Tải bản đầy đủ (.doc) (134 trang)

Phân tích tìm hiểu thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao công tác hạch toán hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá tại công ty chế biến và kinh doanh than Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (528.45 KB, 134 trang )

Page 1 of 134
LỜI MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam đã và đang chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp, không phát
huy được nội lực của mình sang nền kinh tế mở theo xu hướng khu vực
hoá, toàn cầu hoá. Đó chính là chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước
đã thực hiện nhằm tạo một một môi trường kinh doanh, sản suất mới đầy
triển vọng cho tất cả các doanh nghiệp trong nước, phát huy được nội lực
của mình, góp phần vào mục tiêu chung là công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
Đứng trước một cánh cửa mở rộng như vậy thì việc đẩy mạnh sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp vô cùng quan trọng , là
điều kiện sống còn và phát triển của doanh nghiệp. Có tiêu thụ được sản
phẩm mới đảm bảo được việc thu hồi vốn bỏ ra, tích luỹ sản xuất nâng
cao đời sống cho cán bộ công nhân viên. Đồng thời còn phải khai thác
các nguồn lực tài chính, huy động nguồn lực đó và sử dụng nguồn lực có
hiệu quả.
Do đó mà hạch toán kế toán là một bộ phận rất quan trọng của công
cụ quản lý kinh tế có vai trò tích cực trong việc quản lý điều hành và
kiểm soát các hoạt động kinh tế, kế toán gắn liền với hoạt động kinh tế tài
chính.
1
Page 2 of 134
Công ty chế biến và kinh doanh than Hà Nội là một công ty vừa
mang tính chất thương mại, vừa mang tính phục vụ nhiệm vụ chính của
ngành. Lĩnh vực hoạt động của công ty là một lĩnh vực lớn đầy tiềm
năng. Bởi vì than làn một nguyên liệu truyền thống được sử dụng nhiều ở
các cơ sở sản xuất. Do vậy mà công ty có nhiều cơ hội kinh doanh, nhưng
đồng thời phải đương đầu với nhiều sự cạnh tranh của các sản phẩm thay
thế trên thị trường đòi hỏi công ty phải có sự kết hợp nhanh nhẹn và khéo
léo dể giữ vững vị trí của mình trong nền kinh tế thị trường.


Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của công tác kế toán
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích tìm hiểu thực trạng và
đề xuất các giải pháp nâng cao công tác hạch toán hàng hoá và tiêu
thụ hàng hoá tại công ty chế biến và kinh doanh than Hà Nội”.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Hạch toán hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá ở công ty chế biến và kinh
doanh than Hà Nội.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về Hạch toán hàng hoá và tiêu thụ hàng
hoá
- Thực trạng công tác hạch toán hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá tại
công ty chế biến và kinh doanh than Hà Nội
2
Page 3 of 134
- Đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện công tác hạch toán và nâng
cao hiệu quả kinh doanh của công ty.
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hàng hóa
- Các quá trình tiêu thụ hàng hóa
- Công tác hạch toán hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá của công ty
1.3.2.Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nội dung đề tài được thực hiện tại công ty chế
biến và kinh doanh than Hà Nội
-Phạm vi thời gian: Từ ngày 15/10/2005 đến ngày 10/03/2006
3
Page 4 of 134
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠCH TOÁN HÀNG HOÁ

