Tải bản đầy đủ (.doc) (44 trang)

bàn về hệ thống báo cáo tài chính hợp nhất trong các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (207.52 KB, 44 trang )

Lời mở đầu:
Một trong những chủ trơng của Đảng và Nhà nớc ta đồi với khối doanh
nghiệp nhà nớc là phát triển các tổng công ty mạnh theo hớng lập tập đoàn kinh
doanh. Trên thực tế, các doanh nghiệp này cũng đang trong quá trình chuẩn bị để
hoạt động mô hình mới này. Việc hình thành các tập đoàn kinh tế đặt ra yêu cầu
trình bày và cung cấp thông tin hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn nh
một thực thể kinh doanh độc lập. Hơn thế nữa, nền kinh tế Việt nam hiện nay đang
chuyển đổi và hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực. Một số nhà đầu t nớc
ngoài, ngân hàng... muốn đầu t liên doanh vào các tập đoàn Việt nam, đều mong
muốn nhận đợc báo cáo tài chính hợp nhất phản ánh trung thực toàn cảnh tình
hình tài chính của tập đoàn mà họ dự định đầu t và cho vay.
Tuy nhiên báo cáo tài chính hợp nhất của các tập đoàn kinh tế hiện nay là
vấn đề mới mẻ. Hiện nay, hệ thống báo cáo tài chính tổng hợp áp dụng cho mô
hình tổng công ty bộc lộ nhiều nhợc điểm là không cung cấp đợc thông tin đầy đủ,
tin cậy và có giá trị cho các đối tợng sử dụng. Để đảm bảo cho thông tin mà báo
cáo tài chính hợp nhất cung cấp có chất lợng và độ tin cậy cao đáp ứng yêu cầu
thông tin đa dạng của nhiều đối tợng cần phải xây dựng hệ thống báo cáo tài chính
hợp nhất cho mô hình tập đoàn kinh tế hay các tổng công ty hoạt động theo mô
hình công ty mẹ- công ty con tại Việt nam
Chính vì lý do đó, em đã chọn đề tài: Bàn về hệ thống báo cáo tài chính
hợp nhất trong các tập đoàn kinh tế ở Việt nam
Nội dung của đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận còn các phần chính
sau:
Khái quát chung về tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế tron điều kiện ở Việt nam
Khái quát chung về báo cáo tài chính hợp nhất trong các TĐKT
Phơng pháp và cách thức hoàn thiện báo cáo tài chính hợp nhất
1
Phần I
Khái quát chung về tập đoàn kinh tế
I. Khái niêm về tập đoàn kinh tế


Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về tập đoàn kinh tế. Có những
quan niệm tập đoàn theo kiểu doanh nghiệp mẹ doanh nghiệp con, trong đó
doanh nghiệp mẹ kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp con. Lại có những quan
niệm khác cho rằng tập đoàn kinh tế là một thực thể kinh tế thực hiện sự liên kết
giữa các thành viên là các doanh nghiệp có quan hệ với nhau về công nghệ và lợi
ích.
Cho đến nay vẫn cha có khái niệm thống nhất về tập đoàn kinh tế vì có sự
khác nhau về phơng thức hình thành, nguyên tắc tổ chức và t cách pháp nhân của
tập đoàn kinh tế. Có những tập đoàn hình thành trên cơ sở mối liên kết lỏng nh
việc kí kết thoả thuận hợp tác giữa các doanh nghiệp, có những dạng lại đợc hình
thành trên cơ sở sát nhập và hình thành một tổ chức liên kết cứng nh một pháp
nhân kinh tế; một số khác lại đợc hình thành trên cơ sở kí kết thoả thuận giữa các
doanh nghiệp để thành lập một công ty tài chính riêng và công ty này đóng vai trò
là công ty mẹ điều khiển hoạt động của các công ty thành viên.
Nh vậy, nhìn chung tập đoàn kinh tế là khái niệm chỉ một tổ hợp kinh tế
gồm công ty mẹ và các công ty con
Tập đoàn có thể là nhỏ, vừa hoặc lớn, thậm chí rất lớn, tuỳ theo vị trí của
công ty mẹ và các công ty con trong nền kinh tế. Tập đoàn có thể chỉ hoạt động
trong một địa phơng hoặc cũng có thể hoạt động trong một vùng, trong cả nớc
hoặc xuyên quốc gia.
Muốn có một tập đoàn kinh tế mạnh thì phải có một công ty mẹ thực sự vững
mạnh trên tất cả các mặt: vốn liếng, công nghệ, lĩnh vực hoạt động... để giữ một
vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Không có công ty mẹ mạnh thì không thể có
một tập đoàn kinh tế mạnh
2
I. Đặc điểm của tập đoàn kinh tế
Thực ra hiện nay trên thế giới, những tập đoàn kinh tế đợc tổ chức theo
những mô hình khác nhau và mang những tên gọi khác nhau. Tuy nó cha có một
khái niệm thống nhất nhng có thể rút ra những đặc điểm chung của tập đoàn kinh
tế là :

Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các công ty bao gồm công ty mẹ và các công ty
thành viên
Đa số các tập đoàn kinh tế là sự kết hợp của nhiều đơn vị thành viên, các doanh
nghiệp thành viên chịu sự chi phối của doanh nghiệp mẹ thông qua việc doanh
nghiệp mẹ nắm cổ phần chi phối các doanh nghiệp thành viên. Tuy nhiên các
doanh nghiệp thành viên cũng có thể nắm cổ phần của nhau, chi phối lẫn nhau
tạo thành mối quan hệ đan chéo và gắn kết chặt chẽ
Có quy mô rất lớn về vốn, lao động, doanh thu và thị trờng
Hầu hết các tập đoàn kinh tế đều có quy mô lớn và rất rộng có những tập đoàn
kinh tế có quy mô mở rộng đến hàng trăm nớc nh : Cocacola, IBM, Toyota...
Tính kinh doanh đơn ngành và đa ngành
Xét về bản chât, tập đoàn kinh tế là một tổ chức kinh tế vừa mang tính hoạt
động đơn lẻ của một đơn vị thành viên, vừa mang tính đặc trng của một hiệp hội
kinh tế phục vụ lợi ích chung của các đơn vị thành viên. Thực tiễn hoạt động của
các tập doàn kinh tế trên thế giới cho thấy đặc điểm hoạt động của tập đoàn là đa
ngành. Tuy nhiên, xu hớng hoạt động dơn ngành hay đa ngành đều có những hạn
chế nhất định: hoạt động đa ngành thể hiện ở phạm vi rộng, phân tán rủi ro đồng
thời tăng khả năng chi phối thị trờng nhng lại hạn chế ở điểm khó tập trung đợc
năng lực mũi nhọn, thiếu tính chuyên sâu. Hoạt động đơn ngành thì có thế mạnh
phát triển theo chuyên môn hoá sâu, khai thác đợc thế mạnh về chuyên môn, bí
quyết công nghệ, uy tín trong ngành, nhng lại hạn chế về phạm vi thị trờng và dễ
bị rủi ro khi ngành đó bị khủng hoảng về một lý do khách quan nào đó. Tuy
nhiên qua thực tiễn hoạt động của các tập đoàn kinh tế, có thể thấy xu hớng hoạt
động kinh doanh đa ngành tỏ ra rất phổ biến.
3
Tính đa dạng về t cách pháp nhân:
Về t cách pháp nhân của tập đoàn kinh tế, có những tập đoàn kinh tế là pháp
nhân kinh tế gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về sản
xuất, kinh doanh và tài chính trên quy mô lớn. Một số tập đoàn khác có thể
không phải là một pháp nhân kinh tế, mà các đơn vị thành viên lại là các pháp

nhân kinh tế. Hoặc lại có dạng hỗn hợp: tập đoàn là pháp nhân kinh tế, còn các
đơn vị thành viên có thể là pháp nhân kinh tế đầy đủ hoặc không đầy đủ.
Tính đa dạng về sở hữu
Sở hữu trong tập đoàn tồn tại dới nhiều hình thức khác nhau nh: sở hữu
công ty mẹ đối với các công ty con, sở hữu giữa các công ty con với nhau, sở hữu
của các nhà đầu t bên ngoài thông qua việc mua cổ phần của doanh nghiệp. Tuy
nhiên thờng doanh nghiệp mẹ đóng vai trò chi phối về mặt tài chính và chiến lợc
phát triển đối với các doanh nghiệp thành viên.
III. Những mô hình liên kết chi phối giữa công ty mẹ công ty
con trong tập đoàn kinh tế
Trong thực tế hiện nay, việc liên kết giữa công ty mẹ với các công ty con rất
phong phú và đa dạng tuỳ thuộc vào loại hình kinh doanh, vào sức mạnh và khả
năng chi phối của công ty mẹ. Cụ thể có các dạng liên kết chủ yếu sau :
1. Mô hình liên kết chủ yếu bằng vốn:
Mô hình này đòi hỏi công ty mẹ có tiềm lực tài chính to lớn (thờng là các
ngân hàng hoặc các công ty tài chính), đợc hình thành thông qua con đờng nhất
thể hoá kinh doanh bằng cách thôn tính, sáp nhập xoá bỏ t cách pháp nhân của
một số danh nghiệp. Qua việc nắm giữ các cổ phần chi phối, thuê các doanh
nghiệp có liên quan. Công ty mẹ nắm giữ quyền lãnh dạo các doanh nghiệp này
trong việc đa ra các quyết sách về nhân lực, vật lực, tài lực biến chúng thành các
doanh nghiệp cấp dói trực tiếp (công ty con). Các công ty con nàyvẫn có t cách
pháp nhân, tiến hành các hoạt động kinh doanh độc lập tơng đối. Bằng cách tham
dự cổ phần vào một số doanh nghiệp, công ty mẹ biến những doanh nghiệp có t
cách pháp nhân khác thành các doanh nghiệp cấp nửa trực tiếp. (Công ty cháu .)
4
Thực hiện mô hình liên kết bằng vốn kiểu này là các Chaebol Hàn Quốc
nhh: Daewoo, Sasung, các tập đoàn của Nhật Bản lấy hàng làm trung tâm nh: Fuji,
Mitsubishi
2. Mô hình liên kết theo dây chuyền sản xuất kinh doanh.
Mô hình này thờng áp dụng đối với những ngành mà sản phẩm có cấu tạo

