Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

SKKN: "Đổi mới pp giảng dạy môn vật lý thoe hướng đổi mới"

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (237.88 KB, 15 trang )

Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
PHẦN I: MỞ ĐẦU
A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nền kinh tế nước ta được chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước được nhiều năm. Công cuộc đổi mới
này đề ra những yêu cầu mới đối vơí hệ thống giáo dục, Nghị quyết lần thứ 4
của BCH TW Đảng khẳng định: " Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào
tạo".
Mục tiêu đào tạo, nghị quyết nhấn mạnh đến đào tạo ra những con người
lao động, tự chủ, năng động và sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề do thực
tiễn đặt ra, tự lo được việc làm, lập nghiệp và thăng tiến trong cuộc sống. Để qua
đó góp phần xây dựng đất nước giầu mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Vật lý học là một trong những môn khoa học về tự nhiên, nhiệm vụ chủ
yếu của nó là nghiên cứu các hiện tượng vật lý, tìm nguyên nhân, khám phá ra
các định luật vật lý phục vụ lợi ích của con người.
Vật lý là cơ sở cho nhiều ngành kỹ thuật. Những thành tựu của vật lý và
kỹ thuật phục vụ rất nhiều cho cuộc sống của con người trên mọi mặt.
Vì vậy trong đổi mới phương pháp giáo dục thì phát triển trí tuệ và năng
lực sáng tạo của học sinh có ý nghĩa quan trọng. Để có hiệu quả cao trong giảng
dạy thì người giáo viên phải thường xuyên nghiên cứu, sử dụng những thành
quả của những môn khoa học có liên quan, cần phải tiếp thu những thành tựu
tiên tiến, những kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy theo hướng đổi mới.
Với những lý do trên nên tôi chọn đề tài:
" Đổi mới phương pháp dạy học môn vật lý"
B. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I./ CƠ SỞ LÝ LUẬN:
- Xuất phát từ mục tiêu giáo dục và đào tạo của đất nước hiện nay.Phải
đào tạo ra thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ đất nước, có trình độ văn hoá
cơ bản, đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Những con người có trí
tuệ và năng lực sáng tạo, có phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt. Những con người
như vậy phải được rèn luyện trong quá trình đào toạ và tự tạo. Để đạt được mục


tiêu đó thì trong giảng dạy ở nhà trường phổ thông điều quan trọng nhất là phát
triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập. Hoạt động nhận
thức trong dạy học lấy học sinh làm trung tâm, làm chủ thể của việc nhận thức
với sự hướng dẫn giúp đỡ giảng dạy tích cực có hiệu quả của giáo viên và việc
học tập tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh.
- Xuất phát từ nội dung bản chất của quá trình dạy học, hoạt động nhận
thức. Ý thức và phẩm chất tâm lý, năng lực của con người biểu hiện và được
hình thành trong hoạt động của con người. Việc dạy học sẽ làm cho học sinh
phát triển khác nhau tuỳ thuộc ở nội dung và phương pháp dạy học. Vì vậy việc
dạy học không chỉ quan tâm đến nhiệm vụ làm cho học sinh tiếp thu được một
Trang 1/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa
Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
số kiến thức nào đó, mà còn phải quan tâm tới nhiệm vụ phát triển trí tuệ học
sinh. Trong quá trình làm cho học sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng, nhiệm vụ
của quá trình dạy học không phải chỉ giới hạn ở sự tạo thành các kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo có tính chất tái tạo đơn thuần. Mà cần phải làm sao cho trong quá
trình dạy học phát triển được ở học sinh năng lực áp dụng kiến thức trong tình
huống mới. Giải những bài toán không phải chỉ là chỉ theo khuôn mẫu đã có,
thực hiện những bài toán làm có tính chất nghiên cứu và thiết kế, vạch ra các
angorit hợp lý mà trước kia chưa biết để giải các bài toán thuộc loại mới, cũng
như nắm được những kỹ năng, kỹ xảo mới hợp yêu cầu thực tiễn. Tức là phải
phát triển năng lực sáng tạo của học sinh.
- Từ thực tế giáo dục hiện nay. Việc phấn đấu cho học sinh tự tìm tòi, tự
hiểu biết để phát triển, khai thác, hưởng thụ những thành quà lao động vẫn chưa
tự bỏ cách giáo dục mang tính thực dụng. Không ít giáo viên chỉ chăm lo cung
cấp cho học sinh những kiến thức cần thiết để các em làm bài điểm cao mà
không chú ý phát huy trí lực của học sinh, không quan tâm đến việc rèn luyện trí
thông minh, sáng tạo của học sinh. Điều này nguy hại là, sau khi học xong các
hiện tượng vật lý và các định luật về vật lý một số em lại không biết vận dụng

