Tải bản đầy đủ (.doc) (62 trang)

481 Một số giải pháp về Marketing mix nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần An Đạt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (394.07 KB, 62 trang )


LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nói riêng và nền kinh tế thế giới nói
chung phát triển không ngừng, vì vậy cuộc chiến giữa các doanh nghiệp trên
thị trường cũng cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn. Nó đòi hỏi sự sáng tạo
và không ngừng cải tiến kỹ thuật sản xuất và đa dạng hoá phục vụ nhằm đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao trong xã hội .
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải năng động,
nhạy bén nhất là đối với việc nắm bắt thị hiếu của người tiêu dùng. Bên
cạnh đó, vấn đề tiêu dùng cũng được xem là vấn đề cấp bách hàng đầu. Để
giảm rủi ro trong sản xuất kinh doanh, thu hồi vốn nhanh, tăng thị phần thì
doanh nghiệp phải có biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ. Muốn vậy, ngoài việc chú
trọng đến chất lượng, mẫu mã sản phẩm thì việc xây dựng một chiến lược
Marketing hoàn chỉnh cho doanh nghiệp là vấn đề tất yếu.
Nhu cầu Marketing xuất phát từ những mâu thuẫn về lợi ích giữa các
chủ thể tham gia trong nền kinh tế, nhất là giữa người bán và người mua
ngày càng diễn ra gay gắt hơn trong lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm. Một doanh
nghiệp có thể bị phá sản vì không nắm bắt kịp thời thị hiếu của khách hàng,
không tiên liệu được xu hướng tiêu dùng hiện đại và nhất là hoàn toàn bị bất
ngờ trước những đòn cạnh tranh của đối thủ .
Sản phẩm Ngành dệt may Việt Nam hiện nay cũng rất đa dạng về mẫu
mã, chủng loại, nhưng vừa phải cạnh tranh với các sản phẩm trong nước vừa
phải cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài. Đặc biệt vài tháng tới đây khi
nước ta thực hiện hoàntoàn qui định AFTA thì việc cạnh tranh đó càng trở
nên gay gắt và khó khăn hơn. Chính vì lẽ đó, muốn tồn tại và phát triển thì đòi
hỏi các Công ty dệt may Việt Nam cũng như Công ty May Nhà Bè phải biết
xây dựng một chiến lược Marketing cho mình ngay từ bây giờ để củng cố vị thế
thương hiệu và nhãn hiệu sản phẩm của mình.
Nhìn chung, hầu hết các đơn vị sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện
nay, chưa có phòng Marketing hay bộ phận Marketing chuyên trách,hoạt
động độc lập bên cạnh các phòng ban khác. Ơ một số nơi bộ phận này nằm


trong cơ cấu của phòng kinh doanh, phòng kế hoạch hay phòng cung tiêu mà
các chức năng và vai trò của Marketing thể hiện khá mờ nhạt. Tại CÔNG TY
MAY NHÀ BÈ ban lãnh đạo cũng có quan tâm rất lớn đến hoạt động
Marketing nhưng vẫn chưa vượt khỏi tình trạng chung đó. Các hoạt động
này hầu như dựa vào những kinh nghiệm vốn có của một số thành viên
trong công ty.
Xuất phát từ những lý do trên, sau một thời gian thực tập và tìm hiểu
thực tế tại công ty. Em đã quyết định chọn đề tài “ PHÂN TÍCH TÌNH
HÌNH HOẠT ĐỘNG & XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC MARKETING NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY MAY NHÀ BÈ


làm đề tài cho báo cáo thực tập. Để từ đó rút ra được những điểm mạnh,
điểm yếu, cơ hội hay đe doạ của công ty trước tình hình thị trường biến động
không ngừng. Ngoài ra, em cũng đã cố gắng vận dụng những kiến thức
marketing đã học để đối chiếu giữa lý thuyết và thực tế nhằm đưa ra những gợi
ý về các biện pháp, chiến lược Marketing cho Công ty May Nhà Bè. Mong
là những điều này có thể góp một phần vào hoạt động Marketing và hoạt động
kinh doanh của công ty.
Do sự nhận thức về lý luận còn hạn chế và thời gian thực tập có hạn nên
trong bài báo cáo này chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em
rất mong nhận được ý kiến đóng góp trao đổi của Quý Thầy Cô cũng như các
Cô, Chú, Anh, Chị trong Công ty May Nhà Bè để bài viết của em được tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.


CHƯƠNG I : MARKETING VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
DOANHNGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 KHÁI NIỆM VỀ MARKETING
Tên gọi Marketing ra đời đến nay đã gần 100 năm nhưng từ thập kỷ 60 đến

nay nội dung của nó đã có nhiều thay đổi và rất rộng lớn, do vậy khi dịch ra thứ
tiếng khác rất khó thể hiện được đầy đủ và trọn vẹn. Do vậy nhiều nước vẫn
dùng nguyên bản tiếng Anh khi dùng thuật ngữ này mà không dịch ra ngôn ngữ
riêng của họ. Ở Việt Nam, hiện nay thuật ngữ Marketing đang được nhiều
người sử dụng để thay thế cho“ tiếp thị”, nhất là trong giới khoa học.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Marketing nhưng không có được khái
niệm thống nhất, vì Marketing đang vận động và phát triển, có nhiều nội dung
phong phú. Mỗi tác giả đều có quan điểm riêng khi trình ra khái niệm của mình.
Marketing được hiểu là những hoạt động trên thị trường nhằm tạo ra sự trao
đổi với mục đích thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của con người .
Sau đây là một số khái niệm Marketing được chấp nhận sử dụng và phổ biến
hiện nay :
 “Marketing là toàn bộ he thống các hoạt động kinh doanh , từ việc
thiết kế, định giá, khuyến mại và phân phối những sản phẩm thỏa mãn
nhu cầu của những thị trường mục tiêu nhằm đạt được những mục tiêu đã
định.”
( Nguồn : Fundamental of Marketing, 1994, tác giả : Bruce J. Walker william
J.Stanton Michael J. Etzel )
 Theo CIM ( UK ‘ s chartered Institute of Marketing ):
“ Marketing là quá trình quản trị nhằm nhận biết, dự đoán và đáp ứng những yêu
cầu của khách hàng một cách hiệu quả và có lợi “.
 Theo AMA ( American Marketing Association , 1985 ):
“ Marketing là tiến trình kế hoạch và thực hiện sự sáng tạo, định giá, xúc tiến và
phân phối những ý tưởng, hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sự trao đổi và thỏa mãn
những mục tiêu của cá nhân và tổ chức”.
 Theo Gronroos (1990) : “ Marketing là những hoạt động để thiết lập,
duy trì và củng cố lâu dài những mối liên hệ với khách hàng một cách có
lợi để đáp ứng mục tiêu của các bên.
Điều này được thực hiện bằng sự trao đổi và thỏa mãn những điều mong đợi
( Fulfilment of promises )