VÀ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HẠCH TOÁN HÀNG HOÁ
1. Khái niệm
Hàng hóa là những vật phẩm của lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu
nào đó của con người, đi vào sản sản xuất hoặc tiêu dùng thông qua quá
trình mua bán trao đổi hàng hóa trên thị trường.
Sản phẩm hàng hóa là tập hợp tất cả các đặc tính vật lý, hóa học có
thể quan sát được tập hợp trong một hình thức đồng nhất là vật vừa mang
giá trị sử dụng vừa mang giá trị. Sản phẩm đó có thể mang ra trao đổi
được.
Hàng hóa trong các doanh nghiệp thương mại là hàng hóa mua vào
để bán nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng và xuất khẩu.
Hàng hóa được biểu hiện trên hai mặt giá trị và số lượng. Số lượng
của hàng hóa được xác định bằng đơn vị đo lường phù hợp với tính chất
hóa học, lý học của nó như kg, lít, mét nó phản ánh quy mô, đặc điểm
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Chất lượng hàng hóa
được xác định bằng tỉ lệ % tốt, xấu hoặc giá trị phẩm cấp của hàng hóa.
4
Page 5 of 134
2. Đặc điểm của quá trình tiêu thụ hàng hóa
Đó là là sự trao đổi mua bán có thỏa thuận, doanh nghiệp đồng ý
bán và khách hàng đồng ý mua, đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
Có sự chuyển đổi quyền sở hữu hàng hóa từ doanh nghiệp sang
khác hàng.
Doanh nghiệp giao hàng hóa từ doanh nghiệp sang khách hàng
khoản tiển hay một khoản nợ tương ứng. Khoản tiền này được gọi là
doanh thu bán hàng, dùng để bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra trong quá
trình kinh doanh.
Căn cứ trên số tiền hay khoản nợ mà khách hàng chấp nhận trả để
hạch toán kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.

3. Vai trò của quá trình tiêu thụ hàng hóa
Tiêu thụ hàng hóa là quá trình doanh nghiệp thực hiện việc chuyển
hóa vốn sản xuất kinh doanh của mình từ hình thái hàng hóa sang hình
thái giá trị, thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa thông qua
quan hệ trao đổi.
Tiêu thụ là khâu quan trong của hoạt động thương mại doanh
nghiệp, nó thực hiện mục đích của sản xuất và tiêu dùng đó là đưa sản
phẩm hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Tiêu thụ hàng hóa là
khâu trung gian, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng.
Qua tiêu thụ mới khẳng định được năng lực kinh doanh của doanh
nghiệp. Sau tiêu thụ doanh nghiệp không những thu hồi được tổng chi phí
5
Page 6 of 134
bỏ ra mà còn thực hiện được một phần giá trị thặng dư. Phần thặng dư
này chính là phần quan trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước, mở rộng
quy mô kinh doanh.
Cũng như các quá trình khác, quá trình tiêu thụ hàng hóa cũng chịu
sự thay đổi và quản lý của nhà nước, của người có lợi ích trực tiếp hoặc
gián tiếp. Đó là chủ doanh, các cổ đông, bạn hàng, nhà tài trợ, các cơ
quan quản lý nhà nước (thuế, luật pháp ). Hiện nay trong nền kinh tế thị
trường, các doanh nghiệp thương mại đã sử dụng nhiều biện pháp để
quản lý công tác tiêu thụ hàng hóa. Với chức năng thu thập số liệu, xử lý
và cung cấp thông tin, kế toán được coi là những công cụ góp phần giải
quyến những vấn đề phát sinh trong doanh nghiệp. Cụ thể kế toán đã theo
dõi số lượng, chất lượng, giá trị của tổng lô hàng từ khâu mua đến khâu
tiêu thụ hàng hóa. Từ đó doanh nghiệp mới điều chỉnh đưa ra phương án,
các kế hoạch tiêu thụ hàng hóa nhằm thu được hiệu quả cao nhất.
Doanh nghiệp thương mại thực hiện tốt nghiệp vụ này thì sẽ đáp
ứng tốt, đẩy đủ, kịp thời nhu cầu của khách hàng, góp phần khuyến khích
tiêu dùng, thúc đẩy sản xuất, tăng doanh thu bán ra, mở rộng thị phần,

