Tải bản đầy đủ (.doc) (27 trang)

Nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn địa lí thông qua việc sử dụng bản đồ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (208.37 KB, 27 trang )

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Giáo dục và đào tạo có
một vị trí đặc biệt không chỉ tạo ra những thế hệ con người Việt Nam đủ đức,
đủ tài mà còn thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thế giới.
Trong cấu thành của sự nghiệp giáo dục đó, bộ môn địa lý đóng một vai
trò quan trọng. Ngoài truyền thụ kiến thức cho học sinhthì môn Địa Lý còn
xây dựng cho các em một tầm nhìn về tự nhiên, kinh tế- xã hội ở tầm vĩ mô
có liên quan đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Nhiều năm nay, mục tiêu chương trình nội dung giáo dục đã được thay
đổi nhiều làm cho phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và đã đạt
được những tiến bộ đáng khích lệ. Theo NQ TW4 "cần áp dụng những
phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinhnăng lực tư duy,
sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề". Để thực hiện tốt những yêu cầu trên,
giáo viên phải là người hướng dẫn học sinhbiết tự tìm ra kiến thức, giải đáp
những câu hỏi, xử lý tình huống biết chuyển quá trình tự đào tạo của nhà
trường thành quá trình tự đào tạo. Giáo viên là người trọng tài đánh giá tự
điều chỉnh theo yêu cầu và mục tiêu đào tạo. Để có được "sản phẩm" học sinh
giỏi ở các môn nói chung và môn Địa lý nói riêng, giáo viên là người phải dày
công nghiên cứu, trang bị cho học sinh về phương pháp học tập, về kiến thức
1
kỹ năng tốt nhất, phù hợp với từng đối tượng học sinh- nhất là học sinh của hệ
giáo dục thường xuyên (GDTX).
Xuất phát từ mục tiêu GD & ĐT, từ thực trạng của trường nơi đang công
tác, tôi mạnh dạn chọn " Nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn
địa lí thông qua việc sử dụng bản đồ " với hy vọng học sinh sẽ ham học hỏi
ở môn Địa lý hơn và chất lượng môn địa lý ngày càng cao hơn. Vì vậy, công
tác bồi dưỡng và đánh giá học sinhgiỏi là một quá trình. Ngoài việc phải có
thầy giỏi, phải có học sinh chăm học, thông minh. Với môn địa lý, bản thân
tôi phải lựa chọn những em tham gia đội tuyển quả là rất khó khăn. Số lượng
lớp ít, hầu hết các em tham gia học đội tuyển ở các môn khác. Số còn lại các


em mới tìm đến môn này. Tuy nhiên, trong những năm tham gia giảng dạy,
tôi cũng đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ được các cấp ghi nhận.
2. Tình hình nghiên cứu
Từ thực tiễn của việc đổi mới chương trình SGK và thực tiên giảng dạy
môn địa lý ở trường TTGDTX, đó chính là lý do để tôi chọn đề tài này.
Trong quá trình giảng dạy địa lý, các giáo viên đã sử dụng nhiều phương
pháp dạy học để học sinh lĩnh hội kiến thức. Tuy nhiên, để đánh giá, bồi
dưỡng học sinh và đánh giá học sinh qua môn học địa lý, quả là một vấn đề
giáo viên phải là người tạo nên sự ham học cho học sinh, tránh được sự nhàm
chán, đơn điệu trong một tiết giảng. Để từ đó gây hứng thú, sự ham thích tìm
hiểu kiến thức địa lý qua việc sử dụng bản đồ.
2
Với môn địa lý, chất lượng giải chưa cao, số lượng giải chưa nhiều. Đội
ngũ GV tham gia giảng dạy còn quá ít (1 GV/13 lớp) dẫn đến ảnh hưởng của
chất lượng, việc đầu tư cho thời gian ôn luyện, bồi dưỡng còn ít, bồi dưỡng
trong thời gian ngắn, học sinh tiếp thu kiến thức quá tải, học sinh không có
thời gian cho ôn luyện.
3. Mục đích - đối tượng
* Mục đích:
- Hướng dẫn học sinh kỹ năng khai thác kiến thức qua bản đồ trong
chương trình - SGK địa lý lớp 12.
- Góp phần nâng cao kết quả học tập, đặc biệt trong các bài kiểm tra chất
lượng học kỳ và thi tốt nghiệp của bộ môn Địa lý.
* Đối tượng nghiên cứu:
- GV trong việc giảng dạy
- Học sinh trong việc học tập
- Nghiên cứu việc khai thác kiến thức qua bản đồ
- Đưa ra những nguyên tắc chung về việc sử dụng bản đồ
4. Phạm vi của đề tài
- Nội dung kiến thức của môn Địa lý lớp 12