( Nguồn : Principle of Marketing, tác giả: Frances Brassington, Stephen Rettitt ,
1997 )
“ Marketing là tiến trình qua đó cá nhân và tổ chức có thể đạt được nhu cầu và
mong muốn thông qua việc sáng tạo và trao đổi sản phẩm và giá trị giữa các
bên“.(Principles of Marketing Philip Kotler, 1994 )


1.1CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA MARKETING
1.2.1 Chức năng của Marketing
Với nội dung chủ yếu là trên cơ sơ nghiên cứu nắm bắt nhu cầu thị trường
đưa ra các hệ thống giải pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu marketing chứa đựng
trong nó nhiều chức năng khác nhau. Dưới đây là những chức năng chủ yếu :
- Chức năng thỏa mãn tốt nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Đây là chức năng cơ
bản nhất của mọi hoạt động Marketing. Chức năng này được thực hiện thông
qua việc nghiên cứu, phân tích nhu cầu thị trường bao gồm cả nhu cầu thực tế,
nhu cầu tiềm năng và nhu cầu lý thuyết . Quá trình phân tích cho phép nắm bắt
được tính quy luật của việc hình thành và phát triển nhu cầu cũng như những
biểu hiện cụ thể phong phú và đa dạng của nhu cầu. Trên cơ sở đó hoạt động
Marketing sẽ hướng tới những giải pháp cụ thể, phù hợp để khai thác và thỏa
mãn nhu cầu thị trường.
- Chức năng tăng cường khả năng thích ứng và khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Thị trường là một lĩnh vực phức tạp . Nhu cầu thị trường phong phú và
đa dạng . Thị hiếu, tập quán, đặc điểm và tâm lý tiêu dùng của khách hàng ở
các vùng thị trường là khác nhau. Vì vậy hoạt động Marketing tạo ra sự phân
hóa của các giải pháp kinh doanh, đảm bảo sự thích ứng của các giải pháp với
đặc điểm của thị trường và nhóm khách hàng. Mặt khác, nhu cầu thị trường luôn
biến động phát triển, việc đổi mới các giải pháp Marketing cho phép cac doanh
nghiệp tránh được tình trạng lạc hậu và trì trệ trong kinh doanh, đón trước được
những tình huống và cơ hội kinh doanh.
Với việc sử dụng hệ thống các chính sách Marketing các doanh nghiệp đã nắm

bắt và sử dụng linh hoạt các vũ khí cạnh tranh thị trường, tăng cường mở rộng
thị trường thu hút khách hàng, gia tăng sức sống và khả năng cạnh tranh thị
trường của doanh nghiệp.
- Chức năng tiêu thụ sản phẩm : Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vấn đề
tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra có một vai trò
đặc biệt quan trọng . Một trong những chức năng và nhiệm vụ cơ bản của hoạt
động Marketing là phải đẩy mạnh quá trình tiêu thụ mở rộng thị trường và tăng
cường khả năng cạnh tranh. Đó là việc xác định một chiến lược giá cả có khả
năng thích ứng và kích thích tiêu thụ mạnh me nhất, là việc tổ chức và hoàn
thiện kênh phân phối, xây dựng và thực hiện các kỹ thuật kích thích tiêu thụ
như quảng cáo, xúc tiến bán hàng …
- Chức năng tăng cường hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh : Toàn bộ
các hoạt động của Marketing luôn hướng tới mục tiêu hiệu quả của sản xuất
kinh doanh. Tuy nhiên, khi giải quyết bài toán hiệu quả kinh doanh , Marketing
hiện đại luôn đảm bảo sự hài hòa giữa các mối quan hệ lợi ích . Đó chính là mối
quan he giữa lợi ích của xã hội, lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của thị


trường. Lợi ích của xã hội được thể hiện ở sự tăng trưởng của sản xuất và tiêu
dùng, ở một thị trường và môi trường cạnh tranh lành mạnh , ở việc khai thác có
hiệu quả nguồn tài nguyên chống ô nhiễm . Lợi ích của thị trường chính là sự
thỏa mãn nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng . Chỉ có thể trên cơ sở thỏa mãn
những lợi ích đó, các doan nghiệp mới có thể thỏa mãn các lợi ích của mình,
thông qua việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược Marketing . Nói một cách
khác, hoạt động Marketing luôn hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu của xã hội và
thị trường để thỏa mãn cho nhu cầu của chính bản thân doanh nghiệp.
1.2.2 Vai trò của Marketing
1.2.2.1 Vai trò của Marketing đối với doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp, Marketing là công cụ quan trọng nhất giúp họ
hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh, chiến lược thị trường và chiến lược

cạnh tranh.
Với hệ thống các chính sách của mình Marketing không chỉ giúp các nhà sản
xuất kinh doanh lựa chọn đúng đắn phương án đầu tư. Tận dụng triệt để thời cơ
kinh doanh, mà giúp họ xây dựng chiến lược cạnh tranh và sử dụng các vũ khí
cạnh tranh có hiệu qủa nhất nhằm nâng cao uy tín, chinh phục khách hàng và
tăng cường khả năng cạnh tranh thị trường .
1.2.2.2 Vai trò của Marketing đối với xã hội
Nhờ có hoạt động nghiên cứu nhu cầu thị trường, Marketing đảm bảo cho sự
phát triển kinh tế quốc dân mang tính hiện thực và khả thi, giúp Nhà nước định
hướng được sự phá triển của các ngành và cả nền kinh tế quốc dân một cách co
hiệu quả. Nghiên cứu nhu cầu, tìm mọi biện pháp để thỏa mãn tối đa nhu cầu thị
trường sẽ tạo nên động lực để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Ở nước ta,
chủ trương kết hợp kế hoạch với thị trường, thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối
tượng của kế hoạch hóa. Đảng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác
nghiên cứu thị trường khi xây dựng các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế
đất nước .
1.3 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG MARKETING Ở DOANH NGHIỆP
Ngày nay một doanh nghiệp muốn kinh doanh có hiệu quả phải biết và vận
dụng Marketing với hai nội dung cơ bản sau đây :
Thứ nhất: Phải thường xuyên nghiên cứu thị trường để xác định nhu cầu nắm
bắt kịp thời những thay đổi của nhu cầu; xác định mối quan hệ cung cầu sự
cạnh tranh giá cả …
Thứ hai : Đề ra và áp dụng các giải pháp khác nhau để khai thác nhu cầu giành
và chiếm lĩnh thị trường. Những giải pháp này thường gọi là các công cụ và kỹ
thuật Marketing. Các giải pháp khá đa dạng nhưng được tập trung vào 4 giải
pháp chính là:
• Giải pháp về sản phẩm ( Chiến lược sản phẩm)