khẳng định được uy tín doanh nghiệp trong mối quan hệ với các chủ thể
khác (như bạn hàng, chủ nợ, các nhà đầu tư ). Đồng thời động viên
người lao động, nâng cao mức sống cho họ và đặc biệt là doanh nghiệp sẽ
thu hội được khoản lợi nhuận mong muốn, góp phần xây dựng nền kinh
tế quốc dân.
6
Page 7 of 134
4. Yêu cầu quản lý tiêu thụ hàng hóa
Trong các doanh nghiệp thương mại tiêu thụ hàng hóa chính là quá
trình quản lý hàng hóa về số lượng, chất lượng, giá trị hàng hóa trong quá
trình vận động từ khâu xuất bán cho đến khi thu tiền bán hàng. Công tác
quản lý nghiệp vụ tiêu thụ hàng hóa đòi hỏi phải thường xuyên theo dõi,
chỉ đạo quá trình bán hàng theo kế hoạch đã định, kịp thời phát hiện
những biến động của thị trường để điều chỉnh kinh doanh sao cho mang
lại hiệu quả cao nhất. Đồng thời phải tính toán và đưa ra các mức kế
hoạch và chi phí, kết quản kinh doanh, năng suất lao động, thời gian chu
chuyển vốn.
Việc quản lý tiêu thụ hàng hóa theo các nội dung sau:
Quản lý về số lượng, chất lượng, giá trị hàng hóa, bao gồm: Việc
quản lý từng người mua, từng lần gửi hàng, từng nhóm hàng, từng bộ
phận kinh doanh. Việc quản lý chỉ kết thúc khi quyền sở hữu được
chuyển giao và doanh nghiệp nhận được tiền hay có đòi hỏi tiền.
Quản lý về giá cả bao gồm việc lập dự định và theo dõi thực hiện
giá, đồng thời doanh nghiệp phải đưa ra kế hoạch cho kỳ tiếp theo. Doanh
nghiệp phải đưa ra một biểu giá hợp lý cho từng mặt hàng, từng phương
thức bán, từng địa điểm kinh doanh. Trong công tác quản lý giá cả hàng
hóa thì hệ thống chứng từ, sổ sách kết toán là công cụ đắc lực nhất, phản
ánh chính xác nhất tình hình tiêu thụ hàng hóa, đặc biệt là sự biến động
7
Page 8 of 134

của giá cả trong từng thời điểm. Nó giúp cho nhà quản lý xây dựng được
định mức giá hợp lý nhất cho hàng bán ra.
Quản lý việc thu hồi tiền bán hàng và xác định kết quả kinh doanh.
Quản lý việc thu hồi tiền bán hàng là việc xem xét số tiền thu được sau
tiêu thụ được chuyển về đơn vị dưới hình thức nào, số lượng bao nhiêu,
chiều hướng phát sinh các khoản nợ khó đòi. Quản lý mặt này bao gồm
cả việc quản lý các nghiệp vụ phát sinh trong quá trình tiêu thụ như nhận
được tièn trước của khách hàng, chiết khấu, giảm giá, hàng bán bị trả lại.
Sau khi quá trình tiêu thụ hàng hóa kết thúc cần phải quản lý việc xác
định kết quản kinh doanh, đảm bảo tính đúng, tính đủ kết quả kinh doanh
đã đạt được.
5. Xác định kết quả tiêu thụ
Kết quả tiêu thụ là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng về việc tiêu
thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ của hoạt động sản xuất kinh
doanh chính và kinh doanh phụ.
5.1. Các yếu tố cấu thành việc xác đinh kết quả tiêu thụ
5.1.1. Doanh thu bán hàng
Doanh thu bán hàng: Là tổng giá trị được thực hiện do việc ban
hàng hóa, sản phẩmm cung cấp lao vụ, dịch vụ cho khách hàng. Tổng số
doanh thu bán hàng là số tiền ghi trên hóa đơn, trên hợp đồng cung cấp
lao vụ, dịch vụ.
8
Page 9 of 134
Doanh thu bán hàng sẽ được ghi nhận khi tất cả các điều kiện sau
được thỏa mãn:
Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền
với quyền lợi sở hữu sản phẩm, hàng hóa cho người mua.
Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như là
người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.
Giá trị các khoản doanh thu được xác định một cách chắc chắn.

Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch
bán hàng.
Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Với mỗi phương thức bán hàng thì thời điểm ghi nhận doanh thu
được niệm khác nhau:
- Trong trường hợp bán lẻ hàng hóa: Thời điểm ghi nhận doanh thu
là thời điểm nhận báo cáo bán hàng của nhân viên bán hàng.
- Trong trường hợp gửi đại lý bán hàng: Thời điểm ghi nhận doanh
thu là thời điểm nhận báo cáo bán hàng do bên đại lý gửi.
- Trường hợp bán buôn qua kho và ban buôn vận chuyển thẳng
theo hình thức giao trực tiệp thì thời điểm hàng hóa được xác nhận là tiêu
thụ và doanh thu được ghi nhận là khi đại diện bên mua ký nhận đủ
hang, đã thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ.
9
Page 10 of 134
- Trường hợp bán buôn qua kho, bán buôn vận chuyển thẳng theo
hình thức chuyển hàng thì thời điểm ghi nhận doanh nghiệp thu là khi thu
tiền của bên mua hoặc bên mua chấp nhận thanh toán tiền.
5.1.2. Chiết khấu thương mại
Chiết khấu thương mại là số tiền mà doanh nghiệp đã giảm trừ
hoặc đã thanh toán cho người mua do mua hàng hóa, dịch vụ với khối
lượng lớn theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng
kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng.
5.1.3. Giảm giá hàng bán
Giảm giá hàng bán: là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hóa
đơn hay hợp đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như
hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời
gian, địa điểm trong hợp đồng (do chủ quan doanh nghiệp). Ngoài ra
tính vào khoản giảm giá hàng bán còn bao gồm các khoản thưởng khách
hàng trong một khoảng thời gian nhất định đã tiến hành mua một khối

lượng hàng hóa trong một đợt.
5.1.4. Hàng bán bị trả lại
Hàng bán bị trả lại: Là số hàng đã được coi là tiêu thụ (đã chuyển
giao quyền sở hữu, đã thu tiền hay được người chấp nhận trả tiền) nhưng
lại bị người mua từ chối và trả lại do người bán không tôn trọng hợp đồng
kinh tế đã ký kết nhưng không phù hợp với yêu cầu, tiêu chuẩn, quy cách
kỹ thuật, hàng kém phẩm chất, không đúng chủng loại Tương ứng với
10
Page 11 of 134
hàng bán bị trả lại là giá vốn của hàng bán bị trả lại (tính theo giá vốn khi
bán) và doanh thu của hàng bán bị trả lại cụng với thuế GTGT đầu ra phải
nộp của hàng bán bị trả lại.
5.1.5. Doanh thu thuần
Doanh thu thuần: Là số chênh lệch giữa tổng số doanh thu với các
khoản giảm giá, chiết khấu thương mại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất
khẩu.
5.1.6. Giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán: là trị giá vốn của sản phẩm, vật tư, hàng hóa lao
vụ, dịch vụ tiêu thụ. Đối với sản phẩm, lao vụ, dịch vụ tiêu thụ giá thành
sản xuất (giá thành công xưởng) hay chi phí sản xuất. Với vật tư tiêu thụ,
giá vốn là giá trị ghi sổ, còn với hàng hóa tiêu thụ, giá vốn bao gồm trị
giá mua của hàng hóa tiêu thụ cộng với chi phí thu mua phân bổ cho hàng
tiêu thụ.
Việc xác định vốn hàng bán là hết sức quan trọng, nó có ảnh hưởng
trực tiếp đến kết quả kinh doanh, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường
hiện nay còn nhiều biến động thì các doanh nghiệp càng phải quan tâm
trong việc lựa chọn phương pháp xác định giá vốn thích hợp cho mình
sao cho có lợi ích nhất mà vẫn phản ánh đúng trị giá vốn của hàng hóa
theo quy định của bộ tài chính.
5.1.7. Lợi nhuận gộp

11
Page 12 of 134
Lợi nhuận gộp: Là chỉ tiêu phản ánh số chênh lệch giữa doanh thu
thuần và giá vốn hàng bán phát sinh trong thời kỳ.
5.1.8. Chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng: Là bộ phận của chi phí lưu thông phát sinh dưới
hình thái tiền tệ để thực hiện các nghiệp vụ bán hàng hóa. Chi phí bán
hàng bao gồm những khoản chi phí phát sinh có liên quan đến hoạt động
tiêu thụ như: Chi phí nhân viên bán hàng, vận chuyển, bao bì, hàng hóa
trả đại lý.
5.1.9. Chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là một loại chi phí thời kỳ được
tính khi hạch toán lợi túc thuần. Chi phí quản lý doanh nghiệp phản ánh
các khoản chi chung cho quản lý văn phòng và các khoản kinh doanh
không gắn với các địa chỉ cụ thể trong cơ cấu tổ chức kinh doanh của
doanh nghiệp cũng như chi lương nhân viên quản lý, đồ dùng văn phòng,
chi tiếp khác, công các phí
5.1.10. Các khoản thuế phải nộp có liên quan đến bán hàng
Thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT là loại thuế gián thu, được thu trên phần giá trị gia
tăng của hàng hóa, dịch vụ.
Mục đích của thuế GTGT là nhằm động viên một phần thu nhập
của người tiêu dùng cho ngân sách nhà nước, bảo đảm công bằng xã hội,
kiểm soát kinh doanh, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
12
Số thuế GTGT


