Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

Vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (192.46 KB, 25 trang )

Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Cơng nghệ Việt Nhật
Lời nói đầu
Sinh viên ra trường hiện nay thất nghiệp đang là vấn đề đáng báo
động trong xã hội hiện nay. Câu hỏi đặt ra ở đâuy là nguyên nhân của
tình hình thất nghiệp của sinh viên hiện nay là do đâ? Hậu quả để lại là
gì? Vấn đề đó đã gây thiệt hại gì cho nền kinh tế nước nhà? Và chúng
ta phải làm gì để khâc phục tình trạng trên? Vấn đề này được nhìn từ
nhiều góc độ khác nhau và mỗi người một quan điểm khác nhau. Tuy
nhiên giải pháp nhằm đặt ra gấp để giải quyết vấn đề lao động trong xã
hội cũng như đảm bảo công ăn việc làm cho hàng nghìn sinh viên mỗi
năm ra trường. Vấn đề này cần sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta,
và nó khơng nằm ngồi sự quan tâm của em vì vậy em chọn đề tài “Vấn
đề thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường” để nghiên cứu.Đề tài
của em gồm 3 chương:
Chương 1:Giới thiệu chung
Chương 2: Cơ sở lý luận về vấn đề thất nghiệp
Chương 3: Thực trạng về vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi
ra trường
Chương 4: Biện pháp để giải quyết vấn đề thất nghiệp của sinh viên
và Một số ý kiến đóng góp
Chương 5: Kết luận
Do kiến thức của em cịn hạn hẹp và vẫn cịn tồn tại một số thiếu
xót em mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cơ và các bạn để đề
tài của em được hồn thiện hơn.Em xin chân thành cảm ơn.

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

1


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật


Chương 1
Giới thiệu chung
1.1.Lý do chọn đề tài
Vấn đề thất nghiệp của sinh vien sau khi ra truờng là vấn đề đáng báo
động.Nguyên nhân vấn đề này là do đâu và đã có những biện pháp gì để giải
qut.Đó là một trong số lý do em chọn đề tài “ Vấn đề thất nghiệp của sinh
viên sau khi ra trường”
1.2.Mục đích và Mục tiêu của nghiên cứu đề tài
1.2.1.Mục đích
Nhằm làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp của sinh viên
sau khi ra truờng, tìm ra giải pháp khắc phục vấn đề trên
1.2.2.Mục tiêu
Giúp cho mọi người va bản thân em hiểu rõ vấn đề thất nghiệp của sinh
viên có ảnh hưởng đến lực lượng lao động như thế nào, kinh tế xã hội có bị
ảnh hưởng nhiều khơng.
1.3.Giới thiệu của đề tài
1.3.1.Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên chuẩn bị ra truờng và sinh viên sau khi ra truờng
1.3.3.Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu sinh viên tại một số truờng đại học nói chung và sinh viên
trường Cao đẳng ngoại ngữ và Cơng nghê Việt Nhật nói riêng
2.Phương pháp nghiên cứu
Chủ yếu sử dụng phương pháp lý luận

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

2


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật

Chương 2
Cơ sở lý luận về vấn đề thất nghiệp của sinh viên
Sau khi ra trường
1.1.Khái niệm thất nghiệp
Thất nghiệp có nghĩa là một bộ phận lao đông không được thuê
mướn( không có việc làm)
Người trong tuổi lao động: là những người ở độ tuổi có nghĩa vụ và quyền
lợi lao động được quy định trong hiến pháp
Nữ 18->55
Nam 18->60
Người ngoài tuổi lao động = dan số- tuổi lao động
-Người trong tuổi lao động có hai loại
Lực lượng lao động:
+Người có việc làm : làm trong hoạt động kinh tế xã hội
+Người thất nghiệp:người ko có việc làm nhưng mong muốn tìm được việc
làm
1.2.Phân loại thất nghiệp
Theo các nhà khoa hoc thì thất nghiệp được chia thành các loại sau:
Trong các sách báo kinh tế chúng ta thường gặp rất nhiều những tên gọi
khác nhau về các lọai hình thất nghiệp. Thực tế đó bắt nguồn từ những
quan niệm khơng thống nhất về thất nghiệp hoặc dựa trên những tiêu
chuẩn phân loại khác nhau. Chúng ta hay gặp các thuật ngữ : Thất nghiệp
tạm thời, Thất nghiệp tự nhiên, Thất nghiệp tự nguyện, Thất nghiệp không
tự nguyện, Thất nghiệp cơ cấu, Thất nghiệp cơng nghệ, Thất nghiệp mùa
vụ, Thất nghiệp hữu hình, Thất nghiệp trá hình, Thất nghiệp ngắn hạn,
Thất nghiệp trung hạn, Thất nghiệp dài hạn, Thất nghiệp từng phần (bán
thất nghiệp), Thất nghiệp toàn phần, Thất nghiệp chu kỳ, Thất nghiệp nhu
cầu, Thất nghiệp kinh niên, Thiếu việc làm hữu hình, Thiếu việc làm vơ
hình, Thừa lao động, Lao động dôi dư...
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3


