Tải bản đầy đủ (.pdf) (23 trang)

Tài liệu dạy - học Địa lí tỉnh Lâm Đồng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (333.77 KB, 23 trang )

Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 1



- Nhằm cung cấp các thông tin chính thức về Lâm Đồng phục vụ việc dạy học
trong môn Địa lý ở lớp 9 và 12 trong chương trình Địa Lý địa phương (lớp 9 : 4 bài ,
lớp 12 : 3 bài).
- Các nội dung đều được đưa ra khá phong phú , trọng tâm theo yêu cầu SGK và
HDCKTKN do Bộ GD ban hành.
-Tuy nhiên số liệu chưa được cập nhật đến thời điểm hiện tại (do chưa có thời gian)
(Mặc dù bản thân đã có số liệu của Tổng điều tra dân số, nhà ở của tỉnh Lâm Đồng
2009 và Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng
2010 và Niên giám thống kê Tỉnh Lâm Đồng năm 2010)
-Việc biên soạn giáo án như thế nào là tùy thuộc cấp học và từng giáo viên.
(Nên rút gọn , súc tích và có nhận định đúng về các điều kiệ n)
- Gv có thể cho HS làm việc, chuẩn bị ở nhà theo nhóm theo từng chủ đề trình
chiếu trên các phần mềm chuyên dụng (Power Point , Violet , ActivInspire….) để có
thêm hình ảnh , phim…vv thêm sinh động.
- Hi vọng đây là tư liệu hữu ích cho các bạn ở Lâm Đồng
-Mọi trao đổi , góp ý có thể liên hệ qua Email :

-Hi vọng ở lần sau sẽ đưa lên thật đầy đủ và cập nhật các số liệu , chỉ tiêu mới
nhất.
-Đặc biệt sẽ hướng dẫn bằng Video chi tiết về vẽ tất cả các dạng biểu đồ bằng
phần mềm chuyên nghiệp nhất chưa từng có trên Internet (việc điều chỉnh nhanh
thích hợp khoảng thời gian các năm)
-Các bạn có thể tìm và tham khảo các tài liệu do Nguyễn Xuân Hùng cung cấp tại
Thư viện giáo án – Địa lý – Tài liệu tham khảo. Chúc thành công & cảm ơn!
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 2



VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Lâm Đồng là tỉnh miền núi phía Nam Tây Nguyên có độ cao trung bình từ 800 - 1.000 m so với mặt nước
biển với diện tích tự nhiên 9.772,19 km
2
; địa hình tương đối phức tạp chủ yếu, là bình sơn nguyên, núi cao
đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu,
thổ nhưỡng, thực động vật và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Đồng.
- Phía đông giáp các tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận
- Phía tây nam giáp tỉnh Đồng Nai
- Phía nam – đông nam gáp tỉnh Bình Thuận
- Phía bắc giáp tỉnh Đắc Lắc
Lâm Đồng nằm trên 3 cao nguyên và là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông lớn; nằm trong vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam – là khu vực năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và là thị trường có nhiều tiềm
năng lớn. Toàn tỉnh có thể chia thành 3 vùng với 5 thế mạnh: Phát triển cây công nghiệp dài ngày, lâm nghiệp,
khoáng sản, du lịch - dịch vụ và chăn nuôi gia súc.

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH LÂM ĐỒNG

Toàn tỉnh hiện có 12 đơn vị hành chính, bao gồm thành phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc và 10 huyện:
- Lạc Dương
- Đơn Dương
- Đức Trọng
- Lâm Hà
- Di Linh
- Bảo Lâm
- Đạ Huoai
- Đạ Tẻh
- Cát Tiên

- Đam Rông
với 145 xã, phường, thị trấn; trong đó có 47 xã vùng sâu, vùng xa, vùng trọng điểm nằm trong danh sách
các xã đặc biệt khó khăn. Thành phố Đà Lạt là trung tâm hành chính - kinh tế - xã hội của tỉnh, cách các
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 3

trung tâm kinh tế lớn của vùng và khu vực không xa, hướng nam cách thành phố Hồ Chí Minh 300 km, Biên
Hòa 270 km, Vũng Tàu 340 km, hướng đông cách cảng biển Nha Trang 210 km.
ĐỊA HÌNH
Đặc điểm chung của Lâm Đồng là địa hình cao nguyên tương đối phức tạp, chủ yếu là bình sơn nguyên, núi
cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí
hậu, thổ nhưỡng, thực động vật và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Đồng.
Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc khá rõ ràng từ bắc xuống nam.
- Phía bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên Lang Bian với những đỉnh cao từ 1.300m đến hơn 2.000m
như Bi Đúp (2.287m), Lang Bian (2.167m).
- Phía đông và tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500 – 1.000m).
- Phía nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc và bán bình nguyên.
ĐỊA CHẤT
Tham gia vào cấu trúc địa chất tỉnh Lâm Đồng bao gồm các đá trầm tích, phun trào, xâm nhập có tuổi từ
Jura giữa đến Đệ Tứ. Các trầm tích, phun trào được phân ra 14 phân vị địa tầng có tuổi và thành phần đá khác
nhau. Các đá xâm nhập trong phạm vi tỉnh Lâm Đồng thuộc 4 phức hệ: Định Quán, đèo Cả, Cà Ná, Cù Mông.
Địa phận tỉnh Lâm Đồng nằm ở phía đông nam đới Đà Lạt. Đới này là một khối vỏ lục địa Tiền Cambri bị
sụt lún trong Jura sớm – giữa và phần lớn diện tích đới bị hoạt hoá magma kiến tạo mạnh mẽ trong Mesozoi
muộn và Kainozoi
KHOÁNG SẢN

Khoáng sản trong phạm vi tỉnh Lâm Đồng thuộc thời đại sinh khoáng Mesozoi muộn – Kainozoi sớm và thời
đại sinh khoáng Kainozoi.
Theo kết quả điều tra thăm dò, Lâm Đồng có 25 loại khoáng sản, trong đó bauxite, bentonite, cao lanh, đá
Granít, thiếc, diatomite và than bùn trữ lượng lớn, có khả năng khai thác ở quy mô công nghiệp.

Quặng bauxite ở Lâm Đồng có trữ lượng khoảng 1.234 triệu tấn, chất lượng quặng khá tốt, điều kiện khai
thác và vận chuyển khá dễ dàng.
Cao lanh có trữ lượng khoảng 520 triệu tấn, chất lượng tốt. Loại cao lanh này có khả năng sử dụng làm sứ
điện tử, sứ bền nhiệt cơ, sứ dân dụng cao cấp, gạch samot chịu lửa, chất độn cho công nghiệp chế biến giấy, sản
xuất sunfat alumin,
Sét bentonite có trữ lượng trên 4 triệu tấn, chất lượng rất tốt, sau khi được hoạt hóa với soda để chuyển
sang bentonit kiềm có thể sử dụng trong kỹ nghệ làm khuôn đúc, chất tẩy rửa trong công nghiệp dầu mỡ,
công nghiệp thực
phẩm, chất phụ gia trong sản xuất phân bón tổng hợp, sản xuất dung dịch bùn khoan dầu khí và khoan cọc
nhồi theo tiêu chuẩn của Mỹ và châu Âu.
Than nâu và diatomite được phát hiện tại nhiều điểm, nhưng mỏ Đại Lào (Bảo Lộc) là có khả năng khai
thác công nghiệp với trữ lượng 8,5 triệu m
3
, có thể sử dụng làm chất đốt, chất cách nhiệt, phụ gia trong sản xuất
phân bón hoặc phụ gia sản xuất xi măng.
Liên đoàn địa chất 6 đã tổng hợp được 165 điểm khoáng sản, trong đó có 23 mỏ lớn, 3 mỏ vừa, 48 mỏ nhỏ và
91 điểm quặng. Các mỏ và điểm quặng được chia ra thành 7 nhóm :
§
Than: than nâu, than bùn
§
Kim loại: sắt, wolfram, chì – kẽm, antimoan, nhôm, thiếc, vàng
§
Phi kim loại: cao lanh, felspat, bentonit, diatomit
§
Vật liệu xây dựng: cát, đá, sét
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 4

§
Đá quý và bán quý: saphyr, topa và thạch anh tinh thể, opan, tectit

§
Dị thường phóng xạ
§
Nước khoáng

THỔ NHƯỠNG

Lâm Đồng có diện tích đất 977.219,6 ha, chiếm 98% diện tích tự nhiên, bao gồm 8 nhóm đất và 45 đơn vị đất:
Nhóm đất phù sa (fluvisols)
Nhóm đất glây (gleysols)
Nhóm đất mới biến đổi (cambisols)
Nhóm đất đen (luvisols)
Nhóm đất đỏ bazan (ferralsols)
Nhóm đất xám (acrisols)
Nhóm đất mùn alit trên núi cao (alisols)
Nhóm đất xói mòn mạnh (leptosols)
Đất có độ dốc dưới 25
o
chiếm trên 50%, đất dốc trên 25
o
chiếm gần 50%. Chất lượng đất đai của Lâm Đồng
rất tốt, khá màu mỡ, toàn tỉnh có khoảng 255.400 ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp, trong đó có 200.000
ha đất bazan tập trung ở cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày có
giá trị kinh tế cao như cà phê, chè, dâu tằm. Diện tích trồng chè và cà phê khoảng 145.000 ha, tập trung chủ yếu
ở Bảo Lâm, Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà; diện tích trồng rau, hoa khoảng 23.800 ha tập trung tại Đà Lạt, Đơn
Dương, Đức Trọng; chè, cà phê, rau, hoa ở Lâm Đồng đa dạng về chủng loại, có những loại giá trị phẩm cấp
cao. Đất có khả năng nông nghiệp còn lại tuy diện tích khá lớn nhưng nằm rải rác xa các khu dân cư, khả năng
khai thác thấp vì bị úng ngập hoặc bị khô hạn, tầng đất mỏng có đá lộ đầu hoặc kết vón, độ màu mỡ thấp, hệ số
sử dụng không cao Trong diện tích đất lâm nghiệp, đất có rừng chiếm 60%, còn lại là đất trồng đồi trọc
(khoảng 40%).

KHÍ HẬU

Lâm Đồng nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao, trong năm
có 2 mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ thay đổi rõ rệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm. Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh
dao động từ 18 – 25
0
C, thời tiết ôn hòa và mát mẻ quanh năm, thường ít có những biến động lớn trong chu kỳ
năm
Lượng mưa trung bình 1.750 – 3.150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình cả năm 85 – 87%, số giờ
nắng trung bình cả năm 1.890 – 2.500 giờ, thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng và phát triển các loại cây
trồng, vật nuôi có nguồn gốc ôn đới. Đặc biệt Lâm Đồng có khí hậu ôn đới ngay trong vùng khí hậu nhiệt đới
điển hình và nằm không xa các trung tâm đô thị lớn và vùng đồng bằng đông dân.
THỦY VĂN
Lâm Đồng là tỉnh nằm trong hệ thống sông Đồng Nai, có nguồn nước rất phong phú, mạng lưới suối khá dày
đặc, tiềm năng thuỷ điện rất lớn, với 73 hồ chứa nước, 92 đập dâng.
Sông suối trên địa bàn Lâm Đồng phân bố khá đồng đều, mật độ trung bình 0,6 km/km
2
với độ dốc đáy nhỏ
hơn 1%. Phần lớn sông suối chảy từ hướng đông bắc xuống tây nam.
Do đặc điểm địa hình đồi núi và chia cắt mà hầu hết các sông suối ở đây đều có lưu vực khá nhỏ và có nhiều
ghềnh thác ở thượng nguồn.
Các sông lớn của tỉnh thuộc hệ thống sông Đồng Nai.
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 5

Ba sông chính ở Lâm Đồng là:
§
Sông Đa Dâng (Đạ Đờng)
§

Sông La Ngà
§
Sông Đa Nhim
Hệ thống cung cấp nước
Hệ thống cấp nước đã hoàn thiện tương đối tốt, hiện có: nhà máy cấp nước Đà Lạt, công suất 35.000
m
3
/ngày-đêm hệ thống cấp nước thị xã Bảo Lộc, công suất 10.000 m
3
/ngày-đêm; hệ thống cấp nước huyện Đức
Trọng, công suất 2.500 m
3
/ngày-đêm; hệ thống cấp nước huyện Di Linh, công suất 3.500 m
3
/ngày-đêm; hệ
thống cấp nước huyện Lâm Hà, công suất 6.000 m
3
/ngày-đêm. Đồng thời với việc cấp nước, hệ thống xử lý
nước thải công nghiệp và sinh hoạt đang được hoàn thiện.
DÂN TỘC VÀ DÂN CƯ
Dân số toàn tỉnh có đến 31/12/2005 là 1.169.851 người, trong đó dân số nông thôn 649.412 người, chiếm
61,47%. Mật độ dân số 118 người/km
2

Lâm Đồng là miền đất hội tụ nhiều dân tộc anh, em trong cả nước với trên 40 dân tộc khác nhau cư trú và
sinh sống, trong đó đông nhất người Kinh chiếm khoảng 77%, đến nguời K’Ho chiếm 12%, Mạ chiếm 2,5%,
Nùng chiếm gần 2%, Tày chiếm 2%, Hoa chiếm 1,5%, Chu-ru 1,5% , còn lại các dân tộc khác có tỷ lệ dưới
1% sống thưa thớt ở các vùng xa, vùng sâu trong tỉnh.
Lễ hội, rượu cần và dệt thổ cẩm là nét đặc trưng cho văn hóa dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng.
Lâm Đồng là vùng đất mới có sức thu hút dân cư trong cả nước đến lập nghiệp, quần thể dân cư ở đây chưa