- Giới hạn trong kỹ năng sử dụng bản đồ
5. Giá trị sử dụng của đề tài
- Ứng dụng trong việc học môn địa lý, khai thác kiến thức về tự nhiên,
kinh tế xã hội
3
- Sử dụng bản đồ Atlat trong thi tốt nghiệp và Cao đẳng, Đại học cho học
sinh lớp 12
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ CỦA VIỆC LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cấu trúc và nội dung chương trình
a. Phần thứ nhất: Có nhiệm vụ trang bị những kiến thức về địa lý tự
nhiên Việt Nam với 4 nội dung sau:
- Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ
- Lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ
- Đặc điểm chung của tự nhiên
- Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên
b. Phần thứ hai: Cung cấp những kiến thức về địa lý dân cư
- Đặc điểm dân số và phân bố dân cư
- Lao động và việc làm
- Chất lượng cuộc sống
c. Phần thứ ba: Kiến thức về địa lý kinh tế
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Một số vấn đề phát triển và phân bố nông nghiệp
- Một số vấn đề phát triển và phân bố công nghiệp
- Một số vấn đề phát triển và phân bố các ngành dịch vụ
d. Phần thứ tư: Vấn đề phát triển kinh tế xã hội của các vùng
- Vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung du và miền núi Bắc Bộ
4
- Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở đồng bằng sông Hồng
- Vấn đề phát triển kinh tế xã hội ở Bắc Trung Bộ

- Vấn đề phát triển kinh tế xã hội ở Hải Nam Trung Bộ
- Vấn đề khai thác thế mạnh ở Tây Nguyên
- Vấn đề khai thác lãnh thổ theo chiều sâu ở Đông Nam Bộ
- Vấn đề sử dụng hợp lý và cải tạo tự nhiên ở Đồng bằng Sông Cửu Long
- Vấn đề phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng ở biển Đông, các đảo,
quần đảo.
- Các vùng kinh tế trọng điểm
e. Phần thứ năm:
- Tìm hiểu địa lý địa phương
2. Hiện trạng dạy và học địa lý 12
Với nội dung và thời lượng như trên thì việc giảng dạy nghiêng về mặt lý
thuyết và giảng dạy theo phương pháp sau: Nêu vấn đề, thuyết trình, trực
quan, thảo luận nhóm.
Vấn đề sử dụng bản đồ trong chương trình địa lý 12 được cụ thể hóa
trong một tiết thực hành của bản đồ khung, dạng vẽ lược đồ (theo phân phối
chương trình của Bộ giáo dục và đào tạo quy định) trong khi kiến thức lí
thuyết của các bài học rất dài. Để đảm bảo đạt được kết quả cao trong việc
học tập bộ môn, các thầy cô giáo cần phải tự bố trí thời gian nhất định và phù
hợp để hướng dẫn học sinhkhai thác kiến thức địa lý qua các biểu đồ.
5
Đa số GV vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình, xen
kẽ hỏi đáp, nặng về thông báo, giảng giải kiến thức, nhẹ về phát huy tính tích
cực và phát triển tư duy học sinh , học sinh tiếp thu kiến thức một cách bị
động. Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, dạy theo lớp là chủ yếu. Cơ sở
vật chất phục vụ dạy học, các phương tiện dạy học còn thiếu và chưa đồng bộ
- Việc tạo động cơ học tập đúng đắn cho học sinh và thực hiện các hình
thức khen thưởng, động viên khác nhau đối với người học đã không được
GV quan tâm một cách thích đáng.
- Nhìn chung giờ học địa lý chưa mang lại nhiều hứng thú cho học sinh.
Có thể nói cách dạy và học Địa lý như trên gây ảnh hưởng không nhỏ đối với