nhiều cấp, nhiều bộ phận. Công ty mẹ có tiềm năng lớn thực hiện chức năng trung
tâm nh xây dung chiến lợc kinh doanh, tiếp thị, phát triển sản phẩm, huy động và
phân bổ vốn đầu t quan hệ đối ngoại, đào tạo nhân lực, lắp ráp hoàn chỉnh sản
phẩm nổi tiếng Công ty mẹ kiểm soát một mạng lới các công ty con, các công ty
cháu theo dạng hình chóp (cấp 1, cấp 2, cấp 3), tạo thành một quần thể doanh
nghiệp khổng lồ. Sự phối hợp và kiểm soát hoạt động của công ty mẹ với các công
ty con, công ty cháu đợc thực hiện rất chặt chẽ, thông qua chiến lợc sản phẩm và
kế hoạch kinh doanh đồng bộ từ trên xuống dới. Công ty mẹ tham gia góp cổ
phần, trợ giúp về mặt kỹ thuật, đào tạo cán bộ.
3. Mô hình liên kết giữa nghiên cứu khao học với sản xuât kinh doanh.
Theo dạng này, công ty mẹ thờng là những trung tâm nghiên cứu ứng dụng
lớn, lấy việc phát triển công nghệ mới là đầu mối cho sự liên kết. Các công ty con
là những đơn vị sản xuất, kinh doanh có chức năng ứng dụng nhanh kết quả
nghiên cứu công nghệ mới của công ty mẹ, biến nó thành sản phẩm có u thế trên
thị trờng. Năng lực cạnh tranh của cả tập đoàn chính là ở khả năng liên kết, từ
nghiên cứu đến ứng dụng.
Tuy các dạng liên kết giữa công ty mẹ với công ty con dựa trên những nền
tảng khác nhau, phù hợp với từng hình thức sản phẩm khác nhau, song suy cho
cùng đều là sự chi phối bởi yếu tố tài sản, trong đó bào gồm cả tài sản hữu hình,
xác định đợc bằng lơng nh: TSCĐ; TSLĐvà tài sản vô hình, không xác định
đuợc bằng lợng nh: sỏ hữu công nghiệp, phát minh khao học, uy tín sản phấm, thị
trơng sức mạnh chi phối của công ty mẹ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng nắm
giữc các nguồn tài sản trên và chính những nguồn tài sản vô hình có tác dụng hỗ
5
trợ hiệu quả, tạo cơ sở vững chắc để củng cố, tăng cờng quan hệ hợp tác và lợi ích
kinh tế giữa công ty mẹ với các công ty con.
IV. Điều kiện hình thành công ty mẹ công ty con.
Theo chuẩn mực quốc tế thì mô hình công ty mẹ công ty con phải thoả mãn
những điều kiện sau:
Công ty mẹ là công ty có một hoặc nhiều công ty con. Công ty con là công ty

có vốn đầu t của công ty mẹ, bị công ty mẹ chi phối bằng việc nắm giữ quyền
chỉ định đa số thành viên hội đồng quản trị hoặc nắm giữ quyền biểu quyết đa
số trong hội động quản trị. Những công ty có vốn đầu t của công ty mẹ mà
công ty mẹ không nắm quyền chi phối thì không phải là công ty con. Nh vậy
để trở thành công ty mẹ của công ty khác cần có hai diều kiện:
+ Có vốn đầu t vào công ty đó
+ Nắm quyền chi phối công ty đó.
Công ty mẹ và công ty con dều là doanh nghiệp độc lập và có t cách pháp nhân
đầy đủ, có vốn vâ tài sản riêng.
Công ty mẹ là một trong những chủ sở hữu của công ty con. Mối quan hệ giữa
công ty mẹ và công ty con là mối quan hệ của chủ sở hữu với doanh nghiệp có vốn
đầu t của mình.
V. Ưu, nhợc điểm của mô hình tập đoàn kinh tế.
V.I. Ưu điểm:
Có tính linh hoạt trong việc hình thành mô hình:
Công ty mẹ công ty con không phải là mô hình tổ chức. Nó đợc dùng để chỉ
sự chi phối của một doanh nghiệp với một doanh nghiệp khác, nên nó không bị
cứng nhắc với bất kì một cấp hành chính nào. Mối quan hệ giữa công ty mẹ và
công ty con đớc xác định trong quy định của luật pháp và điều lệ công ty, nó t-
ơng đối ổn định.
Sự chi phối của công ty mẹ đối với công ty con đợc thực hiện qua hình thức đại
hội cổ đông, quyền hạn của đại hội cổ đông đợc luật hiện hành quy định.
6
Khi đã là công ty mẹ góp vốn vào công ty con thì số tiền lời của công ty con
sau mỗi năm hoạt động đơng nhiên phải chia về cho công ty mẹ tơng ứng với
số vốn công ty mẹ đã góp. Nh vậy quá trình tích tụ & tập trung vốn sẽ đợc thực
hiện tốt hơn, nhanh hơn, khắc phục tình trạng phân tán vốn.
Công ty mẹ và công ty con có thể giải phóng sức sản xuất vì có sự liên hệ thực
tế về tài chính không phải về cơ chế hành chính nh một số mô hinh đang áp
dụng. Thêm vào đó, lực lợng sản xuất ngày càng phát triển, quan hệ sản xuất