các hiện tượng, định luật đó vào để giải thích một số hiện tượng về khoa học tự
nhiên và không chỉ ra được ứng dụng rộng rãi của nó trong khoa học kỹ thuật.
- Xuất phát từ xu thế giáo dục của thế giới hiện nay: Về đổi mới phương
pháp là vấn đề cấp bách của thời đại đối với chúng ta. Ngày nay sự đổi mới
phương pháp dạy học là sự sống của giáo dục Việt Nam. Vì trước những bước
tiến của nhân loại, đất nước ta đang đổi mới nền kinh tế để hoà nhập với thế giới
hiện đại. Do vậy việc đổi mới phương pháp dạy học là không thể thiếu được
trong nhà trường hiệnnay. Dạy học, lấy học sinh làm trung tâm là cốt lõi của
việc đổi mới phương pháp dạy học. Có như vậy thì mới có phát huy được nang
lực. Năng lực đó phải được đào tạo và rèn luyện thành thói quen, phải được hình
thành từ nhà trường phổ thông cũng như của môn khoa học tự nhiên khác. Vì
môn Vật lý là môn khoa học thực nghiệm nó là cơ sở cho nhiều ngành kỹ thuật,
các máy móc được chế tạo dựa trên các thành tựu vật lý: Động cơ ô tô, máy bay
được chế tạo dựa vào kiến thức về nhiệt, Máy phát điện, động cơ điện, vô tuyến
truyền hình được chế tạo dựa trên kiến thức về điện những thành tựu của vật
lý và kỹ thuật phục vụ rất nhiều cho cuộc sống của con người trên mọi mặt. Vì
vậy việc đổi mới phương pháp trong dạy học vật lý là không thể thiếu được.
II. NHỮNG THỰC TẾ HIỆN NAY KHI CHƯA ĐƯỢC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Trong những năm cải cách giáo dục (1981 đến nay) chúng ta đang cố
gắng và đa dạng hoá cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân. Cải cách giáo dục trên
cả 3 mặt: hệ thống giáo dục, nội dung và phương pháp dạy học. Song phương
pháp giáo dục vẫn chưa được quan tâm và phương pháp dạy học chưa được đổi
mới tương xứng. Mặc dù những năm gần đây có cố gắng mà cụ thẻ là số giáo
viên giỏi, học sinh giỏi cũng đã tăng nhiều so với những năm trước. Tuy nhiên
tình trạng phổ biến vẫn là:
Trang 2/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa
Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
+ Các bài dạy chưa có đầy đủ các thí nghiệm, vẫn còn tình trạng dạy chay.
Các bài thực hành thì không có nhiều bộ đồ dùng để học sinh tự làm mà chỉ có 1

đến 2 bộ thí nghiệm.
+ Giáo viên thuyết trình kết hợp với đàm thoại chưa đưa học sinh vào tình
huống có vấn đề. Giáo viên chỉ sợ học sinh không trả lời được do đó học sinh
nhiều khi chỉ cần trả lởi "có" hay "không".
+ Học sinh được luyện tập ở mức tối thiểu và chủ yếu là vận dụng tri thức
một cách máy móc đơn giản.
III. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỂ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN
VẬT LÝ Ở TRƯỜNG THCS.
1. Nắm bắt được mục tiêu của mỗi bài học (Lượng hoá kiến thức)
Mục tiêu: Là căn cứ để đánh giá chất lượng của học sinh và hiệu quả bài
dạy của giáo viên. Người học sinh phải nắm được cái gì sau bài học. Mục tiêu
cần phải được lượng hoá.
Có 3 nhóm mục tiêu:
a. Mục tiêu kiến thức:
Yêu cầu học sinh phải lĩnh hội các khái niệm vật lý cơ sở để có thể mô tả
đúng các hiện tượng và quá trình vật lý cần nghiên cứu và giải thích một số hiện
tượng và quá trình vật lý đơn giản. Tuy chưa thể định nghĩa chính xác khái niệm
đó, nhưng cũng cần phải giúp học sinh nhận biết được những dấu hiệu cơ bản có
thể quan sát, cảm nhận được của các khái niệm đó. Sau đó học sinh vận dụng
cho quen trong ngôn ngữ khoa học thay cho ngôn ngữ thông thường ban đầu.
Thí dụ khái niệm ảnh ảo: Thông thường học sinh chỉ biết cái ảnh cụ thể,
có thể nhìn thấy, sờ thấy như ảnh ở thẻ học sinh, ảnh in trên báo ảnh ảo là một
khái niệm khác hẳn, tuy là ảnh ảo nhưng vẫn tồn tại thật, vẫn xác định được vị
trí, độ lớn nhưng lại không hứng được trên màn. Học sinh phân biệt được ảnh ảo
ảnh thật.
Chú trọng việc xây dựng kiến thức xuất phát từ những hiểu biết, những
kinh nghiệm đã có của học sinh rồi sửa đổi, bổ sung phát triển thành kiến thức
khoa học. Tránh việc đưa ra ngay những khái niệm trừu tượng xa lạ với học
sinh, diễn đạt bằng những câu, chữ khó hiểu. Thông thường một định luật vật lý
có hai phần: Phần định tính và định lượng. Tuỳ từng định luật giáo viên có thể

