Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN THCS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (244.54 KB, 28 trang )

BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
PHÒNG GD&ĐT THANH CHƯƠNG
TRƯỜNG THCS THANH MỸ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN THCS
NĂM HỌC 2014-2015
Họ và tên giáo viên: Nguyễn Văn Tú
Sinh ngày: 20/1/1983
Tổ chuyên môn: Tự nhiên
Năm vào ngành giáo dục: 2004
Nhiệm vụ được giao trong năm học: BTCĐ-Giảng dạy Toán 7-BDHSG Toán 7
PHẦN I: CÁC CĂN CỨ HOÀN THÀNH BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG
THƯỜNG XUYÊN
- Căn cứ thông tư số 31/2011/TT-BGDĐT ngày 08 tháng 08 năm 2011 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành chương trình bồi dưỡng thường
xuyên giáo viên trung học cơ sở.
- Căn cứ thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 07 năm 2012 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên
giáo viên mầm non, trung học cơ sở, phổ thông và giáo dục thường xuyên
- Căn cứ kế hoạch của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An về việc Bồi dưỡng
thường xuyên giáo viên mầm non, trung học cơ sở, phổ thông và giáo dục thường
xuyên năm học 2014 - 2015.
- Căn cứ kế hoạch của Phòng Giáo dục và Đào tạo Thanh Chương về việc bồi
dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, trung học cơ sở, phổ thông và giáo dục
thường xuyên năm học 2014 - 2015.
- Căn cứ kế hoạch của Trường THCS Thanh Mỹ về việc bồi dưỡng thường
xuyên giáo viên năm học 2014 - 2015.
- Căn cứ kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của bản thân năm học 2014-2015,
tôi xin báo cáo kết quả bồi dưỡng thường xuyên như sau:


Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 1
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
PHẦN 2: NỘI DUNG CÁC MODUL(19,20,25,31)
MODUN 19:
DẠY HỌC VỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
I.ĐẶT VẤN ĐỀ
Vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạy học đã được chứng
minh bằng thực tiễn giáo dục trong và ngoài nước những năm qua, nó cho thấy việc ứng
dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong giảng dạy và học tập là xu thế tất yếu của giáo
dục. Đổi mới phương pháp dạy học bằng CNTT là một chủ đề lớn được UNESCO đưa ra
thành chương trình của thế kỷ XXI và dự đoán sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách
căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT. Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu rõ: “Đối với giáo dục và đào tạo,
công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy
và học. Công nghệ thông tin là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập”.
Trong những năm gần đây, ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp
dạy học và quản lý giáo dục không còn là vấn đề mới mẻ. Chúng ta đều thấy rõ và khẳng
định công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ công tác giảng dạy,
quản lý học sinh. Nhiều đơn vị trường học cũng đã triển khai ứng dụng thành công các
chương trình phần mềm phục vụ giáo viên và học sinh như quản lý điểm, đồ dùng dạy
học, thư viện, các phần mềm ứng dụng cho dạy học các bộ môn, Tuy nhiên làm thế nào
để việc ứng dụng công nghệ thông tin đạt hiệu quả cao đang là vấn đề được ngành giáo
dục quan tâm.
Ngày 2 tháng 8 năm 2012. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có công văn số 4987/BGDĐT-
CNTT về hướng dẫn việc triển khai nhiệm vụ công nghệ thông tin (CNTT) cho năm học
2012- 2013 bao gồm 15 nhiệm vụ trong đó nhiệm vụ thứ 6 là “ Ứng dụng CNTT trong
đổi mới phương pháp dạy và học” trong đó có nội dung là: “Đẩy mạnh việc ứng dụng
CNTT trong trường phổ thông nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng giáo
viên tự tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì học trong môn tin học. Giáo viên các bộ
môn chủ động tự soạn và tự chọn tài liệu và phần mềm (mã nguồn mở) để giảng dạy ứng

dụng CNTT” (Theo Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng Chính
phủ).
Ngày 7-9-2012 Sở Giáo dục và đào tạo TP Hồ Chí Minh đã khẳng định trong văn bản số
2421 /GDĐT-TTTT về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2012 – 2013: ứng
dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT - ICT) trong giáo dục là một xu
hướng tất yếu nhằm nâng cao năng lực quản lý và nâng cao hiệu quả công tác dạy - học.
Đối với thành phố Hồ Chí Minh, đẩy mạnh ứng dụng CNTT&TT nhằm:
- Nâng cao hiệu quả học tập: Đổi mới phương pháp học với sự hỗ trợ của CNTT.
- Nâng cao hiệu quả giảng dạy: Hiệu quả thực chất.
- Nâng cao hiệu quả quản lý: Quản lý khoa học, chính xác, tiết kiệm thời gian.
- Nâng cao hiệu quả lãnh đạo : Lãnh đạo chuyển hóa.
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 2
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
- Nâng cao hiệu quả thông tin: Tạo niềm tin ở cơ sở và xã hội.
Công nghệ thông tin là nguồn lực để nâng cao hiệu quả lãnh đạo, dạy - học và thông tin.
Ứng dụng CNTT là áp dụng những thành tựu tiên tiến nhất để từng bước giảm khó
khăn, kém hiệu quả; nâng dần năng suất và chất lượng.
II.NỘI DUNG

1. Các khái niệm cơ bản
1.1. Thông tin
Thông tin là một khái niệm trừu tượng mô tả các yếu tố đem lại hiểu biết, nhận thức cho
con người cũng như các sinh vật khác. Thông tin tồn tại khách quan, có thể được tạo ra,
truyền đi, lưu trữ, chọn lọc. Thông tin cũng có thể bị sai lạc, méo mó do nhiều nguyên
nhân khác nhau: bị xuyên tạc, cắt xén… Những yếu tố gây sự sai lệch thông tin gọi là các
yếu tố nhiễu.
Thông tin có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, xuất phát từ nhiều nguồn khác
nhau. Người ta có thể định lượng tin tức bằng cách đo độ bất định của hành vi, trạng thái.
Xác suất xuất hiện một tin càng thấp thì độ bất ngờ càng lớn do đó lượng tin càng cao.
Chất lượng của thông tin thường được đánh giá dựa trên các phương diện chủ yếu sau:

+ Tính cần thiết
+ Tính chính xác
+ Độ tin cậy
+ Tính thời sự
Khi tiếp nhận được thông tin, con người thường phải xử lý nó để tạo ra những thông tin
mới, có ích hơn, từ đó có những phản ứng nhất định. Trong lĩnh vực quản lý, các thông
tin mới là các quyết định quản lý.
Với quan niệm của công nghệ thông tin, thông tin là những tín hiệu, ký hiệu mang lại
hiểu biết, nhận thức của con người. Các tín hiệu thể hiện thông tin vô cùng đa dạng: âm
thanh, hình ảnh, cử chỉ hành động, chữ viết, các tín hiệu điện từ…. Thông tin được ghi lại
trên nhiều phương tiện khác nhau như giấy, da, đá, bảng tin, băng hình, băng ghi âm, đĩa
từ, đĩa quang… Trong công nghệ thông tin, thông tin thường được ghi lên đĩa từ, đĩa
quang, chíp điện tử (là tổ hợp các linh kiện điện tử)… Thông tin muốn được xử lý trên
máy tính phải được mã hoá theo những cách thức thống nhất để máy tính có thể đọc và
xử lý được. Sau khi xử lý, thông tin được giải mã trở thành các tín hiệu mà con người có
thể nhận thức được.
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 3
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
1.2. Công nghệ thông tin và truyền thông
Công nghệ thông tin, viết tắt là CNTT (Information Technology - viết tắt là IT) là một
ngành ứng dụng công nghệ vào quản lý xã hội, xử lý thông tin. Có thể hiểu CNTT là
ngành sử dụng máy tính và các phương tiện truyền thông để thu tập, truyền tải, lưu trữ,
bảo vệ, xử lý, truyền thông tin. Hiện nay, có nhiều cách hiểu về CNTT. Ở Việt Nam, khái
niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về
phát triển CNTT của Chính phủ Việt Nam như sau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các
phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ
thuật máy tính và viễn thông – nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn
tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con
người và xã hội”.
Truyền thông là sự luân chuyển thông tin và hiểu biết từ người này sang người khác

bằng các ký hiệu, tín hiệu có ý nghĩa thông qua các kênh truyền tin.
Công nghệ thông tin và truyền thông có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển xã hội nói
chung và giáo dục nói riêng. Công nghệ thông tin và truyền thông đã và đang tạo ra một
cuộc cách mạng thực sự trong kinh tế xã hội nói chung và giáo dục nói riêng.