ổn định và liên tục biến động, hiện tượng di dân tự do trong những năm qua từ các tỉnh khác nhau trong cả nước
hội tụ về Lâm Đồng tuy có giảm nhưng vẫn còn lớn, bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005 có khoảng 5.000
người di cư tự do vào Lâm Đồng.
NÔNG NGHIỆP
Với chủ trưởng phát triển nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa; đưa nhanh các tiến bộ khoa học công nghệ mới vào sản xuất, đặc biệt là các giống mới, công nghệ sau
thu hoạch và công nghệ chế biến, tập trung thâm canh, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh
trên thị trường, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Phát triển và ổn định vùng nguyên liệu các
loại cây công nghiệp dài ngày với trình độ thâm canh ngày càng cao, đồng thời chú trọng các loại cây lương
thực, thực thẩm gắn với đẩy mạnh đầu tư thâm canh để không ngừng tăng năng suất, sản lượng cây trồng; phát
triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến nhằm nâng cao
chất lượng cà gía trị sản phẩm chăn nuôi. Hiện nay, trong phát triển kinh tế của tỉnh, nông nghiệp là một trong
những ngành đạt được thành tựu lớn trong những năm đổi mới kinh tế nói chung và 5 năm 2001-2005 nói riêng.
Thời kỳ 5 năm 2001-2005, tuy gặp nhiều khó khăn về thiên tai hạn hán, lũ lụt và dịch cúm gia cầm bùng phát
năm 2004, 2005; biến động bất lợi của thị trường tiêu thụ chè do ảnh hưởng của chiến tranh Irắq; giá một số sản
phẩm nông sản, nhất là giá cà phê có những năm thấp hơn giá trị sản phẩm, cùng với giá vật tư phân bón liên
tục tăng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất. Nhưng được sự quan tâm của các cấp, các ngành, nhiều chính
sách đã được ban hành, nhiều dự án được triển khai thực hiện nên sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh đạt được một
số kết quả nhất định:
Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân mỗi năm thời kỳ 2001-2005, tăng 7,53%. Đây là tốc độ tăng khá cao
vì sản xuất nông nghiệp có đối tượng là cây trồng, vật nuôi, phụ thuộc vào đất đai nên việc mở rộng quy mô
diện tích là có giới hạn, mặt khác lại phụ thuộc lớn vào yếu tố thời tiết, khí hậu, giá cả, thị trường nên khó có
bước phát triển đột biến được. Trên cơ sở phát huy thế mạnh cây công nghiệp dài ngày, đã hình thành những
vùng chuyên canh tương đối tập trung về cây công nghiệp như cà phê, chè, vùng rau, hoa với quy mô lớn và
chất lượng ngày càng được nâng lên làm cơ sở cho phát triển công nghiệp chế biến. Ngành nông nghiệp có mức
tăng giá trị tăng thêm hàng năm 7,88%, đóng góp từ 60-69% GDP (giá SS 1994), là ngành thu hút lực lượng lao
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 6

động khá lớn khoảng 63%. Sản xuất nông nghiệp trong những năm qua đã chú trọng ứng dụng tiến bộ khoa học

kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng có năng suất, chất lượng cao phù hợp với
điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của từng vùng. Hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích không ngừng tăng lên, qua
kết qủa sơ kết chương trình 50 triệu đồng/ha/năm do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn phát động, tính
đến nay toàn tỉnh có trên 8.000 ha canh tác đạt doanh thu trên 50 triệu đồng/ha/năm. Thông qua đầu tư thâm
canh, ứng dụng kỹ thuật công nghệ sinh học vào sản xuất đã nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích:
vùng chuyên canh rau-hoa-dâu tây ở Đà Lạt-Lạc Dương có trên 100 mô hình trồng rau, hoa, dâu tây đạt doanh
thu từ 50 triệu đồng trở lên, trong đó có trên 50% đạt doanh thu từ 150-480 triệu đồng/ha/năm; vùng chuyên
canh chè chất lượng cao, tập trung ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện có 500 ha chè đạt doanh
thu từ 150-180 triệu đồng/ha, cá biệt có doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 2-3 tỷ đồng/ha/năm. Kinh tế nông
thôn phát triển theo hướng chuyên môn hoá cây trồng, vật nuôi gắn với phát triển tổng hợp các ngành nghề tiểu
thủ công nghiệp và dịch vụ nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng về đất đai, vốn, lao động và kinh nghiệm sản
xuất. Đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất mới và có hiệu quả kinh tế-xã hội trong nông nghiệp như kinh tế
trang trại, kinh tế vườn rừng, vườn đồi, nông - lâm kết hợp với nhiều thành phần tham gia, kể cả đồng bào dân
tộc. Tổng số trang trại trên địa bàn tỉnh tăng mạnh trong thời kỳ 2001-2005, từ 716 trang trại năm 2000 tăng lên
1.978 trang trại năm 2005, gấp 2,76 lần so năm 2000. Đến năm 2005, các trang trại đã sử dụng tổng số vốn
455.128 triệu đồng và 8.389 ha đất để sản xuất kinh doanh tạo ra 392.339 triệu đồng giá trị sản lượng hàng hoá
và dịch vụ. Thu nhập bình quân một trang trại trong năm 2005 đạt trên 148 tỷ đồng, gấp 3,47 lần so năm 2000,
bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005 thu nhập một trang trại tăng 28,27%.
* Trồng trọt:
Quy mô diện tích gieo trồng đối với cây hàng năm xu hướng tăng lên qua các năm do điều chỉnh cơ cấu mùa
vụ, đẩy mạnh khai hoang, phục hóa trên diện tích có khả năng nông nghiệp chưa sử dụng và tăng vụ, trồng xen,
trồng gối. Đến năm 2005, diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 97.134 ha, tăng 19.550 ha so năm 2000, quy
mô diện tích cây hàng năm tăng liên tục trong 5 năm với mức tăng bình quân mỗi năm 4,6%. Diện tích cây thực
phẩm tăng nhanh từ 21.816 ha năm 2000, tăng lên 32.719 ha năm 2005, bình quân hàng năm tăng 8,4%; trong
đó cây rau các loại và cây hoa tăng nhanh, diện tích rau từ 18.879 ha năm 2000 tăng lên 29.378 ha ( tăng 10.499
ha) và cây hoa từ 962 ha năm 2000 tăng lên 2.270 ha (tăng 1.308 ha). Riêng diện tích gieo trồng cây lương thực
ổn định ở mức 50.000 đến 51.000 ha trong 5 năm .
Đối với cây lâu năm, khác với thời kỳ 1996-2000, diện tích gieo trồng luôn luôn biến động theo chiều hướng
ngày càng tăng do hiệu qủa sản xuất cao và giá trị mang lại lớn như cây cà phê, chè, điều Nhưng thời kỳ
2001-2005, thực hiện chủ trương của Chính phủ điều chỉnh kịp thời các chỉ tiêu định lượng đến năm 2010, theo đó

không mở rộng diện tích những cây trồng kém hiệu quả do cung đã vượt cầu như cà phê, hạt tiêu… đồng thời thực
hiện chủ trương của tỉnh tập trung thâm canh các cây trồng dài ngày hiện có trên địa bàn tỉnh nên diện tích gieo trồng
cây lâu năm tương đối ổn định ở mức 165 đến 170 ngàn ha. Tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm năm 2005 đạt
171.254 ha, tăng 7.093 ha, chủ yếu do tăng diện tích cây ăn qủa còn diện tích cây công nghiệp dài ngày tăng
không đáng kể (2005 tăng 47 ha so 2000). Sự biến động diện tích gieo trồng một số loại cây công nghiệp dài
ngày như sau:
- Cây cà phê phát triển chậm lại và xu hướng giảm dần do giá cà phê không ổn định, đặc biệt năm 2001, 2002
giá cà phê chỉ còn 6-8 ngàn đồng/kg, thấp hơn chi phí đầu tư. Diện tích từ 124.359 ha năm 2000, xuống còn
117.538 ha năm 2005, giảm 6.821 ha.
- Diện tích cây chè tăng chậm và ổn định trong những năm gần đây. Năm 2000 diện tích 21.616 ha, đến năm
2005 diện tích đạt 25.535 ha, tăng 3.919 ha.
- Cây dâu tằm, cây điều diện tích xu hướng tăng lên do giá cả ổn định ở mức cao có lợi cho người sản xuất.
Năm 2005, diện tích dâu tằm tăng 2.743 ha và diện tích điều tăng 2.764 ha so năm 2000.

Diện tích gieo trồng qua các năm :

2001 2002 2003 2004 2005
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 7

Tổng diện tích ( ha)
248.620 254.366 259.019 262.243 268.388
1 . Cây hàng năm
81.557 88.681 91.723 93.884 97.134
Trong đó:
- Cây lương thực
50.166 54.572 56.392 56.421 56.923
- Cây thực phẩm
25.159 27.611 29.535 30.778 32.719
2 . Cây lâu năm

167.063 165.685 167.296 168.359 171.254
Cùng với việc ổn định, tăng diện tích cây trồng, sản lượng các loại cây trồng chủ yếu trong thời kỳ 2001-
2005, cũng tăng lên cả về số lượng chủng loại cũng như chất lượng sản phẩm. Cụ thể sản lượng một số cây
trồng chủ yếu như sau :
Sản lượng lương thực: Do tác động của khoa học kỹ thuật như giống cây trồng, đầu tư thâm canh, điều hoà
nước tưới tiêu, phòng trừ dịch bệnh nên năng suất cây lương thực nhất là cây lúa tăng lên rõ rệt. Năng suất lúa
toàn tỉnh từ 31,07 tạ/ha năm 2000, tăng lên 39,21 tạ/ha năm 2004 và 38,37 tạ/ha ước năm 2005. Sản lượng
lương thực có hạt tiếp tục tăng một cách ổn định chủ yếu do tăng năng suất cây trồng và đưa các giống mới vào
sản xuất đại trà; tỷ lệ giống lúa mới và lúa cao sản hàng năm chiếm trên 50% diện tích và giống ngô lai chiếm
khoảng 90% diện tích gieo trồng. Sản lượng lương thực có hạt năm 2005 đạt 215.877 tấn, tăng 38,33% so năm
2000, bình quân mỗi năm thời kỳ 2001-2005 tăng 6,7%; trong đó sản lượng lúa tăng từ 102.055 tấn năm 2000
lên 129.721 tấn, tăng bình quân 4,9%/năm và sản lượng ngô từ 54.005 tấn năm 2000 tăng lên 86.156 tấn năm
2005, tăng bình quân 9,8% hàng năm. Sản lượng lương thực tăng, đã khắc phục được tình trạng thiếu ăn trong
dân cư, khắc phục dần tình trạng đói giáp hạt, ổn định đời sống xã hội .
Sản lượng các loại nông sản hàng hóa tiếp tục tăng, nhất là các loại cây có giá trị kinh tế như cây cà phê, chè
và cây rau và hoa. Sản lượng cà phê năm 2005 ước đạt 211.804 tấn, tăng trên 26,6% so năm 2000, bình quân
hàng năm tăng 4,8%; tuy nhiên mức tăng không ổn định qua các năm do sản lượng cà phê chịu ảnh hưởng trực
tiếp của thời tiết, giá cả; cá biệt năm 2002 sản lượng cà phê giảm gần 38% so năm 2001 (giảm 67.576 tấn) do
hạn hán.
Cây chè, tuy diện tích tăng chậm nhưng tương đối ổn định trong những năm gần đây, song sản lượng tăng
bình quân hàng năm đạt 5,3%, từ 125.7179 tấn năm 2000, lên 161.938 tấn năm 2005.
Ngoài 2 loại cây có quy mô lớn như cà phê, chè, một số cây trồng có giá trị kinh tế cao đang tiếp tục ổn định
và phát triển như dâu tằm, điều, hồ tiêu. Sản lượng dâu tằm năm 2005 đạt 48.964 tấn, gấp hơn 2 lần so năm
2000, bình quân hàng năm tăng 15,22%; sản lượng điều năm 2005 đạt 4.833 tấn, gấp 4,9 lần so năm 2000, bình
quân hàng năm tăng 37,3%.
Sản lượng cây rau: giá cả một số chủng loại rau, nhất là các loại rau thương phẩm trong những năm gần đây
ổn định và tăng cao nên cây rau có xu hướng phát triển mạnh cả về quy mô diện tích cũng như sản lượng với
những chủng loại mang tính phát huy lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng như : Sú, lơ, cải thảo, cà rốt, khoai tây, sà
lách, cà chua Đến năm 2005, diện tích rau đạt 29.378 ha, tăng 55,61% so năm 2000, sản lượng rau thương
phẩm tăng nhanh, đạt 748.111 tấn năm 2005, tăng bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005 là 11,59%. Ngoài các

giống rau truyền thống, đã đưa vào nhiều chủng loại rau cao cấp, có giá trị kinh tế cao nhằm đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; sản lượng rau an toàn ngày càng tăng để cung cấp cho một số thị trường cao
cấp ổn định ở trong nước.
* Chăn nuôi:
Song song với trồng trọt, chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm cũng giữ mức ổn định, một số loại tăng mạnh và
chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp như đàn bò sữa, đàn heo. Trong chăn nuôi, đàn trâu tăng
chậm do diện tích chăn thả bị thu hẹp và việc thay thế dần sức kéo bằng máy móc cơ giới. Theo kết qủa điều tra
1/10 hàng năm, đàn trâu năm 2005 có 17.756 con, tăng 245 con so năm 2000.
Đàn bò tăng mạnh từ 57.402 con năm 2000 tăng lên 93.012 con năm 2005, bình quân mỗi năm tăng 10,13% .
Việc cơ giới hoá trong nông nghiệp cũng làm giảm bò cày kéo, nhưng nuôi bò lấy thịt và bò lấy sữa phát triển
mạnh trong những năm gần đây để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Đàn bò sữa trong 2 năm gần đây
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 8

