Tải bản đầy đủ (.doc) (6 trang)

Giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (79.26 KB, 6 trang )

Đề bài: Giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn theo pháp luật
Việt Nam.
Bài làm:
Trong quá trình hội nhập quốc thế hiện nay, pháp luật Việt Nam không thể
tránh khỏi xung đột pháp luật với các hệ thống pháp luật khác trên thế giới.
Một trong những lĩnh vực liên quan đến xung đột pháp luật đó là quan hệ
hôn nhân và gia đình. Trong bài viết này, em xin trình bày một khía cạnh
nhỏ, đó là: "Giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn theo pháp
luật Việt Nam".
Trên thực tế, mỗi một quốc gia đều có quy định về điều kiện kết hôn, tuy
nhiên không phải quốc gia nào cũng quy định giống nhau mà phần lớn đều
có điểm khác biệt. Chính từ những quy định khác nhau trên, khi có một quan
hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì tất yếu sẽ dẫn đến xung đột pháp luật. Ví
dụ một cô gái Việt Nam mới 16 tuổi có thể kết hôn với một thanh niên Pháp
đã trưởng thành hay không khi việc kết hôn này vi phạm pháp luật Việt Nam
nhưng lại phù hợp với quy định của pháp luật Pháp. Vấn đề là cách giải
quyết như thế nào? Để giải quyết xung đột pháp luật này, về lí luận cũng như
thực tiễn, pháp luật của đa số các nước nghiêng về áp dụng nguyên tắc luật
nhân thân (lex personalis) của các bên đương sự để giải quyết. Song có nước
lại áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch (lex patrice), có nước lại áp dụng
nguyên tắc luật nơi cư trú (lex domiccili) của đương sự để giải quyết xung
đột pháp luật về điều kiện kết hôn. Vậy pháp luật Việt Nam giải quyết xung
đột pháp luật về điều kiện kết hôn như thế nào?
Để điều chỉnh kịp thời vấn đề này, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản
pháp luật có các quy phạm xác định điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài
như: Bộ luật dân sự 2005, Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000;
Nghị định số 68/2002/NĐ - CP, 69/2002/NĐ - CP quy định chi tiết thi hành
một số điều về quan hệ hôn nhân - gia đình có yếu tố nước ngoài của luật
hôn nhân - gia đình; Thông tư 07/2002/ TT - BTP ngày 16 - 12 - 2002 về
hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 68/2002/ NĐ - CP. Cụ thể,
theo khoản 1 Điều 103 Luật hôn nhân gia đình năm 2000, Điều 10 Nghị định


số 68/NĐ - CP thì: Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn,
nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của
Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo quy định tại Điều 9 và
Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về điều kiện kết hôn và các
trường hợp cấm kết hôn. Như vậy, nguyên tắc cơ bản để giải quyết xung đột
pháp luật về điều kiện kết hôn là nguyên tắc luật quốc tịch của các bên
đương sự.
Thực trạng kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam: Từ năm 1995 đến
năm 2002, các quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài gia tăng nhanh chóng và phân thành 2 nhóm như sau:
- Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người Việt Nam ở nước ngoài
chiếm khoảng 45% tổng số, trong đó chủ yếu là với Việt kiều cư trú tại Hoa
Kỳ, Đức, Úc, Canada. Số công dân Việt Nam kết hôn với Việt kiều tại Pháp
trong giai đoạn này chỉ khoảng 1500 trường hợp.
- Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài chiếm
khoảng 55% tổng số với hơn 40 quốc gia khác nhau (công dân Pháp kết hôn
với công dân Việt Nam chỉ khoảng 1000 trường hợp từ năm 1995 đến năm
2002).
Nghị định 68 đã giải quyết được phần lớn một số khó khăn, vướng mắc
trong giải quyết các trường hợp, tuy nhiên việc giải quyết xung đột pháp lý
về điều kiện kết hôn còn gặp nhiều vướng mắc:
+ Thứ nhất, tuổi kết hôn: quy định về độ tuổi kết hôn của một số nước thấp
hơn so với Việt Nam (như Anh, Mỹ, Úc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc là
trên 16 tuổi đối với nữa, đối với Pháp là từ 15 tuổi; trong khi đó quy định
của ta chỉ thừa nhận tuổi kết hôn là từ 18 tuổi). Trong trường hợp này ta sẽ
gặp khó khăn khi thụ lý các hồ sơ xin công nhận việc kết hôn ở nước ngoài,
vì ngoài việc xem xét cuộc hôn nhân đó có phù hợp với pháp luật Việt Nam
không còn phải tính đến quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, chưa kể phải xem
xét đến yếu tố vi phạm pháp luật Hình sự (giao cấu với người vị thành niên).

+ Thứ hai, về năng lực, nhận thức kết hôn: thực tiễn hiện nay cho thấy có
nhiều cuộc hôn nhân nằm ngoài mục đích thực của hôn nhân, chủ yếu vì lí
do kinh tế hoặc để được xuất cảnh. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam không
có quy định cụ thể về vấn đề này.
+ Thứ ba. Về việc xác định việc kết hôn không vi phạm điều cấm: Hiện nay
chưa có quy định cụ thể nào nhằm bảo vệ việc đăng ký kết hôn, không vi
phạm các điều cấm theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Nghị định 68 quy định việc phỏng vấn đễ xác định các dấu hiệu, hiện tượng
của việc kết hôn giả, kết hôn vì mục đích vụ lợi... làm cơ sở cho việc từ chối
điều kiện kết hôn. Do đó, kết luận về một vụ việc vi phạm các điều cấm của
luật hôn nhân và gia đình làm cơ sở cho việc từ chối đăng ký kết hôn là rất
khó và thiếu thuyết phục.
Đây là một vấn đề tương đối khó, yêu cầu cấp thiết là pháp luật Việt Nam
cần bổ sung các quy định pháp lý để giải quyết các xung đột pháp luật về
điều kiện kết hôn. Do dung lượng bài viết có hạn và sự hiểu biết còn nhiều
hạn chế, bài viết của em không thể tránh khỏi còn nhiều thiếu sót. Mong
thầy cô giáo sửa chữa để bài viết của em về vấn đề: "Giải quyết xung đột
pháp luật về điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam" thêm hoàn thiện.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Trường Đại học luật Hà Nội, giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb.
Tư pháp, Hà Nội, 2007.
2. Nông Quốc Bình, Nguyễn Hồng Bắc, "Quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời ký hội nhập quốc tế, Nxb. Tư pháp,
Hà Nội, 2006
3. Nhà pháp luật Việt - Pháp, một số vấn đề thực tiễn về quan hệ nhân thân,
tài sản trong tư pháp quốc tế, Kỉ yếu hội thảo, 2005.
4. Bộ luật dân sự năm 2005
5. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
6. Nghị định của Chính phủ số 68/2002/NĐ - CP ngày 10/7/2002 quy định
chi tiết một số điều của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về quan hệ hôn

×