Phải nộp


Thuế GTGT


đầu ra

Thuế GTGT đầu v o à

được khấu trừ

Page 13 of 134
Đối tượng nộp thuế GTGT bao gồm các tổ chức, cá nhân có hoạt
động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế ở Việt Nam,
không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (gọi chung là
cở sở kinh doanh) và tổ chức cá nhân có nhập khẩu hàng hóa chịu thuế
(gọi chung là người nhập khẩu) đều là đối tượng nộp thuế GTGT.
Phương pháp xác định thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
Đối tượng áp dụng: là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, bao gồm các
doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp
tư nhân, các công ty cổ phần, hợp tác xã và các đơn vị, tổ chức kinh
doanh khác.
Xác định thuế GTGT phải nộp

= -
13
Thuế
GTGT
đầu ra


Giá trị tính thuế của

h ng hóa, dà ịch vụ chịu
thuế GTGT

Thuế suất thuế
GTGT của h ng hóa, à
dịch vụ đó

Thuế
GTGT
đầu v o à


Tổng thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT
mua h ng hóa, dà ịch vụ hoặc chứng từ nộp
thuế GTGT của h ng hóa nhà ập khẩu

Page 14 of 134
Trong đó:
= x
=
Thuế tiêu thụ đặc biệt
Tiêu thụ đặc là loại thuế gián thu được trên thu nhập doanh nghiệp
của một số mặt hàng hóa nhất định mà doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
(Rượu, bia, thuốc lá, xăng các loại ). Mọi tổ chức, cá nhân thuộc các
thành phần kinh tế sản xuất hay nhập khẩu các mặt hàng thuộc diện chịu
thuế tiêu thụ đặc biệt đều phải nộp thuế.
Đối với các hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, khi vận
chuyển trên đượng phải có đủ biên bản nộp thuế và giấy vận chuyển hàng
14
Page 15 of 134

hóa đã nộp thuế. Đối với hàng dự trữ tại kho hàng, cửa hiệu phải có
giấy tờ chứng minh đã nộp thuế (Biên lai, hóa đơn)
Mỗi mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ phải chịu
thuế này một lần tức là sau khi mặt hàng đó đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
ở khâu sản xuất thì không phải chịu thuế lần thứ hai khi lưu thông trên thị
trường. Cơ sở sản xuất mặt hàng này chỉ chịu thuế tiêu thụ đặc biệc mà
không chịu thuế GTGT, còn cơ sở thương nghiệp kinh doanh mặt hàng
đó chỉ chịu thuế GTGT mà không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.
Thuế xuất khẩu
Thuế xuất khẩu là loại thuế gián thu, thu vào vác hàng hóa được phép
xuất khẩu.
Đối tượng chịu thuế xuất khẩu là hàng hóa được phép xuất khẩu,
nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam (trừ hàng viện trợ quá cảnh,
hàng tạm nhập tái xuất, hàng viện trợ nhân đạo )
Thuế xuất khẩu được tính căn cứ vào số lượng từng mặt hàng tính
thuế và thuế suất từng mặt hàng. Cách tính số thuế phải nộp như sau:
= x
5.2. Xác định kết quả tiêu thụ
15
Thuế xuất
khẩu phải
nộp
Số lượng mặt
h ng chà ịu thuế
kê khai trong tờ
khai h ng hóaà
Giá tính
thuế bằng
đồng Việt
Nam