tăng mạnh do thực hiện chủ trương phát triển bò sữa bằng các chương trình hỗ trợ nông dân mua con giống, hỗ
trợ tiêu thụ sản phẩm thông qua thoả thuận với Công ty sữa Việt Nam để ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm sữa
tươi cho nông dân với giá từ 2.500 đồng/lít. Đến năm 2005, đàn bò sữa có 3.260 con, tăng 57% so năm 2004.
Đàn heo phát triển ổn định, tăng đều qua các năm thời kỳ 2001-2005 do tình hình giá cả heo hơi trong các
năm qua tương đối cao, trong lúc nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm từ gia cầm giảm do dịch cúm gia cầm bùng
phát nên nông dân chú trọng đầu tư chăn nuôi heo; mặt khác các mô hình kinh tế trang trại ngày càng phát triển
góp phần thúc đẩy sản xuất trong đó có chăn nuôi. Đàn heo phát triển theo hướng heo siêu nạc, giống heo tốt có
tỷ lệ nạc cao chiếm từ 30-40% trên tổng đàn. Tổng đàn heo năm 2005 ước đạt 339.855 con tăng 70,77% với
140.837 con so năm 2000, tốc độ tăng bình quân trong 5 năm đạt 11,3%.
Đàn gia súc, gia cầm trong 3 năm đầu thời kỳ 2001-2005 phát triển mạnh từ 1.569 ngàn con tăng lên 2.949
ngàn con năm 2003. Song trong 2 năm 2004, 2005 do xảy ra dịch cúm gia cầm H
5
N
1
ở nhiều nước trên thế giới
và nhiều tỉnh trong nước; tuy Lâm Đồng là địa phương chỉ xảy ra dịch cúm gia cầm cục bộ ở một số địa bàn

nhưng do tâm lý tiêu dùng nên các sản phẩm từ gia cầm tiêu thụ chậm, thậm chí có thời điểm không tiêu thụ
được ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống các hộ chăn nuôi gia cầm, vì vậy tổng đàn gia cầm giảm
mạnh so năm 2003. Đến năm 2005, đàn gia cầm còn 1.819,8 ngàn con, giảm 1.129,2 ngàn con so năm 2003,
giảm 110,6 ngàn con so năm 2004.
* Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp:
Thực hiện chủ trương của UBND tỉnh về định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi giai đoạn 2002-
2005. Trong 4 năm qua cơ cấu cây trồng từng bước được chuyển đổi, trên cơ sở khai thác sử dụng hợp lý quỹ
đất hiện có, thông qua phân tích đặc điểm đất đai, khí hậu, thời tiết vùng sinh thái để xác định cây trồng vật nuôi
thích hợp cho từng vùng, lập quy hoạch phát triển tập trung, chuyên môn hóa sản xuất. Theo hướng đó, trong
thời gian qua, quy hoạch sản xuất nông nghiệp được hình thành tương đối đồng bộ, phù hợp với đặc điểm tự
nhiên từng địa phương trong tỉnh. Đến nay tỉnh đã xác định nhóm cây trồng chủ yếu và hình thành các vùng cây
công nghiệp, cây lương thực và cây thực phẩm. Đối với cây hàng năm, điều chỉnh chuyển dần một số diện tích
cây lương thực năng suất thấp sang cây thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày. Đối với cây lâu năm, ưu tiên
phát triển cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, điều. dâu tằm trên cơ sở ổn định diện tích hiện có các
loại cây để đầu tư thâm canh kết hợp khai thác diện tích đất trống, vùng gò đồi trồng cây lâu năm, xây dựng các
vùng chuyên canh cây công nghiệp tập trung chủ yếu.
Từ năm 2002-2004, tổng diện tích chuyển đổi cơ cấu cây trồng là 18.244 ha, trong đó chuyển diện tích cà phê
là 11.849 ha, chuyển một số cây trồng khác kém hiệu qủa là 6.395 ha sang trồng chè, điều, rau hoa, cây ăn quả,
hỗ trợ mua bò đực giống Zê bu là 100 con. Tổng vốn nhà nước đầu tư cho chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng,
vật nuôi là 23.097 triệu đồng. Riêng năm 2005 kế hoạch hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi là 6.408
triệu đồng, gồm hỗ trợ chuyển đổi giống chè 105 ha, giống cà phê 110 ha, giống dâu tây 1 ha, giống dâu tằm
105 ha, giống điều ghép 160 ha, giống cây ăn qủa 150 triệu đồng, giống lúa cao sản 40 tấn, giống cây bơ ghép
2000 cây, giống cá tôm 167 triệu trứng giống tằm 500 hộp, bò đực lai sind, Zê bu 70 con, nhập cây giống mới
174 triệu đồng. Trợ giá thuộc chương trình hàng chính sách miền núi 2.908 triệu đồng, hỗ trợ chương trình thuỷ
sản chăn nuôi 1.000 triệu đồng. Đến nay, hầu hết các chương trình đã hoàn thành khâu thủ tục về hồ sơ thiết kế
dự toán, đã và đang triển khai thực hiện.
Tỷ trọng cơ cấu cây trồng qua các năm như sau :

2001 2002 2003 2004 2005
Cơ cấu ( %) 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00

1 . Cây hàng năm
32,80 34,86 35,41 35,80 36,19
Tỷ trọng chiếm trong cây
Hàng năm:

- Cây lương thực 61,51 61,54 61,48 60,10 58,52
- Cây thực phẩm 30,85 31,14 32,20 32,78 33,76
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 9

2 . Cây lâu năm
67,20 65,14 64,59 64,20 63,81
Trong 5 năm 2001-2005, cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng ổn định, đầu tư thâm canh diện tích cây
lâu năm và tăng diện tích cây hàng năm. Tỷ trọng diện tích cây lâu năm từ 67,2% năm 2001, giảm xuống từ
65,14% năm 2002, 64,59% năm 2003, 64,2% năm 2004 xuống còn 63,81% năm 2005; tỷ trọng cây hàng năm
tăng từ 32,8% năm 2001, lên 36,19% năm 2005. Trong cây hàng năm, cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng
tăng tỷ trọng diện tích cây thực phẩm và giảm tỷ trọng diện tích cây lương thực.
Đi đôi với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đồng thời đã từng bước chuyển đổi cơ cấu mùa vụ. Một số diện tích
gieo trồng cây lương thực, thực phẩm ở các vùng trũng, vùng thường bị ngập úng do ảnh hưởng của thiên tai đã
chuyển đổi gieo trồng các loại cây trồng khác. Cơ cấu mùa vụ gieo trồng cây lương thực nói chung và cây lúa
nói riêng cũng được thay đổi phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên và thời tiết từng vùng, từng địa phương. Sự
thay đổi mùa vụ đã tạo điều kiện mở rộng diện tích gieo trồng, hạn chế sâu bệnh và phòng chống thiên tai, là
một trong những nhân tố góp phần làm tăng năng suất cây trồng.
Do tác động của cơ sở vật chất kỹ thuật, chọn bước đi thích hợp đã tạo cơ sở vững chắc cho sản xuất nông
nghiệp giữ ổn định và phát triển mạnh. Cơ cấu sản xuất cũng được bố trí, điều chỉnh dần phù hợp với điều kiện
đất đai, tập quán canh tác từng vùng và phát triển của trình độ sản xuất, khai thác có hiệu quả hơn tài nguyên
nông nghiệp, cụ thể cơ cấu giữa trồng trọt và chăn nuôi, giữa lương thực và nông sản hàng hoá, làm cho sản
phẩm nông nghiệp ngày càng phong phú, đa dạng, đạt giá trị cao. Trong 5 năm 2001-2005, cơ cấu nội bộ ngành
nông nghiệp đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng dần tỷ trọng
ngành chăn nuôi và dịch vụ. Tỷ trọng ngành trồng trọt trong giá trị sản xuất nông nghiệp từ 83,48% năm 2001

giảm xuống còn 80,19% năm 2005, tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng lên từ 14,63% năm 2000 đến 17,53% năm
2005 và hoạt động dịch vụ nông nghiệp từ 1,89% năm 2001 tăng lên 2,28% năm 2005.
Bảng số liệu về cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp :

2001 2002 2003 2004 2005
Cơ cấu nội bộ ngành NN ( %)
Tổng số 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
1 . Trồng trọt 83,48 81,85 83,02 80,79 80,19
2 . Chăn nuôi 14,63 16,09 14,99 17,14 17,53
3 . Dịch vụ 1,89 2,06 1,99 2,06 2,28
Các thông số về tốc độ tăng trưởng và cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp qua các năm thể hiện nông nghiệp
vừa phát huy thế mạnh về cây công nghiệp dài ngày (trồng trọt) vừa phát triển toàn diện cả về chăn nuôi. Tỷ
trọng của 2 ngành này trong thời kỳ vừa qua luôn ở mức cân đối với tỷ số: Trồng trọt 80-84%, chăn nuôi 14-
18%. Trong trồng trọt, tập trung vào các nhóm cây trồng chính: Cây công nghiệp tập trung ở cây cà phê, cây
chè, cây dâu tằm, điều; cây lương thực chủ yếu là cây lúa; cây thực phẩm tập trung vào rau, đậu các loại và các
loại hoa.
* Công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp:
Công tác đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi 5 năm qua đã được quan tâm đầu tư của Trung ương, Bộ
Nông nghiệp & PTNT, UBND tỉnh và các thành phần kinh tế do vậy số công trình được đầu tư xây dựng khởi
công mới, tu sửa nâng cấp nhiều hơn so với 5 năm trước. Chương trình thực hiện kiên cố hoá kênh mương đạt
hiệu quả cao với 29 công trình, tổng chiều dài kênh mương kiên cố hóa là 190,386 km. Đến nay, trên địa bàn
toàn tỉnh có 263 công trình thuỷ lợi lớn, vừa và nhỏ có năng lực tưới theo thiết kế là 26.618 ha cây trồng các
loại. Năng lực tưới thực tế các công trình nâng lên rõ rệt so với năng lực thiết kế, đến năm 2005, tổng diện tích
các loại cây trồng được tưới 64.000 ha, trong đó lúa đông xuân 10.000 ha, lúa hè thu sớm 5.500 ha, lúa mùa
18.900 ha, cây công nghiệp và cây ăn qủa 22.600 ha và rau hoa 7.000 ha.

Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 10

LÂM NGHIỆP

Tài nguyên rừng :
Tài nguyên rừng Lâm Đồng phong phú, đa dạng, với trên 618 ngàn ha rừng với tổng trữ lượng trên 61 triệu
m
3
gỗ và gần 662 triệu tấn tre, nứa. Rừng ở Lâm Đồng nhiều vùng còn nguyên sinh, ban sơ với nhiều thực,
động vật, chủng loại đa dạng, đặc biệt của rừng Lâm Đồng là đặc dụng và phòng hộ. Nguồn tre, nứa, lồ ô khá
dồi dào, trữ lượng lớn, tập trung ở các huyện phía Nam như Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên. Do mưa nhiều, khí
hậu ẩm ướt, đất đai phù hợp nên các loài tre, nứa, lồ ô có tố độ tái sinh rất nhanh sau khi khai thác. Diện tích
tre, nứa có đủ khả năng đáp ứng cho yêu cầu chế biến khoảng 50.000 tấn bột giấy hàng năm. Rừng Lâm Đồng
rất đa dạng về loại, có trên 400 loài cây gỗ, trong đó có 1 số loài gỗ quý như: pơmu xanh, cẩm lai, giỏ, sao,
thông 2 lá, 3 lá, ngoài ra còn có nhiều loại lâm sản có giá trị khác.
Rừng Lâm Đồng phân bố ở thượng nguồn các sông, suối lớn của khu vực nên có vai trò quan trọng trong
phòng hộ, du lịch nghiên cứu, tham quan Diện tích đất có khả năng trồng rừng nguyên liệu khoảng 50.000-
70.000 ha, thuận lợi cho ngành công nghiệp chế biến bột giấy, giấy. Đặc biệt trên địa bàn tỉnh có phần đất thuộc
khu bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc và rừng quốc gia Cát Tiên, ở đây có trên 544 loại thực vật, 44 loài thú, gần 200
loài chim và có sự xuất hiện những động vật quý hiếm như loài Tê giác Zava.
Tình hình sản xuất lâm nghiệp qua 5 năm (2001-2005):
Sản xuất lâm nghiệp qua 5 năm đã từng bước chuyển dịch theo hướng giảm khai thác; tăng cường công tác
lâm sinh, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc; đẩy nhanh tiến độ giao đất, giao rừng cho nhân dân, gắn với việc đưa
đồng bào dân tộc tham gia vào làm nghề rừng để tạo cho họ ổn định cuộc sống, gắn bó thật sự với rừng tiến tới
không còn nạn phá rừng làm nương, rẫy nhằm xây dựng vốn rừng, duy trì và bảo vệ tài nguyên .
Hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 5 năm 2001-2005 đã có nhiều đổi mới về cơ chế tổ chức quản
lý nhằm mục đích giữ rừng và phát triển vốn rừng, chuyển từ hoạt động lâm nghiệp truyền thống sang hoạt
động lâm nghiệp xã hội. Sắp xếp lại các lâm trường và các ban quản lý rừng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của các lâm trường, làm tốt vai trò nòng cốt trong sản xuất lâm nghiệp, thực hiện bảo vệ và phát
triển rừng, tạo thêm việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo tại các địa phương trong tỉnh. Phát triển lâm
nghiệp đã gắn với tạo việc làm cho hàng chục ngàn hộ nông dân, nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân ở
vùng xa, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc. Bằng các nguồn vốn và các hình thức đầu tư khác nhau như: vốn
dự án 661, vốn đầu tư từ ngân sách tỉnh và vốn của các thành phần kinh tế đã đầu tư trồng rừng, khoanh nuôi
rừng, giao khoán quản lý bảo vệ rừng, từng bước nâng cao độ che phủ của rừng trong toàn tỉnh.