đưa cả hai phần hay không?
Thí dụ:
- Biên độ giao động của vật giao động càng lớn thì âm phát ra càng to.
- Hiệu điện thế giữa hai đầu bóng đèn càng lớn (nhỏ) thì dòng điện chạy
qua bóng đèn có cường độ dòng điện càng lớn (nhỏ).
Những hiểu biết về phương pháp nhận thức khoa học cũng được nâng cao
thêm một mức. Cần hướng dẫn học sinh thường xuyên đưa nhiều dự đoán khác
nhau về cùng một hiện tượng và tự lực đề xuất các phương án làm thí nghiệm để
Trang 3/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa
Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
kiểm tra dự đoán. Có thể học sinh chỉ nêu được sơ bộ về phương án, kiểm tra,
giáo viên cần giúp đỡ họ phát triển hoàn chỉnh phương án để trở thành khả thi
hoặc thảo luận để chọn phương án tối ưu. Cần hướng dẫn học sinh thực hiện một
số phương pháp suy luận khác như phương pháp tương tự, phương pháp tìm
nguyên nhân của hiện tượng. Những hiểu biết về phương pháp nhận thức đó,
nhằm rèn luyện cho học sinh thói quen mỗi khi rút ra một kết luận không thể
dựa vào cảm tính mà phải có căn cứ thực tế và biết cách suy luận chặt chẽ.
b. Về kỹ năng và khả năng
- Về kỹ năng quan sát: Bước đầu xây dựng cho học sinh biết quan sát mục
đích, có kế hoạch. Trong một số trường hợp đơn giản học sinh có thể tự vạch ra
kế hoạch quan sát chứ không phải tuỳ tiện ngẫu nhiên, có khi phải tổ chức cho
học sinh trao đổi kỹ trong nhóm về mục đích kế quan sát rồi mới thực hiện quan
sát.
- Kỹ năng thu thập xử lý thông tin từ quan sát thí nghiệm chú trọng trong
việc ghi chép các thông tin thu thập được, lập thành biểu bảng một cách trung
thực. Việc xử lý thông tin, dữ liệu thu được phải theo những phương pháp xác
định, thực chất phương pháp suy luận là để từ những dữ liệu, số liệu cụ thể rút ra
kết luạn chung (quy nạp) hay từ những tính chất quy luật chung suy ra những
biểu hiện cụ thể trong thực tiễn (suy diễn). Chú trọng ngôn ngữ phát triển, ngôn

ngữ vật lý ở học sinh. Yêu cầu học sinh phải sử dụng những khái niện mới để
mô tả và giải thích các hiện tượng, các quá trình, rèn luyện kỹ năng diễn đạt rõ
ràng, chính xác ngôn ngữ của vật lý, thông qua việc trình bày các kết quả quan
sát nghiên cứu và trong thảo luận ở nhóm, ở lớp. Tạo điều kiện để học sinh nói
nhiều hơn ở nhóm, ở lớp.
c. Về tình cảm, thái độ:
Học sinh bước đầu được làm quen với cách học tập mới, cá nhân độc lập
suy nghĩ làm việc theo nhóm, tranh luận ở lớp. Không khí học sôi nổi, vui vẻ,
thoải mái, hào hứng hơn. Song giáo viên vẫn phải uốn nắn đưa vào nề nếp.
Yêu cầu học sinh trung thực, tỷ mỉ, cẩn thận trong khi làm việc cá nhân.
Khuyến khích học sinh mạnh dạn nêu ý kiến của mình, không dựa dẫm vào bạn.
Có tinh thần cộng tác phối hợp với các bạn trong hoạt động chung của nhóm.
Phân công mỗi người một việc, mỗi lần một người trình bày ý kiến của tổ, biết
nghe ý kiến của bạn, thảo luận một cách dân chủ. Biết kiềm chế mình, trao đổi
trong nhóm đủ nghe không gây ồn ào ảnh hưởng đến toàn lớp.
2. Tổ chức học sinh học tập chiếm lĩnh tri thức.
Hình thức chủ yếu vẫn là học tập theo lớp,c ả lớp cùng nghiên cứu một
vấn đề, đạt đến cùng một kết luận. riêng bài thực hành khác với trước đây, bây
giờ bao gồm 2 loại:
- Loại thứ nhất: Học sinh thông qua mà hình thành kiến thức mới. Loại
này khác với loại bài nghiên cứu kiến thức mới thông thường dựa trên thí
nghiệm ở chỗ: học sinh phải tiến hành các phép đo đạc định lượng, phải làm báo
Trang 4/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa
Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
các kết quả thực hành. Thí dụ như bài 27 "đo hiệu điện thế và cường độ dòng
điện đối với mạch điện song song: (Vật lý 7).
- Loại thứ hai: Không nhằm hình thành kiến thức mới, chỉ nhằm rèn luyện
một loạt kỹ năng phân biệt, loại này giống như các bài thực hành đang có ở
THCS hiện nay. Thí dụ: như bài 6 "Quan sát và vẽ ảnh của một vật tạo bởi