2.Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học
2.1. Vai trò đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
CNTT có vai trong quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước
- Công nghệ thông tin và truyền thông làm cho kho tri thức của nhân loại giàu lên nhanh
chóng, con người tiếp cận với lượng tri thức đó nhanh hơn, dễ hơn, có tính chọn lọc hơn.
Điều đó đẩy mạnh sự phát triển của các ngành khoa học, công nghệ hiện đại.
- Công nghệ thông tin làm cho những phát mình, phát hiện được phổ biến nhanh hơn,
được ứng dụng nhanh hơn, tạo điều kiện thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
- Công nghệ thông tin làm cho năng suất lao động tăng lên do có điều kiện thuận lợi để kế
thừa và cải tiến một số công nghệ sẵn có hoặc nghiên cứu phát minh công nghệ mới.
- Công nghệ thông tin tạo ra tính hiện đại, chặt chẽ, kịp thời trong quản lý, làm cho hiệu
quả quản lý cao hơn, góp phần giảm những khâu trung gian trong quá trình quản lý kém
hiệu quả.
Xác định rõ vai trò quan trọng của CNTT đối với sự phát triển của đất nước, Đảng và
Nhà nước đã chú trọng đến việc thúc đẩy ứng dụng Công nghệ thông tin với nhiều chủ
trương, chỉ thị, văn bản, nghị quyết phù hợp với tình hình đất nước trong từng giai
đoạn.Đặc biệt là chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 17 tháng 10 năm 2000 về đẩy mạnh ứng
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 4
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chỉ thị đã nêu rõ “Công nghệ thông tin là một trong các công cụ và động lực quan trọng
nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu
sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại. Ứng dụng và phát triển công

nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh
thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các
ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả
cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của
nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
2.2. Vai trò đối với phát triển kinh tế, xã hội
Công nghệ thông tin và truyền thông đã phát triển một cách nhanh chóng, đã có những
tác động hết sức to lớn đối với sự phát triển của xã hội.
Khía cạnh kinh tế: Toàn cầu hóa hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương
mại nói chung và tự do thương mại nói riêng. Các tổ chức quốc gia sẽ mất dần quyền lực.
Quyền lực này sẽ chuyển về tay các tổ chức đa phương như WTO. Các tổ chức này sẽ mở
rộng việc tự do đối với các giao dịch thương mại và thông qua các hiệp ước đa phương hạ
thấp hoặc nâng cao hàng rào thuế quan để điều chỉnh thương mại quốc tế.
Khía cạnh văn hóa: Toàn cầu hóa sẽ tạo ra những hiệu quả trái ngược ở mức độ cá
nhân hay dân tộc. Một sự đa dạng cho cá nhân do họ được tiếp xúc với các nền văn hóa
và văn minh khác nhau. Toàn cầu hóa giúp con người hiểu hơn về thế giới và thách thức
ở quy mô toàn cầu qua sự bùng nổ các nguồn thông tin, việc phổ thông hóa hoạt động du
lịch, việc tiếp cận dễ dàng hơn với giáo dục và văn hóa. Một sự đồng nhất đối với các dân
tộc qua ảnh hưởng của các dòng chảy thương mai và văn hóa mạnh.
Công nghệ thông tin và truyền thông làm tăng cường các mối quan hệ giao tiếp và trao
đổi văn hóa trong các cộng đồng dân tộc và trên toàn cầu. Chính điều đó đã làm cho tính
“toàn cầu hóa” về văn hóa diễn ra hết sức nhanh chóng. Mọi người trên thế giới có thể
nhanh chóng nhận được những thông tin về những thành tựu văn hóa, nghệ thuật, khoa
học, thể thao, có thể làm quen với những trình diễn nghệ thuật, văn hóa thể thao tinh hoa
từ mọi miền, của mọi cộng đồng dân tộc trên toàn thế giới. Do đó các dân tộc có nhiều cơ
hội hiểu biết nhau hơn, thông cảm với nhau hơn để cùng chung sống với nhau.
Công nghệ thông tin và truyền thông thúc đẩy quá trình dân chủ hóa xã hội. Mọi người
dân đều có thể dễ dàng truy cập thông tin, thông tin đến với mọi người, không thể bưng
bít thông tin. Công nghệ thông tin và truyền thông cũng giúp Nhà nước, các cơ quan quản

lý có khả năng nhanh chóng tiếp cận và xử lý thông tin để đưa ra các quyết định hợp lý.
Tất cả những yếu tố đó tạo điều kiện để tăng cường tính dân chủ của hệ thống chính trị xã
hội.
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 5
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
2.3. Vai trò đối với việc quản lý xã hội
Xã hội càng phát triển các mối quan hệ ngày càng nhiều, độ phức tạp càng lớn làm cho
việc quản lý xã hội ngày càng trở nên khó khăn hơn. Sự ra đời, phát triển của công nghệ
thông tin và truyền thông đã tạo nên một phương thức quản lý xã hội mới, hiện đại là
quản lý bằng Chính phủ điện tử.
Chính phủ điện tử (e-Government) là tên gọi của một chính phủ mà mọi hoạt động của
nhà nước “điện tử hóa”, “mạng hóa”.
2.4 Tác động của CNTT và truyền thông đối với giáo dục
2.4.1. Thay đổi mô hình giáo dục
Theo cách tiếp cận thông tin, tại “Hội nghị Paris về GDĐH trong thế kỷ 21” do UNESCO
tổ chức 10/1998 người ta có tổng kết 3 mô hình giáo dục:
Mô hình Trung tâm Vai trò người học Công nghệ cơ bản
Truyền thống Người dạy Thụ động Bảng/TV/Radio
Thông tin Người học Chủ động
Tri thức Nhóm Thích nghi PC + mạng
Trong các mô hình đã nêu, mô hình “tri thức” là mô hình giáo dục hiện đại nhất, hình
thành khi xuất hiện thành tựu mới quan trọng nhất của CNTT và truyền thông là mạng
Internet. Mô hình mới này đã tạo nên nhiều sự thay đổi trong giáo dục.
2.4.2. Thay đổi chất lượng giáo dục
CNTT được ứng dụng trong giáo dục đã làm thay đổi lớn về chất lượng giáo dục do
- CNTT ứng dụng trong quản lý giúp các nhà quản lý nắm bắt trạng thái của hệ thống
một cách nhanh chóng, chính xác, đáng tin cậy. Thêm nữa, các hệ hỗ trợ quyết định trợ
giúp thêm cho các nhà quản lý kịp thời ra được các quyết định quản lý chính xác, phù
hợp.
- CNTT ứng dụng trong dạy học giúp cho nhà giáo nâng cao chất lượng giảng dạy,

người học nắm bài tốt hơn, Ngoài ra, internet cũng trợ giúp cho người học trong việc tra
cứu, tìm hiểu, cập nhật tri thức và tự kiểm tra bản thân, làm cho chất lượng nâng cao
thêm.
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 6
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
- CNTT ứng dụng trong định đánh giá chất lượng giúp cho công tác kiểm định được
toàn diện, kết quả kiểm định được khách quan và công khai.
Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong những năm qua các sở giáo
dục đã chỉ đạo các trường ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và đã góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo
2.4.3. Thay đổi hình thức đào tạo
Công nghệ thông tin và truyền thông phát triển đã tạo nên những thay đổi lớn về giáo
dục và đào tạo. Nhiều hình thức đào tạo mới đã xuất hiện
* Đào tạo từ xa
* Đào tạo trực tuyến: Học tập trực tuyến (Online Learning) là một loại hình học tập sử
dụng mạng máy tính và internet.
Đào tạo trực tuyến (hay còn gọi là e-learning) là phương thức học ảo thông qua một
máy vi tính nối mạng đối với một máy chủ ở nơi khác có lưu giữ sẵn giáo trình và phần
mềm cần thiết để có thể hỏi/yêu cầu/ra đề cho học sinh trực tuyến từ xa. Hiện nay có
nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về E-learning, cách hiểu đơn giản là: E-learning
là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và
truyền thông (Compare Infobase Inc).
Tuy có nhiều cách hiểu về e-learning khác nhau, nhưng nói chung có những điểm
chung sau:
- Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông. Cụ thể hơn là công nghệ mạng, kỹ thuật
đồ họa, kỹ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…
- E-learning bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống do e-learning có tính
tương tác cao dựa trên công nghệ multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông
tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của
từng người.