• Giải pháp về giá cả ( Chiến lược giá cả)

• Giải pháp về phân phối ( Chiến lược phân phối )
• Giải pháp về xúc tiến ( Chiến lược xúc tiến )
1.4 MARKETING HỖN HỢP ( MARKETING – MIX )
1.4.1 Khái niệm và các thành phần của Marketing hỗn hợp
Marketing hỗn hợp là sự phối hợp hoạt động của những thành phần
Marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của thị trường trong một
khoảng thời gian ngắn. Đây chính là biểu hiện sự linh hoạt của doanh nghiệp
trong việc vận dụng 4 chiến lược của Marketing trong từng giai đoạn cụ thể
của thị trường. Nếu sự vận dung này khéo léo, tài tình, thì doanh nghiệp bán
được nhiều hàng, chiếm lĩnh được thị trường và thu được nhiều lợi nhuận.
Bốn chiến lược hay bốn thành phần của Marketing hỗn hợp đó là: sản phẩm,
giá cả, phân phối, xúc tiến bán hàng. Gọi tắt theo tiếng Anh là 4P ( Product ,
Price, Place, Promotion ).
Các thành phần của Marketing hỗn hợp bao gồm :
- Sản phẩm ( Product ) : doanh nghiệp phải tạo ra sản phẩm đúng theo
yêu cầu của thị trường . Sản phẩm phải hấp dẫn, thu hút người mua và
đáp ứng được nhiều mong muốn của người tiêu dùng .
- Giá cả ( Price ): khi xây dựng giá bán sản phẩm, doanh nghiệp phải
linh hoạt tính toán để vừa mang lại lợi nhuận cho mình, vừa hợp túi tiền
của người mua và bảo đảm tính cạnh tranh trên thị trường .
- Phân phối ( Place ) : tổ chức hệ thống tiêu thụ, để bảo đảm bán được
nhanh, nhiều, tiết kiệm chi phí, thuận tiện cho người mua.
- Xúc tiến ( Promotion ) : tổ chức quảng cáo, thông tin, các hoạt động
khuyến mãi và tạo uy tín cho sản phẩm để lôi kéo, thu hút được nhiều
người mua.
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến Marketing hỗn hợp
Marketing hỗn hợp không có nội dung cho mọi trường hợp hay một công
thức nào đó mang tính giáo khoa. Nội dung của Marketing hỗn hợp phụ thuộc
vào các nhân tố ảnh hưởng như :
- Uy tín của doanh nghiệp trên thị trường . Nếu doanh nghiệp tạo

được uy tín sẽ chiếm lĩnh được thị trường, lúc đó không cần quảng cáo
nhiều vẫn bán được hàng .
- Tùy thuộc vào loại hàng hóa . Ví dụ : người bán nước ngọt có cách
chào mời khách hàng khác với người bán xi măng .


- Tùy thuộc vào từng thị trường cụ thể : ví dụ ở thị trường Việt Nam
những mặt hàng có giá thấp phù hợp với túi tiền của đại đa số dân
chúng thì dễ dàng được chấp nhận ( chính sách định giá thấp ).
- Tùy thuộc vào các giai đoạn của vòng đời sản phẩm . Ví dụ : khi
sản phẩm ở giai đoạn bão hòa thì cạnh tranh gay gắt, phải coi trọng cac
hoạt động xúc tiến nhất là các dịch vụ sau bán hàng : vận chuyển thanh
toán chậm, bảo hành lâu hơn…
Những điều trên đây cho chúng ta thấy rằng, để bán được hàng, có doanh
nghiệp coi trọng chất lượng sản phẩm, có doanh nghiệp lại coi trọng giá cả ,
hoặc chi phí nhiều cho quảng cáo và các hoạt động khuyến mãi…
Marketing thương mại
Nhà sản xuất Nhà phân phối
Đáp ứng tối ưu cho
Marketing của nhà sản xuất Marketing của nhà phân phối
Người tiêu dùng

Định vị
chiến lược
Định vị
sản phẩm
Định vị
truyền thống
Định vị
phân phối

Định vị
giá cả
Định vị
hình ảnh

CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY MAY NHÀ

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY MAY NHÀ BÈ
2.1.1 Khái quát về Công Ty May Nhà Bè
- Tên của công ty: Công Ty May Nhà Bè
- Tên giao dịch: Nhà Bè Garment Import – Export Company
- Gọi tắt là: Nha_ Be_ Co
- Địa chỉ: đường Bến Nghé, phường Tân Thuận Đông, Quận 7, Tp.HCM
- Trụ sở chính: Tân Thuận Đông – Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM )
- Điện thoại: 8720077-8729124-8729125
- Fax: (848)8729993
- Email:
- Website:
- Giấy phép thành lập: 225/ CCN- TCLĐ cấp ngày 24/03/1992 của Bộ Công
Nghiệp nhẹ.
- Nhận bằng chứng nhận bảo đảm chất lượng ISO 9002 vào ngày 15/12/2000
- Số tài khoản: 3611110064 Vietcombank
- Số đăng ký kinh doanh: 102550
2.1.2 Qúa trình hình thành và phát triển của công ty
- Công ty May Nha Bè là một doanh nghiệp của nhà nước, là thành viên của
Tổng Công Ty Dệt May Việt Nam trực thuộc Bộ Công Nghiệp.
- Từ ngày thành lập và đi vào hoạt động cho đến nay, công ty đã có uy tín và
được chấp nhận trên nhiều thị trường quốc tế. Công ty có đông đảo khách hàng
nhờ chất lượng hàng hóa tốt và thời gian giao hàng ngắn, đáp ứng với yêu cầu
của khách hàng. Với các yếu tố này công ty cũng đã chiếm được ưu thế trên thị

trường may mặc hiện nay.
- Công ty May Nhà Bè có quá trình lịch sử nhiều năm nay. Nơi đây trước có tên
gọi là khu chế xuất Sài Gòn, được khởi công xây dựng từ năm 1972, tuy
nhiên đến đầu năm 1975 mới hình thành cơ bản nhà xưởng may là: LEGDINE
và JEANSYMI (do cổ đông Hồng Kông và Đài Loan đầu tư ).
- Sau ngày 30/04/1975 được Bộ Công Nghiệp tiếp nhận và khu chế xuất đổi
thành Xí nghiệp may Khu Chế xuất.
Tháng 06/1980 đổi tên thành Xí nghiệp may xuất khẩu Nhà Bè.
- Tháng 03/1992 do sự lớn mạnh và phat triển không ngừng của ngành may
mặc Việt Nam nói chung, của công ty nói riêng và đáp ứng yêu cầu quản lý,


