Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

Một số phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh khi học môn tin học lớp 8

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (127.26 KB, 11 trang )

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật đã đưa xã hội
loài người chúng ta vào một kỹ nguyên mới là đỉnh cao của trí tuệ nhân loại-
kỹ nguyên của công nghệ thông tin.
Ra đời năm 1946, máy tính điện tử đầu tiên là một công trình nghiên
cứu lớn của loài người. Từ đó con người đã không ngừng sáng tạo nhằm
nâng cao kỹ thuật, tính năng và kiểu dáng máy tính ngày càng hoàn mỹ hơn,
phù hợp với nhu cầu sử dụng của con người hơn. Hiện nay công nghệ thông
tin đã được ứng dụng trong mọi lĩnh vực đời sống của con người như: từ các
ngành khoa học chính xác, khoa học cơ bản đến điều khiển tự động, thông
tin liên lạc,… đặt biệt tin học được dùng rất nhiều trong các công tác quản
lý, văn phòng và trao đổi thông tin… Nhờ những tính năng ưu việt đó mà
việc phát triển công nghệ thông tin đã trở thành một lĩnh vực mũi nhọn và
hàng đầu trong chính sách kinh tế ở các nước đã và đang phát triển. Chắc
hẳn các bạn cũng biết một trong những ứng dụng thiết thực nhất của công
nghệ thông tin hiện nay, tôi xin đơn cử đó là Internet. Ngày nay Internet đã
trở thành một dịch vụ gắn chặt với đời sống kinh tế xã hội, nó đã đem lại cho
chúng ta những rất nhiều tiện lợi: giúp chúng ta có thể liên lạc, nói chuyện
với nhau ở bất cứ đâu(EMAIL,…). Ngoài ra Internet còn là một kho tàng
thông tin khổng lồ, một kho tàng kiến thức nó rất giúp ích rất nhiều cho
công tác giáo dục của chúng ta. Việc truy cập, tìm kiềm, trao đổi thông tin
và tạo ra thông tin là việc thường xuyên đối vói cả giáo viên và học sinh.
Đặt biệt là diễn đàn trực tuyến trên Internet, nó cho phép chúng ta không
cùng một nơi, không ngồi một bàn nhưng vẫn có thể thảo luận chung một
vấn đề cùng một lúc.
Ở nước ta, một quốc gia đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước thì công nghệ thông tin là một thứ không thể thiếu được, nó đã giúp
ích chúng ta rất nhiều trong hầu hết các lĩnh vực. Nhưng vấn đề được đặt ra
lúc này là làm sao chúng ta có được một đội ngũ lao động bắt kịp các công
Trang
1


nghệ hiện đại. Nhận thức được tính cấp thiết đó nên tin học đã được đưa vào
giảng dạy chính thức trong nhà trường THCS trong cả nước.
Tính đến nay thì tin học cũng được giảng dạy chính thức trong nhà
trường THCS cho các khối lớp 6,7,8,9. Do đó các em học sinh cũng đã được
làm quen ít nhiều với bộ môn mới này, tuy nhiên giáo viên cũng gặp không
ít khó khăn trong việc giảng dạy. Điều làm tôi quan tâm nhất đó là phần "Tin
học dành cho THCS quyển 3", trong phần này học sinh sẽ được là quen với
bước đầu của lập trình đó là lập trình cơ bản. Mục tiêu học lập trình là nâng
cao khả năng tư duy, chiềm lĩnh được những tri thức mới của từng học sinh.
Vì vậy trong công tác giảng dạy giáo viên cần áp dụng và phối hợp những
phương pháp làm sao cho việc dạy và học được thực hiện trong hoạt động và
bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. Tôi
đơn cử như: Khi cần dạy một nội dung tin học cho học sinh người giáo viên
cần biết phân tích nội dung đó liên quan đến những hoạt động nào; Và một
số những hoạt động đó lại được phân tích thành những hoạt động thành
phần; Rồi căn cứ vào mục tiêu tiết học, trình độ học sinh, trang thiết bị hiện
có mà lựa chọn cho học sinh luyện tập và thực hiện một số những hoạt động
tiềm tàng trong nội dung tiết dạy…Từ đó học sinh sẽ có thể chiếm lĩnh được
tri thức mới. Chính vì những thách thức trong việc lựa chọn các phương
pháp để giảng dạy cho chương trình và trãi qua một thời gian dài nghiên cứu
nên tôi đã chọn đề tài: "Một số phương pháp nhằm phát huy tính tích cực
của học sinh khi học môn tin học lớp 8". Kính mong quý thầy(cô) góp ý
nhiệt tình để đề tài đạt hiệu quả thiết thực.
II- THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ
TÀI
1.Thuận lợi
- Được nhiều sự quan tâm giúp đỡ của nhà trường: Cơ sở vật chất đầy
đủ, phòng máy được trang bị hiện đại…
- Học sinh rất hứng thú, tò mò trong việc thử thách khả năng tư duy của
mình.