- E-learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức. Hiện nay, ngoài e-
learning, còn có các hình thức đào tạo trực tuyến khác như m-learning (mobile learning),
u-learning (ubiquitous learning) đã và đang được nghiên cứu.
2.4.4. Thay đổi phương thức quản lý
Để nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã có văn bản hướng dẫn thực hiện công nghệ thông tin cho các sở theo từng năm
học, trong đó chú trọng việc ứng dụng công nghệ thông tin để thay đổi công tác quản lý.
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 7
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
Trong những năm qua, bằng nhiều nguồn lực khác nhau, cơ sở hạ tầng CNTT của
ngành Giáo dục và Đào tạo tăng lên đáng kể: Hầu hết các trường đã kết nối internet;
nhiều trường THCS có phòng tin học, thư viện điện tử; tỷ lệ giáo viên mua máy tính, kết
nối Internet cũng tăng lên đáng kể; mạng giáo dục kết nối thành công mang lại nhiều cơ
hội mới cho giáo dục.
3.Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
3.1.Trong văn bản chỉ đạo, Bộ Giáo dục đã đề cập việc ứng dụng CNTT trong đổi mới
phương pháp dạy và học như sau :
a) “Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong trường phổ thông nhằm đổi mới phương
pháp dạy và học theo hướng giáo viên tự tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì học
trong môn tin học. Giáo viên các bộ môn chủ động tự soạn và tự chọn tài liệu và phần
mềm (mã nguồn mở) để giảng dạy ứng dụng CNTT” (Theo Quyết định số 698/QĐ-TTg
ngày 01/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ).
Các sở GDĐT chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn cụ thể cho giáo viên các môn học tự triển
khai việc tích hợp, lồng ghép việc sử dụng các công cụ CNTT vào quá trình dạy các môn
học của mình nhằm tăng cường hiệu quả dạy học qua các phương tiện nghe nhìn, kích
thích sự sáng tạo và độc lập suy nghĩ, tăng cường khả năng tự học, tự tìm tòi của người
học. Ví dụ: Giáo viên bộ môn dạy nhạc cần tự khai thác, trực tiếp sử dụng các phần mềm
dạy nhạc phù hợp với nội dung và phương pháp của môn nhạc, không sử dụng giáo viên
tin học soạn chương trình dạy nhạc thay cho giáo viên dạy nhạc. Giáo viên môn văn có
thể tích hợp dạy phương pháp trình bày văn bản. Tương tự như vậy với các môn học

khác;
b) Các giáo viên cần tích cực, chủ động tham khảo và sử dụng các phần mềm ứng dụng
tích hợp vào các môn học trên website để cùng chia sẻ kinh nghiệm, trao
đổi học tập;
c) Khuyến khích giáo viên chủ động tự soạn giáo án, bài giảng và tài liệu giảng dạy để
ứng dụng CNTT trong các môn học;
d) Không dùng thuật ngữ “giáo án điện tử” cho các bài trình chiếu powerpoint. Tham
khảo mẫu giáo án đã được đưa lên mạng giáo dục.
3.2.Ứng dụng CNTT trong dạy và học là việc ứng dụng những thành tựu của CNTT một
cách phù hợp và hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Như vậy, Ứng dụng
CNTT trong giảng dạy và học tập không chỉ được hiểu theo nghĩa đơn giản là dùng máy
tính vào các công việc như biên soạn rồi trình chiếu bài giảng điện tử ở trên lớp. Ứng
dụng CNTT phải được hiểu là một giải pháp trong mọi hoạt động liên quan đến đào tạo;
liên quan đến công việc của người làm công tác giáo dục; liên quan đến hoạt động nghiên
cứu, soạn giảng; lưu trữ, tìm kiếm, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và tài nguyên học tâp…
Và cao hơn, với E-Learning, hoạt động dạy và học ngày nay được diễn ra mọi lúc, mọi
nơi. Trên lớp, ở nhà, ngay tại góc học tập của mình học sinh vẫn có thể nghe thầy cô
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 8
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
giảng, vẫn được giao bài và được hướng dẫn làm bài tập, vẫn có thể nộp bài và trình bày
ý kiến của mình…
Nhận thức được điều đó, việc ứng dụng CNTT nhằm đổi mới phương pháp dạy và học
theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục,
được triển khai một cách đầy đủ và thiết thực nhất. Một số hoạt động điển hình về ứng
dụng CNTT trong dạy – học được giáo viên thực hiện thành công và mang lại hiệu quả
cao như:
-Tra cứu thông tin phục vụ công tác nghiên cứu, nâng cao kiến thức chuyên môn và lấy
tư liệu hỗ trợ soạn giảng;
-Sử dụng các phần mềm hỗ trợ soạn giảng để tạo bài giảng điện tử như MS Powerpoint,
Violet, iSpring Presenter và các phần mềm dựng phim, nhạc…

-Sử dụng các phần mềm hỗ trợ làm đề thi/kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học
sinh như McMix, Quest, MS Excel…
-Sử dụng diễn đàn, email như một phương tiện để giao lưu, trao đổi kinh nghiệm với
giáo viên các trường bạn trong cả nước.
-Triển khai các tiết học có ứng dụng CNTT, có sử dụng bài giảng điện tử. Nhà trường
cũng tổ chức ghi hình để dự giờ tập thể (ghi hình tiết dạy sau đó tổ chức chiếu lại để GV
dự giờ, phân tích, góp ý xây dựng bài).
3.3.Tuy nhiên, chúng ta cũng cần xác định rõ rằng: CNTT chỉ là phương tiện tạo thuận
lợi cho triển khai phương pháp dạy học tích cực chứ không phải là điều kiện đủ của
phương pháp này. Không lạm dụng công nghệ nếu chúng không tác động tích cực đến
quá trình dạy học. Để một giờ học có ứng dụng CNTT là một giờ học phát huy tính tích
cực của học sinh thì điều kiện tiên quyết là việc khai thác CNTT phải đảm bảo các yêu
cầu và tính đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực mà giáo viên sử dụng. Cần tránh
việc dùng slide trình chiếu chỉ để thay việc viết bảng mà lại coi đó là tiết dạy ứng dụng
CNTT (cần phân biệt thế nào là giáo án điện tử, bản trình chiếu, bài giảng điện tử hay bài
giảng điện tử theo chuẩn E-Learning).
3.4.Sử dụng thành thạo diễn đàn, email, mạng xã hội… Xây dựng website nhà trường
ngày một hữu ích và được nhiều người biết đến, trở thành cầu nối hiệu quả với gia đình
học sinh cũng như các đơn vị bạn. Cũng qua đó, giáo viên và các tổ chức đoàn thể có thể
thăm nắm được tâm tư nguyện vọng của học sinh, cha mẹ học sinh, nhằm kết hợp giáo
dục đạt hiệu quả cao nhất
3.5. Một số ứng dụng CNTT cụ thể trong dạy học
3.5.1. Ứng dụng trong soạn thảo giáo án
Một trong những ứng dụng của công nghệ thông tin trong dạy học là soạn thảo giáo án
bằng MS Office hay OpenOffice
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 9
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
Ngoài ra, tùy theo đặc thù môn học giáo viên có thể biết một số phần mềm bổ trợ:
- Các phần mềm hỗ trợ giáo án môn Toán: Mathcad, Sketpad, Latex, MATHEMATICA
v3.0 , GeoGebra, AUTO GRAPH,Cabri, MatLAB . . .

- Phần mềm hỗ trợ soạn thảo giáo án môn Lý, Hóa, Sinh: Novoasoft Science Word 6.0,
CHEM LAB 2.0, bộ Crocodile
- NetOp School hỗ trợ mạng .
-Các loại tự điển, phần mềm học tiếng Anh, Tiếng Pháp
-Soạn thảo bản trình chiếu điện tử thông dụng và đơn giản nhất hiện nay mà giáo viên
thường dùng là MS PowerPoint,OpenOffice Impress , Mindjet MindManager, FreeMind
hay một số phần mềm sau:
- Adobe Photoshop
- Macromedia Flash
- Violet
- Adobe Pressenter, Lecture Maker để soạn bài giảng điện tử theo chuẩn E-Learning
Nhận thức được tầm quan trọng và hiệu quả nhờ ứng dụng CNTT mang lại, một số
trường, sở giáo dục và đào tạo đã yêu cầu, động viên, khuyến khích giáo viên soạn giáo
án bằng máy vi tính, sử dụng bản trình chiếu điện tử trong dạy học, điều mà cách đây
chưa lâu được xem là không cho phép.
3.5.2. Ứng dụng trong thực hiện bài giảng
Một trong các yếu tố để đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học
là phương tiện dạy học qua việc sử dụng những phương tiện dạy học hiện đại: Máy chiếu
projector, smart board (bảng thông minh), mạng nội bộ, các phần mềm dạy học, các trang
web…
3.5.3. Ứng dụng trong khai thác dữ liệu
Trong thời đại Công nghệ thông tin phát triển mạnh hiện nay, thông tin trên internet đã
trở thành một kho tài nguyên tri thức vô tận, về mọi lĩnh vực đối với mọi người nếu biết
cách khai thác nó.
Để khai thác được các thông tin trên Internet, ta phải sử dụng các công cụ tìm kiếm:
google, search.netnam, vinaseek, socbay,… Đối với giáo viên, ngoài việc tìm kiếm các
thông tin trên internet thông thường, cần biết khai thác từ các nguồn từ điển mở, thư viện
bài giảng…
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 10
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .

Từ điển mở:
- Bách khoa toàn thư mở (www.wikipedia.org)
- Bách khoa toàn thư mở tiếng Việt: />
- Từ điển tiếng việt mở : />
- Từ điển Anh-Pháp-Việt-Hán: />
Thư viện bài giảng: Thư viện bài giảng được phát triển dựa trên ý tưởng của việc xây
dựng học liệu mở (OpenCourseWare). Chẳng hạn như thư viện bài giảng điện tử Violet:
/>
Như chúng ta đã biết, để tạo được một bài giảng điện tử tốt, giáo viên cần rất nhiều kỹ
năng: Soạn thảo văn bản, đồ họa, quay phim, chụp ảnh, biên tập video, lồng tiếng…
nhưng không phải giáo viên nào cũng có thể thực hiện được. Vì vậy, giáo viên cần biết
khai thác thông tin trên Internet từ các địa chỉ Websites/ forums hay khai thác ngân hàng
giáo án điện tử của Sở Giáo dục TP HCM đã từng xây dựng từ việc tập họp và đóng góp
của tất cả các quận huyện , hoặc kho tư liệu của Website Bộ Giáo dục để tìm kiếm các tư
liệu phục vụ cho bài giảng của mình.
3.5.4. Ứng dụng trong đánh giá
Ngày nay, công nghệ thông tin được ứng dụng nhiều trong công tác đánh giá nói chung
và đánh giá học sinh, cán bộ nói riêng nhờ những lợi thế của nó về lưu trữ, thống kê, tính
toán, sắp xếp, lọc dữ liệu…
Nhờ công nghệ thông tin mà học sinh có thể tự đánh giá kiến thức của mình bằng các
phần mềm trắc nghiệm để từ đó tự bổ sung, hoàn thiện kiến thức.
Giáo viên, nhà trường đánh giá kết quả học tập của học sinh một cách chính xác, khách
quan hơn khi tổ chức thi, kiểm tra bằng máy tính.
3.5.5. Ứng dụng trong học tập của học sinh
Giáo dục đang thay đổi một cách mạnh mẽ, nhiều phương pháp, quan điểm dạy học mới
ra đời, hướng tới mục tiêu “dạy ít, học nhiều”, tăng tính chủ động, khả năng tự học của
người học dưới nhiều hình thức:
- Tìm kiếm, tra cứu tài liệu học tập trên mạng internet.
- Tham gia các lớp học qua mạng.
- Tự đánh giá kiến thức của mình bằng các phần mềm trắc nghiệm.

- Chia sẻ thông tin với giáo viên, bạn bè qua các diễn đàn.
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 11
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
- Tham gia các cuộc thi trực tuyến (online).
3.6. Ứng dụng CNTT trong quản lý trường phổ thông
-Hệ thống thông tin quản lý
-Phần mềm quản lý
Phần mềm quản lý là phần mềm ứng dụng với nhiệm vụ thực hiện tin học hóa các quá
trình quản lý truyền thống, nó không chỉ đơn thuần là việc lưu trữ hay xử lý thông tin.
+ Quản lý cán bộ:
+ Quản lý tài chính:
+ Quản lý học tập:
+ Xếp thời khóa biểu:
+ Quản lý thi trắc nghiệm:
-Sử dụng Internet và thư điện tử (email), sử dụng Website nhà trường
- Tìm kiếm thông tin trên Internet
-Sử dụng phần mềm xếp thời khóa biểu
-Sử dụng phần mềm quản lý học tập
Đơn cử như giáo viên và nhà trường có thể sử dụng bộ phần mềm Vemis của Bộ
Giáo dục hay SMAS 2.0 của Viettel …
3.7 MỘT SỐ CHÚ Ý KHI ĐƯA ỨNG DỤNG CNTT VÀO BÀI GiẢNG
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 12
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
- Giáo viên cần cân nhắc và lựa chọn kĩ các tiết dạy có hoặc không sử dụng công
nghệ thông tin sao cho phát huy được một cách tối đa hiệu quả và đảm bảo mục
tiêt bài học
-Không lạm dụng các hiệu ứng trình chiếu phức tạp, nhiều hiệu ứng trình
chiếu khác nhau trong một slide
-Cùng với các hiệu ứng, giáo viên cũng nên chọn những hình nền đơn giản, sáng
và phù hợp với bài dạy để thể hiện nội dung một cách rõ ràng

-Lựa chọn các câu chữ ngắn gọn, súc tích và tường minh, thể hiện rõ nội
dung để chiếu lên màn hình
- Tránh lạm dụng các tư liệu vào bài giảng, biến tiết học thành buổi xem tranh
ảnh,phim tư liệu
-Nên kết hợp công cụ trình chiếu với ghi bảng
-Tránh lạm dụng các tư liệu vào bài giảng, biến tiết học thành buổi xem tranh ảnh,
phim tư liệu
-Nên kết hợp công cụ trình chiếu với ghi bảng
4. Những vấn đề cụ thể do Sở Giáo dục-đào tạo chỉ đạo
a.Tiếp tục các chương trình tập huấn ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục nhằm:
- Phổ cập trình độ tin học cho CBQLGD,GV:
100% CB-GV biết sử dụng CNTT trong công tác. Tổ chức điều tra thật chính xác trình
độ ICT của cán bộ giáo viên. Có biện pháp hiệu quả để 100% CB-GV biết sử dụng máy
tính và sử dụng ICT vào công tác hiệu quả.
100% CB-GV biết sử dụng internet để công tác. Đảm bảo đường truyền internet phục
vụ sưu tầm, truy cập thông tin, dạy và học. Có kế hoạch đảm bảo 100% CB-GV biết sử
dụng internet để truy cập thông tin, giao tiếp và thực hiện công tác theo yêu cầu.
- Nâng cao hiệu xuất công tác lãnh đạo:
100% CBQL biết sử dụng ICT trong dạy học. Cán bộ quản lý các đơn vị nên am hiểu
hệ thống ICT trong giáo dục nhất là ICT trong đổi mới phương pháp dạy và học. Khai
thác tiềm năng ICT trong CB-GV và học sinh để nâng cao hiệu quả giáo dục của đơn vị.
100% CBQL biết sử dụng ICT trong điều hành. CBQL biết sử dụng và sử dụng có hiệu
quả ICT trong công tác quản lý, lãnh đạo: lập kế hoạch, triển khai, đánh giá, sơ kết, tổng
kết.
b.Xây dựng các hoạt động trực tuyến:
Cán bộ giáo viên tham gia các hoạt động trực tuyến có hiệu quả:
- Họp trực tuyến
- Học tập trực tuyến
- Chia sẻ thông tin trực tuyến
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 13

BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
c.Đẩy mạnh ứng dụng CNTT&TT trong điều hành và quản lý giáo dục:
- Ứng dụng các phần mềm hỗ trợ công tác quản lý theo định hướng quản lý trực tuyến
thông qua internet.
- Xây dựng trang web phổ cập nhằm nắm bắt tình hình chuyên cần của học sinh; dự báo,
phòng ngừa từ xa tình trạng học sinh có nguy cơ bỏ học; hỗ trợ công tác thống kê tình
hình chuyên cần của học sinh trên địa bàn của thành phố.
- Tổ chức đăng tải công khai trên website các thủ tục hành chính đạt cấp độ 2 trở lên với
một số nội dung cụ thể:
+ Đăng tải tất cả các mẫu đơn hành chính, mẫu đơn dịch vụ công (như đơn xin vào lớp
đầu cấp… )
+ Tra cứu kết quả học tập, điểm thi trực tuyến miễn phí trên website.
- Cung cấp và cập nhật kịp thời các văn bản hành chính trong trang “Thủ tục hành chính”
đáp ứng yêu cầu của xã hội. Thực hiện đầy đủ quy định “3 công khai” đối với các đơn vị,
cơ sở giáo dục.
d.Ứng dụng CNTT&TT trong đổi mới phương pháp dạy và học:
Đẩy mạnh ứng dụng CNTT&TT trong đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích
hợp CNTT trong từng bộ môn theo định hướng tăng cướng các ứng dụng e_learning.
e. Thiết lập và sử dụng hệ thống e_mail:
Tiếp tục hoàn thiện và đưa vào sử dụng hệ thống e_mail có tên miền của ngành giáo dục
và đào tạo thành phố (…@hcm.edu.vn) hoặc của Bộ Giáo dục và Đào tạo (…
) trong quan hệ công tác. Đảm bảo trên nguyên tắc:
+ Mỗi một đơn vị, cơ sở giáo dục có địa chỉ mai theo tên miền giáo dục trong quan hệ
công tác.
+ Mỗi cán bộ, giáo viên đều có địa chỉ e-mail của ngành để quan hệ, giao tiếp trong công
việc.
f. Nâng cấp kết nối mạng internet và tích cực triển khai cáp quang:
Các đơn vị, cơ sở giáo dục kiểm tra, nâng cấp kết nối internet băng thông rộng. Tích cực
triển khai kết nối cáp quang. Sở Giáo dục và Đào tạo khuyến khích các đơn vị có điều
kiện nên có 02 đường truyền cáp quang nhằm đảm bảo tính ổn định của hệ thống và đáp

ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác.
Các trường THCS cần tập trung thực hiện :
1. Nghiên cứu và thực hiện đúng nội dung các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và
Đào tạo và Sở Giáo dục và Đào tạo về CNTT.
2. Xây dựng kế hoạch thực hiện các phương hướng, nhiệm vụ ICT trong đơn vị
(trường) và đơn vị trực thuộc (Phòng GD&ĐT).
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 14
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
3.Triển khai thực hiện website của đơn vị. Khai thác website đúng chức năng, phục vụ tốt
quản lý, dạy - học.
4. Tổ chức kiểm tra thực hiện, đánh giá tình hình, điều chỉnh các nội dung công tác
ICT.
5. Đảm bảo 100% cán bộ, giáo viên biết sử dụng ICT trong công việc. Bằng nhiều
nguồn tài chính hợp pháp và vận động để trang bị, nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất về
ICT trong trường từ đó kích thích cán bộ giáo viên sử dụng ICT vào công tác, đảm bảo
nhu cầu sử dụng ICT của cán bộ giáo viên. Tránh lãng phí, tạo tâm lý không tốt trong
cán bộ giáo viên
6. Ngăn ngừa tình trạng lạm dụng internet trong CB-GV và học sinh.
7. Chỉ đạo mỗi giáo viên phải có bài tham gia thư viện bài giảng điện tử.
8. Chỉ đạo mỗi tổ chuyên môn phải có bài giảng điện tử e_learning tham gia dự thi
hàng năm kỳ thi của Bộ GD&ĐT.
9. Chỉ đạo mỗi tổ chuyên môn phải có hồ sơ bài giảng dạy học theo dự án tham gia dự
thi hàng năm kỳ thi của Sở GD&ĐT.
III.KẾT LUẬN