Thực hiện chủ trương hạn chế khai thác, tách đơn vị khai thác khỏi đơn vị quản lý bảo vệ rừng nên khối
lượng khai thác gỗ rừng tự nhiên ngày càng giảm; giai đoạn 2001-2002 bình quân khoảng 30.000 m
3
/năm, giai
đoạn 2004-2005 bình quân khoảng 15.000 m
3
/năm. Khối lượng gỗ rừng trồng khai thác ngày càng tăng (năm
2000 khoảng 4.000 m
3
/năm, năm 2005 khoảng 40.000 m
3
/năm). Sản lượng gỗ khai thác các loại xu hướng
giảm dần, đặc biệt giảm mạnh từ năm 2003 đến nay. Sản lượng gỗ khai thác các loại giảm từ 79.788 m
3
năm
2003 xuống còn 45.258 m
3
năm 2005, giảm 34.530 m
3
; trong đó các đơn vị lâm nghiệp khai thác từ 63.220 m
3

năm 2003 giảm xuống còn 35.046 m
3
năm 2005, giảm 28.174 m
3
. Bình quân thời kỳ 2001-2005, sản lượng gỗ
khai thác mỗi năm là 59.561 m
3
, mức khai thác gỗ bình quân hàng năm phù hợp với yêu cầu phát triển tự

nhiên về năng suất rừng và đủ đáp ứng yêu cầu địa phương, góp phần bảo tồn một khối lượng lớn diện tích
rừng tự nhiên.
Công tác giao đất, giao rừng để quản lý bảo vệ có chuyển biến tích cực. Trong những năm qua, tỉnh đã đầu
tư giao khoán quản lý bảo vệ rừng, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho đại bộ phận đồng bào dân tộc.
Tính đến năm 2005 đã thực hiện giao khoán bảo vệ rừng được 299 ngàn ha giao cho khoảng gần 12 ngàn hộ
nhận khoán với mức thu nhập từ 1,2 đến 1,5 triệu đồng; trong đó có 9.405 hộ đồng bào dân tộc nhận khoán
230,717 ngàn ha. Trong tổng số diện tích rừng được giao khoán bảo vệ, nguồn vốn ngân sách tỉnh 168.285 ha;
giao khoán bằng nguồn vốn dự án 5 triệu ha rừng 106.074 ha; giao khoán bằng chính sách hưởng lợi 10.444
ha.
Để khôi phục lại vốn rừng bị giảm sút, bằng nhiều nguồn vốn ngân sách cấp thông qua chương trình 327,
chương trình 5 triệu ha rừng, vốn trồng rừng nguyên liệu giấy (liên doanh giữa các đơn vị chủ rừng với Công
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 11

ty nguyên liệu giấy Đồng Nai), vốn dự án IPDP, vốn các đơn vị và cá nhân… đã đầu tư thực hiện trồng rừng
tập trung 5 năm 2001-2005 đạt 14.937 ha, bình quân mỗi năm trồng rừng đạt 2.987 ha. Trong đó chương trình
327(nay là 5 triệu ha rừng) đã trồng mới 2.458 ha rừng trồng tập trung.
Nhờ kết qủa đầu tư từ nhiều nguồn vốn khác nhau với nhiều thành phần kinh tế tham gia trồng rừng, giao
khoán quản lý bảo vệ rừng nên trong 5 năm 2001-2005 độ che phủ của rừng được nâng lên từ 63% năm 2000
lên 64% năm 2005.
CÔNG NGHIỆP
Sản xuất công nghiệp:
Thời kỳ 2001-2005, trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn về thị trường, ảnh hưởng của dịch Sars, giá cả
nguyên liệu đầu vào biến động tăng làm tăng chi phí đầu vào các sản phẩm… nhưng ngành công nghiệp đã sắp
xếp lại sản xuất, phát triển theo chiều sâu, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm từng bước nâng cao năng lực sản
xuất và trình độ công nghệ. Sản xuất công nghiệp đã từng bước thay đổi, thích ứng dần với cơ chế quản lý mới
đi vào thế phát triển ổn định. Để thích ứng với cơ chế mới, ngành công nghiệp đã tổ chức, sắp xếp lại mạng lưới
doanh nghiệp nhà nước, quá trình sắp xếp lại gắn chặt với quá trình xây dựng mới, gắn xây dựng nhà máy chế
biến với việc phát triển vùng nguyên liệu, lựa chọn những doanh nghiệp có điều kiện phát triển, đáp ứng nhu
cầu thị trường để đầu tư mở rộng quy mô, đồng thời giải thể những doanh nghiệp quy mô nhỏ, làm ăn thua lỗ.

Với phương châm đó, số lượng doanh nghiệp đã giảm xuống từ 26 doanh nghiệp năm 2001 xuống 22 doanh
nghiệp năm 2005. Trong đó doanh nhiệp nhà nước địa phương quản lý từ 13 doanh nghiệp năm 2001 còn 11
doanh nghiệp năm 2005, giảm 2 doanh nghiệp (giảm 15,38%).
Tổng hợp chung về cơ sở và lao động sản xuất công nghiệp :

2001 2002 2003 2004 2005
1. Cơ sở sản xuất ( cơ sở ) 6.455 5.754 6.330 6.154 6.364
- Doanh nghiệp nhà nước 26 27 25 24 22
Trung ương 13 13 12 13 11
Địa phương 13 14 13 11 11
- Ngoài nhà nước 6.414 5.711 6.283 6.103 6.312
2. Lao động ( người ) 28.991 26.238 29.165 28.440 29.870
- Khu vực nhà nước 7.040 6.214 7.702 7.630 6.400
- Khu vực ngoài nhà nước 21.951 20.024 21.463 20.810 23.470
Khu vực công nghiệp ngoài nhà nước cũng đang trong quá trình đổi mới về tổ chức theo hướng đa dạng hoá
về thành phần và tăng về số lượng (trừ thành phần kinh tế cá thể). Do được đầu tư cơ sở sản xuất phát triển,
năng lực sản xuất tăng, thu hút lực lượng lao động xã hội tham gia vào sản xuất công nghiệp ngày càng tăng. Cụ
thể, năm 2001 có 21.951 lao động đến năm 2005 có 23.470 lao động tham gia, tăng 1.519 lao động so năm
2001.
Do được tăng cường đầu tư, năng lực sản xuất tăng nhanh, đổi mới trang thiết bị và quy trình công nghệ mới,
thay thế dần máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu. Kết hợp với đổi mới cơ chế quản lý đã thúc đẩy sản xuất công
nghiệp toàn tỉnh vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển.
Trong thời kỳ 2001-2005, gía trị sản xuất công nghiệp (CĐ 94) tăng bình quân 17,8% hàng năm, trong đó
năm 2001 tăng 11,2%; 2002 tăng 7,03%; 2003 tăng 10,29%; 2004 tăng 19,88% và ước năm 2005 tăng 43,86%,
tăng mạnh do tính bổ sung thêm giá trị điện của công ty Hàm Thuận-Đa Mi (theo Quyết định của Bộ Công
nghiệp). Cả 3 ngành công nghiệp đều tăng, trong đó công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất, phân phối
điện, nước tăng mạnh; bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005, ngành công nghiệp khai thác mỏ tăng 13,47%,
ngành công nghiệp chế biến tăng 19,70% và công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước tăng 49,54%.
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 12


Đối với kinh tế nhà nước, tuy số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm dần, song giá trị sản xuất công nghiệp
bình quân thời kỳ 2001-2005 tăng 27,31%, trong đó doanh nghiệp nhà nước Trung ương quản lý tăng 42,92%
và doanh nghiệp nhà nước địa phương quản lý tăng 4,6%. Năng lực sản xuất cũng tăng mạnh, nhất là các ngành
công nghiệp chủ yếu ở địa phương, điển hình như chế biến hạt điều tăng từ 656 tấn năm 2000 lên 1.480 tấn
năm 2005, tăng 125,61%; chế biến chè từ 5.782 tấn năm 2000 tăng lên 6.813 tấn năm 2005, tăng 17,83%; khai
thác bauxite từ 16.200 tấn năm 2000 tăng lên 68.100 tấn năm 2005; sản xuất quần áo may sẵn từ 371 ngàn cái
năm 2000 tăng lên 546 ngàn cái năm 2005, tăng 47,17%; sợi tơ tằm từ 121 tấn lên 512 tấn năm 2005, tăng
323,14% Tổng nguồn vốn dùng vào sản xuất kinh doanh đến thời điểm 31/12/2005 là 2.762.919 triệu đồng,
chiếm 71,9% tổng nguồn vốn các doanh nghiệp công nghiệp.
Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá CĐ 1994:

2001 2002 2003 2004 2005
1. Giá trị sản xuất (tr. đồng) 1.098.948 1.1176.233 1.297.305 1.555.156 2.237.324
- Công nghiệp khai thác mỏ 34.974 39.410 45.457 53.127 64.297
- Công nghiệp chế biến 996.997 1.070.634 1.179.046 1.428 218 1.683.504
- CN SX, PP điện, nước 66.977 66.189 72.802 73.811 489.523
2. Tốc độ phát triển (%) 111,20 107,03 110,29 119,88 143,86
3. Tốc độ PTBQ 2001-2005 117,80
- Công nghiệp khai thác 119,70
- Công nghiệp chế biến 113,47
- CN SX, PP điện, nước 149,54
Công nghiệp ngoài nhà nước phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, chủng loại sản phẩm đa dạng,
phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Tỷ trọng giá trị công nghiệp ngoài nhà nước tuy có giảm
dần từ 86,65% năm 2000 xuống còn 71,29% năm 2005 song vẫn chiếm tỷ lệ lớn (bình quân thời kỳ 2001-2005
chiếm 65,3%) trong tổng giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp. Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài nhà nước
(CĐ 1994) từ 671.360 triệu đồng năm 2000 tăng lên 1.208.228 triệu đồng năm 2005, bình quân hàng năm thời
kỳ 2001-2005 tăng 12,47%; trong đó kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh (tư nhân
tăng bình quân 23,65%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 24,86%). Riêng kinh tế cá thể tăng chậm (tăng
bình quân 0,23%) và kinh tế tập thể giảm mạnh (giảm 12,34% bình quân hàng năm).

Sản xuất công nghiệp trong thời gian qua đã phát triển đúng hướng, cụ thể là căn cứ vào khả năng về nguyên
liệu sẵn có của địa phương để lựa chọn phương án đầu tư thích hợp, khai thác có hiệu quả tiềm năng về tài
nguyên, khoáng sản vào phục vụ phát triển kinh tế địa phương. Phương án sản phẩm sản xuất tương đối phù
hợp, được thị trường chấp nhận, chiếm lĩnh thị phần ngày càng được mở rộng. Điển hình là các sản phẩm như
phân vi sinh, chè chế biến, cà phê chế biến, bauxite, lụa tơ tằm, sợi tơ tằm , sản phẩm hàng hóa do công nghiệp
sản xuất đa dạng về chủng loại, tăng về khối lượng và chất lượng. Bên cạnh các sản phẩm có trình độ kỹ thuật,
có giá trị kinh tế hàng hoá cao, phục vụ cho sản xuất, xây dựng, ngành công nghiệp còn sản xuất nhiều loại sản
phẩm phục vụ tiêu dùng khác như sản phẩm may mặc, chế biến lương thực, chế biến gỗ, lâm sản góp phần
khắc phục tình trạng mất cân đối về hàng hoá địa phương.
Vai trò công nghiệp, nhất là một số ngành công nghiệp có quy trình công nghệ, kỹ thuật cao đã thực sự có tác
dụng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Công nghiệp còn là đầu mối tạo nguồn thu cho ngân sách, thúc đẩy
tăng trưởng GDP; phát triển công nghiệp đã góp phần quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu chung của nền kinh tế
và của chính khu vực công nghiệp-xây dựng. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng từ 10,38% năm 2000 lên
16,83% năm 2005, góp phần nâng tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng từ 13,40% năm 2000 lên 18,70%
năm 2005.
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 13

Kết quả sản xuất công nghiệp trong thời gian qua đã chứng minh: Đầu tư cho phát triển công nghiệp không
những nâng cao năng lực của nền công nghiệp, tạo tiền đề cho quá trình phát triển của các ngành kinh tế khác,
nhằm tăng nhanh khối lượng hàng hoá, nhất là các sản phẩm vật tư kỹ thuật, sản phẩm phục vụ xuất khẩu, góp
phần tăng thu ngân sách, từng bước thực hiện chuyển cơ cấu kinh tế, tạo môi trường để đưa nền kinh tế phát
triển theo hướng công nghiệp và dịch vụ. Đồng thời sự phát triển công nghiệp đã tạo ra hàng vạn chỗ làm việc
cho người lao động, không chỉ trong ngành công nghiệp mà còn ở các ngành kinh tế khác, trước hết là các
ngành liên quan chặt chẽ đến sản xuất công nghiệp như sản xuất nông, lâm, thuỷ sản làm nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến và thương mại làm chức năng bán hàng hoá cho công nghiệp .
Trong những năm qua, công tác quy hoạch, triển khai đền bù giải toả, thu hút vốn đầu tư để triển khai phát
triển một số dự án lớn có tác động quyết định, đột phá đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh nói chung, ngành công
nghiệp nói riêng được triển khai tích cực. Đến nay, đã triển khai quy hoạch xây dựng 12 cụm, điểm công
nghiệp, quy hoạch 63 điểm thuỷ điện, thành lập và triển khai chương trình khuyến công, đầu tư hạ tầng và kêu

gọi đầu tư vào 2 khu công nghiệp: Lộc Sơn và Phú Hội và các dự án thuỷ điện Đại Ninh, Đồng Nai 3, Đồng Nai
4, tổ hợp bauxite Tân Rai… Hiện đã có 20 nhà đầu tư, đăng ký đầu tư (trong đó có 3 dự án đầu tư 100% vốn
nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 202,28 tỷ đồng và 2 triệu USD vào khu công nghiệp Lộc Sơn. Riêng khu công
nghiệp Phú Hội đã có 4 nhà đầu tư với tổng vốn đăng ký 59,9 tỷ đồng.

TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP
Lâm Đồng tuy là một tỉnh miền núi, song với vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tạo cho tỉnh
có mối quan hệ khá chặt chẽ với các vùng lân cận, đặc biệt là các tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ. Thêm vào đó,
Lâm Đồng có Đà Lạt là trung tâm du lịch – nghỉ dưỡng của cả nước, nên số khách nội địa và khách quốc tế đến
đây hàng năm khá lớn. Thực tế đó đã tạo nên nhu cầu lớn về các mặt hàng đặc sản của du khách thập phương.
Vì vậy, ở Lâm Đồng nói chung và Đà Lạt nói riêng có nhiều nghề tiểu thủ công nghiệp nổi tiếng, bao gồm các
nghề như làm mứt, sản xuất rượu hoa quả, chế biến chè, cà phê, cưa lộng, chạm bút lửa, đan len, thêu và các
nghề thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc ít người như dệt vải, làm rượu cần, dệt chiếu lát,…

DU LỊCH
Với ưu thế về khí hậu, cảnh quan thiên nhiên và tài nguyên rừng, từ lâu du lịch là nguồn tài nguyên và thế
mạnh của Lâm Đồng. Rừng của Lâm Đồng là khu vực lưu giữ nguồn gen động, thực vật quý hiếm, có chức
năng bảo vệ nguồn sinh thủy khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông, suối lớn. Tính đa dạng sinh học của hệ
sinh thái này đóng vai trò quan trọng trong cảnh quan du lịch, đặc biệt là rừng thông Đà Lạt. Cùng với sông,
suối, hồ, đập, thác nước, rừng Lâm Đồng đã tạo nên một quần thể có sức thu hút khách du lịch trong và ngoài
nước như rừng cảnh quan bao quanh Đà Lạt, khu du lịch hồ Tuyền Lâm, khu du lịch hồ Suối Vàng – Dankia,
khu du lịch Thung lũng tình yêu, khu du lịch thác Datanla, thác Prenn, thác Pongour, thác Đam B’ri, núi Lang
Biang.
Trung tâm du lịch phía Bắc bao gồm thành phố Đà Lạt và các vùng phụ cận. Đà Lạt nằm trên cao nguyên
Lâm Viên có độ cao 1.500 m, khí hậu mát mẻ quanh năm; cách các đô thị lớn của vùng và khu vực không xa,
giao thông thuận lợi. Đà Lạt có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú nổi tiếng về hồ, về thác nước và rừng thông,
bên cạnh đó là các công trình kiến trúc mang giá trị văn hóa - nghệ thuật cao, có sức hấp dẫn đối với du khách.
Đà Lạt hiện có 1 sân gôn 18 lỗ đạt tiêu chuẩn quốc tế. Hệ thống nhà nghỉ, khách sạn có sức chứa trên 30.000
khách/ngày, trong đó có 20 khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế từ 1 đến 5 sao. Đà Lạt được coi là trung tâm du
lịch của Việt Nam và khu vực.

Trung tâm du lịch phía Nam gồm thành phố Bảo Lộc và vùng phụ cận: Bảo Lộc nằm trên cao nguyên Bảo
Lộc - Di Linh có độ cao 1.000 m, khí hậu ôn hòa, có cảnh quan thiên nhiên đẹp. Đây là địa bàn cư trú của các
dân tộc ít người, mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng, độc đáo rất thích hợp cho phát triển du lịch văn hóa.
Tại đây còn có các khu di chỉ có giá trị phù hợp cho tham quan, nghiên cứu như khu di chỉ Phù Mỹ - Cát Tiên
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 14

Các loại hình du lịch của Lâm Đồng khá phong phú, đa dạng: du lịch tham quan, du lịch giải trí, du lịch nghỉ
dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch dưới tán rừng, du lịch vườn, du lịch văn hóa - thể thao
Một số cảnh quan du lịch tự nhiên đặc sắc: Hồ Xuân Hương, Đan Kia – Suối Vàng, Tuyền Lâm, Than Thở,
Thung lũng Tình yêu, Thung lũng vàng, Đa Nhim; thác Cam Ly, Đatanla, Prenn, Liên Khương, Gougah,
Pongour, Đambri, Bobla, Li Liang, thác Voi, Pong Giang; đồi Cù, núi Lang Bian,…
Các di tích văn hoá lịch sử như Dinh I, Dinh II, Dinh III, khách sạn Palace; chùa Linh Sơn, Linh Phong;
Thiền viện Trúc Lâm; nhà thờ Chánh toà, Cam Ly; Nghĩa trang Liệt sĩ; khu mộ cổ của dân tộc Mạ, khu di tích
Cát Tiên; các lễ hội văn hoá dân gian như lễ hội đâm trâu, lễ hội cồng chiêng,… là điểm hẹn của du khách trong
nước và quốc tế.
Tiềm năng du lịch
Về lâu dài, du lịch là nhân tố đột phá và là ngành kinh tế động lực của Lâm Đồng để đẩy nhanh tốc độ phát
triển kinh tế - xã hội. Lâm Đồng có lợi thế để phát triển du lịch, hiện tại hai khu du lịch trọng điểm: hồ Tuyền
Lâm và Suối Vàng – Dankia của tỉnh đã được quy hoạch đang chờ đón các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Bên
cạnh đó, Lâm Đồng đã có chủ trương cho phép các nhà đầu tư thuê đất dưới tán rừng để đầu tư du lịch theo
hướng du lịch sinh thái, du lịch dưới tán rừng.
THƯƠNG MẠI
Hoạt động nội thương:
Hoạt động thương mại - dịch vụ thời kỳ 2001-2005 đã tiếp cận và hoà nhập với kinh tế thị trường, đảm bảo
cung cấp cơ bản hàng hoá, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống. Hàng hoá trên thị trường phong phú, đa dạng,
việc mua bán thuận lợi, đáp ứng khá tốt nhu cầu xã hội các tầng lớp dân cư trong tỉnh. Mạng lưới kinh doanh
thương mại phát triển nhanh, đa dạng về ngành nghề bao gồm cả thương nghiệp, nhà hàng ăn uống, dịch vụ
phục vụ và du lịch. Do đó đã mở rộng mạng lưới kinh doanh phục vụ xuống tận cơ sở, địa bàn khu dân cư, tạo
thành mạng trung gian kinh tế, làm chức năng giao lưu, trao đổi hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ .

Đến năm 2005, số lượng cơ sở kinh doanh thương mại- dịch vụ có 30.644 cơ sở, tăng 11.862 cơ sở so năm
2000; trong đó cơ sở kinh tế cá thể chiếm tỷ trọng lớn (chiếm 97,9% năm 2005), còn các thành phần kinh tế
khác chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng các cơ sở kinh doanh thương mại- dịch vụ toàn tỉnh. Hoạt động thương mại-
dịch vụ đã thu hút số người tham gia kinh doanh ngày càng đông với số lượng 47.852 người năm 2005, tăng
23.450 người (96,1%) so năm 2000.
Cùng với việc phát triển về thành phần kinh doanh, hạ tầng cơ sở cũng được đầu tư phát triển, điển hình là
hệ thống chợ. Một số chợ được quy hoạch, đầu tư nâng cấp, sửa chữa với quy mô lớn trở thành trung tâm
thương mại của tỉnh như chợ Đà Lạt, chợ B’ Lao (Bảo Lộc), chợ Tùng Nghĩa (Đức Trọng). Các trung tâm
thương mại tỉnh đã trở thành nơi cung ứng hàng hoá cho vùng lân cận, nơi trung chuyển trao đổi hàng hoá cho
các chợ nông thôn .
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân hàng năm 22%; trong đó
kinh tế nhà nước tăng 13,49% (nhà nước trung ương tăng 16,77% và nhà nước địa phương tăng 9,15%), kinh tế
ngoài nhà nước tăng 27,35% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 27,05%. Đến năm 2005 tổng mức bán lẻ
đạt 5.861,56 tỷ đồng, tăng 170,09% so năm 2000. Tốc độ tăng tổng mức bán lẻ qua các năm: 2001 tăng 0,56%,
2002 tăng 14,07%, 2003 tăng 21,33%, 2004 tăng 40,60% và ước năm 2005 tăng 38,02%. Mức bán lẻ bình quân
đầu người/năm cũng tăng lên đáng kể, từ 2,1 triệu đồng năm 2000 lên 5,07 triệu đồng năm 2005. Thương
nghiệp nhà nước chủ yếu nắm giữ khâu bán buôn và một phần bán lẻ. Thương nghiệp tư nhân, cá thể có lực
lượng đông đảo nên giữ vai trò lớn trong khâu bán lẻ. Trong tổng mức bán lẻ thì kinh tế nhà nước chiếm tỷ
trọng nhỏ (từ 9-10%), kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn ( từ 76-90%).




Tỷ trọng các thành phần kinh tế trong tổng mức bán lẻ như sau :
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 15



Tổng Chia ra

Năm Số Kinh tế
Kinh tế
ngoài
Kinh tế có vốn
Nhà nước quốc doanh
đầu tư nước
ngoài
2001 100 10,44 88,41 1,15
2002 100 11,85 86,99 1,16
2003 100 10,59 88,34 1,07
2004 100 10,87 76,73 12,40
2005 100 9,44 89,25 1,31

Cùng với phát triển thương nghiệp ở thành phố, thị xã và các thị trấn, mạng lưới thương nghiệp tiếp tục phát
triển đến các vùng sâu, vùng xa góp phần thúc đẩy giao lưu hàng hoá, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của
nhân dân ở vùng này.
Thời kỳ 2001-2005 hoạt động kinh doanh du lịch có bước phát triển mạnh. Các điểm danh lam được quy
hoạch, tôn tạo, nâng cấp; các khu vui chơi giải trí được xây dựng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của du khách. Nhiều
khu du lịch mới đã được các nhà đầu tư trong và ngoài nước triển khai xây dựng, tạo thêm một số sản phẩm du
lịch hấp dẫn du khách. Các khu du lịch trọng điểm thu hút được nhiều dự án đầu tư lớn là cơ sở để phát triển
ngành du lịch trong những năm tiếp theo. Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ tăng nhanh, có sức chứa tổng cộng
khoảng 30.000 khách, chất lượng kinh doanh được nâng lên đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên của du khách
trong và ngoài nước. Vì vậy lượt khách đến Lâm Đồng tăng bình quân hàng năm 8,22%, năm 2000 có 725.000
lượt khách (qua lưu trú) đến tham quan, nghỉ dưỡng, du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng tăng lên 1.075.933 lượt khách
năm 2005. Trong đó khách quốc tế năm 2005 có 100.000 lượt khách so với năm 2000 là 71.000 lượt, tăng bình
quân hàng năm 7,09%; khách trong nước từ 654.000 lượt khách năm 2000 tăng lên 975.933 lượt năm 2005,
tăng bình quân hàng năm 8,33%. Tổng ngày khách lưu trú trên địa bàn Lâm Đồng năm 2005 là 2.075.792 ngày
so với 1.305.000 ngày năm 2000, tăng bình quân 9,73%. Số ngày khách lưu trú bình quân 1 du khách đến Lâm
Đồng có xu hướng tăng lên, từ 1,8 ngày năm 2000 tăng lên 1,93 ngày năm 2005 kéo theo hệ số sử dụng buồng,
giường của các cơ sở lưu trú tăng lên.