Thuế xuất
Page 16 of 134
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh
thu thuần và giá trị vốn hàng bán (gồm cả sản phẩm, hàng hóa và dịch
vụ), doanh thu từ hoạt động tài chính, chi phí tài chính, chi phí bán hàng
và chi phí quản lý doanh nghiệp. Và được xác định bằng công thức:
= - - - -
= + -
16
Doanh
thu
thuần
Doanh
thu
bán
h ngà
Chiết
khấu
thương
mại
Giảm
giá
h ngà
H n à
bán bị
trả lại
Thuế
TTĐB,
XK
Lợi nhuận

thuần từ
tiêu thụ
h ng hoáà
Lợi nhuận
gộp từ bán
h ng v à à
cung cấp
dịch vụ
Chi phí
bán
h ngà
Chi phí
phân bổ
quản lý
doanh
nghiệp
Page 17 of 134
5.3. Nhiệm vụ kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả
tiêu thụ
Ghi chép, phản ánh đầy đủ, kịp thời khối lượng hàng hóa bán ra,
tính toán đúng đắn trị giá vốn của hàng xuất bán nhằm xác định đúng đắn
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, cung cấp thông tin kịp thời về tình
hình bán hàng, phục vụ cho lãnh đạo điều hành hoạt động kinh doanh
thương mại.
Kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch tiêu thụ, kế hoạch lợi nhuân,
kỷ luận thanh toán và quản lý chặt chẽ tiền bán hàng, kỷ luật thu nộp
ngân sách Nhà nước.
Để tổ chức tốt hệ thống chứng từ ghi chép ban đầu và trình tự luân
chuyển chứng từ.
Kế toán cần phải có đầy đủ các chứng từ hợp pháp ban đầu về

nghiệp vụ bán hàng, tổ chức việc luân chuyển chứng từ và ghi sổ sách kế
toán một cách hợp lý nhằm phản ánh đước các số liệu phục vụ cho công
tác quản lý kinh doanh tránh ghi chép trùng lặp, phức tạp không cần thiết,
nâng cao hiệu quả công tác kế toán. Căn cứ vào các trường hợp hàng hóa
được coi là bán mà phản ánh đúng đắn kịp thời doanh số bán, cung cấp
được các thông tin lãnh đạo quản lý kinh doanh về hàng hóa đã bán và sô
hiện còn trong kho.
Báo cáo kịp thời, thường xuyên tình hình tiêu thụ, tình hình thành
toán với khách hàng theo từng loại hàng, từng hợp đồng kinh tế, từng thời
17
Page 18 of 134
gian đảm bảo đáp ứng yêu cầu quản lý và phải giám sát chặt chẽ hàng
bán trên các mặt: sô lượng, chất lương, chủng loại Đôn đốc việc thu tiền
bán hàng về doanh nghiệp kịp thời, tránh hiện tượng tiêu cực sử dụng tiền
bán hàng cho mục đích cá nhân.
Tổ chức vận dụng tốt hệ thống tại khoản kế toán, hệ thống sổ sách
kế toán phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Kế toán tiêu thụ hàng hóa thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình sẽ
đem lại hiệu quả thiết thực cho công tác bán hàng nói riêng và chi phí
hoạt động của doanh nghiệp nói chung. Nó giúp cho người sử dung
những thông tin của kế toán nắm được toàn diện hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, giúp cho nhà quản lý chỉ đạo kinh doanh kịp thời phù
hợp vời tình hình biến động thực tế của thị trường cũng như việc lập kế
hoạch hoạt động kinh doanh trong tương lai.
II. TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HÓA VÀ
XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ TRONG DOANH NGHIỆP
THƯƠNG MẠI
1. Tổ chức công tác kế toán tiêu thụ hàng hóa
1.1. Các phương thức tiêu thụ hàng hóa
Trong nền kinh tế thị trường, tiêu thụ hàng hoá được thực hiện theo