3


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
Tuy nhiên nội hàm của những thuật ngữ đã nêu không được phân biệt một
cách rõ ràng. Chẳng hạn, thất nghiệp tự nhiên chủ yếu là do thiếu thông tin
thị trường lao động và do sự di chuyển của người lao động trên thị trường,
như vậy lọai hình này gồm một phần là thất nghiệp tạm thời và một phần là
thất nghiệp cơ cấu. Đến lượt mình, một bộ phận của thất nghiệp cơ cấu lại là
kết quả của việc không đáp ứng yêu cầu về tay nghề và nghiệp vụ do tiến
bộ kỹ thuật địi hỏi. Ở đây khơng nói đến khía cạnh thay đổi cơng nghệ làm
giảm nhu cầu lao động mà đề cập đến yêu cầu nâng cao kiến thức, kỹ năng
hoặc phải thay đổi một số nghề và nghiệp vụ. Hay là, do khơng có thơng tin
đầy đủ về thị trường lao động nhiều người tự nguyện thất nghiệp khơng đi
tìm việc làm, họ mong đợi vào những điều kiện lao động và thu nhập
không thực tế ("ảo") trong tương lai, và sự kém hiểu biết đã lấy di những
cơ hội việc làm của họ.
Nhiều tranh luận cũng xảy ra với trường hợp thất nghiệp mùa vụ. Do thất
nghiệp mùa vụ liên quan đến tính chất thời vụ và thời gian kéo dài của nó
nên cũng được coi là một phần của thất nghiệp cơ cấu. Ngoài ra, đặc điểm
của sản xuất nông nghiệp chỉ ra rằng thất nghiệp mùa vụ thường thấy dưới
hình thức trá hình. Thất nghiệp trá hình xảy ra khi giảm nhu cầu về lao động
không tương ứng với giảm số nơi làm việc. Thất nghiệp trá hình cũng có thể
xảy ra khi tuyển quá số lao động nhưng không đạt yêu cầu về tay nghề và
khi tuyển những người không phù hợp về chun mơn, nghiệp vụ.
Để đỡ phức tạp và có cách hiểu đồng nhất, thuận lợi cho việc xác định
nguyên nhân và đề xuất những cơng cụ, giải pháp thích hợp, chúng tơi đề
xuất chia các loại hình thất nghiệp đã nêu thành 3 nhóm : thất nghiệp tạm
thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp nhu cầu.

Thất nghiệp tạm thời là tình trạng khơng có việc làm ngắn hạn do khơng
có đầy đủ thơng tin về cung - cầu lao động, hoặc chờ đợi vào những điều
kiện lao động và thu nhập không thực tế hoặc liên quan đến sự di chuyển của
người lao động giữa các doanh nghiệp, giữa các vùng và lĩnh vực kinh tế.
Thất nghiệp cơ cấu là tình trạng khơng có việc làm ngắn hạn hoặc dài
hạn do không phù hợp về qui mô và cơ cấu cũng như trình độ của cung lao
động theo vùng đối với cầu lao động (số chỗ làm việc). Sự không phù hợp

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

4


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Cơng nghệ Việt Nhật
có thể là do thay đổi cơ cấu việc làm yêu cầu hoặc do biến đổi từ phía cung
của lực lượng lao động.
Ở nước ta thất nghiệp cơ cấu biểu hiện rõ nhất trong những năm khi mà
GDP tăng trưởng cao nhưng thất nghiệp giảm khơng đáng kể, thậm trí cịn
trầm trọng hơn với một số đối tượng như thanh niên, phụ nữ, người nghèo
và với những thành phố lớn.
Thất nghiệp nhu cầu là trình trạng khơng có việc làm ngắn hạn hoặc dài
hạn do giảm tổng cầu về lao động và làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy
thối, dẫn đến giảm hoặc không tăng số việc làm.
Ở nước ta thất nghiệp cơ cấu biểu hiện rõ nhất trong những năm khi mà
GDP tăng trưởng cao nhưng thất nghiệp giảm không đáng kể, thậm trí cịn
trầm trọng hơn với một số đối tượng như thanh niên, phụ nữ, người nghèo
và với những thành phố lớn.
Thất nghiệp nhu cầu là trình trạng khơng có việc làm ngắn hạn hoặc dài hạn
do giảm tổng cầu về lao động và làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy thối,
dẫn đến giảm hoặc khơng tăng số việc làm.

Thất nghiệp nhu cầu xuất hiện trong những năm đầu của cuộc cải cách kinh
tế ở nước ta (1986 - 1991) và gần đây có xu hướng tăng lên do đình đốn, ứ
đọng sản phẩm ở một số ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng của khủng hỏang
kinh tế thế giới, đồng thời với đó là q trình cải cách doanh nghiệp nhà
nước và dôi dư lao động
2.Nguyên nhân gắn với loại hình thất nghiệp
Hiệu quả can thiệp của Chính phủ vào lĩnh vực lao động - việc làm để
đảm bảo an sinh xã hội hoặc tạo điều kiện tăng độ linh hoạt mềm dẻo của
thị trường lao động-nhằm mục tiêu việc làm đầy đủ, việc làm bề vững và

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

5


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Cơng nghệ Việt Nhật
có hiệu quả - phụ thuộc trước hết vào việc đánh giá đúng những nguyên
nhân gây ra từng loại hình thất nghiệp và lựa chọn những công cụ, giải
pháp phù hợp.
Trên cơ sở những nghiên cứu về thất nghiệp và tổng hợp ý kiến của nhiều
nhà kinh tế trên thế giới

(1), (2), (3), (4)

có thể phân loại những nguyên nhân thất

nghiệp và đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng đến từng loại hình thất
nghiệp theo bảng
Bảng 1. Nguyên nhân gắn với các loại hình thất nghiệp
Thất

Nguyên nhân thất nghiệp

Thất

Thất

nghiệp nghiệp cơ nghiệp

tạm thời
* Khơng có thơng tin về tình hình +++

cấu

trên thị trường lao động.
* Do sự di chuyển của người lao

+++

động
* Tham gia thị trường lao động lần

+++

++

đầu
* Tham gia lại thị trường lao động

+++


++

++
++

nhu cầu

++

của những người trước đây tự
nguyện thất nghiệp
* Lạm phát
* Mất đất nông nghiệp do làm
KCN, KCX
* Tăng quy mơ lực lượng lao động
* Trình độ đào tạo không phù hợp