* Hoạt động ngoại thương:
Hoạt động ngoại thương trong những năm qua tuy gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng chiến tranh Iraq, của
dịch Sars, dịch cúm gia cầm và tình hình giá cả thị trường thế giới biến động lớn nhưng các doanh nghiệp kinh
doanh xuất, nhập khẩu trên địa bàn Lâm Đồng đã nỗ lực tìm kiếm, mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng,
mẫu mã sản phẩm …nên đã đạt nhiều kết quả nhất định.
Tổng kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 2001-2005, đạt 390,716 triệu USD, tăng bình quân hàng năm 21,28%.
Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2005 đạt 130,68 triệu USD, tăng 162,39% so năm 2000. Mặt hàng xuất khẩu đã
qua chế biến đều tăng, chiếm trên 80% sản phẩm xuất khẩu. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh như cà
phê, chè, điều, rau, hoa, tơ tằm … tăng khá, đặc biệt kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh trong 3 năm 2003-2005
do một số doanh nghiệp nước ngoài tham gia xuất khẩu như công ty Atlantic, công ty TNHH Phú Cường. Sản
lượng cà phê năm 2005 xuất được 48.617,8 tấn, tăng 41.693,8 tấn so năm 2000; sản lượng chè năm 2005 xuất
9.538,1 tấn, tăng 7.887,1 tấn so 2000; mặt hàng rau qủa năm 2005 xuất đạt 12.281,2 tấn, tăng mạnh do những
năm trước chỉ xuất vài trăm tấn trong năm; hạt điều chế biến năm 2005 xuất khẩu tăng 8.432,5 tấn so năm 2000
và hoa các loại xuất được 8.179,6 ngàn USD, tăng 2.430,6 ngàn USD so năm 2000.
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 16

Song song với xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu thời kỳ 2001-2005, cũng tăng nhanh từ 18.333 ngàn USD
tăng lên 37.393,1 ngàn USD. Kim ngạch nhập khẩu chủ yếu là nguyên vật liệu để phục vụ sản xuất và máy
móc, thiết bị để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.
ĐẦU TƯ
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội là một chỉ tiêu quan trọng, đóng vai trò quyết định trong việc phát triển và
tăng trưởng kinh tế nói chung, tỉnh Lâm Đồng nói riêng. Trong 5 năm qua, bằng nhiều nguồn vốn ngân sách,
vốn nhân dân đóng góp và tranh thủ nguồn vốn từ bên ngoài, công tác đầu tư xây dựng được triển khai tích cực.
Thời kỳ 2001-2005, nhờ đầu tư đúng hướng nên nhiều công trình hạ tầng thiết yếu, đã được nâng cấp như: quốc
lộ 20, 27, 28, đường cao tốc từ sân bay Liên Khương đến chân đèo Prenn, mở đường 723 đi Nha Trang; hệ
thống đường nội thị ở Tp Đà Lạt và thị xã Bảo Lộc, hoàn chỉnh nhiều tuyến đường liên huyện và giao thông
nông thôn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa được đầu tư xây dựng mới, nâng cấp.
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thời kỳ 2001-2005 trên địa bàn Lâm Đồng đạt 9.513,8 tỷ đồng, trong
đó vốn ngân sách nhà nước (kể cả Trung ương, địa phương, tín dụng) chiếm khoảng 42,9%, vốn của các doanh

nghiệp và nhân dân chiếm 46,7%, vốn đầu tư nước ngoài (FDI, ODA) 10,4%. Cơ cấu đầu tư đã chuyển hướng
tăng nhanh tỷ trọng đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội; tỷ trọng đầu tư cho ngành nông, lâm, thuỷ sản chiếm 19,7%,
ngành công nghiệp 22,6%, ngành dịch vụ 21,5%, cở sở hạ tầng 36,2%.
Vốn đầu tư xã hội tăng nhanh trong những năm qua, từ 1.091,898 tỷ đồng năm 2000 tăng lên 2.259,928 tỷ
năm 2004 và 3.042,939 tỷ đồng năm 2005, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 22,75%. Tỷ trọng vốn đầu tư
toàn xã hội thời kỳ 2001-2005 chiếm trong GDP bình quân 39,88% và tăng lên qua các năm từ 37,25% năm
2000 lên 40,89% năm 2004 và 42,45% năm 2005. Tốc độ phát triển các nguồn vốn đầu tư qua các năm nhìn
chung theo chiều hướng tích cực. Trong số các nguồn vốn cấu thành vốn đầu tư phát triển thì nguồn vốn nhà
nước năm 2005 đã gấp 3,4 lần năm 2001, vốn tín dụng gấp 5,27 lần, vốn đầu tư nước ngoài gấp 6,43 lần và vốn
ngoài nhà nước gấp 1,57 lần so năm 2001.
Về cơ cấu nguồn vốn thì vốn nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng ngày càng tăng và vốn ngoài
nhà nước chiếm tỷ trọng ngày càng giảm. Vốn nhà nước năm 2001 chiếm 44,55% tổng vốn đầu tư nhưng đến
năm 2005 đã tăng lên 60,24%; vốn đầu tư nước ngoài từ 2,65% tăng lên 6,78% năm 2005. Còn tỷ lệ vốn ngoài
nhà nước từ 52,81% năm 2001 giảm xuống còn 32,98% năm 2005.
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng đóng góp một phần tích cực để chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Về
cơ cấu đầu tư, nét nổi bật trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong thời gian qua tại Lâm
Đồng chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến thực phẩm. Các doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tham gia phát
triển nguồn nhân lực.
Ngoài nguồn vốn FDI, nguồn vốn ODA cũng đóng góp một phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế -xã
hội của Tỉnh. Tuy lượng vốn ODA chỉ chiếm khoảng 1% tổng vốn đầu tư xã hội nhưng đã tập trung đầu tư vào
những lĩnh vực ưu tiên, cải tạo, nâng cấp và phát triển một bước cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội. Trong đó có một
số dự án hạ tầng xã hội đã bắt đầu phát huy tác dụng, góp phần phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân,
đặc biệt là các dự án đầu tư vào vùng đồng bào dân tộc.
Ngoài giá trị công trình đầu tư bằng nguồn vốn của ngân sách và vốn đóng góp của nhân dân còn có một
lượng vốn rất lớn của dân cư tự đầu tư xây dựng nhà ở, vật kiến trúc để phục vụ sinh hoạt của từng hộ nhân dân.
Đến năm 2005, tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản nhà ở tự làm, tự ở trong các tầng lớp dân cư khoảng 106 tỷ
đồng. Năm năm qua, cũng là những năm mà các hộ dân cư đã đầu tư xây dựng nhà cửa với tốc độ nhanh nhất và
khối lượng khá lớn, góp phần không nhỏ đẩy nhanh mức vốn đầu tư phát triển trên phạm vi toàn tỉnh .
* Tăng cường đầu tư thực hiện các chương trình kình tế - xã hội của tỉnh:

Do tăng cường đầu tư nên các chương trình kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ 2001-2005 được thực hiện,
từng bước đầu tư cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân với tổng nguồn vốn
các chương trình là 277 tỷ đồng, cụ thể:
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 17

- Chương trình 135: đã đầu tư cho 49 xã với tổng vốn đầu tư 126,115 tỷ đồng ở một số hạng mục quan trọng
sau: đường giao thông nông thôn 535 km, trường học 307 phòng/14.806 m
2
, 4 trạm xá, điện hạ thế 87 km và 24
công trình thuỷ lợi nhỏ.
- Chương trình trung tâm cụm xã: 8 trung tâm cụm xã được đầu tư với tổng số vốn đã đầu tư 53.223 triệu
đồng; đến nay đã hoàn thành 04 trung tâm cụm xã; thực hiện được một số hạng mục lớn như sau : Giao thông
nông thôn: 33,4km, trạm y tế: 8 công trình, trường học: 139 phòng/6.672m
2
, nhà ở giáo viên: 68 phòng, khu
thương mại: 5 công trình.
- Tình hình giải quyết đất sản xuất và đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số: Thực hiện quyết định
132/2002/QĐ-TTg ngày 08/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ giải quyết đất sản xuất và đất ở cho đồng bào
dân tộc thiểu số tại chỗ, trong những năm qua đã triển khai thực hiện đã giao được 6.728 ha với kinh phí là
30.598 triệu đồng cho 7.958/8.503 hộ đồng bào dân tộc thiếu đất.
- Chương trình hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc: Đã đầu tư 36.320 triệu đồng để hỗ trợ xây dựng 6.116
căn nhà, bình quân mỗi căn nhà hỗ trợ 5-6 triệu đồng.
- Chương trình hỗ trợ mắc điện cho đồng bào dân tộc: Thực hiện quyết định số 129/2003/QĐ-UB ngày
16/9/2003 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc phê duyệt đề án phát triển điện nông thôn, chương trình hỗ trợ
vay vốn mắc điện nhánh rẽ vào nhà các đối tượng chính sách, hộ nghèo và đồng bào dân tộc. Đến nay, đã bố trí
21.126 triệu đồng để đầu tư đường dây nhánh rẽ từ lưới điện hạ thế vào nhà, bình quân mỗi hộ hỗ trợ khoảng
600.000 đồng
- Chương trình kiên cố hoá kênh mương: Đến cuối năm 2004 khối lượng đã thực hiện: 107,6 tỷ đồng, trong
đó vốn ngân sách địa phương: 32,7 tỷ đồng, tín dụng ưu đãi: 42,9 tỷ đồng, vốn nhân dân đóng góp 32 tỷ đồng

cho kiên cố hoá 75,7 km kênh mương.
- Chương trình kiên cố hoá đường giao thông nông thôn: Thực hiện chương trình này đến nay đã tiến hành
nâng cấp được 44,37 km đường đạt tiêu chuẩn cấp IV miền núi với số vốn tín dụng đã vay: 25.750 triệu đồng.
- Chính sách khám chữa bệnh người nghèo: Đã thực hiện 35.598 triệu đồng, khám và điều trị ngoại trú cho
1,2 triệu lượt người, khám điều trị nội trú cho 143.000 lượt người.
Nhìn chung, thời kỳ 2001-2005, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là giao thông, bưu chính
viễn thông, điện, nước sạch, thuỷ lợi và các công trình phúc lợi công cộng không ngừng được củng cố và tăng
cường tạo tiền đề cho phát triển kinh tế.
GIAO THÔNG
Đường bộ
Hiện nay hệ thống đường bộ của Lâm Đồng tương đối dày và phân bố khá đều khắp trong tỉnh, cho phép các
phương tiện giao thông có thể đến được hầu hết các xã và đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhân dân. Nếu chỉ
tính riêng các tuyến quốc lộ, đường tỉnh và đường huyện, đến nay mạng lưới đường bộ ở Lâm Đồng có tổng
chiều dài 1.744km, trong đó tổng chiều dài:
Hệ thống quốc lộ (20, 27, 28) là 412,15km
Hệ thống đường tỉnh là 346,25km
Hệ thống đường huyện là 985,69km
Các tuyến QL 20, 27, 28, 55 nối liền Lâm Đồng với vùng Đông Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh
thuộc vùng Tây Nguyên, các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, tạo cho Lâm Đồng có mối kinh tế - xã hội bền chặt
với các vùng, các tỉnh trong khu vực.
Đường hàng không
Cảng hàng không Liên Khương nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 30 km có tổng diện tích 160ha đang
được nâng cấp thành sân bay quốc tế với đường băng dài 3.250 m có thể tiếp nhận các loại máy bay tầm trung
như A.320, A.321 hoặc tương đương. Đoạn đường từ sân bay Liên Khương đến Đà Lạt đã được nâng cấp, xây
dựng thành đường cao tốc 4 làn xe. Do nhu cầu đi lại của nhân dân ngày càng tăng nên hiện nay hàng ngày đều
có chuyến bay từ Đà Lạt đi Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại.
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 18

Đường thuỷ

Giao thông trên sông Đồng Nai chỉ thực hiện được trên chiều dài khoảng 60 km vào mùa khô và ở khu vực
Cát Tiên là chủ yếu.
Đường sắt
Tuyến đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt dài 84 km được đưa vào khai thác từ năm 1932. Năm 1976, Bộ Giao
thông – Vận tải đã tháo gỡ 21 km đường ray trên tuyến đường này để khôi phục tuyến đường sắt Thống Nhất, từ
đó tuyến đường này không còn hoạt động nữa và dần bị phá bỏ.
Hiện nay, ngành đường sắt đã khôi phục đoạn từ ga Đà Lạt đến Trại Mát dài 8 km phục vụ du lịch.

VẬN TẢI
Các hoạt động về giao thông vận tải được duy trì và không ngừng phát triển, áp dụng thành tựu khoa học và
công nghệ hiện đại. Các phương tiện vận tải tăng nhanh về số lượng, phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu vận
chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân. Tính đến nay toàn tỉnh có trên 4.829 phương tiện vận tải hàng hóa với
tổng trọng tải trên 22,599 ngàn tấn, hàng năm vận chuyển bình quân 1,82 triệu tấn; sản lượng vận tải ước năm
2005 vận chuyển được 2.104 ngàn tấn, luân chuyển 244.638 ngàn tấn-km, tăng 42,32% về vận chuyển và tăng
38,74% về luân chuyển so năm 2000. Phương tiện vận tải hành khách có 7.527 chiếc với trên 70.805 ghế, hàng
năm vận chuyển 7,71 triệu hành khách; sản lượng vận tải hành khách năm 2005 vận chuyển 9.033 ngàn hành
khách, tăng 74,49% so năm 2000; luân chuyển từ 393.651 ngàn hành khách-km năm 2000 lên 850.609 ngàn
hành khách-km năm 2005, tăng 116,08%
BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Mạng lưới bưu chính viễn thông phát triển nhanh và hiện đại cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Đến nay hệ
thống các bưu điện, bưu cục phủ kín cơ bản các địa bàn toàn tỉnh, phục vụ kịp thời nhu cầu thông tin trong và
ngoài nước của nhân dân.
Thời kỳ 2001-2005, đã đưa vào lắp đặt và sử dụng hệ thống điện thoại công cộng dùng thẻ, điện thoại di
động, dịch vụ nhắn tin, dịch vụ giải đáp thông tin, mở thêm đường dây liên lạc trực tiếp qua các nước.
Đến hết năm 2005, hệ thống điện thoại đã đến 145/145 xã, phường, thị trấn; số bưu cục khu vực là 42 tăng 2
bưu cục so năm 2000.
Tổng số máy điện thoại trong toàn tỉnh ước năm 2005 là 195.594 máy, tăng 150.177 máy so năm 2000, bình
quân hàng năm tăng 33,91%; trong đó điện thoại di động tăng mạnh từ 3.933 máy năm 2000, tăng lên 88.152
máy năm 2005, với tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 86,25%. Số máy điện thoại bình quân từ 4,4 máy/100
dân năm 2000 đã tăng lên 16,9 máy/100 dân vào năm 2005.