gương phẳng: (Vật lý 7)
Học sinh ngày càng phát triển hoàn thiện hơn, hình thức làm việc theo
nhóm, cụ thể là:
+ Phân công nhận và thu dọn, nộp lại dụng cụ thí nghiệm của nhóm.
+ Điều khiển hoạt động của nhóm: Phân công công việc, trao đổi ý kiến,
tập hợp những ý kiến khác nhau, lần lượt cử người đại diện nhóm phát biểu
+ Nhắc nhở các thành viên hoàn thành nhiệm vụ cá nhân và nhiệm vụ
chung của nhóm.
+ Sử dụng rộng rãi có hiệu quả hình thức làm việc theo nhóm ở lớp nhằm:
- Tạo điều kiện khuyến khích học sinh làm việc tự lực.
- Tạo điều kiện, khôngkhí thuận lợi để mỗi học sinh phát biểu ý kiến cá
nhân, phát huy sáng tạo rèn luyện ngôn ngữ.
+ Rèn luyện thói quen phân công, hợp tác giúp đỡ nhau trong hoạt động
tập thể, trong cộng đồng: Vừa tự do nêu ý kiến riêng (dù chưa được đầy đủ,
chính xác). Biết tranh luận để bảo vệ ý kiến của mình, vừa biết lắng nghe ý kiến
của bạn. Nhờ có ý kiến của bnạn trong nhóm mà sửa lại ý kiến sai của mình và
gợíy cho mình những suy nghĩ mới.
3. Một số cách đặt câu hỏi (có 6 cách).
a, Câu hỏi (biết)
- Mục tiêu: Kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ kiện, số liệu, định
nghĩa, tên tuổi, địa điểm
- Tác dụng: Giúp học sinh ôn lại những gì đã học.
- Cách đặt câu: Cái gì? bao nhiêu?, hãy định nghĩa?
Em biết những gì, hãy mô tả,c ái nào? bao giờ? khi nào?
b, Câu hỏi "hiểu"
- Mục tiêu: Kiểm tra học sinh cách liên hệ, kết nối các số liệu dữ kiện,
định nghĩa.
- Tác dụng cho thấy học sinh có khả năng diễn tả được lời nói nêu được
các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong bài học.
- Cách đặt cây hỏi: Tại sao? Hãy liên hệ? Hãy so sánh? Hãy tính?

c, Câu hỏi "vận dụng"
Trang 5/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa
Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
- Mục tiêu: Kiểm tra khả năng áp dụng các dữ kiện, khái niệm, phương
pháp vào hoàn cảnh và điều kiện mới.
- Tác dụng: Cho thấy học sinh có khả nằng hiểu được các quy luật, khái
niệm, lựa chọn phương pháp, giải quyết và vận dụng vào thực tiễn.
- Cách đặt câu hỏi:
Làm thế nào? Hãy tính sự chênh lệch? hoặc em có thể giải quyết khó khăn
về vấn đề này như thế nào?
d, Câu hỏi "phân tích":
- Mục tiêu: Kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề từ đó đi đến kết
luận hoặc tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh vấn đề nào đó.
- Tác dụng: Cho thấy khả năng tìm ra mối quan hệ mới tự diễn giải và đưa
ra kết luận.
- Câu hỏi: Tại sao?
Em có nhận xét gì ?
Hãy chứng minh ?
e. Câu hỏi "tổng hợp" :
- Mục tiêu: Kiểm tra học sinh có thể đưa ra những dự đoán giải quyết một
vấn đề, hay đưa câu hỏi trả lời có sáng tạo.
- Tác dụng: Thúc đẩy sáng tạo của học sinh. Học sinh tìm ra nhân tố ý
tưởng mới để bổ sung cho nội dung.
- Cách đặt câu hỏi: Em hãy tìm ra cách ?
f. Câu hỏi "đánh giá":
- Mục tiêu: Kiểm tra học sinh có thể đóng góp ý kiến hoặc đánh giá. ý
tưởng giải pháp.
Tóm lại: Các câu hỏi của giáo viên đưa ra phải có sự lựa chọn, tinh giản
và đảm bảo:

* Phát triển trí tuệ của học sinh:
- Phát triển trí tuệ: Vừa là điều kiện đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến
thức, vừa tạo điều kiện cho học sinh tự mình tiếp tục tự học, nghiên cứu tiến xa
hơn nữa và có khả năng độc lập công tác sau khi rời ghế nhà trường. Vì vậy phải
phát triển óc quan sát và năng lực nhận ra dược cái bản chất trong hiện tượngvật
lý.
Tư duy bắt đầu từ cảm giác, tri giác các đối tượng và các hiện tượng.
Không có sự nhận thức cảm tính thì không có thể có tư duy của học sinh. Từ đây
rút ra nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học vật lý trongviệc phát triển tư duy,
phát triển những năng lực trí tuệ chung là : kích thích sự quan sát hiện tượng,
quá trình và các đối tượng một cách chăm chú có định hướng.
Trang 6/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa
Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
Trong những dấu hiệu cơ bản của sự phát triển trí tuệ của học sinh là: Khả
năng so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trìu tượng hoá tách ra được cái
bản chất trong các hiện tượng, trong mỗi tình huống. Và việc chuẩn bị thí
nghiệm và việc kế hoạch hoá chúng, việc tiến hành các thí nghiệm là nhằm được
mục đích đó.
- Phát triển ngôn ngữ cho học sinh: Tư duy và ngôn ngữ trong sự thống
nhất không thể tách rời, do đó sự phát triển tư duy có liên quan trực tiếp với sự
phát triển ngôn ngữ của học sinh.
Việc dạy học vật lý phải thúc đẩy học sinh mô tả, giải thích các đối tượng,
các hiện tượng, các quá trình vật lý và các ứng dụng kỹ thuật dưới hình thức nói
và viết theo một trình tự logic và đúng ngữ pháp. Muốn vậy phải sử dụng cho
học sinh thuật ngữ chuyên môn đẻ mô tả và giải thích các hiện tượng, giải thích
rõ các giai đoạn nối tiếp của thí nghiệm và nội dung của các phương trình vật lý.
Phát triển tư duy logic, tư duy vật lý và tư duy khoa học kỹ thuật.
+ Tư duy logic:
Để phát triển tư duy logic cần sử dụng việc đánh giá những quan sát và