Trang
2
- Giáo viên giảng dạy được đào tạo chính quy, đủ năng lực và trình độ.
2. Khó khăn
- Lý thuyết khó hiểu, khó nhớ.
- Khả năng tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh chưa cao.
- Phòng máy chưa dủ để giáo viên có thể thực hiện tất cả các tiết dạy có
đầy đủ máy tính.
- Do là môn mới nên tài liệu tham khảo chưa phổ biến và đa dạng.
- Đa số học sinh xuất thân từ nông dân nên chưa có thời gian và điều
kiện tốt.
- Đa số học sinh thích học theo xu thế chứ chưa thật sự quan tâm tới tác
dụng của tin học trong đời sống.
3. Số liệu thống kê
Để nghiên cứu nắm bắt tình hình, thực trạng học tập của học sinh, tôi đã đưa ra
một số câu hỏi cho học sinh khối 8 và thống kê được như sau:
- 100% Học sinh cảm thấy tư duy phát triển hơn khi học lập trình.
- 90% Trong số đó cho rằng nếu tự giác sáng tạo sẽ tiếp thu và nhớ bài nhanh hơn.
- Hầu hết học sinh học chưa tốt toán, ngoại ngữ đều cho rằng lập trình khó.
III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
* Tôi đã dựa trên một số cơ sở lý luận sau:
- Dựa vào kiến thức mà tôi đã tiếp thu được từ môn: "Đại cương phương pháp
giảng dạy tin học".
- Dựa vào kinh nghiệm mà tôi đã được học ở các thầy cô và các đồng nghiệp
trong trường.
- Sau mổi lần rút kinh nghiệm, học hỏi dược khi dự giờ các đồng nghiệp trong
tổ.
- Theo nghị quyết TW2 khóa 8 khẳng định phải đổi mới phương pháp giáo dục,
nâng cao chất lượng đào tạo cho học sinh khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn

luyện nếp tự sáng tạo của học sinh. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến,
phương pháp hiện đại để nâng cao chất lượng trong qua trình dạy học.
Trang
3
Hiện nay, chương trình tin học quyển 3 được đưa vào giảng dạy trong
trường THCS dành cho khối lớp 8. Như chúng ta đã biết, đây là chương trình mới
của Bộ GD&ĐT nên sách tham khảo còn chưa phổ biến và có nhiều hạn chế, phân
phối chương trình chưa chính thức Vậy là giáo viên chúng ta cần giảng day như
thế nào? Học sinh cần có thái độ học tập ra sao? Để cho đạt kết qua giáo dục.
Chính vì những yêu cầu cấp thiết đó mà tôi đã lựa chọn đề tài: " Một số phương
pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh khi học môn tin học lớp 8". Với
mục đích thông qua đề tài có thể giúp chúng ta là những giáo viên dạy tin học nói
chung và lập trình nói riêng có một cách nhìn đúng đắn hơn.
2. Nội dung biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài.
Theo tôi, điều căn bản của phương pháp dạy học là khai thác những hoạt động
tiềm tàng trong mỗi nội dung làm cơ sở cho việc tổ chức quá trình dạy học đạt
được mục tiêu đặt ra.
Từ đinh hướng trong hoạt động và bằng hoạt động, phân tích các thành phần
của hoạt động về mặt lý luận và thực tiển, ta rút ra được những thành tố của
phương pháp dạy học.
Quá trình dạy học là một quá trình điều khiển hoạt động và giao lưu của học
sinh nhằm đạt được những mục tiêu dạy học. Đây là một quá trình điều khiển con
người chứ không phải điều khiển máy móc, vì vậy cần quan tâm đến cả những yếu
tố tâm lý, chẳng hạn học sinh có sẵn sàng, có hứng thú để thực hiện hoạt động này
hay hoạt động khác hay không.
Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ với những hoạt động nhât định mà ta có thể
khai thác để tổ chức quá trình dạy học một cách có hiệu quả. Việc phân tách hoạt
động thành những hoạt động thành phần giúp cho học sinh tiến hành những hoạt
động với độ phức hợp vừa sức.
Hoạt động thúc đẩy sự phát triển là hoạt động mà chủ thể thực hiện một cách tự

giác và tích cực. vì vậy cần cố gắng gợi động cơ để học sinh ý thức rõ vì sao thực
hiện hoạt động này hay hoạt động khác.
Trang
4
Việc thực hiện hoạt động nhiều khi đòi hỏi những tri thức nhất định, đặt biệt là
những tri thức phương pháp. Những tri thức như thế có thể là kết quả của một quá
trình hoạt động.
Trong hoạt động, kết quả đạt được ở mức độ nào đó có thể lại là tiền đề để tập
luyện đạt kết quả cao hơn. Do đó cần phải phân bậc hoạt động theo những mức độ
khác nhau làm cơ sở cho việc chỉ đạo quá trình dạy học.
Như vậy, theo tôi nghĩ các quan điểm hoạt động trong phương pháp dạy học có
thể được thể hiện ở các tư tưởng chủ đạo sau:
- Cho học sinh thực hiện và luyện tập những hoạt động và hoạt động thành
phần tương thích với nội dung và mục tiêu dạy học.
- Gợi động cơ cho các hoạt động học tập.
- Dẫn dắt học sinh kiến tạo tri thức, đặt biệt là tri thức phương pháp như
phương tiện và kết quả của hoạt động.
- Phân bậc hoạt động làm căn cứ điều khiển quá trình dạy học.
Những tư tưởng chủ đạo trên cũng thể hiện tính toàn diện của mục tiêu dạy học.
việc kiến tạo một tri thức, rèn luyện một kỹ năng, hình thanh một thái độ cũng là
giúp học sinh hoạt động trong học tập cũng như trong đời sống. Như vậy, những
mục tiêu thành phần được thống nhất trong hoạt động, điều này thể hiện mối quan
hệ hữu cơ giữa chúng với nhau. Tri thức, kỹ năng, thái độ một mặt là điều kiện và
mặt khác là đối tượng biến động hoạt động. Hướng vào hoạt động theo các tư
tưởng chủ đạo trên không hề làm phiến diện mục tiêu dạy học, mà trai lại còn đảm
bảo tính toàn diện của mục tiêu đó.
a. Hoạt động và hoạt động thành phần:
Cho học sinh thực hiện và luyện tập những hoạt động và hoạt động thành
phần tương thích với nội dung và mục tiêu dạy học. Tư tưởng này được cụ thể hóa
như sau:

