị TSN nhạy cảm lãi suất trong những khoảng thời
gian khác nhau và quản lý mức độ nhạy cảm lãi suất dựa trên quan điểm quản lý
rủi ro và dựa trên sự nhạy cảm về rủi ro của những người quản lý ngân hàng. Tuy
nhiên, kỹ thuật quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất còn có nhiều hạn chế. Sự lựa

chọn thời gian để phân tích hoàn toàn tùy theo từng ngân hàng. Đồng thời, lãi suất
trong hoạt động ngân hàng và lãi suất thị trường thay đổi với những tốc độ khác
nhau. Và cuối cùng, việc quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất không nhằm mục đích
bảo vệ giá trị TSC và đặc biệt là không bảo vệ được giá trị ròng của ngân hàng.
Để làm được việc đó, chúng ta phải đi vào phân tích khe hở kỳ hạn.
1.1.3.3 Quản lý khe hở kỳ hạn.
Được sử dụng để khắc phục nhược điểm của việc dựa vào khe hở nhạy cảm
lãi suất để đánh giá rủi ro lãi suất là chỉ chú trọng vào số liệu trên sổ sách kế
toán của vốn mà không nghiên cứu đầy đủ tác động của rủi ro lãi suất đến giá
12

trị thị trường của vốn. Hơn nữa, quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất không đưa ra
một con số cụ thể về mức độ rủi ro lãi suất tổng thể của ngân hàng.
Để đi vào phân tích khe hở kỳ hạn, trước tiên chúng ta làm quen với khái
niệm kỳ hạn hoàn vốn và kỳ hạn hoàn trả.
Kỳ hạn hoàn vốn của tài sản là thời gian trung bình cần thiết để thu hồi
khoản vốn đã bỏ ra để đầu tư, là thời gian trung bình dựa trên dòng tiền dự tính
sẽ nhận được trong tương lai.
Kỳ hạn hoàn trả của TSN là thời gian trung bình cần thiết để hoàn trả
khoản vốn đã huy động, là thời gian trung bình của dòng tiền dự tính ra khỏi
ngân hàng.
Để phòng chống rủi ro lãi suất, các ngân hàng thường cố gắng duy trì cân
đối giữa tài sản và nguồn vốn vay sao cho khe hở kỳ hạn tiến gần tới 0, lúc đó kỳ
hạn hoàn vốn trung bình của tài sản sẽ gần bằng kỳ hạn hoàn trả trung bình của
nguồn vốn.
Bên cạnh đó, trong một ngân hàng, giá trị TSC luôn luôn phải lớn hơn giá trị
TSN để đảm bảo khả năng thanh toán, nên nếu ngân hàng muốn có khe hở
kỳ hạn
bằng 0 cần phải đảm bảo:


Kỳ hạn
hoàn vốn
trung bình
theo giá trị
tài sản
=
Kỳ hạn hoàn
trả trung bình
theo giá trị
của tài sản nợ

*

Tổng giá trị
TSN

Tổng giá trị
TSC
Như vậy, để có thể loại bỏ rủi ro lãi suất, giá trị vốn vay phải thay đổi nhiều
hơn giá trị TSC.
Theo công thức, nếu kỳ hạn hoàn vốn trung bình của TSC không tương
đương với kỳ hạn hoàn trả trung bình của TSN thì ngân hàng sẽ phải chịu rủi ro lãi
suất, cụ thể:
Khi khe hở kỳ hạn dương: Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản lớn hơn
Kỳ hạn hoàn trả trung bình nợ. Nếu lãi suất tăng sẽ làm giảm giá trị ròng của ngân
hàng bởi vì giá trị TSC giảm nhiều hơn giá trị TSN. Nếu lãi suất giảm sẽ làm tăng
giá trị ròng của ngân hàng.
Khi khe hở kỳ hạn âm: Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản nhỏ hơn
kỳ hạn hoàn trả trung bình nợ. Nếu lãi suất tăng sẽ làm tăng giá trị ròng của ngân
hàng. Nếu lãi suất giảm sẽ làm giảm giá trị ròng của ngân hàng.

13

Mặc dù các ngân hàng có thể sử dụng công cụ khe hở kỳ hạn một cách dễ
dàng nhưng nó vẫn tồn tại một số hạn chế như là khó khăn trong việc tìm kiếm
các TSC, TSN có kỳ hạn hoàn vốn và kỳ hạn hoàn trả phù hợp với yêu cầu của
ngân hàng. Đối với một số loại tài khoản không thể xác định được chính xác mô
hình luồng tiền vào ra làm cho việc tính kỳ hạn hoàn trả, kỳ hạn hoàn vốn rất
khó khăn. Chính những hạn chế của các công cụ trên tất yếu dẫn đến sự ra đời
và cần thiết vận dụng các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất.
1.2 Tổng quan về các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất
1.2.1 Hợp đồng lãi suất kỳ hạn
1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm
Trong lịch sử phát triển các công cụ phái sinh, hợp đồng lãi suất kỳ hạn
(FRA) là hình thức đơn giản và lâu đời nhất của phòng ngừa rủi ro lãi suất. FRA
được giao dịch trên thị trường OTC, giữa các đối tác với nhau, không có thị
trường niêm yết chính thức.
Hợp đồng lãi suất kỳ hạn là sự thỏa thuận giữa hai bên về việc thanh toán
tại một thời điểm trong tương lai dựa trên mức lãi suất được ấn định trước
5

FRA gần giống với quyền chọn lãi suất nhưng quyền chọn cho quyền
nhưng không bắt buộc phải thực hiện giao dịch, trong khi người sở hữu FRA bắt
buộc phải thực hiện.
Cũng giống như hợp đồng kỳ hạn, FRA cũng có các đặc điểm:
Rủi ro không có khả năng chi trả (rủi ro tín dụng) của hợp đồng có hai
chiều. Lãi suất biến động theo chiều hướng không thuận lợi cho việc thực hiện
hợp đồng nên người mua hoặc người bán không thực hiện hợp đồng trong khi
người kia không muốn khởi kiện vì sợ tốn kém. Thêm vào đó, tình hình tài chính
của người mua xấu đi nên không có khả năng thực hiện hợp đồng. Giá trị của
FRA chỉ được giao nhận vào ngày đáo hạn của hợp đồng, không có khoản chi trả

nào được thực hiện vào ngày ký kết hoặc trong thời hạn của hợp đồng. Từ đặc
điểm này làm cho tính thanh khoản của FRA thấp.
1.2.1.2 Vận dụng FRA trong phòng ngừa rủi ro lãi suất
Giả sử vào tháng 12/2008, Cty AAA dự tính tháng 4/2009 đầu tư dài hạn
100.000 USD vào trái phiếu ngân hàng. Do dự kiến lãi suất sẽ giảm, khách hàng


5
PGS.TS Nguyễn Thị Mùi, Quản Trị Ngân Hàng Thương Mại, Nhà Xuất Bản Tài Chính, 2008 [307]

×