nhiều phương thức khác nhau, theo đó hang hóa vận động đến tận tay
người tiêu dùng. Việc lựa chọn và áp dụng linh hoạt các phương thức tiêu
thụ đã góp phần không nhỏ vào việc thực hiện kế hoạch tiêu thụ và doanh
18
Page 19 of 134
nghiệp. Hiện nay các doanh nghiệp thường sử dụng một số phương thức
tiêu thụ sau:
1.1.1. Phương thức bán buôn.
Bán buôn được hiểu là hình thức bán hàng cho người mua trung
gian để họ tiếp tục chuyển bán hoặc bán cho các nhà sản xuất.
Phương thúc này có thuận lợi là có thể giúp cho doanh nghiệp thu
hội vốn nhanh, đẩy nhanh vòng quay của vốn do khối lượng hàng hóa
tiêu thụ lớn. Tuy nhiên, với phương thức này doanh nghiệp cũng có thể
gặp nguy cơ khủng hoảng thừa trong tiêu thụ do doanh nghiệp bị ngăn
cách với người tiêu dùng cuối cùng bởi người mua trung gian hoặc bị
chiếm dụng vốn do bên mua thiếu thiện chí, chậm thanh toán. Theo
phương thức này có hai hình thức bán buôn.
1.1.1.1 Bán buôn qua kho.
Bán buôn qua kho là hình thức bán hàng mà bán được xuất ra từ
kho bảo quản của doanh nghiệp. Bán buôn qua kho bao gồm theo hình
thức giao hàng trực tiếp hoặc bán buốn qua kho theo hình thức chuyển
hàng.
Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Là hình thức
bán hàng trong đó doanh nghiệp xuất kho hàng hóa giao trực tiếo cho đại
diện của bên mua.
19
Page 20 of 134
Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng: Là hình thức bán
hàng trong đó doanh nghiệp căn cứ vào đơn đặt hàng hoặc hợp đồng đã
ký kết xuất kho hàng hóa.

1.1.1.2. Bán buôn vận chuyển thẳng.
Bán buôn vận chuyển thẳng là hình thức bán mà doanh nghiệp
thương mại sau khi tiến hành mua hàng không đưa về nhập kho mà
chuyển thẳng đến cho bên mua. Thuộc hình thức này bao gồm bán buôn
vận chuyển thẳng trực tiếp và bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức
gửi hàng.
Bán buôn vận chuyển thẳng trực tiếp: Là hình thức bán mà người
mua cử đại diện đến nhận hàng do doanh nghiệp bán chỉ định theo hóa
đơn của người bán đã nhận.
Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng: Là hình thức
bán hàng mà bên bán tự vận chuyển hàng từ các điểm nhận hàng đến địa
điểm của bênh mua theo hợp đồng bằng phương tiện vận chuyển tự có
hoặc thuê ngoài.
1.1.2. Phương thức bán lẻ.
Bán lẻ được hiểu là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu
dùng, không thông qua các trung gian. Thuộc phương thức bán lẻ gồm có
các hình thức sau:
20
Page 21 of 134
Bán hàng thu tiền tập trung: Theo hình thức này, quá trình bán
hàng được tách thành hai giai đoạn: Giai đoạn thu tiền và giai đoạn giao
hàng.
Bán hàng thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, việc thu tiền và
giao hàng cho bên mua không tách rời nhau. Nhân viên bán hàng trực tiếp
thu tiền và giao hàng cho khách hàng. Hết ngày hoặc ca bán, nhân viên
bán gàng có nhiệm vụ nộp tiền cho thủ quỹ và lập báo cáo bán hàng sau
khi đã kiểm kê hàng tồn trên quầy.
1.1.3. Phương thức hàng đổi hàng.
Theo phương thức này doanh nghiệp dùng sản phẩm hàng hóa của
mình để đổi lấy sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp khác hay còn gọi là