theo cơ chế quản lý cũ không còn phù hợp.
Tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp: tiến hành liên kết trên cơ sở bình đẳng,
tôn trọng lợi ích của nhau, giảm bớt sự liên kết theo kiểu mệnh lệnh hành chính
; thực hiện tổ chức bộ máy gọn nhẹ, gắn kết với nhau bằng cơ chế vốn linh
hoạt.
V.2 Nhợc điểm
- Do công ty mẹ nắm giữ và chi phối vốn đầu t nên luôn có quyền quyết định
tối cao về chiến lợc và nhân sự cấp cao
- Các công ty con tuy hoạt động kinh doanh độc lập nhng hoạt động của nó
phải theo đúng định hớng chiến lợc của công ty mẹ
- Nếu công ty con gặp khó khăn hay phá sản thì công ty mẹ chỉ chịu thua lỗ
chứ không làm công ty mẹ phá sản. nhng ngợc lại khi công ty mẹ gặp khó
khăn, các công ty con sẽ chịu tác động nặng nề đặc biệt khi công ty mẹ phá
sản thì các công ty con cũng bị phá sản theo
- Mô hình công ty mẹ- công ty con chỉ thực sự đạt hiệu quả khi nó tuân theo
quy luật tích tụ và tập trung của kinh tế thị trờng. Trái điều này hẳn mô hình
sẽ sụp đổ.
7
Phần II:
Tập đoàn kinh tế trong điều kiện ở Việt Nam.
I.Tính tất yếu của việc hình thành các tập đoàn kinh tế ở Việt
Nam và những định hớng.
I.1. Tính tất yếu:
Do sự phát triển của kinh tế thị trờng, sự tích tụ, tập trung chuyên môn hoá
và sự hợp tác hoá sản xuất, do nhiều nhân tố khác của kinh tế xã hội, khoa học
công nghệ, khoa học quản lý, từ lâu nhiều doanh nghiệp đơn lẻ ở các nớc kinh tế
phát triển đã liên kết lại với nhau, dần hình thành những tổ hợp kinh tế quy mô lớn
về ngành nghề và về lĩnh vực kinh doanh, phạm vi hoạt động không chỉ một địa
phơng mà liên kết toàn cầu. Năm 1980, thế giới có 12000 công ty xuyên quốc gia
với 122 000 chi nhánh ở nớc ngoài. Năm 1989, số công ty xuyên quốc gia đã lên

tới 35000 với 150 000 chi nhánh ở nớc ngoài. Hiện nay gần 40% tổng giá trị của
nền kinh tế thế giới, 50% tổng kim ngạch mậu dịch, 90% tổng kim ngạch đầu t
trực tiếp, 90% công nghệ phát triển cao, 75% chuyển giao kỹ thuật, 90% mậu dịch
kỹ thuật của các nớc phát triển đều thông qua các công ty xuyên quốc gia. Đây là
những khái quát chung về tình hình kinh tế thế giới hiện nay. Trong khi đó, khi
đánh giá về bớc phát triển vững mạnh và vợt bậc của nền kinh tế Việt Nam năm
2003, Thủ tớng Phan Văn Khải đã nêu rõ: Mặc dù nền kinh tế Việt Nam năm
2003 đã đạt những thành tựu lớn với GDP tăng 7,4% (đứng thứ 2 Châu á), thu
ngân sách lần đầu tiên đạt 132 000 tỷ đồng và là năm thứ sáu liên tiếp vợt qua chỉ
tiêu đề ra, nhng quy mô sản xuất kinh doanh của nền kinh tế chúng ta còn quá nhỏ
bé. Thu ngân sách của cả nớc cha bằng số đóng góp ngân sách của một tập đoàn
kinh tế lớn trên thế giới. Chính vì thế muốn kinh tế tiếp tục bứt phá và tăng trởng
bền vững, nhất định chúng ta phải xây dựng những tập đoàn kinh tế mạnh, có quy
mô sản xuất lớn để đủ sức cạnh tranh, phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
I.2. Những định hớng về việc hình thành loại tập đoàn trong điều kiện Việt
Nam.
8
Các tổng công ty theo mô hình TĐKT đợc thành lập theo quyết định
91/TTg mới chỉ là hình thức quá độ của mô hình TĐKT. Nó còn đơn điệu (chủ yếu
là chỉ bao gồm các DNNN của một ngành) đợc thành lập theo ý chỉ của cơ quan
cấp trên chứ cha hoàn toàn là quá trình hình thành tự nhiên. Do vậy động lực và cơ
sở hoạt động của quá trình hình thành tự nhiên. Trong khi đó, mô hình TĐKT mà
chúng ta muốn thành lập lại cần tuân theo nguyên tắc đa dạng ngành nghề và đa
sở hữu, trong đó các DNNN giữ vai trò chủ đạo trong các lĩnh vực quan trọng của
nền kinh tế.
Vì thế , nếu xét theo tính chất và trình độ của liên kết kinh tế thì ở nớc ta
trong những năm tới, hớng phát triển của các TĐKT sẽ là:
- Phát triển các TĐKT theo dạng Cartel là chủ yếu, tức là phát triển TĐKT theo
dạng chuyên môn hoá một ngành nh: xi măng, than, điện Hình thức này phù
hợp và tỏ ra có hiệu quả hơn. Tập đoàn tổ chức theo mô hình này, qua quá