thực nghiệm. Việc giải thích những mối liên hệ tương hỗ của những hiện tượng
vật lý, việc dự đoán những kết quả mong muốn, việc kiểm tra bằng thực nghiệm
những hệ quả tút ra từ các giả thuyết và thuyết.
+ Tư duy biện chứng:
Các hiện tượng và quá trình vật lý cần được khảo sát hoàn toàn phù hợp
với sự sự phát triển biện chứng của chúng. Điều đó có nghĩa là chúng phải được
phân tích toàn diện, được xem xét trong những mối quan hệ tương hỗ của chúng
trong sự phát triển lịch sử và mâu thuẫn nội taị. Việc dạy học vật lý ngay từ
những bài đầu tiên cũng đòi hỏi việc phát triển tư duy biện chứng.
Ví dụ 1:
Nghiên cứu ma sát cần giải thích cho học sinh rằng: Trong những trường
hợp này ma sát có hại, nhưng những trường hợp khác lại có lợi.
Ví dụ 2:
Định luật Ôm chỉ áp dụng đối với kim loại, khôgn áp dụng được cho chất
bán dẫn.
+ Tư duy vật lý tư duy khoa học kỹ thuật:
Tư duy vật lý là kỹ năng quan sát các hiện tượng vật lý, phân tích một
hiện tượng phức tạp thành những bộ phận, thành phần phần xác lập ở trong
chúng mối liên hệ và những sự phụ thuộc xác định. Tìm ra mặt định tính, định
lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lý, đoán trước được các hệ quả từ
các lý thuyết và áp dụng được kiến thức của mình.
Tư duy KH-KT bao gồm kỹ năng tìm ra mối liên hệ sâu sắc giữa một bên
là Toán học, Vật lý học và một bên là ứng dụng kỹ thuật khác của các khoa học
đó, biến các tư tưởng khoa học thành sơ đồ, mô hình, kết cấu kỹ thuật.
Trang 7/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa
Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
- Phát triển năng lực áp dụng các phương pháp nhận thức tổng quát của
khoa học.
Vật lý học là môn có nhiều khả năng để làm việc này. Hình thứuc vận

động vật lý là hình thức hoạt động đơn giản, phổ biến nhất. Vì thế trong các giờ
học vật lý với các ví dụ tương đối đơn giản, quen thuộc có thể hấp dẫn học sinh
tới chỗ hiểu và áp dụng các phương pháp nhận thức khoa học.
Làm quen với các phương pháp nhận thức như: Đề xuất, giả thuyết,
phương pháp thực nghiệm, phương pháp toán học, phương pháp tương tự và mô
hình hoá, phương pháp quy nạp, suy diễn.
Như vậy là trong quá trình dạy học vật lý, việc áp dụng các phương pháp
khoa học khác nhau đã phát triển được các mặt hoạt động trí tuệ chung, không
chỉ trong giới hạn của bản thân vật lý.
* Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh.
- Tổ chức nội dung kiến thức vật lý trong dạy học phỏng theo chu trình
sáng tạo khoa học.
Cơ sở lý thuyết của phương pháp phát triển khả năng sáng tạo của học
sinh trong quá trình dạy học là sự hiểu biết những quy luật sáng tạo khoa học tự
nhiên. Lê Nin nêu lên "Từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng, rồi từ tư
duy trìu tượng trở về thực tiễn đó là con đường biện chứng của nhận thức, chân
lý, nhận thức thực tế khách quan".
Trên cơ sở khái quát hoá những lời phát biểu đó, có thể trình bày những
khía cạnh chính của quá trình sáng tạo khoa học dưới dạng chu trình: Từ khái
quát hoá  xây dựng mô hình trìu tượng  hệ quả  kiểm tra chúng bằng thực
nghiệm.
Ví dụ: Trình bày tài liệu sách giáo khoa về đề tài " Dòng điện trong kim
loại" theo sơ đồ chu trình được khép kín.
Sau này có thể hình dung dòng điện trong kim loại như dòng trôi dạt
những êlectron tự do trong mạng tinh thế dưới tác dụng của điện trường.
Từ giả thuyết đó có thể dẫn đến hệ quả là kết luận lý thuyết về định luật
Ôm cho đoạn mạch. Một trong những hệ quả của định luật đó là đường đặc
trưng vôn - ape của dãy dẫn kim loại thẳng. Thí nghiệm thực hành của học sinh
nghiên cứu đặc trưng vôn-ampe của dây kim loại xác nhận kết quả đó.
Sự phân tich công thức định luật Ôm dẫn đến một hệ quả quan trọng: Khi