+++
+++

với yêu cầu làm việc
* Cơ cấu nghiệp vụ (nghề) theo

+++

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

6



Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
vùng về số lượng và chất lượng
không phù hợp
* Áp dụng công nghệ mới
* Thay đổi trong hệ thống giá trị
* Thay đổi cơ cấu dân số
* Chính sách tiền lương tối thiểu

+

+++
+++
+++

+++
+++

của Chính phủ
* Đình đốn nhu cầu và suy thối

++

+++

kinh tế
* Cơ chế sử dụng lao động trong

++

+++


+++

+++
+++
+++

khu vực nhà nước
* Chi phí lao động quá cao
* Năng suất lao động thấp
* Do tính chất mùa vụ của sản xuất

(+ : ảnh hưởng ít ; ++ : ảnh hưởng vừa; +++ : ảnh hưởng nhiều)

Trong bảng 1 ta thấy một nguyên nhân có thể gây ra nhiều hơn một loại hình
thất nghiệp. Ví dụ, suy thối kinh tế ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế gây
ra thất nghiệp nhu cầu nhưng cũng tác động đến một số ngành và lĩnh vực
kinh tế gây ra thất nghiệp cơ cấu. Chính sách tiền lương tối thiểu theo hướng
cao có thể ảnh hưởng đến việc làm gây ra thất nghiệp cơ cấu, đặc biệt với
những người tham gia thị trường lao động lần đầu và những người chưa có
tay nghề hoặc tay nghề thấp; đồng thời làm giảm nhu cầu lao động của một
số doanh nghiệp. Cơ chế cứng trong sử dụng lao động tại DNNN gây ra cả
thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp nhu cầu vì chi phí lao động quá cao, năng
lực cạnh tranh của DNNN thấp.
2. Tỷ lệ thất nghiệp

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

7



Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
2.1.1.Khái niệm:Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động khơng có
việc làm tính trên tơng số lao động trong xã hội.
Thất nghiệp xảy ra khi một người có khả năng làm việc và sẵn sàng làm
việc nhưng khơng có việc làm. Thất nghiệp thường được đo lường bằng việc
sử dụng tỷ lệ thất nghiệp, được xác định bằng tỷ lệ phần trăm của những lao
động khơng có việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp cũng được sử dụng trong các
nghiên cứu kinh tế và các chỉ số kinh tế chẳng hạn như Chỉ số về các Chỉ
tiêu dẫn đầu của Ban quốc hội Mỹ được sử dụng như một thước đo tình hình
kinh tế vĩ mơ.
Kinh tế học chủ đạo cho rằng thất nghiệp là không thể tránh khỏi, và một
điều không muốn nhưng phải chấp nhận là phải ngăn chặn lạm phát; đây là
vấn đề gây tranh cãi trong một số trường kinh tế khơng chính thống. Ngun
nhân của thất nghiệp vẫn còn đang gây tranh cãi. Kinh tế học Keynes nhấn
mạnh rằng thất nghiệp là do nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh
tế khơng đủ (thất nghiệp chu kỳ). Những người khác cho rằng đó là do vấn
đề cơ cấu và tính khơng hiệu quả trong thị trường lao động; thất nghiệp cơ
cấu liên quan tới sự không phù hợp giữa cung và cầu đối với lao động có
những kỹ năng cần thiết, đơi khi bị ảnh hưởng bởi cơng nghệ hỏng hoặc q
trình tồn cầu hóa. Kinh tế cổ điển hoặc tân cổ điển có xu hướng bác bỏ
những giải thích này, và tập trung nhiều hơn vào những quy định cứng nhắc
áp đặt cho thị trường lao động, chẳng hạn như tổ chức cơng đồn, luật về
lương tối thiểu, thuế, và các quy định khác làm giảm việc thuê lao động (thất
nghiệp theo lý thuyết cổ điển). Tuy nhiên những người khác cho rằng thất
nghiệp phần lớn là do sự lựa chọn tự nguyện của những người khơng có việc
làm và thời gian cần để tìm kiếm một cơng việc mới (thất nghiệp do chuyển

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3


8


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
nghề). Kinh tế học hành vi nêu bật các hiện tượng như tiền lương cứng nhắc
và tiền lương hiệu quả mà có thể dẫn đến thất nghiệp.
Cũng có bất đồng về quan điểm làm thế nào để đo lường chính xác tỷ lệ thất
nghiệp. Các nước khác nhau có tỷ lệ thất nghiệp khác nhau; Theo truyền
thống, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ thấp hơn so với các nước thuộc liên minh
châu Âu, mặc dù cũng có sự khác nhau về tỷ lệ thất nghiệp giữa các nước
này, các nước như Anh và Đan Mạch hoạt động tốt hơn Ý và Pháp và tỷ lệ
thất nghiệp cũng thay đổi theo thời gian (ví dụ cuộc Đại suy thối) trong
suốt chu kỳ kinh tế.
2.1.2.Cơng thức tính tỷ lệ thất nghiệp
Mặc dù nhiều người quan tâm đến số lượng người thất nghiệp, nhưng các
nhà kinh tế học chỉ tập trung vào tỷ lệ thất nghiệp. Cách tính này chính xác
khi có sự gia tăng thông thường số lượng người thất nghiệp do tăng dân số
và tăng lực lượng lao động liên quan tới sản xuất. Tỷ lệ thất nghiệp được thể
hiện dưới dạng tỷ lệ %, và được tính như sau:
Tỷ lệ thất nghiệp = Số lượng công nhân bị thất nghiệp/Tổng lực lượng lao
động
Theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế, “công nhân bị thất nghiệp”
là những người hiện không làm việc nhưng sẵn sàng và có thể làm việc để
được trả lương, hiện tại sẵn có khả năng làm việc, và tích cực tìm kiếm việc
làm. Những người tích cực tìm kiếm việc làm phải nỗ lực: trong việc liên hệ
với chủ lao động, tham gia các cuộc phỏng vấn xin việc, liên hệ với các cơ
quan cung ứng việc làm, gửi sơ yếu lý lịch, nộp đơn xin việc, đáp lại những
việc làm đăng quảng cáo, hoặc một vài cách tìm kiếm việc làm trong trước