chất lượng dạy học, đồng thời hạn chế việc phát triển trí tuệ của học sinh khi
học môn Địa lý. Từ đó việc dạy và học Địa lý trở thành gánh nặng của thầy và
trò.
II. PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG BẢN ĐỒ
1. Quan niệm
Đây là phương pháp truyền thống, đặc trưng cho bộ môn Địa lý ở trường
phổ thông, trong đó giáo viên sử dụng bản đồ vào việc truyền thụ kiến thức
cho học sinh
Bản đồ vừa có tính minh họa, vừa có chức năng là nguồn tri thức, nên
trong dạy học GV có thể sử dụng theo 2 cách khác nhau
Cách 1: Sử dụng bản đồ để minh họa, hoặc giảng giải nội dung bài học
Ví dụ: Chỉ rõ sự phân bố của các sự vật, hiện tượng địa lý trên bản đồ
6
Cách 2: GV sử dụng bản đồ như 1 cơ sở để học sinh tìm tòi khám phá
kiến thức dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của giáo viên. Bằng cách đó, giáo viên
hình thành và rèn luyện cho học sinh phương pháp đọc bản đồ
2. Đọc bản đồ: Học sinh phải thực hiện theo hai giai đoạn
- Giai đoạn 1: Ghi nhớ tên gọi của các đối tượng Địa lí đã có trước trong
chương trình, xem xét vị trí của chúng ở trên bản đồ và mối quan hệ không
gian với các đối tượng khác, tìm ra và chỉ đúng vị trí ở trên bản đồ, xác định
các đặc điểm của đối tượng được biểu hiện trên bản đồ. Điều này chỉ làm
được khi học sinh nắm vững hệ thống kí hiệu ở trên bản đồ
- Giai đoạn 2: Khám phá các mối liên hệ tương hỗ nhân quả, vạch ra các
dấu hiệu không thể hiện một cách trực tiếp trên bản đồ, nhưng có liên quan tới
các dấu hiệu biểu hiện của chúng, mô tả tổng hợp một khu vực
Hai giai đoạn đó kế tục nhau và diễn ra trong 3 bước:
+ Tìm vị trí đối tượng trên bản đồ
+ Mô tả đối tượng (hình dáng, kích thước, )
+ Xác định mối liên hệ tương hỗ, nhân quả, không thể hiện trực tiếp trên
bản đồ (nhờ vào biện pháp liên tưởng để tìm tòi) mô tả tổng hợp đối tượng

cần khám phá trên bản đồ.
Phải cho học sinhthấy rõ bản đồ là một hình ảnh thu nhỏ 1 phần hay
toàn bộ bề mặt Trái đất lên mặt phẳng, trên cơ sở Toán học nhất định nhằm
thể hiện đối tượng địa lý tự nhiên, KTXH và mối quan hệ giữa chúng thông
qua khái quát hóa nội dung và được trình bày bằng hệ thống ký hiệu bản đồ.
7
Việc đọc bản đồ như vậy, đòi hỏi phải rèn luyện cho học sinh các kỹ
năng.
+ Hiểu hệ thống ký, ước hiệu bản đồ
+ Phân biệt, chỉ và đọc các đối tượng địa lý trên bản đồ
+ Nghiên cứu chi tiết mạng lưới tọa độ, các đường nền và chữ viết.
+ Xác định phương hướng, khoảnh cách vĩ độ, kinh độ, kích thước, hình
thái, vị trí các đối tượng địa lý trên bản đồ, cũng như lãnh thổ.
+ Mô tả đặc điểm đối tượng trên bản đồ
+ Xác định tổng hợp 1 khu vực, 1 bộ phận lãnh thổ (vị trí địa lý địa hình,
khí hậu, thủy văn, đất đai, thực vật, động vật, dân cư, kinh tế)
- Các kỹ năng bản đồ được thực hiện chủ yếu trong từng giai đoạn đọc
bản đồ như sau:
Các giai đoạn đọc bản đồ Kỹ năng
1. Ghi nhớ tên gọi xem xét vị trí, mô
tả đặc điểm đối tượng trên bản đồ
- Hiểu hệ thống ký, ước hiệu
- Nhận biết, chỉ và đọc tên
- Nghiên cứu chi tiết
- Xác định phương hướng, khoảng
cách
- Mô tả đặc điểm đối tượng trên bản
đồ
2. Khám phá các mối liên hệ, mô tả
tổng hợp các đối tượng, các lãnh thổ