Doanh thu hoạt động bưu chính, viễn thông không ngừng tăng lên, từ 115.051 triệu đồng năm 2000 lên
336.030 triệu đồng năm 2005 (tăng 192%), mỗi năm thời kỳ 2001-2005 tăng bình quân 23,5%.
ĐIỆN LỰC
Trong những năm 1990 – 1996, Điện lực Lâm Đồng đã lắp đặt thêm 47.700 KVA máy biến thế trung gian và
xây dựng vận hành hơn 400km đường dây cao thế, gần 100km đường dây trung thế, đưa tổng chiều dài đường
dây các loại lên 1.581km.
Nguồn điện cung cấp cho Lâm Đồng lấy từ hệ thống điện lực miền Nam thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt
Nam và được truyền tải từ nhà máy điện Đa Nhim và nhà máy thuỷ điện Suối Vàng là chủ yếu. Nhà máy thủy
điện Đa Nhim (công suất 160 MW), thủy điện Suối Vàng (công suất 3,1 MW), thủy điện Hàm Thuận - Đa
Nhim (công suất 475 MW) và thủy điện Đại Ninh đang được thi công (công suất 300 MW), các nhà máy điện
diêzen Bảo Lộc, Di Linh, Càn Rang với tổng công suất 4,16 MW. Hiện nay, 100% số xã có điện đến trung tâm.
Tổng công suất lắp đặt của các nhà máy điện trong tỉnh đạt 7,865 MW. Sản lượng điện phát ra năm 2000 đạt
28,081 triệu kWh.

Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 19

VĂN HÓA XÃ HỘI
Lâm Đồng là một vùng đất cổ, có cảnh quan địa mạo đa dạng, cấu tạo địa chất phức tạp với nhiều dân tộc
anh em thuộc ngữ hệ Môn – Khơ Me và ngữ hệ Malayô – Pôlynêxia lần lượt đến sinh sống trên mảnh đất Nam
Tây Nguyên này.
Vùng đất Lâm Đồng còn lưu giữ nhiều dấu tích văn hoá, lịch sử của các dân tộc.
Trong nhiều năm qua, nhiều di tích lịch sử được quan tâm tiếp cận nghiên cứu, nổi tiếng nhất là khu di tích
Cát Tiên.
Văn học dân gian khá phong phú nhưng văn học viết của Lâm Đồng còn hết sức non trẻ.
Nghệ thuật ở Lâm Đồng được hình thành trên nền văn hoá Việt, văn hoá các dân tộc thiểu số bản địa và một
phần của văn hoá các tộc người thiểu số phía Bắc. Sự phối hợp giữa các yếu tố văn hoá này với nhau tạo thành
nét riêng cho văn hoá Lâm Đồng nói chung và nghệ thuật nói riêng.
Các thiết chế văn hoá gồm có:
- Thư viện tổng hợp tỉnh Lâm Đồng và Thư viện các huyện

- Bảo tàng Lâm Đồng
- Trung tâm văn hoá tỉnh Lâm Đồng, thị xã Bảo Lộc và các huyện: Di Linh, Đơn Dương, Đạ Tẻh
- Nhà văn hoá cụm xã và các xã
- Xí nghiệp in Lâm Đồng
- Công ty Điện ảnh tỉnh Lâm Đồng
- Công ty Phát hành sách Lâm Đồng
Hoạt động văn hoá – thông tin :
Hoạt động văn hoá thông tin thời kỳ 2001-2005 tiếp tục được tăng cường, từng bước đổi mới về nội dung,
hình thức, lượng thông tin ngày càng phong phú hơn đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần các tầng lớp nhân
dân và tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước đồng thời phục vụ tốt nhiệm vụ
chính trị. Đến nay đã có 11/12 huyện có đài phát thanh, truyền hình, đã phủ sóng phát thanh, truyền hình trên
85% diện tích toàn tỉnh, 85% số hộ được xem truyền hình, 80% số hộ được nghe đài phát thanh. Hàng năm, thời
kỳ 2001-2005 để phục vụ công tác tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị, toàn tỉnh đã cắt dán, kẻ vẽ trên
6.000 m
2
pa nô, cắt dán trên 12.000 mét băng rôn và treo hàng ngàn lá cờ các loại, hàng trăn lượt xe hoa, các
buổi triển lãm. Các đội thông tin lưu động và đoàn ca múa nhạc dân tộc tỉnh đã tổ chức trên 400 buổi biểu diễn
nghệ thuật và hàng trăm buổi chiếu phim phục vụ đến tận vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
thu hút hàng trăm ngàn lượt người đến xem.
Hệ thống thư viện công cộng trong những măm qua đã phục vụ có hiệu qủa nhiệm vụ chính trị và nâng cao
dân trí. Mạng lưới thư viện được củng cố, sách báo trong thư viện được đa dạng hoá. Toàn tỉnh hiện nay có 12
thư viện với 112.552 đầu sách, 292,6 ngàn bản sách năm 2005, tăng 42,6 ngàn bản so năm 2000, trong đó só
sách thư viện huyện đạt 136,5 ngàn bản, tăng 32,5 ngàn bản so năm 2000. Số phòng đọc, tủ sách xã, phường, thị
trấn từng bước được đầu tư, trang bị nên tăng nhanh từ 9 phòng đọc, tủ sách năm 2001 lên 78 phòng đọc, tủ
sách năm 2004.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được đẩy mạnh. Hiện nay phong trào đã phát
triển sâu rộng ở tất cả các địa phương, các tầng lớp xã hội nhằm xây dựng, phát huy truyền thống thuần phong,
mỹ tục, gữi gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Kết quả, năm 2000 cả tỉnh cú 56.437 hộ gia đình văn hoá, đến năm
2005 số hộ gia đình văn hoá đạt 120.132 hộ, dự kiến năm 2005 đạt 198.000 hộ. Hiện nay, toàn tỉnh đã có 259
thôn, buôn, khu phố được công nhận đạt chuẩn văn hoá, đạt tỷ lệ 20,57% so với tổng số thôn, buôn, khu phố

tòan tỉnh; trong đó có 90 thôn, khu phố đạt chuẩn văn hoá cấp tỉnh và 169 thôn, khu phố đạt chuẩn cấp huyện.
Phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng, ấp, thôn, buôn, khu phố văn hoá còn lan toả đến các cơ quan,
trường học và trở thành tiêu chí thi đua không thể thiếu hàng năm. Đến năm 2005 đã có 754 đơn vị đạt chuẩn
văn hoá, tăng 206 đơn vị so năm 2004, tăng 410 đơn vị so năm 2003, tăng 493 đơn vị so năm 2002.

Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 20

BÁO CHÍ
Lâm Đồng có 4 cơ quan báo chí:
* Báo Lâm Đồng
* Đài Phát thanh – Truyền hình Lâm Đồng
* Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ
* Tạp chí Lang Bian
Báo Lâm Đồng được thành lập ngày 21-6-1977. Từ năm 1999, báo Lâm Đồng phát hành mỗi tuần 3 số.
Đài Phát thanh Lâm Đồng phát đi bản tin đầu tiên ngày 27-4-1975. Hiện nay, Đài cùng lúc sử dụng 3 máy
phát sóng: sóng trung 10kW, sóng ngắn 5kW, sóng FM 1,3kW.
Đài Truyền hình Lâm Đồng chính thức phát sóng ngày 7-11-1985. Với máy phát sóng 5kW, Đài phát
chương trình địa phương và phát kênh sóng VTV3 thu từ vệ tinh, máy phát sóng 1kW tiếp phát các chương
trình TVTV1, VTV2, VTV5 của Đài Truyền hình Việt Nam
GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
Trong 5 năm qua (2001-2005), sự nghiệp giáo dục của tỉnh đã có những chuyển biến đáng kể. Mạng lưới
trường, lớp được duy trì và phát triển với hình thức đa dạng, rộng khắp trên toàn tỉnh. Quy mô giáo dục không
ngừng tăng lên và đang được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế, khắc phục tình trạng mất cân đối về
cơ cấu lớp học, bậc học. Đội ngũ giáo viên tiếp tục được tăng cường theo hướng chuẩn hóa. Cơ sở vật chất kỹ
thuật tuy còn nhiều khó khăn nhưng cũng đã được củng cố và nâng cấp. Hiện nay, Lâm Đồng đã có một hệ
thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng, được hình thành các cấp học và trình độ từ mầm
non đến đại học. Hệ thống giáo dục đang từng bước được xã hội hóa đa dạng về loại hình, phương thức và huy
động nguồn lực cho phát triển giáo dục. Nền giáo dục ở Lâm Đồng cơ bản đáp ứng được mục tiêu nâng cao
dân trí, bồi dưỡng nhân lực và đào tạo nhân tài góp phần đắc lực để phát triển kinh tế-xã hội và thực hiện sự

nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hoá tỉnh nhà.
* Quy mô giáo dục:
Giáo dục mầm non: Trong những năm thời kỳ 2001-2005, các địa phương trong tỉnh đã tích cực vận động
gia đình đưa trẻ đến lớp. Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 48.607 trẻ đi học mầm non, tăng 21,79% so với
năm học 2000-2001, tăng bình quân mỗi năm khoảng 4,02%. Tuy nhiên, mức độ tăng không đồng đều giữa
các năm học, từ năm học 2000-2001 đến năm học 2003-2004 tăng không đáng kể, riêng năm học 2004-2005
tăng mạnh ( tăng 13,25%) so năm học 2003-2004. Hiện nay các loại hình nhà trẻ và mẫu giáo ngoài công lập
phát triển mạnh và hầu hết các địa phương số trẻ em đi nhà trẻ và mẫu giáo đã tăng so với các năm học trước.
Giáo dục phổ thông: Quy mô học sinh tiểu học tiếp tục giảm, tiến dần đến ổn định do thực hiện chính sách
dân số và kế hoạch hoá gia đình nên độ tuổi dân số trong độ tuổi 6-10 tuổi giảm dần trong những năm gần đây
(trong 5 năm qua đã giảm 2,5%). Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 127.739 học sinh tiểu học, giảm 14,77% so
với năm học 2000-2001 (giảm 22.144 học sinh), giảm bình quân 3,15% mỗi năm .
Số học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thổng tăng khá nhanh trong những năm gần đây do ngành Giáo
dục và Đào tạo tỉnh phối hợp với các địa phương tập trung chỉ đạo để hoàn thành phổ cập trung học cơ sở vào
năm 2007. Năm học 2005-2006 có 99.203 học sinh trung học cơ sở, tăng 27,26% so với năm học 2000-2001 (
tăng 21.248 học sinh), mức tăng bình quân hàng năm đạt 4,94%. Sè học sinh trung học phổ thông lµ 44.538 häc
sinh, tăng 63,27% so với năm học 2000-2001 (tăng 17.260 học sinh), tăng bình quân hàng năm 10,3%.
* Mạng lướ i trường lớp:
Mạng lưới trường tiếp tục được củng cố và phát triển. Hầu hết các địa phương trong tỉnh đều đã có hệ thống
trường, lớp ngoài công lập.
Giáo dục mầm non: Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 160 trường mầm non so với năm học 2000-2001 số
trường tăng tang thêm 57 trường. Quy mô trường học tăng ở hầu hết ở các loại trường, trong đó trường hệ công
lập tăng nhanh, từ 29 trường năm học 2000-2001 tăng lên 82 trường năm học 2005-2006, tăng 182,76% ( tăng
53 trường).
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 21

Giáo dục phổ thông: Năm học 2005-2006 cả tỉnh có 247 trường tiểu học, tăng 2 trường so năm học 2000-
2001; có 105 trường trung học cơ sở, tăng 26 trường so năm học 2000-2001; 22 trường trung học phổ thông,
tăng 9 trường; 20 trường liên cấp tiểu học và trung học cơ sở, tăng 8 trường và 29 trường liên cấp trung học

cơ sở và trung học phổ thông, tăng 9 trường so năm học 2000-2001. Cùng với sự biến động về trường thì số
lớp cũng có sự biến động đáng kể. Năm học 2004-2005, toàn tỉnh có 4.309 lớp tiểu học, giảm 777 lớp so
năm học 2000-2001; số lớp trung học cở sở là 2.511 lớp, tăng 576 lớp và 1.086 lớp phổ thông, tăng 438 lớp
so năm học 2000-2001. Xu hướng trong những năm tới, số lớp cấp tiểu học tiếp tục giảm, số lớp cấp trung
học cơ sở và trung học phổ thông sẽ tăng lên.
* Đội ngũ giáo viên :
Cùng với đa dạng hoá các loại hình giáo dục, đội ngũ giáo viên ở các ngành học mầm non, phổ thông đã phát
triển về số lượng và tăng cường chất lượng theo hướng chuẩn hoá.
Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 2.242 giáo viên mầm non; 5.168 giáo viên tiểu học; 4.477 giáo viên
trung học cơ sở và 2.018 giáo viên trung học phổ thông. So với năm học 2000-2001, số giáo viên mầm non
tăng 16,59%; giáo viên tiểu học tăng 4,15%; giáo viên trung học cơ sở tăng 46,74% và giáo viên trung học
phổ thông tăng 71,45%. So với định mức về giáo viên/lớp của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì giáo viên toàn
tỉnh cấp tiểu học thừa 150 giáo viên, cấp trung học cơ sở còn thiếu 196 giáo viên.
Trước yêu cầu về nâng cao chất lượng giáo viên, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn hàng năm cũng tăng lên đáng
kể. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn bậc tiểu học từ 80,03% năm học 2000-2001 tăng lên 95,78% năm học 2004-2005; cấp
trung học cơ sở cũng tăng từ 86,59% năm học 2000-2001 tăng lên 92,72% năm học 2004-2005 và cấp trung học phổ
thông tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn năm học 2004-2005 là 90%.
Giáo viên giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiêp cũng tăng cả về số lượng và
chất lượng. Đến năm 2005 trên địa bàn toàn tỉnh có 332 giáo viên giảng dạy đại học, 91 giảng viên giảng dạy
cao đẳng và 145 giảng viên giảng dạy trung học chuyên nghiệp. Số giảng viên có trình độ trên đại học ở các
trường đại học năm học 2005-2006 đạt 46,99%, tăng gần 2% so với năm học 2000-2001; ở các trường cao
đẳng đạt 41,76%, tăng 3,5% và ở các trường trung học chuyên nghiệp đạt 10,34%, tăng 4,78% so năm học
2000-2001.
* Phổ cập giáo dục :
Kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học tiếp tục được duy trì và phát triển. Toàn tỉnh đã hoàn thành
chương trình xoá mù chữ và phổ cập tiểu học từ năm 1997, đến nay 12/12 huyện, thị, thành phố vẫn giữ được
chuẩn xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Công tác phổ cập trung học cơ sở tiếp tục được đẩy mạnh.
Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 82/145 xã, phường, thị trấn hoàn thành hoàn thành phổ cập trung học cơ sở,
tăng 53 xã so năm học 2000-2001; nâng tỷ lệ số xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập cấp trung học cơ sở
trên tổng số xã, phường, thị trấn từ 21,01% năm học 2000-2001 lên 56,55% năm học 2005-2006. Phấn đấu đến