Việc ứng dụng CNTT vào dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học là một công
việc khó khăn, lâu dài, đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất và năng lực của đội
ngũ giáo viên. Do đó, để đẩy mạnh việc ứng dụng và phát triển CNTT trong dạy học có
hiệu quả cần có sự quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất của các cấp, sự chỉ đạo đồng bộ của
ngành – của mỗi nhà trường và đặc biệt là sự nỗ lực học hỏi, rút kinh nghiệm của bản

thân mỗi giáo viên.
Chúng ta đều nhận thức rõ vai trò của CNTT trong mọi lĩnh vực của cuộc sống và hơn
ai hết chúng ta cũng nhận thức rõ lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học
tập. Về phía lãnh đạo các cấp cũng đặc biệt quan tâm và đã có nhiều văn bản hướng dẫn
việc ứng dụng CNTT trong ngành. Cơ sở hạ tầng về CNTT trong trường học đã dần được
đầu tư để đáp ứng được việc ứng dụng CNTT và công tác dạy và học của các trường. Đó
là điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong trường THCS. Vì vậy, ứng
dụng thành công hay không, có mang lại lợi ích như mong muốn hay không chỉ còn là sự
quyết tâm và phương pháp tổ chức của trường bên cạnh sự nỗ lực của từng Giáo viên.
Modun 20:
SỬ DỤNG CÁC THIẾT BỊ DẠY HỌC
I. Mục đích:
Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu. Hiện nay các quốc gia
trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục-đào tạo với nhiều
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 15
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng qui mô, nâng cao tính tích cực trong dạy
học và học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới việc học tập
chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Muốn vậy cần phải nâng cao, cải tiến
đồng bộ các thành tố liên quan, trong đó phương tiện dạy và học là một thành tố quan
trọng.
Nói chung, trong quá trình dạy học, các phương tiện dạy học giảm nhẹ công việc của
giáo viên và giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi. Có được các
phương tiện thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình
trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng
và hấp dẫn hơn, tạo ra cho học sinh những tình cảm tốt đẹp với môn học. Do đặc điểm
của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của học sinh tăng dần theo các
cấp độ của tri giác: nghe-thấy-làm được (những gì nghe được không bằng những gì nhìn
thấy và những gì nhìn thấy thì không bằng những gì tự tay làm), nên khi đưa những
phương tiện vào quá trình dạy học, giáo viên có điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc

lập của học sinh và từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và
hình thành kỹ năng, kỹ xảo của các em.
Tính chất của phương tiện dạy học biểu thị nội dung thông tin học, hình thức thông tin
và phương pháp cho thông tin chứa đựng trong phương tiện và phải dưới sự tác động
của giáo viên hoặc học sinh tính chất đó mới đựơc bộc lộ ra. Như vậy đã có mối liên hệ
chặt chẽ giữa tính chất và chức năng của phương tiện dạy học.
II.Yêu cầu:
Trong quá trình dạy học, chức năng của các phương tiện dạy học thể hiện sự tác động
đạt được mục đích dạy-học.
Phương tiện dạy học bao gồm các chức năng sau:
- Truyền thụ tri thức
- Hình thành kỹ năng
- Phát triển hứng thú học tập
- Tổ chức điều khiển quá trình dạy học.
Do đó, khi dạy các môn học, cần chú ý đến hai vấn đề chủ yếu sau:
+ Học sinh tri giác trực tiếp các đối tượng. Con đường nhận thức này được thể hiện
dưới dạng học sinh quan sát các đối tượng nghiên cứu ở trong các giờ học hay khi đi
tham quan.
+ Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tri giác không phải bản thân đối tượng
nghiên cứu mà tri giác những hình ảnh, biểu tượng, sơ đồ phản ảnh một bộ phận nào đó
của đối tượng.
III. Ý nghĩa của việc sử dụng các trang thiết bị dạy học:
Trên cơ sở phân tích trên ta thấy rằng phương tiện dạy học có ý nghĩa to lớn đối với quá
trình dạy học
- Giúp học sinh dể hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn.
+ Phương tiện dạy học tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bề ngoài của
đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng.
+ Phương tiện dạy học giúp cụ thể hóa những cái quá trừu tượng, đơn giản hóa những
máy móc và thiết bị quá phức tạp.
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 16

BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
+ Phương tiện dạy học giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập
bộ môn, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học.
+ Phương tiện dạy học còn giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả
năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có độ
tin cây, ), giúp học sinh hình thành cảm giác thẩm mỹ, được hấp dẫn bởi cái đẹp, cái
đơn giản, tính chính xác của thông tin chứa trong phương tiện.
- Giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học. Giúp giáo viên
điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập
của học sinh được thuận lợi và có hiệu suất cao.
Có rất nhiều loại phương tiện dạy học với các hình thức và chức năng khác nhau,
trong đó có: phương tiện tạo hình ảnh (bảng đen, bảng trắng, tranh ảnh, bảng biểu, ),
những phương tiện khuếch đại hình ảnh (máy chiếu), phương tiện thu/phát khuếch đại
âm thanh (máy quay, máy ghi âm, )
Để đánh giá chất lượng của các loại phương tiện dạy học, ta thường dựa vào các chỉ
tiêu chính: tính khoa học sư phạm, tính nhân trắc học, tính thẩm mỹ, tính khoa học kỹ
thuật và tính kinh tế
* Tính khoa học sư phạm
Tính khoa học sư phạm là một chỉ tiêu chính về chất lương phương tiện dạy học. Chỉ
tiêu này đặc trưng cho sự liên hệ giữa mục tiêu đào tạo và giáo dục, nội dung phương
pháp dạy học với cấu tạo và nội dung của phương tiện. Tính khoa học sư phạm thể hiện
ở chỗ:
- Phương tiện dạy học phải bảo đảm cho học sinh tiếp thu được kiến thức, kỹ năng kỹ
xảo nghề nghiệp tương ứng với yêu cầu của chương trình học, giúp cho giáo viên truyền
đạt một cách thuận lợi các kiến thức phức tạp, kỹ xảo tay nghề làm cho họ phát triển
khả năng nhận thức và tư duy logic.
- Nội dung cà cấu tạo của phương tiện dạy học phải bảo đảm các đặc trưng của việc dạy
lý thuyết và thực hành cũng như các nguyên lý sư phạm cơ bản.
- Phương tiện dạy học phải phù hợp với nhiệm vụ sư phạm và phương pháp giảng dạy,
thúc đẩy khả năng tiếp thu năng động của học sinh.

- Các phương tiện dạy học hợp thành một bộ phải có mối liên hệ chặt chẽ về nội dung,
bố cục và hình thức, trong đó mỗi cái phải có vai trò và chỗ đứng riêng.
Phương tiện dạy học phải thúc đẩy việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại và
các hình thái tổ chức dạy học tiên tiến.
* Tính nhân trắc học
Thể hiện ở sự phù hợp của các phương tiện dạy học với tiêu chuẩn tâm sinh lý của
giáo viên và học sinh, gây được sự hứng thú cho học sinh và thích ứng với công việc sư
phạm của thầy và trò. Cụ thể là:
- Phương tiện dạy học dùng để biểu diễn trước học sinh phải được nhìn rõ ở khoảng
cách 8m. Các phương tiện dạy học dùng cho cá nhân học sinh không được chiếm
nhiều chỗ trên bàn học.
- Phương tiện dạy học phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh.
- Màu sắc phải sáng sủa, hài hòa và giống với màu sắc của vật thật (nếu là mô hình,
tranh vẽ).
- Bảo đảm các yêu cầu về độ an toàn và không gây độc hại cho thầy và trò.
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 17
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
* Tính thẩm mỹ
Các phương tiện dạy học phải phù hợp với các tiêu chuẩn về tổ chức môi trường sư
phạm:
- Phương tiện dạy học phải bảo đảm tỉ lệ cân xứng, hài hòa về đường nét và hình khối
giống như các công trình nghệ thuật.
- Phương tiện dạy học phải làm cho thầy trò thích thú khi sử dụng, kích thích tình yêu
nghề, làm cho học sinh nâng cao cảm thụ chân, thiện, mỹ.
* Tính khoa học kỹ thuật
Các phương tiện dạy học phải có cấu tạo đơn giản, dễ điều khiển, chắc chắn, có khối
lượng và kích thước phù hợp, công nghệ chế tạo hợp lý và phải áp dụng những thành
tựu của khoa học kỹ thuật mới.
- Phương tiện dạy học phải được bảo đảm về tuổi thọ và độ vững chắc.
- Phương tiện dạy học phải được áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhất nếu