trình tự tích luỹ từ kết quả sản xuất kinh doanh sẽ dần mở rộng sang các lĩnh
vực khác nh thơng mại, dịch vụ để hớng tới kinh doanh đa ngành và dần dần
thực hiện đa sở hữu.
- TĐKT dạng concern liên kết theo ngành dọc. Tập đoàn này có thể bao
gồm các hoạt động sản xuất, thơng mại dịch vụ có liên quan đến sản phẩm
chuyên ngành. Loại hình TĐKT này có khả năng hoạt động tốt vì nó có cơ sở
để hình thành trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay các công ty thơng mại
dịch vụ của tập đoàn sản xuất ban đầu sẽ hoạt động trong một số lĩnh vực
chuyên môn hoá với một số loại sản phẩm dịch vụ của tập đoàn sản xuất
chuyên ngành. Qua quá trình hoạt động, cùng với sự phát triển của tập đoàn,
các công ty vệ tinh này sẽ mở rộng sang các lĩnh vực khác để hớng tới đa
ngành.
- Loại hình tập đoàn đa ngành: Loại hình này có đặc điểm là các công ty thành
viên ít có mối quan hệ hoặc không cần có mối quan hệ về công nghệ nhng lại
có mối quan hệ chặt chẽ về tài chính, thực chất đây là việc một tổ chức tài
chính thực hiện đầu t vào các công ty kinh doanh tạo ra một chùm các
9
doanh nghiệp tài chính công nghiệp để hỗ trợ vốn đầu t cho các công ty
thành viên có hiệu quả cao.
Theo mô hình này, các đơn vị thành viên ít có quan hệ mật thiết, thậm chí
không có quan hệ nào liên quan đến sản xuất. Mối quan hệ ở đây chủ yếu là hành
chính và tài chính.
Tuy loại hình tập đoàn này thể hiện xu thế phát triển hiện nay nhng lại là giai
doạn cao của phát triển các tập đoàn, do đó đòi hỏi phải có những tiền đề cần thiết.
Trong khi đó, hiện nay, chúng ta cha hội tụ đủ những điều kiện nên lại hình tập
đoàn này vợt quá khả năng và trình độ của chúng ta hiện nay. Nếu thành lập và
phát triển loại hình này sẽ gặp nhiều khó khăn và không đem lại hiệu quả.
Tuy nhiên cho dù lựa chọn loại hình TĐKT nào, chúng ta cũng nên chủ động
ngay từ đầu thành lập một công ty tài chính riêng của tập đoàn để khơi thông các
luồn vôn phục vụ cho tích tụ đầu t, nâng cao hiệu qủa của việc sử dụng vốn, dần

đần tiến tới thành lập một ngân hàng trong tập đoàn. Hoạt động kinh doanh tài
chính ngân hàng của tâp đoàn có vai trò rất lớn và cần thiết cho sự tồn tại và phát
triển của tập đoàn bởi vì xu hớng cơ bản của tập đoàn chủ yếu là kiểm soát, chi
phối về tài chính, đầu t đối với các đơn vị thành viên.
II. Về việc chuyển đổi các TCT sang các TĐKT theo kiểu mẹ
con ở Việt Nam.
Trên bớc đờng hình thành các TĐKT ở Việt Nam, việc chuyển các TCT
sang hoạt động theo mô hình tập đoàn là một yếu cầu cấp thiết và mang tính tất
yếu vì các TCT đang hoạt động hiện nay ở Việt Nam chính là hình thức quá độ
của mô hình TĐKT và là một trong những tổ chức tiền thân của TĐKT.
Trong hơn mời năm phát triển kinh tế thị trờng dói sự quản lý của nhà nớc,
nền kinh tế Việt Nam dã có những bớc phát triển vợt bậc với sự ra đời của các
TCT nhà nớc và khẳng định đợc vai trò nòng cốt, chủ lực, xơng sống của nền kinh
tế. Tuy nhiên, với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cạnh tranh, tự do thơng mại và
hội nhập kinh tế quốc tế hiệu qủa sản xuất kinh doanh của các tổng công ty nhà n-
ớc có xu hớng giảm dần. So với các doanh nghiệp nhà nớc chiếm tỷ trọng lớn về
vốn (66%) nhng mới taọ ra đợc 58% doanh thu và tổng công ty 90 chỉ chiếm 22%
về vốn nhng đạt tới 27% doanh thu. Quá trình tổ chức lại cha thực sự tạo ra sự gắn
10
kết về tài chính, công nghệ, thị trờng. Do dó, hoạt động của TCT có phần rời rạc
cha phát huy đợc hiệu quả sức mạnh của TCT, một số cơ chế chính sách đối với
TCT nhà nớc đến nay không còn phù hợp khi so sánh với các TĐKT trên thế giới
thì còn nhiều sự khác biệt, không chỉ ở quy mô kinh doanh, ở trình độ kỹ thuật,
công nghệ sản xuất mà ở cả cơ chế quản lý và vận hành. Trong mô hình hiện tại,
các TCT có các công ty thành viên theo dạng hình chóp, trong đó các TCT là cơ
quan quản lý, không trực tiếp kinh doanh, hoạt động dựa vào các khoản phí đợc
nộp từ các đơn vị thành viên. quan hệ kinh tế giữa TCT với các đơn vị thành viên
vẫn mang dáng dấp hành chính, trung gian, cấp trên cấp dới, thiếu sự gắn kết về
lợi ích kinh tế và động lực phát triển.
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của các TCT cần tiếp tục đổi mới

mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của các TCT hiện nay. Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ 9 đã nêu những định hớng về cơ chế, chính sách và các
giải pháp chủ yếu thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 5 năm (2001 2005), trong đó đã
khẳng định một nhiệm vụ quan trọng là hoàn thành cơ bản việc sắp xếp, tổ chức
lại và đổi mới quản lý DNNN trong đó cần kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu ủa
của các TCT theo mô hình công ty mẹ công ty con, kinh doanh đa ngành tổng
hợp trên cơ sở ngành chuyên môn hoá, gọi vốn thuộc nhiều thành phần kinh tế
cùng tham gia kinh doanh, làm nòng cốt dể hình thành một số tập đoàn kinh tế
mạnh ở một số ngành và lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân nh bu chính
viễn thông, hàng không, dầu khí
Với nhiệm vụ quan trọng nh trên, chính phủ đang tiếp tục khẩn trơng nghiên
cứu để đa ra những sửa đổi cần thiết trong luật DNNN, trong đó có quy định về tổ
chức hoạt động và chuyển đổi tông công ty, DNNN theo mô hình công ty mẹ
con. Đây là vấn đề còn mới ở nớc ta, các tập đoàn đa và xuyên quốc gia lớn đều áp
dụng mô hình công ty mẹ công ty con do những u điểm của nó. Đó là:
Địa vị pháp lý của các công ty con có tính độc lập tơng đối, là những pháp
nhân chịu trách nhiệm trớc pháp luật nh đối với công ty mẹ.
11
Các công ty con đợc bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong quyết
định phơng án đầu t sản xuát, kinh doanh trong chiến lợc phát triển chung của
công ty.
Cơ chế giao vốn thay thế bằng cơ chế góp vốn rõ ràng, thể hiện rõ trách nhiệm
và quyền hạn của công ry mẹ (hoặc công ty đầu t tài chính trong công ty mẹ)
trong việc đầu t vốn cho các công ty con.
Các công ty con hoạt động theo tôn chỉ mục đích phát triển chung của công ty
mẹ và có mối quan hệ chặt chẽ với các công ty con khác trong công ty mẹ.
Bảo đảm sự chặt chẽ trong hoạt động của các công ty, công ty mẹ vẫn thực
hiện chế độ giám sát đối với các công ty con, công ty con thực hiện các chế độ
BCTC, kết qủa sản xuất kinh doanh định kì với công ty mẹ. Với mô hình công
ty mẹ công ty con, nh vậy , các công ty con đựoc tự chủ và tự chịu trách

nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Công ty mẹ với vai trò là
ngời đầu t vốn cho công ty con, có quyền hạn trong việc định hớng hoạt động
của các công ty con.
Sự khác biệt giữa mô hình công ty mẹ công ty con và mô hình tổng công ty
Tổng công ty Công ty mẹ công ty con
- Quản lý chủ yếu bằng quan hệ
hành chính
- Có một công ty bao trùm lên các
thành viên
- Tổng công ty không phải là doanh
nghiệp kinh doanh
- Tổng vốn bằng tổng vốn các thành
viên
- Cơ cấu tài chính không có chiều
sâu, ít hiệu quả
- Chủ yếu bằng quan hệ tài chính
- Không có doanh nghiệp nào bao
trùm mà các thành viên phụ thuộc
nhau
- Công ty mẹ là một doanh nghiệp
kinh doanh
- Tổng vốn nhỏ hơn tổng vốn các
thành viên
- Cơ cấu tài chính có chiều sâu, hiệu
quả hơn
Mối quan hệ giữa công ty mẹ- công ty con và tập đoàn
12

Công ty A
Giải thích

___ Quan hệ chi phối. Nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết; hoặc nắm
giữ quyền chỉ định đa số thành viên hội đồng quản trị;hoặc giữ
quyền biểu quyết đa số trong hội đồng quản trị
---- Quan hệ không chi phối
+ Công ty A là mẹ công ty B, công ty C, đồng thời cũng là mẹ công ty G và công
ty H
+ Công ty B, công ty C là con của công ty A
+ Công ty G, công ty H là con của công ty B đồng thời là con của công ty A
+ Công ty A với công ty D và công ty B với công ty E chỉ là mối liên kết không
phải là mối quanf
hệ mẹ- con
- Tập hợp công ty A, công ty B, công ty C, công ty G, công ty H là tập đoàn
Vậy tập đoàn là một tổ hợp gồm công ty mẹ và các công ty con
II. Những định hớng về cơ chế tài chính của mô hình công ty
mẹ- công ty con
1. Về quản lý vốn và tài sản
+ Nguyên tắc cơ bản trong vận hành và hoạt động của tổng công ty theo mô hình
công ty mẹ- công ty con là dựa trên các quan hệ về đầu t và sở hữu về vốn, tài sản
giữa công ty mẹ và công ty con
+ Công ty mẹ đợc phép sử dụng vốn và tài sản thuộc quyền quản lý sử dụng của
mình để đầu t ra ngoài doanh nghiệp bao gồm: đầu t thành lập doanh nghiệp có
100% vốn điều lệ thuộc sở hữu của công ty mẹ và do công ty mẹ là chủ sở hữu,
13
Công ty B Công ty C
Công
ty H
Công
ty G
Công ty D
Công