phù hợp với một đơn vị đang phát triển. Bộ Công nghiệp quyết định thành lập
Công ty May Nhà Bè theo quyết định số 225/ CCN- TCLĐ ngày 24/03/1992.
- Công ty có các đơn vị trực thuộc sau:
+ 10 xí nghiệp ( tại khu vực công ty)
+ 1 xí nghiệp số 9 tại thành phố Nam Định. Ở đây có cả văn phòng đại
diện giới thiệu và bán sản phẩm.
+ Xí nghiệp liên doanh trong nước: xí nghiệp liên doanh may An
Giang ( Long Xuyên – An Giang).
+ Xí nghiệp liên doanh với Pháp: xí nghiệp may Nhà Bè – Sapa
+ 1 xí nghiệp may sông Tiền ( Tiền Giang).
+ 1 xí nghiệp thêu tại Komtum.
+ Mới đây Công Ty May Nhà Bè liên doanh với Queensway ASIA ( Hồng
Kông ) và thành lập xí nghiệp Newell – Nhà Bè ( Việt Nam ) tại khu vực
công ty, hoạt động trong thời hạn 10 năm, với vốn đầu tư 1 triệu USD.
Trong đó Công ty May Nhà Bè góp 40% còn Quennsway ASIA góp 60%.
Sản phẩm chính là áo thun thể thao, công suất 2 triệu sản phẩm/năm và dự
kiến tăng 20% trong thời gian tới. Thị trường xuất khẩu chính là Mỹ và
Châu Âu với mức dự kiến 80% sản phẩm, số còn lại tiêu thụ trong nước.

Đồng thời công ty cho phép nhận 4500m
2
nha xưởng ở khu vực đường Lạc
Long Quân, Quận 11 và hàng trăm công nhân của Công Ty May Minh
Phụng để củng cố, tiếp tục phát triển về lãnh vực may của Việt Nam và tổ
chức lại sản xuất. Hiện nay công ty có 90 đại lý trong cả nước. Đến năm
2005 tất cả các tỉnh thành trong cả nước đều có đại lí giới thiệu và bán sản
phẩm của Công Ty May Nhà Bè.
2.1.3 Chức năng – nhiệm vụ của Công ty
 Chức năng :
- Công ty trực tiếp sản xuất kinh doanh mọi sản phẩm thuộc ngành may mặc.
Công ty chuyên sản xuất các mặt hàng may mặc cao cấp theo hình thức gia
công hoặc mua nguyên vật liệu bán thành phẩm, đáp ứng mở rộng đầu tư
phát triển, đồng thời giải quyết các vấn đề lao động của người dân địa phương.
- Tổ chức sản xuất kinh doanh, xuất khẩu các mặt hàng dệt may theo ngành nghề
đã đăng ký và mục đích thành lập của công ty là để phục vụ cho xuất nhập
khẩu và đáp ứng nhu cầu trong nội địa.
- Công ty đảm bảo uy tín để giữ vững vị trí trên thị trường, luôn tâm đắc về vấn
đề mẫu mã, chất lượng sản phẩm, nân cao tay nghề của công nhân nhằm thỏa
mãn nhu cầu của khách hàng.
- Lợi nhuận của công ty một phần giữ lại sử dụng cho tái đầu tư sản xuất,
phần còn lại đóng góp vào ngân sách Nhà nước.


Hiện nay, sản phẩm của công ty đã tham gia vào thị trường các nước trên thế
giới và đã đạt được hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO 9002.
 Nhiệm vụ sản xuất chính của công ty:
Tổ chức sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu các mặt hàng dệt sợi may. Các
sản phẩm chủ yếu của công ty: áo sơ mi cao cấp các loại, jacket, quần áo phụ
nữ, váy đầm, bộ trượt tuyết, trang phục thể thao, các loại quần áo thun, T-shirt,

pullower,theo ngành nghề đăng ký và mục đích thành lập công ty, đáp ứng nhu
cầu xuất nhập khẩu và phục vụ nội địa. Nhabeco tham gia thị trường xuất khẩu
sang các nước Nhật, EU, Đông Âu, Canada, Anh, Mỹ, Úc, và các nước Châu Á,
Châu Phi.
Năng lực hiện nay của công ty là:
Veston 480.000 bộ/ năm
Ao sơ mi 5.000.000 bộ/ năm
Quần áo thời trang 5.500.000 bộ/ năm
Ao Jacket, Coat 5.000.000 bộ/ năm
Căn cứ vào chủ trương phát triển trong từng thời kỳ, căn cứ vào nhu cầu
thị trường và thông tin cần thiết, công ty chủ trương nghiên cứu, xây dựng
phương thức kinh doanh, trên cơ sở định hướng cấp có thẩm quyền duyệt tiến
hành xây dựng kế hoạch hàng năm trên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, áp
dụng những thành tựu khoa học công nghệ và công tác bảo vệ môi sinh môi
trường.
Hạch toán kinh tế độc lập trên cơ sở đảm bảo nguồn vốn của nhà nước giao
cho, công ty cũng được phép lưu động vốn, góp vốn liên doanh với các đơn vị
trong nước theo luật của công ty và liên doanh nước ngoài để có thể bổ
sung, phát triển nguồn vốn kinh doanh của công ty.
Tuân thủ các chính sách, các chế độ, luật pháp có liên quan đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty, nghiêm chỉnh chấp hành các hợp đồng
kinh tế, hợp đồng gia công và các văn bản đã ký kết.
Chấp hành đầy đủ việc thu nộp ngân sách và các khoản thu nhập khác
theo chỉ tiêu quy định của cơ quan quản lý.
Đảm bảo quyền lợi về lương bổng và các chế độ khác có liên quan đến
người lao động, luôn bồi dưỡng và nâng cao tay nghề, nghiệp vụ cho các cán
bộ công nhân viên để đáp ứng nhu cầu cạnh tranh khốc liệt ngày nay.
Tham gia các hoạt động xã hội, ủng ho đường lối chính sách của Nhà nước
và tích cực bảo vệ tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa.
2.1.4 Tiềm năng và triển vọng của công ty