có thể.
- Phương tiện dạy học phải có kết cấu thuận lợi cho việc chuyên chở và bảo quản.
* Tính kinh tế
Tính kinh tế là một chỉ tiêu quan trong khi lập luận chứng chế tạo mới hay đưa vào sử
dụng các thiết bị dạy học mẫu.
- Nội dung và đặc tính kết cấu của phương tiện dạy học phải được tính toán để với một
số lượng ít, chi phí nhỏ vẫn bảo đảm hiệu quả cao nhất.
- Phương tiện dạy học phải có tuổi thọ cao và chi phí bảo quản thấp.
Hiệu quả dạy học chính là sự tăng chất lượng, khối lượng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
của học sinh, phù hợp với yêu cầu của chương trình, ít tiêu hao sức lực của giáo viên và
học sinh. để phát huy hiệu quả các phương tiện dạy học cần phải đảm bảo các điều kiện
trình bày dưới đây:
+ Môi trường sư phạm của nhà trường. Môi trường sư phạm của nhà trường bao gồm cả
môi trường vật chất và tinh thần (nề nếp học tập, tinh thần làm việc, quan hệ thầy trò ).
ở đây chúng ta chỉ đề cập đến môi trường vật chất, nói khác hơn, đó là cơ sở vật chất
của nhà trường bao gồm: không gian, ánh sáng, âm thanh, nhiệt độ, độ ẩm, sự lưu thông
của không khí, hình thức và nội dung bố trí các đồ vật, nơi làm việc của học sinh và
giáo việc (lớp học, phòng thực hành, xưởng )
+ Bảo đảm các nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học. Phương tiện dạy học có tác
dụng làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức của học sinh, giúp cho học sinh thu
nhận được kiến thức về đối tượng thực tiễn khách quan. Tuy vậy, nếu không sử dụng
phương tiện dạy học một cách hợp lý thì hiệu quả sư phạm của phương tiện dạy học
không những không tăng lên mà còn làm cho học sinh khó hiểu, rối loạn, căng thẳng
Do đó các nhà sư phạm đã nêu lên các nguyên tắc đúng lúc, đúng chỗ, đúng cường độ.
Như vậy, không phải bao giờ và bất cứ đâu phương tiện dạy học cũng có tác dụng tích
cực đến hoạt động nhận thức của học sinh. Nhiều khi, nếu được sử dụng không đúng
với những yêu cầu sư phạm cụ thể, phương tiện dạy học lại có tác dụng theo chiều tiêu
cực, làm cho học sinh hoang mang, hiệu quả tiếp thu kém để phát huy hết hiệu quả và
nâng cao vai trò của phương tiện dạy học khi sử dụng phương tiện, người giáo viên phải
nắm vững ưu nhược điểm và các khả năng cũng như yêu cầu của phương tiện để việc sử

Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 18
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
dụng phương tiện dạy học phải đạt đựơc mụch đích dạy học và phải góp phần nâng cao
hiệu quả của quá trình dạy học.
MÔ-ĐUN 25 : Viết sáng kiến kinh nghiệm(SKKN) trong trường THCS
Mục 1. Vai trò của tổng kết kinh nghiệm và SKKN trong dạy học, giáo dục :
1.1 : Phần mở đầu : Hiểu về cụm từ và SKKN
* Theo Hán Việt từ điển – Đào Duy Anhq
- Kinh nghiệm : điều mình đã nghiệm qua, điều mình từng nghe thấy
- Sáng kiến : mới thấy xuất hiện lần đầu, mới bắt đầu phát minh
* Theo Từ điển Tiếng Việt – NXB KHXH :
- Tổng kết : nhìn lại toàn bộ việc đã làm, khi đã kết thúc hoặc sau một năm để có sự
đánh giá chung, rút ra những kết luận chung
- Kinh nghiệm : điều hiểu biết có được do tiếp xúc với thực tế, do từng trải
- Sáng kiến : ý kiến mới, có tác dụng làm cho công việc tiến hành tốt hơn
* Ở đây chỉ đề cập đến kinh nghiệm giảng dạy, kinh nghiệm giáo dục trong trường
THCS . Vậy tổng kết kinh nghiệm (giảng dạy, giáo dục ) là việc giáo viên rút ra sự
đánh giá chung , những kết luận chung về điều hiểu biết bản thân có được do tiếp xúc
với thực tế giảng dạy, thực tế giáo dục, do từng trải hay là do từng nghe thấy . Đó là
điều giáo viên đã nghiệm ra qua thực tế của bản thân , hay của người khác có khi là sau
một năm học, có khi là trong quá trình lâu dài tích lũy.
Còn sáng kiến kinh nghiệm là ý kiến mới, mới thấy xuất hiện lần đầu, bắt đầu phát
minh có tác dụng làm cho công việc giảng dạy, giáo dục của giáo viên được tiến hành tốt
hơn . Đó là điều giáo viên sáng tạo ra, mang tính riêng cá nhân và chưa từng có trước
đó, có thể là dựa trên cơ sở của việc tổng kết kinh nghiệm.
* Nội dung tổng kết kinh nghiệm và SKKN trong dạy học, giáo dục rất đa dạng. Có thể
là :
- vấn đề về nội dung dạy học bộ môn ( phân môn) : một vấn đề của kiến thức về bộ
môn
- vấn đề về phương pháp dạy học bộ môn: vận dụng và kết hợp các phương pháp để

dạy một kiểu bài nhất định, hay cách thức , tiến trình dạy một đơn vị kiến thức theo kiểu
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 19
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
loại, hay kĩ năng tích hợp kiến thức các kiến thức bộ môn, kiến thức liên môn, việc vận
dụng các kĩ thuật dạy học tích cực với một bộ môn nhất định, về kĩ năng dạy học …….
- Vấn đề về phương pháp giáo dục ( công tác chủ nhiệm ): giáo dục hạnh kiểm, thực
hiện giáo dục lồng ghép theo các yêu cầu như ATGT, học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh.
1.2: Vai trò của tổng kết kinh nghiệm và SKKN trong dạy học, giáo dục :
Việc tổng kết kinh nghiệm và SKKN trong dạy học, giáo dục có vai trò và ý nghĩa
quan trọng đối với quá trình thực hiện công việc được giao của mỗi giáo viên và việc
nâng cao nhất lượng giảng dạy, giáo dục nói chung của nhà trường.
a- Với giáo viên, việc tổng kết kinh nghiệm và SKKN trong dạy học, giáo dục đều
cùng giúp hỗ trợ cho công việc giảng dạy và giáo dục của giáo viên nhưng ở mỗi mức độ
khác nhau :Việc viết SKKN giúp cho việc phát huy sự sáng tạo riêng của mỗi giáo viên
trong công việc giảng dạy và giáo dục. Các SKKN đem đến một “làn gió mới”, những
thay đổi khởi sắc cho công việc giảng dạy và giáo dục, nó là kết quả của quá trình suy
ngẫm, thử nghiệm để tìm ra giải pháp mới, tìm ra cách thức, con đường đi ngắn nhưng
hiệu quả, đáp ứng với yêu cầu đổi mới của phương pháp dạy học và phương pháp giáo
dục. Với việc áp dụng những cái mới đúng hướng sẽ giúp thúc đẩy cho nhiều điều mới
khác ra đời, từ đó giúp cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc của giáo viên
. Chuyên môn của giáo viên không vững vàng và không tâm huyết khó có thể có SKKN
sáng tạo, chất lượng ra đời. Mỗi SKKN, mỗi cái mới ra đời là tâm huyết của mỗi giáo
viên.
. Còn với việc tổng kết kinh nghiệm, đây là việc giáo viên cần làm. Cũng giúp hỗ trợ
cho công việc giảng dạy và giáo dục của giáo viên nhưng tổng kết kinh nghiệm lại là
sự đúc rút tất cả những kinh nghiệm của bản thân và kinh nghiệm của đồng nghiệp khác
đã được biết theo từng chủ đề, đề tài, để từ đó có sự chọn lọc việc cần làm, phương
pháp tiến hành phù hợp với thực tế dạy học và giảng dạy của mỗi giáo viên . Việc chọn
lựa, sắp xếp, hệ thống và khái quát một cách khoa học để rút ra những nhận xét, đánh