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3


9


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
bốn tuần. Việc xem quảng cáo việc làm mà không đáp lại sẽ khơng được coi
là tích cực tìm kiếm việc làm. Bởi vì khơng phải tất cả những trường hợp
thất nghiệp có thể “lộ ra” và được các cơ quan chính phủ biết tới nên số liệu
thống kê chính thức về thất nghiệp có thể khơng chính xác.
ILO chỉ ra 4 phương pháp khác nhau để tính tỷ lệ thất nghiệp:
Cuộc điều tra về thực trạng lao động là phương pháp tính tỷ lệ thất nghiệp
được ưa chuộng nhất bởi vì chúng cho ra kết quả đầy đủ nhất và có thể tính
tỷ lệ thất nghiệp theo nhiều loại nhóm khác nhau chẳng hạn như chủng tộc
và giới tính. Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất cho việc so sánh
tỷ lệ thất nghiệp giữa các nước trên thế giới.
Những dự đốn chính thức về tỷ lệ thất nghiệp được đưa ra bằng sự kết hợp
thông tin của một hoặc nhiều hơn trong số 3 phương pháp khác nhau.
Việc sử dụng phương pháp này làm giảm tác dụng của những Cuộc điều tra
về thực trạng lao động.
Số liệu thống kê về Bảo hiểm xã hội chẳng hạn như trợ cấp thất nghiệp,
được tính tốn dựa trên số lượng người được bảo hiểm, đại diện cho tổng lực
lượng lao động và số lượng người được bảo hiểm mà đang nhận trợ cấp.
Phương pháp này bị chỉ trích rất nhiều do thời hạn hưởng trợ cấp kết thúc
trước khi người ta tìm được việc làm.
Số liệu thống kê của Phòng lao động là ít có tác dụng nhất bởi vì họ chỉ tính
đến số lượng người thất nghiệp hàng tháng, những người đến các Phịng lao
động để tìm việc làm. Phương pháp này cũng kể đến cả những người thất
nghiệp mà theo định nghĩa của ILO họ không bị thất nghiệp

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3


10


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật




Tỷ lệ thất nghiệp = 100% Số người khơng có việc làm
Tổng số lao động xã hội
Tử số: Khơng tính những người khơng cố gắng tìm việc.
Mẫu số: Tổng số lao động xã hội = Số người có việc làm + số người
khơng có việc làm nhưng tích cực tìm việc

3.Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Là tỷ lệ thất nghiệp mà nền kinh tế đạt được ứng với mức sản lượng tiềm
năng
3.1.Các yếu tố xác định tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Tỷ lệ tìm việc và tỷ lệ rời cơng việc. Tỷ lệ tìm việc là tỷ lệ những người thất
nghiệp tìm được một việc làm mỗi tháng so với lực lượng lao động. Tỷ lệ
tìm việc càng cao, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên càng thấp.
Tỷ lệ rời công việc là tỷ lệ những người mất việc mỗi tháng so với lực lượng
lao động. Tỷ lệ rời công việc càng cao, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên càng cao.
Lưu ý đây là tỷ lệ những người rời công việc thuộc hai dạng thất nghiệp tạm
thời và thất nghiệp cơ cấu,trong thực tế cịn một tỷ lệ rời bỏ cơng việc thuộc
diện thất nghiệp do thiếu cầu(thất nghiệp keyness).
4.Yếu tố tác động đến tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
-Tiền lương cứng nhắc: Khi nghành đóng tàu gặp khủng hoảng,chủ doanh
nghiệp sẽ đứng trước hai lựa chọn một là giảm tiền lương(vì lúc này nhiều

cơng nhân nghành đóng tàu bị sa thải cung lớn hơn cầu doanh nghiệp có thể
giảm tiền lương xuống mức cân bằng) hai là giảm số công nhân làm việc. Vì
các hượp đồng lao động đã quy định mức tiền lương và đã được ký kết nên
ngay lập tức DN ko thể chọn cách một các DN chọn cách hai và cách này

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

11


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
làm tăng tỷ lệ TNTN,giả sử doanh nghiệp chọn cách thứ nhất thì tỷ lệ thất
nghiệp sẽ điều chỉnh dần về tỷ lệ TNTN vì tiền lương dần tiến về mức cân
bằng.
- Tiền lương cứng nhắc: Khi nghành đóng tàu gặp khủng hoảng,chủ doanh
nghiệp sẽ đứng trước hai lựa chọn một là giảm tiền lương(vì lúc này nhiều
cơng nhân nghành đóng tàu bị sa thải cung lớn hơn cầu doanh nghiệp có thể
giảm tiền lương xuống mức cân bằng) hai là giảm số cơng nhân làm việc. Vì
các hượp đồng lao động đã quy định mức tiền lương và đã được ký kết nên
ngay lập tức DN ko thể chọn cách một các DN chọn cách hai và cách này
làm tăng tỷ lệ TNTN,giả sử doanh nghiệp chọn cách thứ nhất thì tỷ lệ thất
nghiệp sẽ điều chỉnh dần về tỷ lệ TNTN vì tiền lương dần tiến về mức cân
bằng.
5.Mối liên hệ giữa thất nghiệp va lạm phát
Lạm phát có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế của một quốc
gia.Khi tỷ lệ lạm phát quả cao sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế quốc
dân và đời sống xã hội, đồng thời tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng cao va hai yếu tố
này tỷ lệ thuận với nhau.
Lạm phát và thất nghiệp là có sự đánh đổi thực tế


Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

12


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật

Chương 3
Thực trạng về vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi ra

1. Tình trạng thất nghiệp của sinh viên ra trường:
Hiện nay hầu hết sinh viên khi ra trường, nhất là các sinh viên học tại
các thành phố lớn, đều bắt đầu đôn đáo kiếm một công việc tạm thời
nào đó để làm lấy tiền trụ lại thành phố xin việc ổn định sau, mà
không phải xin tiền bố mẹ. Các công việc mà họ làm đa phần là không
cần đến bằng cấp như: Bưng bê tại các quán café, quán ăn hay làm
nhân viên trực nghe điện thoại, đi gia sư…Chỉ là những công việc đơn
giản như thế, lương không đủ ăn nhưng để xin được một chỗ làm ổn
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

13


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
định cũng khơng phải dễ dàng gì.
Rất nhiều trung tâm tuyển dụng việc làm lợi dụng các sinh viên mới ra
trường để lừa bịp bằng các chiêu nộp hồ sơ cộng với tiền phí xin việc
để rồi cơng việc thì chẳng thấy đâu, nhiều sinh viên mới ra trường do
thiếu hiểu biết nên vừa bị lừa mất tiền, lại mất cả công sức lẫn thời
gian làm việc không công cho một công ty nào đó.

Tình trạng ấy khơng chỉ xảy ra với các sinh viên có bằng loại khá,
trung bình khá mà thậm chí cả những sinh viên ra trường với tấm
bằng loại giỏi vẫn loay hoay không biết phải đi đâu, về đâu trong tình
trạng ở các cơng ty, các cơ quan lúc nào cũng chồng đống những xấp
hồ sơ xin việc. Nên có khơng ít bạn sinh viên sau khi học xong Cao
đẳng hay Đại học do không xin được việc đã chọn giải pháp là học
tiếp, học liên thông hay học văn bằng hai để lại được bố mẹ ni như
tâm sự của một số bạn sinh viên: “Mình chán cảnh phải ngồi chầu
chực xin việc ở các trung tâm mà cuối cùng lại về khơng nên mình đã
bảo bố mẹ rồi, mình sẽ học lên Cao học. Hy vọng với tấm bằng thạc sĩ
thì ra trường sẽ sn sẻ hơn”.
Cũng có nhiều sinh viên ra trường nhưng cịn dành thời gian và tiền
bạc đi học thêm các chuyên ngành khác như tiếng Anh, lập trình,
nghiệp vụ thư ký, nghiệp vụ sư phạm, nghiệp vụ báo chí… để có thể
“đỡ đần” trước mắt lúc ra trường.
Cũng có nhiều sinh viên ra trường đã tìm được việc làm sau một vài
tháng đầu vật lộn nhưng hầu hết trong số họ không mấy ai được làm
công việc theo đúng chuyên nghành mình đã học mà hầu hết là xin
việc trái nghành, nghề. Như theo thống kê của Bộ GD&ĐT, tỷ lệ có
việc làm đúng chuyên ngành của sinh viên khối tự nhiên là khoảng
60%, còn các trường thuộc khối xã hội thấp hơn nhiều. Một nghiên
cứu gần đây cho thấy cứ 100 sinh viên khối xã hội mới tốt nghiệp ra
trường chỉ có khoảng 10 người tìm được cơng việc đúng chun mơn.
Số cịn lại làm những cơng việc khác để lo cho cuộc sống và chờ cơ
hội. Để xin được những công việc khác này, sinh viên phải học thêm
nhiều kiến thức có thể khác rất xa chun mơn đã học.

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

14



Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
Thất nghiệp là vấn đề phổ biến đối với hầu hết các quốc gia, kể cả những
nước phát triển. Làm rõ tỷ lệ thất nghiệp sẽ đánh giá chính xác mức sống
và tình hình ổn định kinh tế, chính trị, xã hội... tại quốc gia đó. Trong
thời gian chờ đợi số liệu điều tra từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội về tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam, chúng ta thử đi tìm một vài nguyên
nhân của hiện tượng này.
Kỹ năng tìm việc: Thiếu và yếu
Có một nghịch lý là học sinh phổ thông phải rất vất vả mới có thể chen
chân vào giảng đường đại học với tỷ lệ chọi rất cao, kèm theo đó là vơ số
thứ tốn kém và hệ lụy khác. Thế nhưng khi tốt nghiệp ra trường, một bộ
phận không nhỏ lại gặp rất nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm. Nhà
nghiên cứu xã hội học, TS.Lưu Hồng Minh (Trưởng khoa Xã hội học Học viện Báo chí và Tuyên truyền), cho biết: “Hiện chưa có số liệu nào
điều tra đầy đủ về tình trạng thất nghiệp trong giới trí thức. Tuy nhiên,
một số nghiên cứu sơ bộ cho thấy, trong vòng 3 năm kể từ khi tốt nghiệp
ra trường, trên 20% cử nhân vẫn thất nghiệp hoặc chưa có việc làm ổn
định. Con số này tuy có chiều hướng giảm nhưng khơng ổn định và vẫn ở
mức cao, gấp đôi tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước, hiện tỷ lệ thất
nghiệp ở thành thị khoảng 7,2%, nông thôn là 10%, tổng số người chưa
có cơng ăn việc làm khoảng 3, 2 triệu người. Tất nhiên, con số 20% sẽ
giảm đáng kể nếu chúng ta kéo dài khung thời gian ra 5 năm hoặc dài
hơn nữa, tuy nhiên nó cũng phản ánh khá rõ những khó khăn trong tìm
kiếm việc làm của giới trẻ”.
Nguyễn Quỳnh Chi, quê Hà Nam, tốt nghiệp loại khá Trường ĐH Kinh tế
Quốc dân, cho biết: “Em ra trường đã hơn 3 năm, nhưng vẫn chưa có một
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