- Công ty May Nhà Bè có tổng diện tích mặt bằng là: 100.000m
2
, trong đó diện
tích nhà xưởng chiếm 50.000m
2
và phần còn lại dùng làm sân bãi container.
Lực lượng lao động cán bộ công nhân viên có đủ năng lực trình độ quản lý, tổ


chức sản xuất, điều hành sản xuất và tay nghề để đáp ứng sức cạnh tranh hiện
nay, có trên 2000 máy móc thiết bị các loại, năm 2002 toàn bộ máy móc thiết
bị của công ty đã được đề xuất thay đổi sang thiết bị hiện đại, đáp ứng nhu cầu
phát triển của xã hội ngày nay.
- Công ty chuyên sản xuất các mặt hàng cao cấp theo hình thức gia công hoặc
mua nguyên vật liệu bán thành phẩm.
- Sản phẩm của Công ty May Nhà Bè được khách hàng tín nhiệm vì chất lượng
cao, mẫu mã đẹp và được người tiêu dùng Việt Nam bình chọn là hàng Việt
Nam chất lượng cao. Đồng thời, công ty đạt được tiêu chuẩn quản lý chất
lượng (ISO 9002) nên sản phẩm của công ty đã tạo lòng tin cho khách hàng
trong và ngoài nước. Sản phẩm chủ yếu là các mặt hàng may mặc truyền
thống như: áo sơ mi cao cấp các loại, các loại quần tây, váy đầm, trang phục
thể thao, T- Shirt, Jacket…
- Hiện nay, công ty đang dự kiến giảm dần hình thức sản xuất gia công và tiến
dần đến sản xuất hàng hóa FOB ( do công ty tự sản xuất và kinh doanh
hình thức mua nguyên phụ liệu và bán thành phẩm ). Và một điều đáng quan
tâm nữa là công ty đang phấn đấu đạt được chứng nhận SA8000 và ISO 14000.
Đây là nền tảng cho sự phát triển và củng cố sự đi lên từng bước vững chắc của
Công ty May Nhà Bè nói riêng và của ngành dệt may Việt Nam nói chung.
2.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY :
2.2.1 Cơ cấu tổ chức :

Cơ cấu tổ chức của Công ty theo kiểu trực tuyến, chức năng chính chia làm
hai khối : khối sản xuất và khối quản lý. ( Sơ đồ mô tả ở trang bên ).


SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CÔNG TY

Tổng giám đốc
Tổng giám đốc
Phòng KCS
Phòng KCS
Đại diện lãnh đạo chất
lượng
Đại diện lãnh đạo chất
lượng
P. Tổng giám đốc phụ trách
khối thương mại – kinh
doanh
P. Tổng giám đốc phụ trách
khối thương mại – kinh
doanh
P. Tổng giám đốc phụ trách
khối nội chính liên doanh
P. Tổng giám đốc phụ trách
khối nội chính liên doanh
Phòng KT - TC
Phòng KT - TC
Phòng
KHSX
P.
KD

VP.
Đại
diện
HN
P.

điện
XN Veston,
XN1, XN2,
XN3, XN4,
XN5, XN6,
XN7, XN8,
XN10,
P.
Bảo
vệ
Công ty
LD
NHABE
AN
GIANG
XN
may
9
P.
Y
tế
P.
Hành
chính

P.Kỹ
thuật
công
nghê
P. Tổ
chức
lao
động
P. Tổng giám đốc phụ trách
khối sản xuất – kỹ thuật
P. Tổng giám đốc phụ trách
khối sản xuất – kỹ thuật
2.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban :
Ban lãnh đạo công ty
 Tổng giám đốc : Là người đứng đầu công ty, chịu trách nhiệm quản lý
toàn công ty thực hiện theo sự chi phối của Bộ Công Nghiệp nhẹ. Đảm nhận
các trách nhiệm:
 Tổ chức cán bộ, tổ chức bộ máy quản lý.
 Trực tiếp ra các quyết định khen thưởng
 Trực tiếp phê duyệt các hợp đồng thương mại
 Đề ra các chiến lược và biện pháp cho từng thời kỳ kinh
doanh.
 Phó tổng giám đốc : Có chức năng hỗ trợ cho Tổng Giám đốc làm tốt chức
năng quản lý của mình như tham gia vào các quyết định thay Tổng Giám đốc
điều hành công ty khi Tổng Giám đốc vắng mặt và phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật về các quyết định của mình.
 Các trưởng phòng : Có chức năng tham mưu cho các cấp lãnh đạo về các
nghiệp vụ chuyên môn nhằm giúp lãnh đạo đưa ra những quyết định tình huống
đúng đắn cũng như góp ý kiến để lãnh đạo vạch ra kế hoạch và những giải pháp
thực hiện tốt kế hoạch đề ra … Các trưởng phòng chịu trách nhiệm trước cấp

lãnh đạo về các hoạt động ở từng phòng ban do mình phụ trách.
 Giám đốc các xí nghiệp trực thuộc : Giám đốc các xí nghiệp trực thuộc trực
tiếp điều hành hoạt động sản xuất của xí nghiệp mình, chịu trách nhiệm trước
Tổng Giám đốc về kết quả hoạt động sản xuất ở đơn vị mình. Giúp cho Giám
đốc có một số cán bộ chuyên trách như tổ trưởng, chuyền trưởng do Giám đốc
đề nghị và đượcTổng Giám đốc phê duyệt. Được quyền:
- Quyết định ngưng sản xuất khi phát hiện những vấn đề làm ảnh hưởng
đến chất lượng sản phẩm.
- Xử lý người lao động khi làm việc không đúng quy trình dẫn đến sai
sót về chất lượng, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.
- Quyết định sa thải những lao động vi phạm nội quy của công ty.
- Tổ chức các buổi họp có liên quan đến hoạt động xí nghiệp.
 Khối phòng ban :
- Phòng xuất nhập khẩu: Dự thảo các hợp đồng thương mại, tiến hành đàm phán
ký kết hợp đồng xuất khẩu, lên kế hoạch nhập nguyên vật liệu, máy móc thiết
bị ngắn, trung và dài hạn. Thực hiện xuất nhập khẩu ủy thác, đảm bảo quan hệ
đối ngoại với nước ngoài, tìm thị trường ở nước ngoài.
- Phòng Kế toán Tài vụ: Theo dõi, hạch toán kế toán toàn bộ hoạt động sản xuất
kinh doanh, quản lý toàn bộ nguồn tài chính của công ty, cân đối các nguồn

vốn, phân tích và tính toán hiệu quả kinh tế xác định các chỉ tiêu giao nộp ngân
sách.
- Phòng Kế hoạch Sản xuất: Phối hợp với phòng kinh doanh xuất nhập khẩu lập
kế hoạch sản xuất ngắn hạn và dài hạn, điều phối, theo dõi, điều chỉnh và cân
đối sản xuất. Cung ứng vật tư, nguyên liệu cho sản xuất, quản lý kho hàng, phối
hợp với phòng kế toán và các bộ phận khác thực hiện kế hoạch giá thành sản
phẩm và tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm và phát triển thị trường nội địa.
- Phòng Kỹ thuật KCS: Giải quyết các vấn đề kỹ thuật của sản phẩm nghiên
cứu các mẫu mới, tính toán và quyết định các thông số kỹ thuật của sản phẩm,
thiet kế mẫu đưa vào sản xuất. Nghiên cứu sử dụng các loại máy móc thiết bị,