phương thức thanh toán bù trữ lẫn nhau. Khi đó ở doanh nghiệp vừa phát
sinh nghiệp vụ bán hàng vừa phát sinh nghiệp vụ mua hàng.
1.1.4. Phương thức bán hàng đại lý.
Là hình thức bán hàng mà doanh nghiệp giao cho các đơn vị hoặc
cá nhân bán hộ phải trả hoa hồng cho họ, số hàng giao vẫn thuộc quyền
sở hữu của doanh nghiệp. Hoa hồng đại lý được tính theo tỷ lệ phần trăm
trên giá bán chưa có thuế GTGT ( đối với hàng hóa chịu thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ) hoặc thanh toán bao gồm cả GTGT (đôi với hàng
hóa chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc không thuộc đối
trượng chịu thuế GTGT) và được hạch toán vào chi phí bán hàng.
1.1.5. Phưong thức bán hàng trả góp.
21
Page 22 of 134
Là phương thức người mua hàng trả ngay một phần tiền hàng và
trả góp số tiền còn lại trong nhiều kỳ. Trong trường hợp này doanh thu
bán hàng vẫn tính theo doanh thu bán lẻ bình thường, phần tiền nguời
mua trả góp thì phải trả lãi cho số tiền góp đó.
1.1.6. Phương thức tiêu thụ nội bộ.
Là phương thức bán hàng các đơn vị thành viên trong cùng doanh
nghiệp với nhau giữa đơn bị chính với các đơn vị trực thuộc hoặc sử dụng
sản phẩm, hàng hóa cho mục đích biếu tặng, quảng cáo hay để trả công
cho người lao động thay tiền lương.
1.2. Phương pháp đánh giá hàng hóa xuất kho
Khi xuất kho hàng hóa để tiêu thụ kế toán phải vận dụng một trong
các phương pháp tính giá thực tế hàng hóa xuất kho sau:
- Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)
- Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO)
- Phương pháp giá bình quân
- Phương pháp thực tế đích danh
1.2.1. Phương pháp nhập trước, xuất trước( FIFO)

Theo phương thức này, lô hàng nào nhập trước thì xuất trước.
Hàng xuất thuộc lô hàng nào thì lấy đơn giá vốn lô hàng để tính.
Phương pháp này chỉ thích hợp với điều kiện giá cả ổn định và có
xu thế hướng giảm.
1.2.2. Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO)
22
Page 23 of 134
Theo phương pháp này, lô hàng nào nhập sau thì xuất trước. Kế
toán phải xác định đơn giá thực tế của từng lần nhập kho, khi xuất kho
căn cứ vào số lượng hàng hóa để tính ra giá thực tế xuất kho, do đó giá
thực tế của hàng hóa tồn kho cuối kỳ lại là lần nhập kho đầu kỳ.
Phương pháp này chỉ thích hợp khi nền kinh tế có lạm phát, giá cả
có biến động lớn.
1.2.3. Phương pháp giá bình quân
Theo phương pháp này:
= x
Đơn giá bình quân có thể được xác định theo một trong 3 cách:
Cách 1: Đơn giá thực tế bình quân liên hoàn là đơn giá thực tế bình
quân được sử dụng để xác định giá thành hàng hoá xuất kho cho đến khi
nhậầnhngf hoá mới, cần tính lại đơn giá thực tế bình quân sau mỗi lần nhập
xuất.
23
Trị giá h ngà
xuất bán
Sản lượng h ng à
xuất bán
Đơn giá
bình quân
Page 24 of 134
Trị giá vốn thực thế Trị giá vốn thực tế

hàng
hàng tồn kho + hóa nhập kho từ
lần xuất
sau lần xuất trước trước đến lần xuất
này
Số lượng hàng hóa Số lượng hàng hóa
nhập
Tồn kho sau lần xuất trước + kho từ lần xuất trước
tới lần
xuất này
Cách 2: Đơn giá thực tế bình quân cả kỳ dự trữ (bình quân gia
quyền) được xác định vào cuối kỳ hạch toán.
Trị giá vốn hàng hóa Trị giá vốn thực
tế hàng
Tồn đầu kỳ + hóa nhập trong kỳ
Số lượng hàng hóa Số lượng hàng hóa
nhập
Tồn đầu kỳ + kho từ lần xuất trước tới
lần
xuất này
24
Đơn giá thực tế
bình quân liên
ho nà
Đơn giá thực tế
bình quân liên
ho nà
Page 25 of 134
Cách 3: Phương pháp giá bình quân đầu kỳ hay cuối kỳ trước
Phương pháp này được xác định theo công thức sau:

=
1.2.4. Phương pháp thực tế đích danh
Theo phương pháp này thì hàng xuất kho thuộc lô hàng nào thì lấy
đúng đơn giá nhập kho của lô hàng để tính trị giá vốn thực tế của hàng
xuất kho. Giá vốn thực tế của hàng tồn kho hiện còn được tính bằng số
từng lô hàng hiện còn với đơn giá nhập kho của từng lô hàng rồi tổng hợp
lại.
25
Đơn giá
Bình quân
Trị giá h ng hóa tà ồn đầu kỳ
Số lượng h ng hóa tà ồn đầu
kỳ

×