a1. Phát hiện những hoạt động tương thích với nội dung:
Một hoạt động được gọi là tương thích với nội dung dạy học nếu nó có tác
động góp phần cũng cố hoặc kiến tạo, ứng dụng những tri tức được bao hàm trong
nội dung đó hoặc rèn luyện những kỹ năng, hình thành thai độ có liên quan. Với
Trang
5
mỗi nội dung bài học ta cần phát hiện ra các hoạt động tương thích với nội dung
này.
Ví dụ: Dạy các phép toán với dữ liệu kiểu số, ta có thể phát hiện những
hoạt động tương thích như:
- Cho học sinh nêu lên các phép toán mà em dã học theo chương trình phổ
thông. từ các phép toán đó ta nói các phép toán trên kiểu số cũng tương tự như vậy.
- Cho học sinh nhận xét sự khác biệt giữa phép toán trong lập trình và phép toán
thường.
- Cho học sinh tiến hành chia hai số đơn giản có lẻ, nhằm giải thích hai lệnh
chia lấy phần nguyên, chia lấy phần dư.
a2. Phân tách hoạt động thành những thành phần:
Trong quá trình hoạt động, nhiều khi hoạt động này có thể xuất hiện như
một thành phần của hoạt động khác. Phân tách được một hoạt động thành những
hoạt động thành phần là biết được cách tiến hành toàn bộ hoạt động, nhờ đó vừa
tiến hành luyện tập hoạt đôngj toàn bộ và chú ý thực hiện riêng những hoạt động
thành phần khó hoặc cần chú ý.
Ví dụ: Khi chạy câu lệnh
FOR biến_điều_khiển := giá_trị_đầu TO giá_tri_cuối DO câu_lệnh
Giáo viên yêu cầu học sinh tách câu lệnh này thành những câu lệnh thành phần
theo thứ tự như sau:
- B1: Kiểm tra điều kiện nếu giá_trị_đầu > giá_tri_cuối thì kết thúc lệnh.
- B2: Gán biến_điều_khiển := giá_trị_đầu.
- B3: Thực hiện câu_lệnh.
- B4: Kiểm tra điều kiện thoát nếu biến_điều_khiển = giá_tri_cuối thì kết thúc

lệnh.
- B5: Tăng giá trị của biến điều khiển lên 1. Quay lên bước 3.
Sau khi phân tích được như trên học sinh sẽ nắm rõ hơn về quá trình thực hiện
câu lệnh. Tránh sai sót khi viết chương trình.
b. Gợi động cơ hoạt động cho học sinh
Trang
6
Việc học tập tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo dòi hỏi học sinh phải ý
thức về những mục tiêu đặt ra và tạo được động lực bên trong thúc đẩy bản thân họ
hoạt động để đạt mục tiêu đó. Điêu này được thực hiện trong dạy học không phải
đơn giản bằng việc nêu mục tiêu mà quan trong hơn còn do gợi động cơ.
Gợi động cơ phải xuyên suốt quá trình dạy học, có các gợi động cơ sau:
- Gợi động cơ mở đầu.
- Gợi động cơ trung gian.
- Gợi động cơ kết thúc.
Ví dụ: Gợi động cơ theo các cách:
- Lật ngược vấn đề:
Đổi Kí tự thường ra hoa CHR(ORD('Kí_tự')+32)
Sau khi đưa công thức ra, yêu cầu học sinh đổi ngược lại từ hoa ra thường.
- Xét tương tự:
Hướng dẫn học sinh giải bài: S= 1+2+3+ +n
Sau đó cho học sinh giải bài tương tự: S=1/2+1/4+ +1/2n
c. Tri thức trong hoạt động
Tri Thức vừa là điều kiện, vừa là kết quả của hoạt động. Vì vậy trong dạy học
chúng ta cần quan tâm cả tri thức cần thiết lần tri thức đạt được trong quá trình
hoạt động.
Ví dụ: Muốn viết chương trình sắp xếp 1 mảng đòi hỏi ta cần có các kiến
thức sau:
- Cách tổ chức mảng.
- Cách truy xuất đến các phần tử trong mảng.