năm học 2007-2008, toàn tỉnh sẽ hoàn thành xong chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
* Chất lượng và hiệu quả giáo dục :
Hệ thống trường, lớp ngày càng mở rộng và được bố trí hợp lý nên số học sinh bỏ học giảm rõ rệt thể hiện
qua công tác duy trì sĩ số. Tỉ lệ giảm sĩ số chung cả 3 cấp học giảm từ 3,31% năm học 2000-2001 xuống còn
2,22% năm học 2004-2005 ; trong đó cấp tiểu học giảm từ 1,95% xuống 1,26%, cấp trung học cơ sở giảm từ
4,69% xuống 3,02% và cấp trung học phổ thông giảm từ 4,81% xuống còn 3,32%.
Tỷ lệ hoàn thành cấp học qua các năm học đối với tiểu học xu hướng tăng lên, từ 99,14% năm học 2000-
2001 đến 99,92% năm học 2004-2005; cấp trung học phổ thông cũng tăng từ 84,16% năm học 2000-2001 lên
85,69% năm học 2004-2005. Riêng cấp trung học cơ sở, tỷ lệ tốt nghiệp giảm xuống từ 96,06% năm học
2000-2001 còn 93,48% năm học 2004-2005. Nhìn chung tỷ lệ hoàn thành các cấp học không ổn định qua các
năm học, không đồng đều giữa các cấp học do công tác đổi mới phương pháp dạy và học đã được triển khai
nhưng chưa đồng bộ; cơ sở vật chất, kỹ thuật, nhất là đồ dùng dạy học, phòng thí nghiệm, thiết bị thực hành
còn thiếu thốn; công tác phụ đạo, kèm cặp học sinh yếu một số trường chưa được quan tâm đúng mức. Ngoài
ra trong những năm qua, các khối tiến hành thay sách giáo khoa theo quy định của Bộ Giáo dục - Đào tạo
nhưng việc tiếp cận và triển khai giảng dạy theo nội dung sách mới của không ít giáo viên còn lúng túng.
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 22

* Công tác giáo dụ c vùng đồng bào dân tộc :
Giáo dục dân tộc trong những năm qua tiếp tục phát triển ổn định, hệ thống trường dân tộc nội trú được củng
cố và mở rộng ngày càng đáp ứng nhu cầu học tập của con em dân tộc trong tỉnh. Năm học 2004-2005, toàn
tỉnh Lâm Đồng có 5 trường phổ thông dân tộc nội trú, trong đó có 1 trường dân tộc nội trú tỉnh với 1.300 học
sinh đang theo học.
Số học sinh dân tộc các cấp phổ thông xu hướng tăng nhanh trong những năm qua, nhất là cấp trung học cơ
sở và trung học phổ thông. Năm học 2004-2005, toàn tỉnh có 63.167 học sinh dân tộc, chiếm 23,23% tổng số
học sinh các cấp học phổ thông toàn tỉnh, tăng bình quân hàng năm 6,1%. Trong đó cấp tiểu học có 39.466 học
sinh, chiếm 29,94% trong tổng số học sinh tiểu học toàn tỉnh, tăng 7,86% so năm học 2000-2001; cấp trung
học cơ sở có 19.268 học sinh, chiếm 19,53% tổng số học sinh trung học cơ sở và tăng 108,6% và cấp trung học
phổ thông có 4.433 học sinh, chiếm 10,7% trong tổng số học sinh trung học phổ thông toàn tỉnh, tăng 282,16%
so năm học 2000-2001.

Mặc dù đời sống vùng đồng bào dân tộc còn thấp so với mặt bằng chung của tỉnh, địa hình phức tạp, cách trở
gây khó khăn trong việc đi lại cho học sinh dân tộc, nhất là vào mùa mưa. Thực hiện chủ trương phát triển giáo
dục đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc nên trong những năm qua hệ thống trường lớp được điều
chỉnh, quy hoạch; phát triển nhiều điểm trường tiểu học đến tận thôn buôn, mở các lớp nhỏ trung học cơ sở và
trung học phổ thông nhằm rút ngắn khoảng cách đi lại cho học sinh. Vì vậy tỉ lệ giảm sĩ số học sinh cuối năm
học so với học sinh huy động đầu năm học các cấp học liên tục giảm qua các năm học. Tỷ lệ giảm sĩ số cuối
năm học cấp tiểu học từ 3,35% năm học 2000-2001 giảm còn 1,92% năm học 2004-2005; cấp trung học cơ sở
giảm từ 7,47% xuống còn 3,44% năm học 2004-2005 và cấp trung học phổ thông từ 8,89% năm học 2000-
2001 giảm xuống còn 3,8% năm học 2004-2005.
Song song với việc duy trì tốt công tác sĩ số thì chất lượng văn hóa các cấp học cũng từng bước được nâng
lên, đạt tỷ lệ khá cao tương đương với tỷ lệ bình quân chung các cấp học toàn tỉnh. Trong 5 năm, tỷ lệ xếp loại
văn hoá trung bình trở lên bình quân hàng năm cấp tiểu học đạt 92,5%; cấp trung học cơ sở đạt 80% và cấp
trung học phổ thông đạt 54%
Y TẾ
Thời kỳ 2001-2005, ngân sách Trung ương và địa phương đã chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật cho công tác y tế, nên hệ thống bệnh viện, trạm xã, phòng khám đa khoa được nâng cấp, sửa chữa, xây
mới nên cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân trong tỉnh. Năm 2005, toàn tỉnh cú
181 cơ sở y tế Nhà nước, trong đó có 12 bệnh viện, 1 bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, 21 phòng
khám đa khoa khu vực, 145/145 xã có trạm y tế (trong đó 129 trạm độc lập và 16 trạm hoạt động lồng ghép).
Số giường bệnh trên địa bàn toàn tỉnh hiện nay có 2.402 giường, bình quân một nghìn dân đạt 2,08 giường vào
năm 2005 với công suất sử dụng giường bệnh đạt 84,92%. Ngoài ra, để phục vụ công tác khám chữa bệnh cho
nhân dân ngày một tốt hơn, bệnh viện tuyến tỉnh đã trang bị máy CT Scanner, máy chạy thận nhân tạo, bộ
khám điều trị nội soi Tai-Mũi-Họng; có 8/10 bệnh viện tuyến huyện đã có gây mê, bàn mổ, đèn mổ, bộ dụng cụ
trung phẩu, bộ dụng cụ phẫu thuật sản khoa; 100% xã có tủ lạnh để lưu trữ vaccin; 127/145 trạm y tế có kính
hiển vi.
Mạng lưới y tế cơ sở với các trạm y tế tuyến xã, phường, thị trấn là chủ yếu đã đóng vai trò quan trọng trong việc
thực hiện các hoạt động y tế dự phòng và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Trong
quá trình đổi mới và phát triển, ngành Y tế đã thiết lập được mạng lưới y tế xã, phường rộng khắp từ tỉnh xuống cơ
sở, từ thành thị đến nông thôn, đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.
Thực hiện chủ trương xã hội hoá công tác y tế theo tinh thần Nghị quyết 90/CP của Chính phủ, Nghị quyết 06

của Tỉnh uỷ Lâm Đồng và chỉ đạo của UBND tỉnh, ngành Y tế đã triển khai đa dạng hoá các hình thức khám chữa
bệnh và huy động nguồn lực đấu tư cho y tế. Mạng lưới y tế tư nhân cũng phát triển nhanh trong những năm qua,
góp phần không nhỏ vào công tác khám chữa bệnh, cung cấp thuốc cho nhân dân, đáp ứng nhu cầu thầy tại nhà,
thuốc tại nhà của bệnh nhân, đồng thời góp phần giảm quá tải trong các cơ sở khám chữa bệnh Nhà nước. Hiện nay,
toàn tỉnh có 641 cơ sở hành nghề y, dược tư nhân, trong đó hành nghề y là 369 cơ sở, hành nghề y học cổ truyền
102 cơ sở và 170 cơ sở hành nghề dược.
Tài liệu dạy - học Địa lý tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Xuân Hùng
Trang 23

* Phát triển nhân lực:
Tính đến cuối năm 2005, toàn tỉnh có 557 bác sĩ, 83 dược sĩ đại học, 730 y sĩ và kỹ thuật viên và 276 dược sĩ
trung học và kỹ thuật viên dược. Tỷ lệ bác sỹ trên một vạn dân tăng lên đáng kể từ 4,39 bác sĩ năm 2000 tăng
lên 4,81 bác sĩ năm 2005. Ngoài số lượng y, bác sĩ, dược sĩ, còn một đội ngũ y tá, dược tá, nữ hộ sinh đã góp
phần đáng kể trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân những năm vừa qua. Tuy nhiên, số cán bộ y tế giữa
các vùng không đồng đều, trong đó ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc ít người thì số
bác sĩ còn ít.
* Y tế dự phòng và công tác phòng chống dịch bệnh :
Ngành Y tế đã chủ động triển khai phòng chống các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây dịch nên tình hình
bệnh dịch nói chung ổn định. Đặc biệt là phòng chống dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS) và dịch cúm gia
cầm lây qua người. Việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế trong những năm vừa qua đã có
nhiều chuyển biến tích cực.
Chương trình phòng chống bệnh sốt rét các năm qua đã có những tiến bộ rất khả quan, hàng năm không để
xảy ra dịch trên địa bàn toàn tỉnh, giảm mức độ lưu hành sốt rét từ 6,75% năm 2001 xuống còn 1,73% năm
2004, phấn đấu năm 2005 không có trường hợp tỷ vong do sốt rét gây ra .
Chương trình phòng chống bệnh sốt xuất huyết tiếp tục được quan tâm và thu được kết quả đáng kể. Số
người bị sốt xuất huyết đã giảm nhiều trong những năm qua, làm giảm tỷ lệ mắc bệnh trên 100.000 dân từ
16,75 năm 2001 xuống còn 4,8 năm 2004 và 4,1% năm 2005. Đặc biệt liên tục từ năm 2001 đến nay không có
trường hợp tử vong do sốt xuất huyết.
Chương trình phòng chống lao được thực hiện bằng các chiến dịch truyền thông về bệnh lao, đồng thời triển
khai rộng rãi mạng lưới chống lao. Tuy nhiên, trong các năm gần đây số bệnh nhân mắc lao mới có xu hướng

tăng từ 38,36 trên 100.000 dân năm 2001 tăng lên 41,39 trên 100.000 dân năm 2005. Hiện nay, ngành đang
quản lý, điều trị 100% bệnh nhận lao mới phát hiện, tỷ lệ bệnh nhân lao điều trị khỏi đạt 88%.
Nhìn chung các chương trình quốc gia phòng chống dịch bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã được triển khai
trong nhiều năm qua và thực hiện có kết quả. Ngoài các chương trình trên, những năm qua ngành Y tế còn thực hiện
một số chương trình khác như: Chương trình phòng chống tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi; chương trình nuôi con
bằng sữa mẹ; chương trình phòng chống thiếu máu do thiếu sắt; chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường. Các
chương trình này đã đạt được kết quả nhất định trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phòng ngừa
bệnh tật và hạn chế các bệnh gây dịch như bệnh tả, dịch hạch, thương hàn.
* Công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân:
Trong những năm qua, chất lượng công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân từng bước được tăng cường. Số người
đến khám chữa bệnh trong các cơ sở y tế ngày càng tăng; năm 2005 có 2.553,6 ngàn lượt người đến khám, chữa
bệnh tại các cơ sở y tế Nhà nước, tăng 92,27% so năm 2001, bình quân hàng năm tăng 18,43%; số bệnh nhân điều
trị nội trú 112,1 ngàn người, tăng 35,06% so năm 2001.
Các dịch vụ chăm sóc nội trú và các dịch vụ miễn phí dành cho người nghèo và các đối tượng bảo trợ xã hội khác
ngày càng được quan tâm, đảm bảo tính công bằng trong việc được hưởng các dịch vụ y tế cho mọi người dân.
Thực hiện các quyết định của Nhà nước về khám chữa bệnh cho người nghèo, đặc biệt là thực hiện việc khám chữa
bệnh theo phương thức thực thanh, thực chi theo Quyết định số 142/QĐ-UB của UBND tỉnh Lâm Đồng, tính từ
tháng 6/2002 đến tháng 6/2004 ngành y tế Lâm Đồng đã khám, chữa bệnh cho 493.968 lượt người nghèo, đồng bào
dân tộc với tổng kinh phí chi trả 19,53 tỷ đồng trong tổng số kinh phí 24,41 tỷ đồng để tổ chức khám chữa bệnh
miễn phí chi người nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn toàn tỉnh.

×