15



Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
việc làm ổn định. Những nơi có cơng việc hấp dẫn thì địi hỏi q cao về
kinh nghiệm, thâm niên cơng tác, bằng cấp... Nơi vừa sức thì lại bấp
bênh, khơng phù hợp với chun mơn, trình độ, hoặc đãi ngộ khơng xứng
đáng. Kiểu “thấp khơng ưa, cao chưa tới” là tình trạng khá phổ biến trong
giới sinh viên mới tốt nghiệp. Trường hợp của Trần Trung Anh là một ví
dụ. Mặc dù cuộc sống vật chất không đến nỗi vất vả do anh cộng tác viết
bài cho nhiều tờ báo, nhưng vẫn bị coi là kẻ thất nghiệp điển hình. Kể từ
khi tốt nghiệp Học viện Báo chí và Tuyên truyền tới nay đã hơn 3 năm,
anh vẫn chưa được một toà soạn nào ký hợp đồng lâu dài. Thất nghiệp
với Trung Anh chỉ đơn giản vì anh thích được làm phóng viên ở những tờ
báo lớn trong khi ở đó khơng cịn cơ hội, cịn những tờ báo nhỏ hơn, đánh
giá cao khả năng của anh thì Trung Anh lại không muốn làm việc lâu dài
TS. Lưu Hồng Minh nhận xét: “Tình trạng này ngồi ngun nhân xuất phát
từ yếu tố cá nhân của các bạn trẻ, những bất cập trong chương trình đào tạo
so với yêu cầu thực tế của cơng việc, cịn phải kể đến các em q thiếu kỹ
năng tìm việc, kỹ năng hoạch định mục tiêu cho mình một cách rõ ràng,
đánh giá đúng bản thân và lập ra lộ trình phù hợp để hồn thiện mình”.
Thất nghiệp dưới nhiều hình thức
Theo các nhà xã hội học, tình trạng thất nghiệp khơng chỉ được thể hiện dưới
dạng người trong độ tuổi lao động khơng có việc mà phải được nhìn nhận
dưới nhiều góc độ như: cơng việc không đúng với chuyên môn, một lúc làm
nhiều việc nhưng không chịu trách nhiệm cụ thể, làm việc đúng chuyên môn
nhưng không được bàn giao công việc cụ thể, đảm nhận những công việc
chưa xứng với khả năng và chuyên môn được đào tạo...

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3


16


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
Thực tế, tỷ lệ sinh viên Việt Nam ra trường làm đúng ngành nghề được đào
tạo tuy chưa có con số thống kê rõ ràng, nhưng nếu cứ nhìn vào các cơ quan,
doanh nghiệp có thể dễ dàng nhận thấy cơng việc mà họ đang làm khác xa
những điều học ở giảng đường. Trần Thuỳ Linh tốt nghiệp khoa Quản trị
Kinh doanh chun ngành kế tốn, cơ thi đỗ vào vị trí kế tốn ở một cơ
quan, thế nhưng khơng hiểu cơ cấu thế nào, cuối cùng Linh lại nhận nhiệm
vụ thủ kho!? Ngay lúc đó Linh đã muốn bỏ việc vì không phù hợp với
chuyên môn và đăng ký dự tuyển, nhưng suy đi tính lại cuối cùng Linh đành
chấp nhận nhiệm vụ mới.
ở thái cực khác, có trí thức, có trình độ, đủ điều kiện để đảm nhận u cầu
cơng việc nhưng vẫn ở tình trạng cơng việc khơng ổn định. Vũ Lan Hương
sau khi du học châu Âu về nước với tấm bằng loại giỏi, được nhiều nơi mời
chào nhưng chỉ nhận lời làm cho một vài dự án phi chính phủ. “Mình có cơ
hội lựa chọn, lại khơng phải chịu áp lực nặng kiếm tiền. Tại sao không dành
thời gian cho những cơ hội tốt hơn” - Hương tâm sự. Cịn anh Dương Ngọc
Tuyến từ bỏ cơng việc được trả lương trên 1.000 USD ở một ngân hàng cổ
phần để ở nhà trông con và học thêm, điều mà mới nghe ai cũng cho là
khơng bình thường, nhưng anh Tuyến có lý lẽ riêng: “Với tơi, học là biện
pháp mở rộng tầm nhìn chiến lược và tạo cơ hội đến với những cơng việc
mình u thích”. Những trường hợp thất nghiệp như chị Hương và anh
Tuyến có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng đều có điểm giống nhau, họ
tự nguyện nghỉ việc để chờ cơ hội tốt hơn. Thực sự, đó cũng là một cách thể
hiện khát vọng bản thân của mỗi cá nhân. Đương nhiên, những người đó
phải có cơ sở thật vững chắc về kinh tế và tự tin vào bản thân mình thì mới
“dám thất nghiệp” kiểu như vậy.


Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

17


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
ThS.Vũ Thùy Anh (Đại học Kinh tế Quốc dân) cho biết, thất nghiệp tự
nguyện, hay thất nghiệp công nghiệp là khái niệm cịn tương đối mới ở Việt
Nam, nhưng là điều thơng thường đối với các nước phát triển. Về một mặt
nào đó, có thể coi đây là tín hiệu vui cho thị trường lao động thời gian qua.
ThS.Thùy Anh nhấn mạnh: “Con số chính xác về tỷ lệ thất nghiệp tự nguyện
là tham số quan trọng trong việc hoạch định các chính sách vĩ mơ về lao
động và việc làm”. Hy vọng, đợt điều tra về tình hình thất nghiệp trong hai
tuần đầu tháng 7 sẽ cho chúng ta một bức tranh tồn cảnh và xác thực về
tình trạng cơng ăn việc làm trong giới trí thức nói riêng, trong dân cư nói
chung.
2. Các ngun nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp của sinh viên khi ra
trường:
một số những nguyên nhân chính:
Bị động khi tìm việc
Đây là một những trong lỗi thường mắc phải của sinh viên mới ra trường.
Thường thì họ sẽ dựa vào hoặc ỷ lại vào bố mẹ, tận dụng các mối quan hệ
của bố mẹ hoặc chờ đợi một cơng ty, cơ quan nào đó đến tìm mình.
Dựa dẫm vào mạng internet thái q
Khơng biết thiết lập mạng lưới quan hệ
Lý tưởng hóa cơng việc
Xem thường buổi phỏng vấn
Sinh viên khơng thực sự có khả năng.
Nhiều sinh viên thi vào một trường Đại học hay cao đẳng nào đó khơng phải
vì ham mê, u thích hay có năng khiếu mà chỉ vì thi đại lấy một trường để

đi học. Cũng có nhiều sinh viên có năng khiếu về chuyên nghành mình theo

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

18


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
học nhưng trong suốt mấy năm học đại học đã không chịu khó học hành, rèn
luyện kĩ năng, học hỏi kinh nghiệm nên khi ra trường không tránh khỏi việc
lúng túng khi tiếp cận với công việc. Trong khi xã hội ngày càng địi hỏi
người thực sự có khả năng làm việc hiệu quả, có chất lượng thì tất yếu
những người khơng có khả năng sẽ bị xã hội tự đào thải.
Sinh viên định hướng không rõ ràng.
Nguyên nhân thứ hai là do sinh viên định hướng nghề nghiệp không rõ ràng.
Nhiều người quản lý nhân sự ở các công ty nước ngoài nhận định: “Lao
động trẻ thiếu và yếu về ngoại ngữ cũng như sự tự tin trong giao tiếp. Quan
trọng hơn là họ chưa có định hướng nghề nghiệp rõ ràng. Đại đa số có tư
tưởng xin việc vì quyền lợi bản thân chứ chưa nghĩ nhiều về công việc, chưa
thật sự tâm huyết và sống chết vì nó…” Trong môi trường làm việc mà xu
thế cạnh tranh đang ngày càng phát triển, nếu khơng có định hướng nghề
nghiệp rõ ràng, làm sao có thể bảo đảm yếu tố gắn bó ở người lao động. Các
doanh nghiệp sẽ khơng tuyển bạn nếu khơng nhìn thấy ở bạn niềm say mê và
tâm huyết nghề nghiệp.
Sinh viên thiếu kĩ năng khi đi xin việc.
Ngồi vấn đề về bằng cấp và trình độ thì một trong những ngun nhân của
việc sinh viên khơng xin được việc làm là do sinh viên yếu kỹ năng, thiếu tự
tin và ứng xử vụng về đều dễ làm bạn trẻ mất điểm trước nhà tuyển dụng.
Không tự lượng sức mình, tham vọng quá cao cũng là những sai lầm mà ứng
viên trẻ thường mắc phải.

Nhiều người đứng đầu trong các công ty tuyển dụng việc làm vẫn tâm sự với
báo chí rằng phần nhiều các sinh viên khi đi phỏng vấn xin việc đều chưa
biết cách ứng xử, thiếu tự tin. Nhiều bạn trẻ chưa có kinh nghiệm nhưng khi
ứng tuyển lại hay đòi ở những vị trí cao so với khả năng hoặc đưa ra một
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

19


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
mức lương mà cơng ty khó có thể chấp nhận được. Điều này khiến ứng viên
mất khá nhiều điểm.
Nguyên nhân thứ hai là bộ hồ sơ không ấn tượng, không tạo cho nhà tuyển
dụng cảm giác muốn thử sức các bạn trẻ, xem khả năng làm thế nào? Có thật
sự có khả năng như trong bảng giới thiệu hay không? Về phần mình, nhiều
ứng viên tự nhận thấy sai lầm của họ là chưa quan tâm đúng mức đến bộ hồ
sơ. Sinh viên có thể tạo ấn tượng qua đơn xin việc, lý lịch hay ngay trong
buổi phỏng vấn bằng sự thông minh, năng động của mình.
Nguyên nhân cuối cùng là sinh viên khơng biết cách nói về mình. Một lợi
thế của sinh viên là họ ham học hỏi, có tinh thần cầu tiến và lĩnh hội nhanh
công việc được giao. Sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm cũng là
những yếu tố mà doanh nghiệp hiện nay đang rất cần trong q trình cạnh
tranh và hội nhập. Ngồi ra, yếu tố sức khỏe, chấp nhận đi xa cũng như dễ
hòa nhập đã trở thành điểm mạnh nổi trội ở những người trẻ tuổi. Vì vậy,
sinh viên nên tận dụng và phát huy tối đa những thế mạnh của mình để nâng
cao vị thế cạnh tranh trong tìm việc.
Đào tạo nhiều hơn nhu cầu.
Hiện nay có rất nhiều nghành nghề trong các trường Cao đẳng – Đại học
được tuyển sinh và đào tạo ồ ạt, chỉ tiêu đào tạo vượt quá chỉ tiêu tuyển
dụng. Mà tiêu biểu cho thực trạng ấy là nghành sư phạm. Hơn 10 năm trước,

khi Nhà nước bắt đầu áp dụng chế độ miễn giảm học phí với sinh viên ngành
sư phạm thì người người thi nhau học ngành này. Nhiều tỉnh cũng mở ra
trường Đại học sư phạm thu hút rất nhiều các thí sinh trong tỉnh. Phải chăng
đây là nguyên nhân dẫn đến ngành giáo dục “bội thực” nhân lực “ảo”, dẫn
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