- Cách hoán đổi giá trị giữa hai biến.
- Các thuật giải sắp xếp.
* Những tri thức phương pháp thường gặp là:
- Thực hiện những hoạt động tương ứng với những nội dung tin học như dặt tên
các đối tượng trong chương trình, khai báo phần tiêu đề của chương trình con
- Phương pháp thực hiện những hoạt động tin học phức hợp, xây dựng những
thuật giải, kiểm thử chương trình
Trang
7
- Phương pháp thực hiện những hoạt động trí tuệ chung như: khái quát hóa, trừu
tượng hóa, so sánh
- Phương pháp thực hiện những ngôn ngữ logic, phát biểu bằng lời sự giống
nhâu và khác nhau giữa các câu lệnh lặp
Ví dụ: Giải bài toán sau bằng nhiều phương pháp:
S= 1+2+3+ +n
- Sử dụng vòng lặp.
- Sử dụng đệ qui.
- Sử dụng công thức tổng quát.
d. Phân bậc hoạt động: là một căn cứ cho việc điều khiển quá trình dạy học
d1. Những căn cứ để phân bậc hoạt động:
- Sự phức tạp của đối tương: Đối tượng càng phức tạp thì hoạt động càng khó
thực hiện. Vì vậy ta có thể dựa vào đó để phân bậc hoạt động.
Ví dụ: Khi học câu lệnh rẽ nhánh IF có thể phân bậc bằng sự phức tạp của biến
như:
+ HĐ1: Viết chương trình nhập hai số nguyên a,b và xuất ra theo thứ tự tăng
dần.
+ HĐ2: Viết chương trình nhập ba số nguyên a,b,c và xuất ra theo thứ tự tăng
dần.
d2. Sự trừu tượng khái quát của đối tương: Hoạt động càng trừu tượng, khái
quát có nghĩa là yêu cầu hoạt động càng cao. Vì vậy ta có thể dựa vào đó để phân

bậc hoạt động.
Ví dụ: Viết chương trình nhập vào ba số nguyên a,b,c kiểm tra xem chúng có là
ba cạnh của một tam giác hay không? Sau đó sắp theo thứ tự tăng dần.
+ HĐ1: Nhập ba số a,b,c.
+ HĐ2: Kiểm tra điều kiện để có thể là cạnh của một tam giác.
+ HĐ3: Sắp xếp tăng dần.
d3. Nội dung của hoạt động : Nội dung của hoạt động càng gia tăng thì hoạt
động càng khó hơn, nên nội dung cũng là một căn cứ phân bậc hoạt động.
Trang
8
Ví dụ: Sau khi cho học sinh thực hiện viết chương trình nhập vào một dãy số
nguyên từ bàn phím.
+ Kiểm tra xem trong dãy có bao nhiêu số hoàn thiện.
+ Tìm max dãy số đó.
d4. Sự phức hợp của hoạt động: mỗi hoạt động phức hợp gồm nhiều hoạt
động thành phần, gia tang nhũng thành phần này cũng là nâng cao yêu cầu đối vói
hoạt động.
Ví dụ: Cho một dãy số nguyên, theo nội dung của hoạt động phân làm hai mức
độ như sau:
+ Đếm xem trong dãy có bao nhiêu số nguyên tố.
+ Xóa các phần tử không phải là số nguyên tố trong dãy.
d5. Chất lượng của hoạt động: Thường là tính độc lập, độ thành thạo, cũng có
thể lấy làm căn cứ để phân bậc hoạt động.
Ví dụ: Khi tiến hành dạy một khái niệm(chương trình). mới, phân bậc hoạt
động theo ba mức độ như sau:
+ Cho ví dụ để học sinh hiểu khái niệm(chương trình).
+ Giáo viên giảng, gợi ý học sinh trình bày lại khái niệm(chương trình).
+ Học sinh độc lập xây dựng khái niệm (chương trình).
d6. Phối hợp nhiều phương diện để phân bậc hoạt động
Sự phân bậc hoạt động trên mỗi ví dụ trên chỉ căn cứ vào một phương diện