- Xác định các mối liên hệ không gian
trên bản đồ
- Xác định các mối liên hệ trên bản đồ
8
- Đọc tổng hợp đặc điểm 1 khu vực
3. Một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lý trên bản đồ
* Phương pháp ký hiệu:
Thường dùng để biểu hiện các đối tượng, phân bố theo những điểm cụ
thể: các điểm dân cư, các trung tâm công nghiệp, các mỏ kháng sản, các hải
cảng
Có 3 dạng ký hiệu (Ký hiệu hình học, ký hiệu chữ, ký hiệu tượng hình)
thể hiện được quy mô, cấu trúc, chất lượng và động lực phát triển
- Phương pháp ký hiệu chuyển động. Thể hiện sự di chuyển của các hiện
tượng tự nhiên, kinh tế xã hội.
Ví dụ:
+ Trên bản đồ tự nhiên là hướng gió, dòng biển. (Bài 9: Thiên nhiên
nhiệt đới ẩm gió mùa)
+ Trên bản đồ kinh tế - xã hội là các luồng đi dân sự vận chuyển hàng
hóa, hành khách
- Phương pháp chấm điểm. Biểu hiện các đối tượng phân bố phân tán lẻ
tẻ, các điểm dân cư nông thôn. (Bài 16: Đặc điểm dân số và phân bố dân cư )
* Phương pháp thông dụng nhất hiện nay để rèn luyện kỹ năng bản đồ
cho Học sinh trên lớp là: Giáo viên làm mẫu, đặt câu hỏi phát vấn dựa trên
bản đồ, giao cho học sinhcác bài tập có sử dụng bản đồ, tổ chức một số trò
chơi nhỏ gắn với bản đồ. Câu hỏi gắn với bản đồ thông thường có dạng: ở
9
đâu? Tại sao ở đó? hay: Chúng có mối quan hệ với nhau như thế nào? Hãy
quan sát và nêu các đặc điểm chủ yếu của sự vật
* Để nâng cao hiệu quả sử dụng bản đồ trong học tập, trong dạy học, cần
lưu ý một số điểm sau:

- Sử dụng bản đồ thường xuyên trong giờ học ngay từ những bài đầu tiên
và luyện tập cho học sinhsử dụng bản đồ tuần tự từng bước, từ thấp lên cao,
từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó.
- Sử dụng nhiều bản đồ trong một bài học, tiết học kết hợp với sự chỉ dẫn
cụ thể, tránh rơi vào suy diễn máy móc, chẳng hạn như nơi màu xanh là đồng
bằng phù sa, nơi màu vàng là núi
- Không phải sử dụng bản đồ: trong nghiên cứu tài liệu mà cả trong ôn
tập, kiểm tra, ra bài tập về nhà, làm bài thực hành, thăm quan ngoại khóa
- Bản đồ phải có nội dung phù hợp với bài giảng, tránh khập khiễng
III. NHỮNG BIỆN PHÁP VẬN DỤNG TRONG CÔNG TÁC BỒI
DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
1. Điều tra học sinh có năng khiếu học bộ môn
- Tuy là môn ít được học sinh và phụ huynh quan tâm, song để cho Học
sinhcó hứng thú chọn môn địa lý là rất quan trọng. Vì vậy, trong quá trình
giảng dạy trên lớp chấm chữa bài kiểm tra của học sinh, giáo viên phải chuẩn
bị chu đáo bài dạy, sử dụng linh hoạt của phương pháp dạy học, có hệ thống
câu hỏi đưa ra phù hợp với đối tượng là học sinh của hệ GDTX nhằm phát
huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ học, nhằm cung
10
cấp kiến thức cơ bản ở mỗi bài học cho học sinh. Đồng thời có những hệ
thống câu hỏi nâng cao nhằm phát hiện có năng khiếu giỏi bộ môn, từ đó tiếp
tục bồi dưỡng nâng cao kiến thức để phát triển tài năng sẵn có của học sinh.
Tổ chức tốt các giờ học trên lớp, gây hứng thú học tập của bộ môn, có ý thức
tham gia đội tuyển.
2. Phương pháp bồi dưỡng
Sau khi chọn được học sinhyêu thích bộ môn có năng khiếu học giỏi
môn Địa lí phải xây dựng kế hoạch chương trình bồi dưỡng sát yêu cầu.
a. Trên lớp:
- Tiến hành bồi dưỡng học sinh trong giờ lên lớp.Trang bị cho học sinh
kiến thức, kỹ năng cơ bản, cần thiết của bộ môn.