20


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
đến “khủng hoảng” thừa như hiện nay? Và cái hiện tượng nhiều sinh viên
cầm được tấm bằng “đỏ” mà vẫn bị loại trong các đợt xét tuyển ngạch công
chức là điều dễ hiểu. Bởi chỉ tiêu xét tuyển chỉ đếm trên đầu ngón tay, cịn
hồ sơ dự tuyển cao gấp chục lần. Các sinh viên sư phạm ra trường để kiếm
được một chân dạy hợp đồng lương ba cọc ba đồng, không đủ chi tiêu cũng
đã phải chạy vạy vất vả chưa nói gì đến thi vào biên chế. Tình trạng này diễn
ra lỗi không chỉ ở nghành đào tạo mà cả các thí sinh khi đổ vào học sư
phạm.
Trước tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp rất nhiều mà nguyên nhân
chính vẫn là từ phía sinh viên, chính vì vậy để đối phó với tình hình này sinh
viên cũng cần phải tham gia các lớp kỹ năng tìm việc, các hoạt động xã hội,
buổi nói chuyện chuyên đề để có thể giao tiếp tự tin và làm hồ sơ chuyên
nghiệp hơn. Để có được việc làm như ý, lao động trẻ còn phải học hỏi và bổ
sung thật nhiều những kiến thức, kỹ năng và các tố chất cần thiết khác như
học thêm vi tính, tiếp cận với cơng nghệ thông tin trong thời đại công nghệ
phát triển, học thêm ngoại ngữ hướng tới mục đích có thể thực hành giao
tiếp tốt, phát âm chuẩn, dùng ngoại ngữ để thuyết trình được các vấn đề
chun mơn. Chỉ có như vậy mới mong kiếm được một công việc ổn định và
phù hợp với chuyên nghành mình được đào tạo


Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

21


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật

Chương 4
Biện pháp để giải quyết vấn đề thất nghiệp

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

22


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
của sinh viên và Một số ý kiến đóng góp
1.Biện pháp để giẩi quyết vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi ra
trường
-Hoàn thiện thể chế thị trường lao động theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước và quốc tế
cho đầu tư phát triển
-Tăng cường sự hỗ trợ của Nhà nước trong giải quyết việc làm và phát
triển thị trường lao động
-Nâng cao chất lượng nguồn lao động cả về trình độ học vấn và trình độ
chun mơn kỹ thuật, kỹ năng tay nghề; thực hiện liên thông giữa các cấp
trình độ; giáo dục - đào tạo theo định hướng gắn với cầu lao động
-Đa dạng hóa các "kênh" giao dịch trên thị trường lao động; tổ chức
thường xuyên, định kỳ các sàn giao dịch việc làm để có thể kết nối hoạt
động giao dịch trên phạm vi toàn quốc

-Nâng cao hiểu biết về pháp luật, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp và
nâng cao thể lực đảm bảo cung cấp đội ngũ lao động có chất lượng cả về
thể lực và trí lực, đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp
2.Một số ý kiến đóng góp
-Hãy chủ động tìm việc. Trong thời đại cơng nghệ số và phát triển như
hiện nay thì các cơng ty, cơ quan và doanh nghiệp ln đề cao tính năng
động, cạnh tranh lành mạnh của các ứng viên.
-Không nên phụ thuộc vào internet một cách thái quá
-Hãy tận dụng tối đa những mối quan hệ , đồng thời xây dựng, tạo thêm
những mối quan hệ mới, bạn sẽ có nhiều cơ hội việc làm hơn.
- Hãy cho nhà tuyển dụng biết những khả năng nổi trội của bạn so với
những ứng viên khác, bạn có thể mang lại lợi ích gì cho họ nếu như bạn
được tuyển dụng...
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

23


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
-Hãy chủ động tìm việc. Trong thời đại cơng nghệ số và phát triển như
hiện nay thì các cơng ty, cơ quan và doanh nghiệp ln đề cao tính năng
động, cạnh tranh lành mạnh của các ứng viên.
-Không nên phụ thuộc vào internet một cách thái quá
-Hãy tận dụng tối đa những mối quan hệ , đồng thời xây dựng, tạo thêm
những mối quan hệ mới, bạn sẽ có nhiều cơ hội việc làm hơn.
- Hãy cho nhà tuyển dụng biết những khả năng nổi trội của bạn so với
những ứng viên khác, bạn có thể mang lại lợi ích gì cho họ nếu như bạn
được tuyển dụng...

Chương 5: Kết luận

“Việc làm” vẫn là một trong những vấn đề nóng bỏng của xã hội nói
chung và sinh viên khi ra trường nói riêng. Trong thực tế xã hội “cầu

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

24


Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
lớn hơn cung”, “thừa thầy thiếu thợ” thì khơng biết bao nhiêu sinh
viên vác hồ sơ đi xin việc lại công cốc về khơng. Có rất nhiều ngun
nhân dân đến tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường.Vì
vậy để giải quyết vấn đề này cần sự quan tam của Đảng và nhà nước,
các doanh nghiệp để các bạn sinh viên có thể tìm được việc làm một
cách dễ dàng, đúng chuyên ngành của mình

Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3

25


×