công nghệ, quản lý nâng cấp và đổi mới thiết bị công cụ, kiểm tra theo dõi chất
lượng sản phẩm. Điều chỉnh sản xuất, đảm bảo uy tín chất lượng sản phẩm công
ty, kiểm tra chặt chẽ khâu nguyên vật liệu, phụ liệu nhập vào, nghiên cứu và
tham mưu cho Tổng Giám đốc lập các dự án đầu tư, mở rộng sản xuất.
- Phòng Tổ chức Lao động: Có nhiệm vụ quản lý, phân bổ, điều động cán bộ
công nhân viên phù hợp với năng lực của từng người nhằm phát huy hết khả
năng của cán bộ công nhân viên vào những vị trí thích hợp để đạt hiệu quả làm
việc tốt nhất. Thực hiện việc tuyển dụng, sa thải nhân lực phù hợp với nhu cầu
của công ty. Thực hiện đầy đủ chế độ tiền lương, tiền thưởng cho công nhân
nhằm giúp họ đảm bảo cuộc sống, tái tạo sức lao động và khuyến khích cán bộ
công nhân viên tận lực cống hiến cho công ty cũng như xã hội . Lập các chiến
lược dài hạn về đào tạo cán bộ chuyên môn cũng như nâng cao trình độ tay
nghề cho công nhân viên.
- Phòng hành chính: Tổ chức thực hiện các chỉ đạo của ban Giám đốc về vấn đề
quản lý nhân sự. Tổ chức giám sát và lưu hồ sơ cán bộ công nhân viên, tổ chức
đại hội, hội nghị của đơn vị.
- Phòng Kỹ thuật Công nghệ: Tổ chức hệ thống quản lý kỹ thuật, ban hành các
định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho các chủng loại mặt hàng, tổ chức may
mẫu, thiết kế mẫu, nghiên cứu thiết kế thử các sản phẩm mới, nghiên cứu công
nghệ mới, các chế độ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nghiên cứu các dây
chuyền phù hợp với các loại sản phẩm và tổ chức thi thợ giỏi.
- Phòng Cơ điện: Lập lịch bảo trì tu sửa máy móc hàng năm, kiểm soát tất cả
các máy móc trang thiết bị văn phòng, lập các quy trình về chế độ vận hành
máy móc thiết bị và hướng dẫn người lao động thực hiện, có trách nhiệm mua
sắm tổ chức lắp đặt máy móc phục vụ cho sản xuất, làm việc với cơ quan cung
cấp điện khi có sự cố xảy ra làm gián đoạn sản xuất.
- Phòng Kinh doanh: Tổ chức triển khai, hướng dẫn việc thực hiện các chính
sách chiến lược, kế hoạch, chương trình tiếp thị kinh doanh của Ban Giám đốc,

tham mưu cho Ban Giám đốc về thị trường, chính sách đối với khách hàng, về

giá cả sản phẩm, phương thức mua bán làm cơ sở cho hợp đồng thương mại,
chuẩn bị mẫu mã sản phẩm để chào hàng, tổ chức các hệ thống cửa hàng đại lý,
hội nghị khách hàng, hội chợ, triển lãm, quảng cáo...
- Trạm y tế: Có nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho tất cả cán bộ công nhân viên
trong toàn công ty.
- Phòng bảo vệ: Có trách nhiệm bảo đảm an toàn, trật tự trong công ty, phòng
chốnh cháy nổ, chống mất mát tài sản như máy móc thiết bị và nguyên vât liệu,
bảo đảm an toàn xe cộ cho cán bộ công nhân viên.
2.2.3 Nguồn lực của công ty
• Vốn :
Khi mới thành lập Công ty May Nhà Bè có tổng vốn kinh doanh
11.563.800.000 đồng. Trong đó:
 Vốn cố định : 8.513.300.000 đồng
 Vốn lưu động : 2.623.500.000 đồng
 Vốn khác : 397.000.000 đồng
• Lao động :
Bảng 1: Tình hình nhân sự của công ty:
Đvt: người
Stt Đơn vị Tổng số Nữ Công nhân
bậc 5
Công nhân
bậc 7
1 Cán bộ quản lý 460 329 - -
2 Văn phòng 230 67 - -
3 Kỹ thuật may 3569 2778 158 18
4 Mỹ thuật –Thiết kế 204 140 - -
5 Cắt – Ủi – KCS- Ép 1963 1474 - -
6 Khác 664 288 - -
Tổng cộng 7090 5067
Nguồn : Thống kê nhân lực tháng 03 năm 2004 ( Công Ty May Nhà Bè )

Do tính chất của ngành may nên đa số công nhân kỹ thuật may la nữ. Trong
đó công nhân kỹ thuật cao không nhiều, phần lớn lao động là không có tay nghề
được công ty đào tạo, công nhân có tay nghề có trình độ cao không nhiều và đa
phần cũng là lao động nữ ( 145 lao động nữ trong tổng số 158 lao động bậc 5,
18 lao động nữ trong tổng số 18 lao động bậc 7 ).
Về trình độ học vấn của công nhân viên trong công ty thì trình độ cao đẳng
và đại học chủ yếu tập trung vào bộ phận quản lý và khối văn phòng. Còn lại là

trình độ phổ thông, bộ phận này chủ yếu là lao động trực tiếp sản xuất trong các
xí nghiệp.

Bảng 2: Thống kê trình độ nhân lực của Công Ty May Nhà Bè ( tháng 3/2004 )
Đvt: người
Stt Đơn vị Trung
cấp
Cao
đẳng
Đại học Trên
đại học
1 Cán bộ quản lý 66 31 68 1
2 Văn phòng 60 6 103 0
3 Kỹ thuật may 25 0 0 0
4 Mỹ thuật- Thiết kế 43 19 9 0
5 Cắt – Ủi – KCS – Ép 33 0 0 0
6 Khác 8 2 0
Tổng cộng 227 58 182 1
Nguồn: Phòng Tổ Chức Lao Động Tiền Lương.
Trong 3569 công nhân kỹ thuật may, đa số là trình độ phổ thông chủ yếu là
lớp 9 và lớp 12. Đa số là lao động không biết may, khi nhận vào công ty phải
qua quá trình đào tạo. Đối với những lao động có trình độ lớp 6, lớp 7 và 8 công