ty E

Tập đoàn
góp vốn với các chủ sở hữu khác thành lập công ty cổ phần hoặc công ty trách
nhiệm hữu hạn, mua lại cổ phần hoặc phần vốn của nhà đầu t khác, các hình thức
đầu t khác theo quy định của pháp luật.
+ Công ty mẹ không đợc quyền tự ý điều động vốn , và tài sản mà công ty mẹ đã
đầu t vào các công ty con mà chỉ có thể thực hiện thông qua việc chuyển nhợng
một phần hoặc toàn bộ số vốn của công ty mẹ đã đầu t vào các công ty con. Việc
chuyển nhợng tài sản của công ty mẹ dợc chủ sở hữu phân cấp và quy định trong
điều lệ của công ty. Nếu giá trị chuyển nhợng nhỏ hơn 50% giá trị tài sản theo sổ
sách kế toán thì do hội đồng quản trị công ty mẹ quyết định, ngợc lại nết trên 50%
thì hội đồng quản trị phải đợc chủ sở hữu xem xét, phê duyệt.
+ Công ty mẹ đợc quyền cầm cố, thế chấp, cho thuê, nhợng bán, thanh lý các tài
sản thuộc sở hữu của công ty, đợc thay đổi cơ cấu tài sản để phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty sao cho có hiệu quả nhất. Việc nhợng bán,
thanh lý các tài sản của công ty mẹ do chủ sở hữu phân cấp và quy định trong điều
lệ công ty mẹ. Nếu giá trị tài sản, nhợng bán, thanh lý có giá trị dới 50% tổng giá
trị tài sản theo sổ sách kế toán của công ty mẹ thì do hội đồng quản trị quyết định,
trên mức đó, hội đồng quản trị phải trình chủ sở hữu công ty mẹ xem xét, phê
duyệt.
+ Công ty mẹ đợc quyền trích khấu hao cơ bản theo nguyên tắc mức trích khấu
hao tối thiểu phải đảm bảo bù đắp đợc hao mòn hữu hình, hao mòn vô hình thực tế
của tài sản không thấp hơn tỷ lệ trích khấu hao tối thiểu do Chính phủ quy định.
Công ty có thể đợc chủ sở hữu quyết định cho trích tăng khấu hao để nhanh chóng
thu hồi vốn.
+ Hàng năm, công ty mẹ phải thực hiện kiểm kê tài sản trớc khi khoá sổ kế toán.
tài sản thừa thiếu phải lập biên bản, xác định rõ nguyên nhân, những tài sản thiếu
hụt do nguyên nhân chủ quan thì tập thể, cá nhân gây ra dự thiếu hụt phải bồi th-
ờng. Mức độ bồi thờng do hội đồng quản trị quyết định theo quy định của pháp

luật. Việc hạch toán giá trị tài sản d thừa, thiếu hụt đợc thực hiện theo quy định
chung của Nhà nớc.
+ Việc hạch toán, xác định giá trị của tài sản lu động là hàng hoá tồn kho phải
thực hiện theo đúng quy định của chuẩn mực kế toán. Trờng hợp giá gốc ghi trên
14
sổ kế toán cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện thì công ty phải trích lập dự
phòng giảm giá hàng tồn kho.
+ Các khoản nợ phải thu, phải trả công ty mẹ phải mở sổ sách theo dõi các khoản
công nợ theo từng đối tợng, thờng xuyên phân tích, đôn đốc thu hồi nợ phải thu và
thanh toán nợ phải trả. Trớc khi khoá sổ kế toán để lập BCTC hàng năm, công ty
phải kiểm kê, đối chiếu từng khoản nợ với các chủ nợ và khách nợ. Các khoản nợ
phải thu xác định là khó đòi, công ty phải trích lập dự phòng và đợc xử lý theo quy
định.
2. Quản lý doanh thu và chi phí
+ Doanh thu, thu nhập của công ty mẹ là toàn bộ số tiền đã thu, hoặc sẽ thu do
việc cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, các hoạt động tài chính và hoạt động
khác của công ty mẹ. Trờng hợp công ty mẹ đợc chia lợi nhuận trớc thuế thì số
tiền thu đợc hạch toán vào thu nhập tài chính và phải nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp. Nếu đợc chia lợi nhuận sau thuế, công ty hạch toán vào thu nhập tài chính
và không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản này.
+ Chi phí hoạt động kinh doanh của công ty mẹ là toàn bộ chi phí thực tế của
công ty đã bỏ ra trong kỳ để phục vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh, bao gồm
cả giá trị tài sản tổn thất và trích lập các khoản dự phòng theo quy định.
+ Việc xác dịnh các khoản doanh thu, thu nhập nói trên cũng nh việc hạch toán
chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, tính giá thành sản phẩm hàng hoá, chi phí
dịch vụ thực hiện trong kì và xác định kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) của công ty mẹ
thực hiện theo đúng quy định hiện hành của Bộ tài chính và các văn bản hớng dẫn
các chuẩn mực kế toán.
+ Các công ty con trong tổng công ty là các tổ chức kinh tế có t cách pháp nhân
thực hiện tự chủ kinh doanh, tự chủ tài chính theo quy định của pháp luật và theo