- Giáo viên lồng ghép việc sử dụng Aflat bản đồ treo tường để học sinh
khai thác kiến thức. Chú ý kỹ năng đọc bản đồ, biểu đồ, phân tích bảng số
lượng, vẽ và phân tích biểu đồ.
- Cung cấp những thông tin cập nhật hàng ngày thông qua nhiều hình
thức: báo chí, tuyên truyền.
- Qua bản đồ, giáo viên đưa ra hệ thông câu hỏi phù hợp và phát huy tính
tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, phát triển trí thông minh cho học
sinh.
b. Bồi dưỡng Học sinh theo đội ngũ:
Thứ nhất: - giáo viên phải lựa chọn, xây dựng kế hoạch và chương trình
cụ thể, đảm bảo tính hệ thống
11
- Chuẩn bị giáo án bồi dưỡng. Muốn dạy tốt, đòi hỏi mỗi giáo viên phải
có một kiến thức vững vàng về chuyên môn. Các kiến thức không chỉ được
học tập tại các trường Đại học mà cần được cập và để đổi mới thường xuyên
qua nhiều kênh khác nhau. Có thể sách, báo, tivi, internet, đồng nghiệp hay
từ chính các em học sinh.
- Thứ hai: Công tác chuẩn bị được xem là yếu tố quan trọng. Dù một
giáo viên có giỏi đến đâu, không chuẩn bị bài dạy tốt thì không đem lại hiệu
quả, đặc biệt môn địa lý, phương tiện trực quan - nhất là bản đồ là yếu tố cần
thiết.
- Thứ ba: Khi lên lớp, đòi hỏi mỗi giáo viên phải phụ thuộc bài giảng,
phụ thuộc giáo án, được như thế sẽ giúp chúng ta thực hiện các bước lên lớp,
trình bày các ý đồ của mình được tốt hơn.
- Không nên mang trạng thái tâm lý nặng nề, bực dọc ở nhà trường hay
gia đình lên bục giảng, bởi như thế sẽ làm giảm hưng phấn và lòng nhiệt tình
của người dạy mà còn lây lan tâm lý đến Học sinh trong cả lớp.
- Tạo sự hứng khởi và yêu thích từ đối tượng học sinh, khi các em có
tâm lý thoải mái, có nhu cầu được hỏi hỏi thì việc truyền thụ của giáo viên sẽ
dễ dàng. Khi đã có không khí sư phạm thì việc trao đổi, thông tin sẽ thuận lợi

hơn.
- Trong quá trình giảng dạy không nên nói lại hết những gì kiến thức
SGK đã viết sẵn, vì nhận thức năng lực tự học của các em đã nâng cao. Giáo
12
viên cần mở rộng liên hệ với thực tế như vậy sẽ kích thích sự tìm tòi sáng tạo
của học sinh.
- Không nên dùng những câu hỏi quá dễ, như thế sẽ tạo ra thái độ coi
thường không chỉ đối với giáo viên mà còn đối với bộ môn.
- Sau mỗi tiết dạy, giáo viên có thể chốt lại, kiến thức qua bản đồ
- Kiểm tra bài cũ thông qua hệ thống hỏi lồng ghép với bản đồ để học
sinh dễ nhớ hơn
IV. GIỚI THIỆU ÁN ĐỊA LÝ 12 (VỚI PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG BẢN
ĐỒ TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI).
BÀI 9: THIÊN NHIÊN NHIỆT ĐỚI ẨM GIÓ MÙA
I. Mục tiêu
Sau bài học, học sinh cần:
- Hiểu và trình bày được các đặc điểm cơ bản của khí hậu nhiệt đới ẩm
gió mùa qua bản đồ khí hậu Việt Nam.
- Có kĩ năng phân tích bảng số liệu, so sánh, phân tích mối liên hệ địa lí.
II. Phương tiện dạy học
- Bản đồ khí hậu Việt Nam
- Atlat Địa lí Việt Nam
- Phiếu học tập
III. Hoạt động dạy và học
Hôm nay, chúng ta sẽ bắt đầu tìm hiểu tiếp một đặc điểm khác của tự
nhiên Việt Nam: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa- Đây là đặc điểm bao
13
trùm lên tất cả các thành phần tự nhiên của nước ta, có tác động lớn đến hoạt
động sản xuất và đời sống.
Bài mới