giá về các kinh nghiệm đã được sử dụng đòi hỏi giáo viên phải có năng lực cần thiết
như : lắng nghe và thấu hiểu, sự chính xác và khoa học, khả năng phán đoán và tổng
hợp. Tổng kết kinh nghiệm là nền tảng giúp cho giaó viên tiến được xa hơn trong
công việc
b- Còn với nhà trường, ở góc độ công tác quản lí, việc tổng kết kinh nghiệm và
SKKN trong dạy học, giáo dục có ý nghĩa, tác dụng ở cả chiều sâu và diện rộng.
. Về SKKN, khi nhà trường phát động và phát triển thành một phong trào thực chất
chứ không phải là mang tính hình thức thì sẽ giúp cho chất lượng chuyên môn của nhà
trường có sự thay đổi rõ rệt, toàn diện về mọi mặt . SKKN sẽ càng hiệu quả hơn khi nó
được phát huy, nhân rộng trong tập thể giáo viên vì sự thích hợp, dễ sử dụng.
. Về tổng kết kinh nghiệm, nếu được chuyên môn nhà trường thực hiện thường xuyên
theo từng đề tài, bám sát được yêu cầu thực tế giảng dạy và yêu cầu đổi mới phương
pháp, đặc biệt nhất là giải quyết được những vướng mắc, những khó khăn của đa số giáo
viên trong giảng dạy và giáo dục thì sẽ có tác dụng, ảnh hướng vô cùng hiệu quả. Tổng
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 20
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
kết kinh nghiệm là nền tảng giúp cho việc quản lí sâu sát hơn vì việc phổ biến kinh
nghiệm hay, tốt sẽ thuận lợi và khoa học hơn.
Hiện nay việc viết SKKN của giáo viên vẫn còn tồn tại những hiện tượng đáng ngại
như sao chép lẫn nhau, sao chép các SKKN từ mạng In ternet, hay còn sơ lược, thiếu sự
đầu tư thích đáng …. Còn việc tổng kết kinh nghiệm lại ít được giáo viên chú tâm .
Cho dù có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan cho những tồn tại trên nhưng
nói tóm lại, tổng kết kinh nghiệm và SKKN trong dạy học, giáo dục luôn vừa là một nhu
cầu, vừa là yêu cầu của mỗi giáo viên, là phần việc phải làm và nên làm của mỗi giáo
viên nói riêng và chuyên môn nhà trường nói chung.
MỤC 2. Xác định đề tài, nội dung và phương pháp viết SKKN
I. Một số vấn đề cần biết:
1. Khái niệm Sáng kiến kinh nghiệm:
SÁNG KIẾN
Theo từ điển tiếng Việt:

Sáng kiến là những ý kiến mới có tác dụng làm cho công việc tiến hành tốt hơn.
Sáng kiến là tạo ra, tìm ra, xây dựng nên một ý kiến, một ý tưởng, một giải pháp
mới về một đối tượng hay hoạt động nào đó.
KINH NGHIỆM
Theo từ điển tiếng Việt:
Kinh nghiệm là những điều hiểu biết có thể áp dụng hữu hiệu cho cuộc sống có
được nhờ sự tiếp xúc, từng trải với thực tế.
Kinh nghiệm là cái có thực, được chủ thể tích lũy trong quá trình trải nghiệm, là
những kiến thức cao nhất của chủ thể.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Sáng kiến kinh nghiệm là những sáng kiến đã được thử nghiệm trong thực tế và đã thu
được thành công nhất định, thể hiện sự cải tiến trong phương pháp hoạt động cho kết
quả cao đáp ứng được nhu cầu của thực tế, công sức của những người tham gia hoạt
động.
ĐẶC ĐIỂM CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHỆM
Có nét mới;
Đã được áp dụng trong thực tế;
Do chính người viết thực hiện.
2. Những yêu cầu cơ bản đối với một sáng kiến kinh nghiệm

Khi viết một sáng kiến kinh nghiệm, tác giả cần làm rõ tính mục đích, tính thực tiễn,
tính sáng tạo khoa học và khả năng vận dụng, mở rộng SKKN đó như thế nào?Sau
đây là biểu hiện cụ thể cần đạt được của những yêu cầu trên:
+ Tính mục đích:

- Đề tài đã giải quyết được những mâu thuẫn, những khó khăn gì có tính chất thời sự
trong công tác giảng dạy, giáo dục học sinh, trong công tác phụ trách Đội TNTP.Hồ Chí
Minh?
- Tác giả viết SKKN nhằm mục đích gì? (nâng cao nghiệp vụ công tác của bản thân, để
trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, để tham gia nghiên cứu khoa học…)

+ Tính thực tiễn :

Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 21
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
- Tác giả trình bày được những sự kiện đã diễn ra trong thực tiễn công tác giảng dạy,
giáo dục của mình, ở nơi mình công tác.
- Những kết luận được rút ra trong đề tài phải là sự khái quát hóa từ những sự thực
phong phú, những họat động cụ thể đã tiến hành ( cần tránh việc sao chép sách vở mang
tính lý thuyết đơn thuần, thiếu tính thực tiễn )
+ Tính sáng tạo khoa học:

- Trình bày được cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn làm chỗ dựa cho việc giải quyết vấn đề
đã nêu ra trong đề tài.
- Trình bày một cách rõ ràng,mạch lạc các bước tiến hành trong SKKN
- Các phương pháp tiến hành mới mẻ, độc đáo.
- Dẫn chứng các tư liệu, số liệu và kết quả chính xác làm nổi bật tác dụng , hiệu quả của
SKKN đã áp dụng.
Tính khoa học của một đề tài SKKN được thể hiện cả trong nội dung lẫn hình thức trình
bày đề tài cho nên khi viết SKKN, tác giả cần chú ý cả 2 điểm này.
+ Khả năng vận dụng và mở rộng SKKN:

- Trình bày, làm rõ hiệu quả khi áp dụng SKKN (có dẫn chứng các kết quả,các số liệu để
so sánh hiệu quả của cách làm mới so với cách làm cũ)
- Chỉ ra được những điều kiện căn bản, những bài học kinh nghiệm để áp dụng có hiệu
quả SKKN, đồng thời phân tích cho thấy triển vọng trong việc vận dụng và phát triển
SKKN đã trình bày (Đề tài có thể vận dụng trong phạm vi nào? Có thể mở rộng, phát
triển đề tài như thế nào?)
Để đảm bảo được những yêu cầu trên, đòi hỏi người viết SKKN :
+ Phải có thực tế (đã gặp những mâu thuẫn, khó khăn cụ thể trong thực tiễn công tác
giảng dạy, giáo dục học sinh, trong việc giải quyết những vấn đề thực tiễn của công tác

Đội TNTP ở địa phương, cơ sở nới mình công tác…)
+ Phải có lý luận làm cơ sở cho việc tìm tòi biện pháp giải quyết vấn đề.
+ Có phương pháp, biết trình bày SKKN khoa học, rõ ràng, mạch lạc:
- Nắm vững cấu trúc của một đề tài, biết cân nhắc, chọn lọc đặt tên các đề mục phù hợp
nội dung,thể hiện tính logic của đề tài
-Nắm vững các phương pháp nghiên cứu khoa học.Khi xác định một phương pháp nào
đó được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài, tác giả cần phải xác định được các yếu tố
cơ bản: Mục tiêu của việc thực hiện phương pháp?Phương pháp được áp dụng với đối
tượng nào?Nội dung thông tin cần thu được qua phương pháp đó? Những biện pháp cụ
thể để tiến hành phương pháp nghiên cứu có hiệu quả?
+ Thu thập đầy đủ các tư liệu, số liệu liên quan đến kinh nghiệm trình bày. Các số liệu
được chọn lọc và trình bày trong những bảng thống kê thích hợp, có tác dụng làm nổi
bật vấn đề mà tác giả muốn chứng minh, dẫn chứng.
II. Cách xác đinh đề tài, nội dung và phương pháp viết SKKN
1. Cách xác định đề tài:
- Đề tài cần hướng vào những vấn đề cấp thiết, có tác dụng thúc đẩy, phát triển sự
nghiệp GD, QLGD, đề tài phải có tính cấp thiết.
- Vấn đề chọn không nên quá rộng hoặc chung chung mà cần tập trung vào vấn đề cụ
thể, nổi bật nhất trong thực tế công tác.
- Yêu cầu cơ bản của tên đề tài:
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 22
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
+ Ngắn gọn về ngôn ngữ.
+ Phản ánh rõ bản chất của qá trình biến đổi từ lúc chưa áp dụng SK - đạt được kết
quả.
+ Rõ giới hạn của việc nghiên cứu.
2. Cách xây dựng nội dung đề tài:
Bước 1: Trang bị lí luận
- Là việc thu thập, tham khỏa các tài liệu liên quan đến đề tài như những báo cáo,
SKKN, cái tài liệu lí luận, phương pháp luận Phục vụ cho vến đề đã chọn.