điều lệ do công ty mẹ duyệt. Việc xác định các khoản thu cũng đợc thực hiện theo
đúng quy định của Bộ tài chính về ban hành và công bố các chuẩn mực kế toán
Việt Nam và các văn bản hớng dẫn các chuẩn mực kế toán hiện hành
3. Lợi nhuận và phân phối lợi nhuận
15
Lợi nhuận của công ty mẹ bao gôm lợi nhuận hoạt động kinh doanh, lợi nhuận
hoạt động tài chính và lợi nhuận hoạt động khác. Các khoản lợi nhuận thu đợc do
việc đầu t ra ngoài doanh nghiệp của công ty mẹ nếu đã nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp ở công ty con thì vẫn hạch toán vào lợi nhuận hoạt động tài chính nhng khi
tính thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ đợc loại trừ. Các khoản lợi nhuận mà công ty
mẹ để lại cho công ty con bổ sung thêm vốn cũng phải hạch toán vào lợi nhuận
hoạt động tài chính đồng thời hạch toán tăng vốn chủ sở hữu và tăng vốn đầu t ra
ngoài doanh nghiệp.
Việc xác định lợi nhuận và phân phối lợi nhuận sau thuế của các công ty con đ-
ợc thực hiện theo các quy định pháp luật hiện hành liên quan và theo quy định của
điều lệ công ty mẹ phê duyệt.
IV. Vai trò của các TDDKT đối với sự phát triển kinh tế ở
Việt Nam
Việc thành lập các TDDKT ở Việt nam hiện nay là một vấn đề tơng đối lớn
và khó khăn đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế nớc ta còn yếu về mọi mặt cả về
cơ sở vật chất lẫn trình độ công nghệ. Thế nhng việc thành lập các TDDKT lại là
cần thiết vì sự ra đời của các TDDKT sẽ góp phần thúc đảy sự phát triển kinh tế ở
Việt Nam, đặc biệt là trên các giác độ nh:
+ Giảm bớt sự ngăn cách, phân biệt giữa DNNN và các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế khác. Tạo ra sự kết hợp đan xen hài hoà trong các doanh
nghiệp Việt nam có thể thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế nhanh chóng và có
hiệu quả hơn.
+ Góp phần nâng cao năng lực huy động vốn và quản lý tài chính của doanh
nghiệp.
+ Mở rộng lĩnh vực hoạt động và thị trờng cho các ngành nghề khác nhau, chủ

động hội nhập kinh tế thế giới và khu vực.
+ Tạo ra một khoản đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nớc, góp phần quan trọng
vào mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nớc.
16
Phần III
Khái quát chung về báo cáo tài chính hợp nhất
trong các tập đoàn kinh tế.
I. Khái niệm BCTC hợp nhất và sự cần thiết phải lập BCTC hợp
nhất trong TĐKT.
Việc hình thành các TĐKT đặt ra yêu cầu trình bày và cung cấp thông tin
về hoạt động sản xuất, kinh doanh của tập đoàn nhu một doanh nghiệp đơn lẻ. Tập
đoàn kinh tế bao gồm công ty mẹ và các công ty con. Công ty mẹ và các công ty
con đều phải mở sổ kế toán để ghi chép kế toán và đều phải lập đầy đủ các BCTC,
trình bày các thông tin về tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả
hoạt động, lợng tiền vào ra trên các báo cáo: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả
kinh doanh và báo cáo lu chuyển tiền tệ. Song song với việc thành lập các báo cáo
trên, công ty mẹ phải lập BCTC hợp nhất theo luật định. Đây là công việc mang
tính bắt buộc.
Hệ thống báo cáo tài chính hợp nhất là các báo cáo tài chính về tình hình tài
sản, kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của chung cả tập đoàn nh một doanh
nghiệp đơn lẻ (một thực thể duy nhất). Trong đó, hệ thống báo cáo thài chính hợp
nhất bao gồm:
1. Bảng cân đối kế toán hợp nhất
2. Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất
3. Báo cáo lu chuyển tiền tệ hợp nhất.
II. Sự cần thiết phải lập BCTC hợp nhất trong các TĐKT.
Kinh nghiệm từ sự đổ vỡ của một tập đoàn lớn trên thế giới trong thời gian
gần đây cho thất nhiều tập đoàn đã lợi dụng tính phức tạp trong công tác kế toán
và lập báo cáo tài chính hợp nhất để đánh lừa các cơ quan pháp luật và các cổ
đông cũng nh các nhà đầu t tiềm năng để rồi dẫn đến sự phá sản gây tổn thất lớn

17

×