tách biệt. Đương nhiên ta cũng có thể xét nhiều phương diện để làm căn cứ phân
bậc hoạt động.
Trên đây, là một số tư tưởng chủ đạo hình thành nội dung của đề tài nhằm
mục đích nâng cao phương pháp giảng dạy tin 8 trong trường THCS. Kèm theo là
những ví dụ minh họa chi tiết cho các cách thức tôi đã dùng để áp dụng vào bài
day. Ngoài ra sau mỗi tiết bài tập, hay giờ thực hành chúng ta nên kết hợp trực
quan và thực hành trực tiếp với máy tính thì kết quả giáo dục sẽ thành công hơn.
Kính mong được sự góp ý tận tình của quý thầy cô.
IV. KẾT QUẢ
Trang
9
Qua một thời gian nghiên cứu và áp dụng phương pháp này tôi đã rút ra
được một số nhận xét sau:
- Khả năng tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh ngày càng phát huy
tốt hơn.
- Học sinh có hứng thú học tâp nên nhớ bài lâu hơn. Nhờ cách gợi động cơ cho học
sinh giúp các em tự giác hơn trong học tập.
- Quá trình phân bậc hoạt động giúp cho các em từng bước tiếp nhận được tri thức,
hiểu bài sâu và kỹ.
- Bên cạnh đó vần còn những học sinh lơ là học tập, đến lớp con chưa tập trung
nghe giảng nên vẫn chưa tiến bộ đươc.
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
Việc áp dụng các phương pháp và đổi mới nội dung minh họa là rất qua
trọng trong quá trình dạy học. Biết cách áp dụng các phương pháp tích cực để gợi
mở cho học sinh suy nghĩ, sáng tạo trong cách học tập. Qua đó giúp học sinh học
tập tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh trí thức trở thành chủ thể trong quá trình học.
Việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy môn tin học
mang lại kết quả tương đối tốt cho giáo viên và học sinh, giáo viên được trang bị
tốt hơn về mặt phương pháp, giáo viên tự tin hơn trước giờ lên lớp còn học sinh thì
được phát huy tính tích cực vốn có của mình.

Đề tài này có thể áp dụng cho nhiều bài trong môn tin học ở trường THCS.
VI. KẾT LUẬN
Mỗi phương pháp đề có những mặt mạnh và những hạn chế riêng, không có
một phương pháp nào là tron vẹn cả. Vì vậy là người giáo viên ta cần linh động,
phối hợp nhiều phương pháp. Tùy theo từng đối tượng học sinh mà chúng ta phối
hợp những phương pháp giáo dục khác nhau sao cho đạt hiệu quả cao nhất.
Trên dây là một số ý kiến riêng của tôi trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu
sách vở, báo chí dự giờ thăm lớp và học hỏi kinh nghiệm mà tôi rút ra được. Hy
vọng nhà trường và các ban ngành liên quan hết sức giúp đỡ và hỗ trợ chúng tôi về
Trang
10
các mặt như phòng máy, trang thiết bị, phần mềm dạy học phù hợp… Mong quý
thầy cô nhiệt tình đóng góp xây dựng để có thể đề ra được biện pháp tối ưu nhất.
Vĩnh Tân, ngày 20/09/2011
Người thực hiện
Trần Thanh Long
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Sách nghiên cứu khoa học giáo dục–nhà xuất bản giáo dục 1999.
- Sách tâm lí lứa tuổi.
- Sách giáo khoa tin học dành cho THCS quyển 3.
- Sách tin học dành cho giáo viên.
- Sách bài tập dành cho THCS quyển 3.
PHỤ LỤC
I. Lí do chọn đề tài Trang 1
II.Thực trạng trước khi thực hiện các giải pháp của đề tài 2
III. Nội dung đề tài 3
IV. Kết quả 9
V. Bài học kinh nghiệm 10
VI. Kết luận 10
VII. Tài liệu tham khảo 11

Trang
11

×