nung nóng kim loại thì thời gian chuyển động của electron giảm đi, nghĩa là
cường độ dòng điện cũng giảm. Thí nghiệm thực hành nhằm nghiên cứu sự phụ
thuộc của điện trở suất của kim loại vào nhiệt độ xác nhận kết luận đó.
Việc sử dụng đều đặn bài tập sáng tạo về vật lý không ngừng phát triển ở
học sinh năng lực dự toán trực giác mà còn hình thành ở họ trạng thái tâm lý
quan trọng.
Trang 8/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa
Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
- Tổ chức định hướng hành động chiếm lĩnh tri thức vật lý của học sinh
theo tiến trình dạy học, giải quyết vấn đề nhằm phát triển năng lực tìm tòi, sáng
tạo của học sinh trong quá trình học tập.
+ Dạy học giải quyết vấn đề.
+ Khái niệm vấn đề và tình huống có vấn đề.
* Khái niệm vấn đề.
* Khái niệm tình huống có vấn đề
* Các kiểu tình huống có vấn đề
* Tình thế lựa chọn.
* Tình thế bất ngờ
* Tình thế bế tắc
* Tình thế không phù hợp.
* Tình thế phán xét
* Tình thế đối lập.
+ Tiến trình giải quyết vấn đề khi xây dựng, vận dụng tri thức vật lý bằng
sơ đồ sau "Đề xuất vấn đề - suy đoán giải pháp và khảo sát lý thuyết hoặc
thực nghiệm - kiểm tra, vận dụng kết quả"
+ Điều kiện cần thiết của việc tạo tình huống vấn đề và định hướng hành
động giải quyết vấn đề trong dạy học vật lý.
+ Các pha của tiến trình dạy học giải quyết vấn đề.
* Pha thứ nhất: Chuyển giao nhiệm vụ, bất ổn định hoá tri thức, phát

biểu vấn đề.
* Pha thứ hai: Học sinh hành động độc lập, tự chủ, trao đổi, tìm tòi giải
quyết vấn đề.
* Pha thứ ba: Tranh luận, thể chế hoá, vận dụng tri thức mới
Tóm lại về phía giáo viên:
1. Phấn đấu làm đầy đủ, có chất lượng các thí nghiệm chứng minh trên lớp.
2. Xây dựng một hệ thống câu hỏi logic, chất lượng và phải biết hướng
dẫn học sinh quan sát hiện tượng, phân tích kết quả thí nghiệm, vận dụng các
kiến thức có liên quan để đi đến tri thức mới, song phải mang tính phát triển
trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh.
3. Tăng cường luyện tập độc lập của học sinh trên lớp.
4. Sử dụng "phiếu học tập" cho mỗi học sinh.
IV. MINH HOẠ
Bài 35 CÁC TÁC DỤNG CỦA DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU – ĐO
CƯỜNG ĐỘ VÀ HIỆU ĐIỆN THẾ XOAY CHIỀU
I. MỤC TIÊU :
Trang 9/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa
Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
1. Kiến thức :
- Nhận biết được các tác dụng nhiệt, quang, từ của DĐXC
- Bố trí được thí nghiệm: chứng tỏ lực từ đổi chiều khi dòng điện đổi chiều
- Nhận biết được vôn kế và ampe kế xoay chiều, sử dụng chúng để đo I và U
hiệu dụng của DĐXC
2. Kĩ năng:
Sử dụng các dụng cụ đo điện, mắc mạch điện theo sơ đồ hình vẽ
3. Thái độ : Trung thực, cẩn thận, hợp tác trong hoạt động nhóm
II. CHUẨN BỊ :
* Đối với mỗi nhóm học sinh:
- 1 NC điện

- 1 NC vĩnh cửu
- 1 nguồn điện 1 chiều: 3V-6V
- Nguồn điện xe: 3V-6V
* Đối vớigiáo viên:
-1 ampe kế xoay chiều
- 1 vôn kế xoay chiều
- 1 bóng đền 3V có đui
- 1 công tắc
- 8 sợi dây nối
-1 nguồn điện 1 chiều: 3V- 6V
- 1 nguồn điện xoay chiều: 3V -
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC :
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Hoạt động 1 :KTBC - Tổ chức tình huống học tập ( 5 phút )
1.KTBC: DĐ 1 chiều có đặc điểm gì
khác so với DĐXC ?
- DĐ 1 chiều có nhựng tác dụng gì ?
2.Đặt vấn đề: DĐXC có tác dụng gì ?
- Đo I và U của DĐXC như thế nào ?
* HS: - DĐ 1 chiều là DĐ có chiều
không đổi theo thời gian, DĐXC là
DĐ có chiều luân phiên thay đổi
- DĐ 1 chiều có tác dụng: nhiệt, từ,
phát sáng, sinh lý.
Hoạt động 2: Tìm hiểu những tác dụng của DĐXC ( 5 phút )
- GV lần lượt biễu diễn 3 TN ở hình
35.1 – HSQS để nêu lên được: Các tác
dụng của DĐXC – C
1
? DĐ 1 chiều có tác dụng sinh lý - Vậy