- Trang bị lí luận chính là sự học tập, lĩnh hội KN của bản thân tác giả để viểt SKKN.
- Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các bài viết trước.
Bước 2: Thu thập dữ liệu:
- Thu thập tư liệu thực tế từ khi bắt đầu đến kết thúc quá trình áp dụng SK để làm sáng
tỏ quá trình biến đổi hoạt động GD.
- Những số liệu, tư liệu về tình hình thực tế khi chưa áp dụng sáng kiến. Phân tích
những điều kiện thuận lợi, khó khăn của đơn vị với quá trình hoạt động.
- Hệ thống biện pháp đã tác động.
Bước 3: Phân tích, xử lí dữ liệu
- Từ tất cả các tư liệu trên, phân tích những chuyển biến tích cực do áp dụng SK.
- Tìm ra các quy luật, bài học kinh nghiệm.
3. Phương pháp viết SKKN:
+ Chọn đề tài ( đặt tên đề tài ):
Các vấn đề có thể chọn để viết SKKN rất phong phú, đa dạng, bao gồm nhiều lĩnh vực
như :
- Kinh nghiệm trong việc giảng dạy ( một chương, một bài, một nội dung kiến thức cụ
thể… )
- Kinh nghiệm trong việc giáo dục học sinh
- Kinh nghiệm trong việc bồi dưỡng, phụ đạo học sinh
- Kinh nghiệm trong việc tổ chức một họat động giáo dục cụ thể cho học sinh ( Ví dụ:
họat động giáo dục ngòai giờ lên lớp, công tác xã hội … )
- Kinh nghiệm giải quyết những vấn đề khó khăn, phức tạp trong khi tiến hành các họat
động, các phong trào của Đội TNTP. Hồ Chí Minh ( VD: Tổ chức sinh hoạt sao nhi
đồng, bồi dưỡng phụ trách sao,bồi dưỡng năng lực tự quản cho đội viên, bồi dưỡng
BCH Đội, bồi dưỡng phụ trách chi đội,triển khai chương trình rèn luyện đội viên,xây
dựng một mô hình họat động Đội, tổ chức bồi dưỡng một số kỹ năng cụ thể cho phụ
trách chi đội, BCH đội,phụ trách sao…)
Khi tiến hành công việc viết SKKN, công việc đầu tiên của tác giả là cần suy nghĩ lựa
chọn một tên đề tài phù hợp. Trong nghiên cứu khoa học (viết SKKN) việc xác định tên
đề tài có ý nghĩa quan trọng số một, đôi khi nó còn quan trọng hơn cả việc giải quyết đề

tài. Việc xác định tên đề tài chính xác có tác dụng định hướng giải quyêt vấn đề cho tác
giả,giúp cho tác giả biết tập trung sự nghiên cứu vào vấn đề cần giải quyết, tránh được
sự lan man, lạc đề.
Tên đề tài chính là một mâu thuẫn, một vấn đề trong thực tiễn giảng dạy, giáo dục mà
tác giả còn đang phân vân, trăn trở, tìm cách giải quyết, làm sáng tỏ. Tên đề tài mang
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 23
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
tính chủ thể, đòi hỏi người viết phải có sự hứng thú với nó, phải kiên trì và quyết tâm
với nó. Về mặt ngôn từ tên đề tài phải đạt các yêu cầu :
- Đúng ngữ pháp.
- Đủ ý , rõ nghĩa, không làm cho người đọc có thể hiểu theo ý khác.
- Xác định được phạm vi, nội dung nghiên cứu cụ thể của đề tài, cần tránh vấn đề quá
chung chung hoặc có phạm vi quá rộng khó có thể giải quyết trọn vẹn trong một đề tài.
+ Viết đề cương chi tiết:
Đây là một công việc rất cần thiết trong việc viết SKKN. Nếu bỏ qua việc này, tác giả sẽ
không định hướng được mình cần phải viết cái gì, cần thu thập những tư liệu gì về lý
thuyết và thực tiễn ,cần trình bày những số liệu ra sao…? Việc chuẩn bị đề cương càng
chi tiết bao nhiêu thì công việc viết SKKN càng thuận lợi bấy nhiêu. Khi xây dựng đề
cương chi tiết, tác giả cần:
- Xây dựng được một dàn bài chi tiết với các đề mục rõ ràng, hợp logic, chỉ ra được
những ý cần viết trong từng đề mục cụ thể.Việc này cần được cân nhắc kỹ lưỡng sao cho
đủ phán ánh nội dung đề tài, không thừa và cũng không thiếu.
- Thiết kế các bảng thống kê số liệu phù hợp, các mẫu phiếu điều tra khảo sát, hình
ảnh… phục vụ thiết thực cho việc minh họa, dẫn chứng cho đề tài.
-Kiên quyết lọai bỏ những đề mục,những bảng thống kê, những thông tin không cần
thiết cho đề tài.
+ Tiến hành thực hiện đề tài:
-Tác giả tìm đọc các tài liệu liên quan đến đề tài, ghi nhận những công việc đã thực hiện
trong thực tiễn (biện pháp, các bước tiến hành, kết quả cụ thể), thu thập các số liệu để
dẫn chứng.Tác giả nên lưu trữ các tư liệu thu thập được theo từng lọai. Nên sử dụng các

túi hồ sơ riêng cho từng vấn đề thuận tiện cho việc tìm kiếm, tổng hợp thông tin.
- Trong quá trình thu thập tài liệu cần tiếp tục xem xét chỉnh sửa đề cương chi tiết cho
phù hợp với tình hình thực tế.
+ Viết bản thảo SKKN theo đề cương đã chuẩn bị.Khi viết SKKN tác giả cần chú ý đây
là lọai văn bản báo cáo khoa học cho nên ngôn ngữ viết cần ngắn gọn, xúc tích, chính
xác. Cần tránh sử dụng ngôn ngữ nói hoặc kể lể dài dòng nhưng không diễn đạt được
thông tin cần thiết.
+ Hòan chỉnh bản SKKN, đánh máy, in ấn.
MỤC 3: THỰC HIỆN VIẾT SKKN
Một Sáng kiến kinh nghiệm có kết cấu cơ bản như sau:
I. ĐẶT VẤN ĐỀ: (Lý do chọn đề tài, Tổng quan, Một số vấn đề chung )
- Nêu rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu: Lý do về mặt lý luận, về thực tiễn, về tính
cấp thiết, về năng lực nghiên cứu của tác giả (Những mâu thuẫn giữa thực trạng: bất
hợp lí, cần cải tiến…, yêu cầu mới, từ đó tác giả khẳng định cần có biện pháp thay thế,
đó cũng là lí do chọn đề tài)
- Xác định mục đích nghiên cứu của SKKN. Bản chất cần được làm rõ của sự vật là
gì? Đối tượng nghiên cứu là gì? Đối tượng khảo sát, thực nghiệm.
- Chọn phương pháp nghiên cứu nào? Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu (thời gian
nghiên cứu bao lâu? Khi nào bắt đầu và kết thúc?)
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 24
BDTX năm học 2014-2015 – Modul 19,20,25,32 .
1. Cơ sở lí luận: yêu cầu trình bày lí luận, lí thuyết đã được tổng kết (tóm tắt) bao
gồm: khái niệm, khái quát kiến thức về vấn đề được chọn để viết SKKN. Cũng chính
là cơ sở lí luận có tác dụng định hướng nghiên cứu, tìm kiếm giải pháp khắc phục hạn
chế của vấn đề đã nêu trong đặt vấn đề.
2. Thực trạng: Tác giả trình bày những thuận lợi, khó khăn mà tác giả đã gặp phải
trong vấn đề mà tác giả đã chọn để viết SKKN. Điều quan trọng trong phần này là mô
tả,làm nổi bật những khó khăn ,những mâu thuẫn mà tác giả đang tìm cách giải quyết,
cải tiến (kèm minh chứng)

3. Các biện pháp tiến hành (Trọng tâm)
- .Trình bày trình tự biện pháp, phân tích và nhận xét về vai trò, tác dụng, hiệu quả
của biện pháp thực hiện (Phần thực trạng và mô tả giải pháp có thể trình bày kết hợp;
khi trình bày giải pháp mới có thể liên hệ với giải pháp cũ ðã thực hiện hoặc những thử
nghiệm nhưng chưa thành công nhằm nêu bật được sáng tạo của giải pháp mới)
4. Hiệu quả: Đã áp dụng ở đâu? Kết quả cụ thể khi áp dụng SKKN (thể hiện bằng
bảng tổng hợp kết quả, số liệu minh hoạ, đối chiếu, so sánh…).
III. KẾT LUẬN
- Những kết luận đánh giá cơ bản nhất về SKKN (nội dung, ý nghĩa, hiệu quả, bài
học kinh nghiệm rút ra từ quá trình áp dụng SKKN của bản thân
- Những nhận định chung của tác giả về việc áp dụng và khả năng phát triển của
đề tài.
- Ý kiến đề xuất với Bộ GD-ĐT, Sở GD-ĐT, Trường … để phát huy hiệu quả đề
tài (tùy mức độ đề tài để kiến nghị, nếu có).
3. Qui định về cách trình bày
- Đề tài SKKN được đánh máy, in, đóng quyển theo đúng quy định: soạn thảo
trên khổ giấy A4 bằng MS Word; Font chữ Times New Roman; bảng mã Unicode; cỡ
chữ: 14; dãn dòng đơn; lề trái: 3 cm; lề phải: 2 cm; lề trên: 2 cm; lề dưới: 2 cm.
- Các minh chứng của SKKN là phụ lục đính kèm phía sau kết luận đề tài hoặc
đóng thành quyển phụ lục riêng. Minh chứng bao gồm cả các bài kiểm tra đã chấm
(nếu có), phiếu khảo sát
- Một báo cáo SKKN phải được đóng tập và sắp xếp theo thứ tự như sau: Bìa
chính, Bìa phụ, Nội dung; Danh mục tài liệu tham khảo; Mục lục (nếu có, có thể đặt
sau bìa phụ, trước phần nội dung); Phụ lục (nếu có).
MODULE 31: LẬP KẾ HOẠCH CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM.
1. Vị trí, vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp:
Gv: Nguyễn Văn Tú Trường THCS Thanh Mỹ 25

×