ty rất dè dặt trong tuyển mộ, bởi rất khó khăn cho công tác đào tạo và trong quá
trình lao động.
Bảng 3: Thống kê trình độ của lao động (Công Ty May Nhà Bè )
Đvt: người
Trình độ 6 7 8 9 10 11 12
Số lao động 152 214 368 1185 248 124 1278
Nguồn: Phòng Tổ chức Lao động Tiền lương
Qua số liệu thống kê trên ta thấy công nhân với trình độ như vậy cũng là tạm
ổn, bởi không phải do phía công ty mà do tình hình dân trí chung còn thấp. Mặt
khác đa số công nhân là ở cáctỉnh lân cận lên thành phố đi làm mà lực lượng
này rất hạn chế về trình độ.Thế nhưng có một điểm lợi thế, đó là lực lượng lao
động này đa số còn trẻ. Theo thống kê thì có đến 3324 lao động kỹ thuật may
trong công ty có độ tuổi dưới 30 tuổi, 195 người có độ tuổi từ 30 đến 40. Chỉ có
50 lao động có độ tuổi trên 40.
• Máy móc thiết bị :
Công ty May Nhà Bè được trang bị máy móc, thiết bị hiện đại và tiên tiến.
Hiện công ty có trên 8,200 các loại thiết bị hiện đại đặc chủng, chuyên dùng
được sản xuất tại Đức, Ý, Nhật,…(Chưa kể các loại máy móc thiết bị của các
công ty liên doanh với công ty May Nhà Bè).

Bảng 4: Tình hình máy móc thiết bị của Công ty
Đvt: cái
Máy móc thiết bị Số lượng
Máy khâu đơn 3.864
Máy khâu đôi 614
Máy ép Sympatex 16
Máy vắt sổ 785
Máy trải cắt tự động 3
Máy nổ 40
Máy thêu mắt xích 70

Máy đính nút tự động 122
Máy đính thanh tự động 171
Máy tạo lỗ khuy 120
Máy ủi 868
Máy rà kim 8
Các loại khác 2.125
Tổng cộng 8.200
(Nguồn:Trích hồ sơ Công ty May Nhà Bè)
2.3 Phân tích và đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh của
Công Ty
2.3.1 Tình hình thị trường và mặt hàng kinh doanh
• Tình hình thị trường
Các sản phẩm của công ty May Nhà Bè có mặt hầu hết tại các thị trường
lớn trên thế giới. Thị trường các nước có sản phẩm của công ty May Nhà Bè
(NHABECO) như:
1. Các nước thuộc khối EU
2. Nhật Bản

3. Đài Loan
4. Hàn Quốc
5. Các nước thuộc khối Đông Âu
6. Liên Bang Nga
7. Hoa Kỳ
8. Canada
9. Úc
10. Châu Phi
Tình hình thị trường khách hàng của công ty có nhiều thay đổi. Trước đây,
thị trường EU là thị trường lớn nhất của công ty, kế đến là thị trường Nhật thì
trong năm nay tỷ trọng này đã thay đổi như sau: đứng đầu là thị trường Mỹ
( chiếm 60% ), kế đến là thị trường EU ( chiếm 20% ), tiếp theo là thị trường

Nhật ( chiếm 15%). Còn lại 5% là các thị trường khác
Bảng 5: Giá trị xuất khẩu của công ty trong năm 2004
SỐ LƯỢNG TRỊ GIÁ
(PCS) (USD)
TỔNG 10563361 87573803,79
ĐỨC 760256 8929433,467
HOA KỲ 7297040 53268059,54
NHẬT 528623 13505845
KHÁC 1977442 11870465,78
Nguồn: Phòng Xuất Nhập Khẩu – Công ty May Nhà Bè
Biểu đồ 1: Thị phần năm 2004

Thị trường của công ty có sự thay đổi như trên là do một số nguyên nhân
sau:
- Thị trường EU: Gặp nhiều khó khăn do sức mua của khu vực đồng Euro giảm
mạnh, đặc biệt là thị trường Đức trong khi thị trường này chiếm khoảng 80%
hàng may mặc xuất vào thị trường EU. Điều này dẫn đến giá gia công giảm so
với năm trước khoảng 10%. Một số khách hàng chuyển sang một số nước khác
có giá gia công rẻ hơn.
- Thêm vào đó là việc thị trường EU có xu hướng chuyển sang tiêu thụ các loại
sản phẩm như áo khoác nữ, quần áo thể thao, quần âu,… nhiều hơn. Trong khi
các sản phẩm này được hạn ngạch với số lượng ít, công ty không thể ký thêm
được các đơn hàng với số lượng lớn.
- Trung Quốc – một số đối thủ cạnh tranh trực tiếp của ngành dệt may Việt
Nam – lại có thêm một lợi thế khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới
( WTO ). Đây là một quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ. Sau
khi Trung Quốc gia nhập WTO, giá gia công hàng dệt may giảm từ 10-15% so
với Việt Nam vì phí hạn nghạch xuất khẩu vào thị trường Châu Âu giảm mạnh.
Dẫn đến một số lượng lớn hàng từ Việt Nam chuyển sang Trung Quốc.
- Mặt khác, Trung Quốc là một thị trường phong phú có khả năng cung cấp đầy

đủ nguyên phụ liệu cho ngành may. Thuận lợi cho việc sản xuất hàng theo hình
thức kinh doanh bán đứt đoạn ( FOB ). Trong khi đó, Việt Nam phải nhập khẩu
phần lớn các nguyên phụ liệu may mặc từ nước ngoài mà chủ yếu là từ trung
Quốc. Do đó, mà nguồn nguyên phụ liệu chưa được đáp ứng tốt nên không có
nhiều thuận lợi cho việc sản xuất hàng theo hình thức FOB.
- Thị trường Châu Á, đặc biệt là thị trường Nhật Bản cũng có xu hướng giảm
sút do tình hình kinh tế của Nhật Bản gặp nhiều khó khăn, lâm vào tình trạng
suy giảm nghiêm trọng. Trong năm nay, nền kinh tế Nhật Bản có dấu hiệu phục
hồi. Đó là dấu hiệu tốt cho công ty.

- Thị trường Mỹ: Từ sau khi Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ đã được ký kết
và chính thức có hiệu lực đã mang lại nhiều thuận lợi cho Công ty May Nhà Bè.
Công ty đã ký kết được nhiều đơn hàng với khối lượng lớn, bù đắp cho các đơn
hàng đã bị mất do hạn ngạch, do thị trường Nhật bản và Châu Âu bị giảm sút.
Đây là tín hiệu thuận lợi cho việc ổn định việc sản xuất hàng hoá của công ty.
- Còn thị trường nội địa: với dân số của Việt Nam trên 82 triệu người. Đây là
thị trường không nhỏ cho công ty nhưng trong những năm qua chưa khai thác
hết những tiềm năng sẵn có của thị trường này. Công ty chưa có một chiến lược
cụ thể, thích hợp, có sự quan tâm đúng mức đến thị trường này.