DĐXC có t/d sinh lý không ? Vì sao
em biết ?
I.Tác dụng của DĐXC:
C
1
: - Bóng đèn sáng: tác dụng nhiệt
- Bút thử điện sáng( Khi cắm vào
trong 2 lỗ của ổ lấy điện ): tác dụng
quang
- Đinh sắt bị hút: tác dụng từ
- DĐXC trong mạng điện sinh hoạt có
thể gây điện giật chết người
Trang 10/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa
Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
* DĐXC trong lưới điện sinh hoạt có
U=220V nên có /d sinh lý rất mạnh
gây nguy hiểm chết người .Vì vậy khi
sử dụng điện chúng ta phải đảm bảo an
toàn

Khi cho DĐXC vào NC điện thì NC
điện cũng hút đinh sắt giống như cho
DĐ 1 chiều vào NC. Vậy có phải t/d từ
của DĐXC giống hệt như t/d từ của
DĐ 1 chiều không ? Việc đổi chiều
của DĐ có ảnh hưởng đến lực từ
không ? Dự đoán

- Khi đổi chiều DĐ thì chiều của NC

điện thay đổi, do đó chiều lực từ thay
đổi

Hoạt động 3: Tìm hiểu tác dụng từ của dòng điện xoay chiều ( 12 phút )
- Yêu cầu HS tiến hành thí nghiệm
hình 35.2 và 35.3 SGK
II.Tác dụng từ của DĐXC
1. Thí nghiệm
* HS hoạt động nhóm – Mô tả hiện
tượng xảy ra
C
2
: T/ hợp sử dụng DĐ 1 chiều: nếu
lúc đầu cực N của NC bị hút thì khi
đổi chiều DĐ cực N bị đẩy ngược lại
- Khi DĐXC chạy qua ống dây thì cực
N của NC lần lượt bị hút, đẩy –
Nguyên nhân là do DĐ luân phiên đổi
chiều
2. Kết luận: Khi dòng điện đổi chiều
thì lực từ của dòng điện tác dụng lên
nam châm cũng đổi chiều
Hoạt động 4 : Tìm hiểu các dụng cụ đo – Cách đo I, U của DĐXC ( 10 phút )
Đặt vấn đề: Ta đã biết cách dùng
ampe kế và vôn kế 1 chiều.Có thể
dùng dụng cụ này để đo I, U của mạch
điện xoay chiều được không ? Nếu
dùng sẽ có hiện tượng gì xảy ra với
kim của các dụng cụ đó ?
* GV tiến hành TN: mắc vôn kế 1

chiều vào chốt lấy điện xoay chiều

hiện tượng xảy ra có phù hợp với dự
đoán không? Vì sao?
Giải thích: Kim của dụng cụ đo
đứng yên vì lực từ t/d vào kim luân
III.Đo I, U của mạch điện xoay
chiều
- Khi DĐ đổi chiều thì kim của dụng
cụ đó đổi chiều
1.Quan sát giáo viên làm thí nghiệm
- Kim đứng yên
Trang 11/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa
Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
phiên đổi chiều theo sự đổi chiều của
dòng điện. Nhưng vì kim có quan tính
cho nên không kịp đổi chiều quay


đứng yên
Thông báo TT SGK
- Giới thiệu vôn kế - kí hiệu AC không
có chốt +; -
- Làm TN sử dụng vôn kế, ampe kế
xoay chiều để đo I, U xoay chiều - Gọi
HS đọc các số chỉ đo được. Sau đó đổi
chỗ chốt lấy điện, gọi HS đọc lại số chỉ
? Cách mắc ampe kế và vôn kế xoay
chiều và mạch điện có gì khác với

cách mắc ampe kế và vôn kế 1 chiều?
Đặt vấn đề: I và U của DĐXC luôn
biến đổi. Vậy các dụng cụ đó cho ta
biết giá trị nào ?

Giá trị hiệu dụng không phải là giá
trị trung bình mà là do hiệu quả tương
đương với DĐ 1 chiều có cùng giá trị
2.Kết luận: Đo U và I của dòng điện
xoay chiều bằng vôn kế và ampe kế có
kí hiệu là AC ( hay ~).
Kết quả đo không thay đổi khi ta đổi
chỗ hai chốt của phích cắm vào ổ lấy
điện
- HS theo dõi, ghi nhớ cách nhận biết
vôn kế, ampe kế xoay chiều, cách mắc
vào mạch điện

- Giá trị hiệu dụng
Hoạt động 5 :Vận dụng - Củng cố - HDVN ( 5 phút)
III. Vận dụng
C
3
: Sáng như nhau. Vì HĐT hiệu dụng của DĐXC tương đương với HĐT của
DĐ 1 chiều có cùng gí trị
C
4
: Có. Vì DĐXC chạy vào cuộn dây của NC điện và tạo ra 1 từ trường biến đổi