Hoạt động của GV - Học sinh Nội dung chính
Hoạt động 1: Chứng minh tính
nhiệt đới của khí hậu
Hình thức tổ chức: Cặp
Câu hỏi: Đọc SGK, bảng số liệu, kết
hợp quan sát bản đồ khí hậu, hãy
nhận xét tính chất nhiệt đới của khí
hậu nước ta theo dàn ý:
- Tổng bức xạ……, cân bằng bức
xạ….
- Nhiệt độ trung bình năm:….
- Tổng số giờ nắng:…
* Giải thích vì sao nước ta có nền
nhiệt độ cao:…?
Học sinhtrả lời, các học sinhkhác bổ
sung.
Chuyển ý: Một trong những nguyên
nhân quan trọng làm nhiệt độ của
1. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa
a. Tính chất nhiệt đới
- Tổng bức xạ lớn, cân bằng bức xạ
dương quanh năm.
- Nhiệt độ trung bình năm trên 20
0
C
- Tổng số giờ nắng từ 1400 - 3000
giờ.
- Nước ta có nền nhiệt độ cao vì nước
ta nằm ở vòng đại nội chí tuyến, góc
chiếu của mặt trời lớn. ở mọi nơi,

trong năm có hai lần mặt trời lên
thiên đỉnh, thời gian chiếu sáng trong
ngày dài.
14
nước ta có sự khác biệt giữa miền Bắc
và miền Nam là do sự tác động của
gió mùa.
Hoạt động 2: Tìm hiểu về gió Mậu
dịch
Hình thức: Cả lớp
Câu hỏi: Hãy cho biết nước ta nằm
trong vòng đai gió nào? Gió thổi từ
đâu tới đâu, hướng gió thổi ở nước
ta?
Một học sinhtrả lời: (Gió mậu dịch
thổi từ cao áp cận chí tuyến về xích
đạo)
GV: Sự chệnh lệch nhiệt độ của lục
địa á - Âu rộng lớn với Thái Bình
Dương và ấn Độ Dương đã hình
thành nên các trung tâm khí áp thay
đổi theo mùa, lấn át ảnh hưởng của
gió mậu dịch, hình thành chế độ gió
mùa đặc biệt của nước ta.
Gió mậu dịch Bắc bán cầu từ Tây
Thái Bình Dương vào
Hoạt động 3: Tìm hiểu về hoạt động
của gió mùa
Hình thức: Nhóm
b. Gió mùa

15
Bước 1:
Các nhóm trả lời câu hỏi: Nhận xét và
giải thích nguyên nhân hình thành các
trung tâm áp cao và áp thấp vào mùa
hạ?
Bước 2: Một học sinh trả lời câu
hỏi: Nhận xét và giải thích nguyên
nhân hình thành các trung tâm áp cao
và áp thấp vào mùa hạ.
Bước 3: Học sinh đọc mục 1c
trong SGK, quan sát lược đồ gió mùa,
thảo luận nhóm để hoàn thành phiếu
học tập (xem phiếu học tập ở phần
phụ lục)
Giáo viên gợi ý học sinh trả lời
phiếu học tập 2
Bước 4: Học sinh trình bày kết
quả, GV giúp HA chuẩn kiến thức
Câu hỏi: Tại sao vào cuối mùa
đông, gió mùa Đông Bắc gây mưa ở
vùng ven biển và đồng bằng sông
Hồng? (cuối mùa đông khối khí Xibia
16
di chuyển về phía đông, qua biển vào
nước ta đem theo thời tiết lạnh ẩm,
mưa phùn vào mùa xuân ở vùng ven
biển và đồng bằng sông Hồng, trong
đó có Hà Nội.
- Một học sinh trình bày về gió