• Cơ cấu các mặt hàng kinh doanh :
Công ty có cơ cấu sản phẩm đa dạng nhiều chủng loại với những loại sản
phẩm may mặc cao cấp như Veston nam nữ, các loại áo sơ mi, các loại áo
jacket, áo coat, các loại quần âu, quần áo thể thao, T- shirt, pullover,…
Trong đó áo Jacket là mặt hàng chủ lực của công ty có giá trị sản xuất cao,
kế đến là áo sơ mi và Veston. Các loại sản phẩm còn lại chiếm tỉ trọng khá
khiêm tốn so với các mặt hàng trên.
Bảng 6: Cơ cấu mặt hàng kinh doanh
SỐ LƯỢNG
Đvt: chiếc

TRỊ GIÁ ( USD )
TỔNG 10.563.361 87.573.804
JACKET 2.314.226 3.4961.346
SHIRT 2.230.793 11305593
VEST 296.637 9.812.121
QUẦN 325.317 22.623.749
KHÁC 246.588 8.870.994,4
Nguồn: Phòng Xuất Nhập Khẩu
Biểu đồ 2: Cơ cấu mặt hàngkinh doanh
2.3.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong những năm
qua
Trong năm 2004, toàn thể cán bộ công nhân viên của công ty đã cố gắng
vượt qua mọi khó khăn thử thách và tận dụng triệt để những thuận lợi trong

hoạt động sản xuất kinh doanh để hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục
tiêu đề ra, kết quả được thực hiện qua bảng giá trị sau:
Bảng 7: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm.
Chỉ tiêu Đvt Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Giá trị tổng sản lượng Triệu
đồng
148.808 271.939 425.479 520.000
Tổng doanh thu Triệu
đồng

223.507 400.789 643.350 800.000
Lợi nhuận Triệu
đồng
9.500 12.500 15.000 18.000
Nộp ngân sách Triệu
đồng
4.791 5.000 6.051 13.000
Thu nhập bình quân 1000
đồng
1.553 1.672 1.750 1.800
Biểu đồ 3: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Bảng 8: So sánh kết quả qua các năm.
Chỉ tiêu
So sánh
Năm 2002/2001
So sánh
Năm 2003/2002
Chênh lệch
Triệu đồng
Tỷ lệ
( % )
Chênh lệch
Triệu đồng
Tỷ lệ
( % )
Giá trị tổng sản lượng 123.131,00 182,74 153.540,00 156,46
Tổng doanh thu 177.282,00 179,32 242.561,00 160,52
Lợi nhuận 3.000,00 131,58 2,500,00 120,00
Nộp ngân sách 209,00 104,36 1.051,00 121,02


Thu nhập bình quân 119,00 107,66 78,00 104,67
Chỉ tiêu
So sánh
Năm 2003/2002
So sánh
Năm 2004/2003
Chênh lệch
Triệu đồng
Tỷ lệ
( % )
Chênh lệch
Triệu đồng
Tỷ lệ
( % )
Giá trị tổng sản lượng 153.540,00 156,46 94.521,00 122,21
Tổng doanh thu 242.561,00 160,52 156.650,00 124,35
Lợi nhuận 2.500,00 120,00 3.000,00 120,00
Nộp ngân sách 1.051,00 121,02 6.949,00 214,84
Thu nhập bình quân 78,00 104,67 50,00 102,86
Tổng doanh thu của công ty năm 2004 đạt mức 800,000 tỷ đồng tăng hơn
năm 2003 là 124.35% tương ứng với 156,650 tỷ đồng. Lợi nhuận của công ty
đạt được 18 tỷ đồng và nộp ngân sách nhà nước 13 tỷ đồng. Thu nhập bình
quân của công nhân tăng lên đạt mức 1,800,000đ.
Với sự phát triển và mở rộng trong năm qua công ty đã thu hút thêm trên
3000 lao động chiếm gần 42% lao động toàn công ty. Ngoài ra công ty còn hỗ
trọ cho các đơn vị địc phương về nguồn hàng cũng như công tác quản lý sản
xuất.
- Xí nghiệp Khánh Hoà: 1000 lao động
- Xí nghiệp Bình Thuận: 500 lao động
- Xí nghiệp Đà Lạt : 500 lao động

Bên cạnh đó với thành tích đã đạt được trong năm 2004 được thể hiện qua
các con số nêu trên. Công ty may nhà bè còn vinh dự đón nhận:
- Cờ thi đua của chính phủ
- Cờ thi đua của UBND thành phố Hồ Chí Minh
- Giải đơn vị phát triển toàn diện của Công Ty Dệt May Việt Nam
- Cờ thi đua xuất sắc của Tổng Liên Đoàn Lao Động

2.3.3 Tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh trong
những năm qua
Tình hình thưc hiện kế hoạch tại Công ty May Nhà Bè trong các năm qua
như sau:
Bảng 9: Bảng kế hoạch sản xuất
Năm Chỉ
tiêu
Sản xuất Doanh thu
KH TH So với KH KH TH So với KH
Chênh
lệch
Tỷ lệ Chênh
lệch
Tỷ lệ
Đvt 1000
USD
1000
USD
1000
USD
% Tỷ
đồng
Tỷ

đồng
Tỷ
đồng
%
2001 8750 7023 -1727 80,26 325 223,51 -01,49 68,77
2002 18905 10858 -8047 57,4 400 412,03 12,03 103,01
2003 13934 24795 10861 177,95 600 643,35 43,35 107,23
 Về mặt sản xuất :
Theo như kế hoạch các năm thì tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất của
công ty không được tốt lắm. Điển hình như trong năm 2001, theo như kế hoạch
đặt ra thì công ty phải sản xuất đạt được mức 8,75 triệu USD nhưng công ty chỉ
thực hiên sản xuất được 7,023 triệu USD. Chỉ đạt 80,26% so với kế hoạch đã đề
ra. Còn trong năm 2002 thì công ty thực hiện chỉ đạt có 57,4% so với kế hoạch
đã đề ra. Theo kế hoạch thì công ty phải thực hiện đạt mức kế hoạch là 18,905
triệu USD nhưng công ty chỉ thực hiện được 10,858 triệu USD. Điều đó có thể
thấy việc thực hiện kế hoạch sản xuất có nhiều yếu tố tác động: Có thể là do
biến động kinh tế xã hội trong và ngoài nước, cũng có thể là do yếu tố chủ quan
thuộc về công ty như năng suất lao động giảm, hay là do kế hoạch của công ty
đặt ra quá cao so với khả năng thực hiện của công ty, không sát với thực tế tình
hình của công ty.
Tuy nhiên, trong năm 2003 và 2004 vừa qua là một năm khá tốt đẹp đối với
công ty. Với kế hoạch đề ra là phải sản xuất đạt được mức 13.94 triệu USD và
15.89 triệu USD nhưng công ty đã sản xuất vượt mức kế hoạch đến 177,95% và
105%.
 Về mặt kinh doanh :

×