B xuất hiện DĐ cảm ứng

Ghi nhớ:
- DĐXC có tác dụng nhiệt, quang và từ.
- Lực từ đổi chiều khi DĐ đổi chiều.
- Dùng ampe kế hoặc vôn kế xoay chiều có kí hiệu AC (hay ~) để đo các giá
trị hiệu dụng I và U xoay chiều. Khi mắc ampe kế và vôn kế XC vào mạch
điện XC không cần phân biệt chốt cùa chúng.
1. Củng cố: DĐXC có những t/d nào? Trong các t/d đó, t/d nào phụ thuộc
vào chiều dòng điện ?
- Vôn kế và ampe kế xoay chiều có kí hiệu như thế nào? Mắc vào mạch điện
ntn?
- Yêu cầu cá nhân HS TLCH C
3
– C
4
2. HDVN:
- Làm BT 35 SBT
Trang 12/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa
Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
- Chuẩn bị bài 36
- Đọc phần “Có thể em chưa biết”
V. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC:
Khi thực hiện bài dạy theo đổi mới phương pháp thì số học sinh khá giỏi
tăng đạt từ 95 - 97%, còn dạy theo phương pháp cũ thì số học sinh khá giỏi chưa
cao và bài thường xuyên đạt yêu cầu ở mức 85%- 86%.
Kết quả thu được khi dạy theo phương pháp cũ .
Số bài Điểm 0 Điểm 1,2 Điểm 3,4 Điểm 5,6 Điểm 7,8 Điểm 9,10
140 0 0 15 45 36 12
Đạt 86,1% 0% 0% 13,9% 41,1) 33,9% 11,1%
Kết quả thu được khi dạy theo phương pháp mới:

Số bài Điểm 0 Điểm 1,2 Điểm 3,4 Điểm 5,6 Điểm 7,8 Điểm 9,10
140 0 0 0 3 66 39
Đạt 86,1% 0% 0% 0% 2,8% 61,1% 36,1%
C. KẾT LUẬN
Để đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu giáo dục đào tạo của đất nước ta, xu
thế giáo dục của thế giới hiện nay thì việc đổi mới phương pháp dạy học nói
chung và môn vật lý nói riêng là không thể thiếu được.
Trên đây là những giải pháp của tôi trong đổi mới phương pháp dạy học
môn Vật lý. Tôi đã mạnh dạn vận dụng vào trong giảng dạy đã thu hút được kết
quả. Cụ thể là học sinh ham học và yêu thích môn Vật lý hơn, số học sinh khấ
giỏi tăng lên. Các em đã thấy được tầm quan trọng của môn vật lý, thấy được
những thành tựu của vật lý và kỹ thuật phục vụ rất nhiều cho cuộc sống của con
người trên mọi mặt.
Để đáp ứng được sự đổi mới phương pháp giảng dạy là một thách thứuc
với giáo viên giảng dạy vật lý cần phải sử dụng công nghệ thông tin có lòng yêu
nghề mến trẻ.
Trên đây là những quan điểm và suy nghĩ của cá nhân tôi đúc rút từ thực
tế trong việc giảng dạy môn vật lý. Song không tránh khỏi những thiếu sót.Rất
mong được sự góp ý của đồng nghiệp và quý cấp trên.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Gia Nghĩa, ngày 12 tháng 01 năm 2010
NGƯỜI VIẾT
Đặng Thị Loan
Trang 13/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa
Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
MỤC LỤC:
Phần I: Mở đầu Trang
A/. Lý do chọn đề tài 1
Phần II: Nội dung

B./ Nội dung và phương pháp thực hiện đề tài
I/. Cơ sở lí luận 1
II/. Những thực tế hiện nay khi chưa thực hiện đề tài 2
III/. Những biện pháp để đổi mới phương pháp dạy học
môn vật lý ở trường THCS
3
IV/. Minh hoạ 9
V./ Kết quả thu được 13
Phần III: Kết luận
C./ Kết luận 13
Mục lục 14
Phần IV: Phụ lục 15
Tài liệu tham khảo 15
PHẦN IV. PHỤ LỤC
1/.Tài liệu tham khảo:
Trang 14/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa
Sáng kiến kinh nghiệm: Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Vật lý
1, Tâm lí lứa tuổi
Nhà xuất bản ĐH sư phạm Hà Nội
2, Phương pháp dạy Vật lý THCS
Nhà xuất bản GD
3, Bài tập cơ bản và nâng cao Vật lý lớp 7.
Nhà xuất bản giáo dục (Nguyễn Đức Hiệp, Lê Cao Phan)
4, Giúp em giỏi Vật lý 7
Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
5, Sách giáo khoa Vật lý 7
Nhà xuất bản giáo dục 2005 (Vũ Quang tổng chủ biên)
6, Sách giáo khoa Vật lý 9
Nhà xuất bản giáo dục 2005 (Vũ Quang tổng chủ biên)


ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM KHẢO:
Trang 15/16
GV thực hiện: Đặng Thị Loan - Trường THCS Trần Phú – TX Gia Nghĩa

×