mùa mùa hạ, giáo viên đưa thêm câu
hỏi để khắc sâu kiến thức:
Giáo viên đưa thông tin phản hồi
Câu hỏi: Nêu và giải thích hướng
gió mùa hạ ở miền Bắc nước ta.
Câu hỏi: Hoạt động của gió mùa đã
dẫn tới sự phân chia mùa khí hậu
khác nhau giữa các khu vực: Miền
Bắc, đồng bằng ven biển miền Trung,
Tây Nguyên và Nam Bộ như thế nào?
Một học sinh trả lời, các học sinh
khác nhận xét, bổ sung.
Chuyển ý: Gió mùa góp phần mang
đến cho nước ta một lượng mưa, ẩm
lớn.
IV. Đánh giá
17
Câu 1: Học sinhgắn mũi tên gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ lên
bản đồ trống
Câu 2: Giả sử không có gió mùa mùa đông thì tự nhiên nước ta sẽ thay
đổi như thế nào? (biên độ nhiệt độ năm ít, không có cây trồng mùa đông,
không có rét đậm, rét hại, sương muối…)
GV kết luận: Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với đặc trưng nền nhiệt độ
cao, lượng mưa, ẩm lớn và sự hoạt động của các loại gió thay đổi theo mùa đã
tác động rất lớn tới sản xuất và đời sống của nhân dân ta. Tính chất nhiệt đới
ẩm gió mùa của khí hậu đóng vai trò như một nhân tố động lực, hình thành
nên đặc điểm cơ bản nhất của thiên nhiên Việt Nam - thiên nhiên nhiệt đới ẩm
gió mùa.
V. Hoạt động nối tiếp
- Trả lời các câu hỏi 2, 3, 4 trong SGK.

- Sưu tầm các câu ca dao, tục ngữ nói về khí hậu, thời tiết nước ta.
PHIẾU HỌC TẬP
Nhiệm vụ: Đọc SGK, bảng số liệu kết hợp quan sát bản đồ khí hậu, hãy
nhận xét và giải thích tính chất nhiệt đới của khí hậu nước ta theo dàn ý:
- Tổng bức xạ…………………………, cân bằng bức
xạ……………
- Nhiệt độ trung bình năm:

18
- Tổng số giờ nắng:

* Giải thích vì sao nước ta có nền nhiệt độ cao:




PHIẾU HỌC TẬP 1 - Nhóm 1
Nhiệm vụ: Đọc mục 1c trong SGK, quan sát bản đồ khí hậu, kết hợp
hiểu biết của bản thân, hãy điền vào bảng sau đặc điểm của gió mùa mùa
đông ở nước ta.
Loại gió
Nguồn
gốc
Thời gian
hoạt động
Phạm vi
hoạt động
Hướng
gió
Kiểu thời tiết

đặc trưng
Gió mùa
đông
- Tháng XI,
XII, I
- Tháng II, III
Gió mùa đông bắc gây mưa lớn ở khu vực nào
Giải thích:
19
PHIẾU HỌC TẬP 2 - Nhóm 2
Nhiệm vụ: Đọc mục 1c trong SGK, quan sát bản đồ khí hậu, kết hợp
hiểu biết của bản thân, hãy điền vào bảng sau đặc điểm của gió mùa mùa hạ ở
nước ta
Loại gió Nguồn gốc
Thời gian
hoạt động
Phạm vi
hoạt động
Hướng
gió
Kiểu thời
tiết đặc
trưng
Gió mùa
mùa hạ
Áp cao bắc Ấn
Độ Dương
áp cao cận chí
tuyến nửa cầu
nam

Gió mùa mùa hạ gây mưa nhiều ở những khu vực nào
Giải thích:
THÔNG TIN PHẢN HỒI
Loại gió
Nguồn
gốc
Thời gian
hoạt động
Phạm vi
hoạt động
Hướng
gió
Kiểu thời tiết
đặc trưng
Gió mùa
đông
áp cao
Xibia
Tháng XI -
IV
Miền Bắc Đông
bắc
- Tháng XI,
XII, I: lạnh khô
- Tháng II, III:
lạnh ẩm
Gió mùa
mùa hạ
Áp cao
bắc Ấn

Độ
Tháng V,
tháng VII
Cả nước Tây
Nam
- Nóng ẩm ở
Nam bộ và Tây
Nguyên
20
Dương - Nóng khô ở
Bắc Trung Bộ
áp cao
cận chí
tuyến nửa
cầu nam
Tháng VI,
tháng X
Cả nước Tây
Nam;
riêng
Bắc Bộ

hướng
đông
nam
Nóng và mưa
nhiều ở cả
miền Bắc và
miền Nam.
C. KẾT LUẬN

1. Kết quả đạt được
Năm học
Số học
sinh
dự thi
Số học
sinh
đạt giải
Ghi chú
21
2002-2003 5 5 1giải khuyến khích, 3 giải ba, 1 giải nhì
2004-2005 4 3 2 giải ba, 1 giải khuyến khích
2006- 2007 3 2 2 giải khuyến khích
2007-2008 4 3 1 giải ba, 2 giải khuyến khích
2008-2009 2 1 1 khuyến khích
2009-2010 4 4 1 giải ba, 3 giải khuyến khích
2011-2012 2 1 1 giải nhì
2. Nguyên nhân
- Do sự quan tâm chỉ đọa chặt chẽ của các cấp lãnh đạo, ban giám hiệu
nhà trường và tổ chuyên môn.
- Do sự ủng hộ nhiệt tình của đồng nghiệp và học sinh.
- Bản thân có nhiều cố gắng trong giảng dạy và bồi dưỡng
3. Bài học kinh nghiệm
- Sau nhiều năm bồi dưỡng học sinh, bản thân tôi thấy để công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả cần phải:
+ Làm tốt công tác phát hiện - bồi dưỡng học sinh có năng khiếu học
giỏi bộ môn.
+ Xét kế hoạch chương trình bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu, vận dụng
linh hoạt chương trình bồi dưỡng học sinh.
+ Tiến hành bồi dưỡng học sinh phải theo 1 quá trình, có hệ thống trên

nền kiến thức và kỹ năng cơ bản của bộ môn từ đó mở rộng và nâng cao kiến
thức.
+ Phải biết kết hợp giữa trang bị kiến thức và rèn các kỹ năng địa lý,
nhất là kỹ năng khai thác kiến thức từ bản đồ và giải thích mối quan hệ giữa
các thành phần, tự nhiên kinh tế xã hội.
22
- Giáo viên phải nhiệt tình, ham học hỏi, nghiên cứu tìm tòi, tích lũy các
tư liệu, bộ đề xem xét cách ra đề, từ đó rút ra kiến thức, kỹ năng cần thiết của
chương trình để bồi dưỡng khắc sâu cho học sinh mới đem lại kết quả bồi
dưỡng cao.
- Tăng cường kỹ năng thẩm định đề, trình bày cho học sinh .
- Khơi gợi và phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh qua
hệ thống bản đồ.
4. Kiến nghị
- Hiện nay trường đang còn thiếu về cơ sở vật chất kinh tế nhất là tập bản
đồ cũ, rách. Cần phải được bổ sung đủ hệ thống bản đồ còn thiếu, thay mới
những bản đồ cũ. Cần phải xây dựng nhà đa năng, phòng chiếu hợp lý để
phục vụ tốt hơn trong công tác giảng dạy, nhất là dạy đội tuyển của trường.
Thiệu Hóa, ngày 15 tháng 4 năm 2012
Người thực hiện
23

Lê Thị Thu Hà
MỤC LỤC
Phần Tên đề mục Trang
A. Đặt vấn đề 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứư 2
3 Mục đích đối tượng 2
4 Phạm vi đề tài 3

5 Giá trị sử dụng của đề tài 3
B. Giải quyết vấn đề 3
I Cơ sở của việc chọn đề tài 3
1 Cấu trúc và nội dung chương trình 3
2 Hiện trạng dạy và học địa lý 12 4
II Phương pháp sử dụng bản đồ 5
1 Quan niệm 5
2 Đọc bản đồ 5
3 Một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa
lí trên bản đồ
7
III Những phương pháp vận dụng trong công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi
8
1 Điều tra học sinh có năng khiếu bộ môn 8
2 Phương pháp bồi dưỡng 8
IV Giới thiệu giáo án địa lí 10
C. Kết luận 16
1 Kết quả đạt được 17
2 Nguyên nhân 17
3 Bài học kinh nghiệm 17
4 Kiến nghị 18
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SGK Địa lý lớp 12 - NXB Giáo dục năm 2005
2. Hướng dẫn chương trình SGK 12 - NXB Giáo dục
3. SGV lớp 12 - NXB Giáo dục 2005
4. Tập bản đồ Địa lý 12 - Công ty bản đồ tranh ảnh Bộ giáo dục và đào
tạo.
25

×