Tải bản đầy đủ (.pdf) (118 trang)

Phát triển thương mại ở thành phố Hồ Chí Mình trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.59 MB, 118 trang )







ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


ĐỖ ĐÌNH NGHĨA


PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI Ở THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ





LUẬN VĂN THẠC SỸ


Người hướng dẫn: TS. Đặng Xuân Hoan







Hà nội - 2005




1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5
Chƣơng 1 11
TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC MỞ RỘNG KINH TẾ
ĐỐI NGOẠI VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƢỚC VỀ PHÁT
TRIỂN NGOẠI THƢƠNG 11
1.1. Tính tất yếu khách quan của việc mở rộng kinh tế đối ngoại 11
1.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước 11
1.1.2. Tính tất yếu khách quan của việc hội nhập kinh tế quốc tế 15
1.2. Hoạt động ngoại thương, các yếu tố tác động và vai trò của hoạt
động ngoại thương ở địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 19
1.2.1. Quan niệm về hoạt động ngoại thương 19
1.2.2. Các yếu tố tác động đến hoạt động ngoại thương 23
1.2.3.Vai trò của hoạt động ngoại thương đối với Thành phố Hồ Chí
Minh 25
1.3. Kinh nghiệm của các quốc gia phát triển ngoại thương trong điều
kiện hội nhập 28
1.3.1. Kinh nghiệm về việc điều chỉnh các biện pháp thực hiện chính
sách ngoại thương 29
1.3.2. Kinh nghiệm về quản lý tỷ giá hối đoái 31
1.3.3. Kinh nghiệm trong việc tận dụng những lợi thế so sánh để phát
triển ngoại thương 33

Chƣơng 2 39
NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG NGOẠI
THƢƠNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 39
2.1. Những điều kiện phát triển ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh . 42
2
2.1.1. Điều kiện về vốn 42
2.1.2. Nguồn nhân lực 43
2.1.3. Khoa học công nghệ 44
2.1.4. Cơ sở hạ tầng vật chất 44
2.1.5. Văn hóa du lịch 46
2.1.6. Thị trường 48
2.2. Thực trạng hoạt động ngoại thương trên địa bàn Thành phố 49
2.2.1. Các kết quả xuất nhập khẩu đạt được trong thời gian qua 49
2.2.2. Thị trường xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố 55
2.2.3. Các điều kiện phát triển ngoại thương trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh 62
2.2.4.Số doanh nghiệp 64
2.2.5. Những tồn tại cần được giải quyết 76
Chƣơng 3 80
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT
ĐỘNG NGOẠI THƢƠNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 80
3.1. Một số quan điểm chỉ đạo nhằm phát triển hoạt động ngoại thương
ở Thành phố Hồ Chí Minh 80
3.1.1. Những quan điểm định hướng cơ bản về phát triển kinh tế - xã
hội 80
3.1.2. Những văn bản chỉ đạo phát triển ngoại thương ở Thành phố Hồ
Chí Minh 83
3.1.3. Những quan điểm cơ bản để xác định mục tiêu phát triển ngoại
thương trong điều kiện hội nhập 90
3.2. Những mục tiêu phát triển ngoại thương trên địa bàn Thành phố Hồ

Chí Minh 91
3.2.1. Mục tiêu chung 91
3.2.2. Mục tiêu cụ thể 92
3
3.3. Một số giải pháp chung đối với việc phát triển hoạt động ngoại
thương ở Thành phố Hồ Chí Minh 96
3.4. Những giải pháp cụ thể về việc mở rộng thị trường xuất nhập khẩu
của Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới 98
3.5. Những kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số
ngành sản xuất chủ lực trên địa bàn Thành phố 104
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình phát triển kinh tế thế giới ngày nay trong bối cảnh toàn cầu
hóa kinh tế đã và đang diễn ra hết sức mạnh mẽ thì hoạt động ngoại thương
càng trở nên quan trọng, nó có vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh tế của
các quốc gia và khu vực. Mỗi quốc gia là một bộ phận của thế giới do đó sẽ
chịu tác động của những gì diễn ra trên thế giới, Việt Nam cũng không ngoại
lệ. Chính vì vậy việc nghiên cứu các điều kiện và khả năng trong hoạt động
ngoại thương có ý nghĩa hết sức quan trọng, từ đó sẽ rút ra được những bài
học kinh nghiệm quý giá giúp đất nước ta hội nhập một cách có hiệu quả.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn của cả nước.
Hiện nay đã đóng góp trên 18% GDP cả nước, gần 30% giá trị sản xuất công
nghiệp, tổng kim ngạch xuất khẩu thành phố chiến khoảng 40% tổng kim
ngạch xuất khẩu cả nước và hàng năm đóng trên 30% ngân sách quốc gia.
Trên thực tế cho đến nay thành phố Hồ Chí Minh luôn đóng góp GDP vượt xa
các tỉnh thành trong cả nước. Ngoài ra, theo quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế xã hội, thành phố Hồ Chí Minh là hạt nhân của vùng kinh tế trọng

điểm phía Nam, một trong ba vùng động lực phát triển kinh tế của cả nước.
Với vị trí là một trung tâm kinh tế, thành phố Hồ Chí Minh có nhiều tiềm
năng phát triển các ngành công nghiệp chế biến phục vụ xuất khẩu, đó là
những ngành chủ lực như công nghiệp thực phẩm, công nghiệp chế biến, cơ
khí, hoá chất, may mặc, dệt, cao su, plastic, giày da có đóng góp cao về giá
trị sản xuất so với toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên cho đến nay nhiều sản phẩm
công nghiệp ở thành phố còn có chất lượng thấp, giá thành cao khó cạnh tranh
trên thị trường quốc tế. Đơn cử ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở
thành phố Hồ Chí Minh có nhiều tiềm năng như có nhiều nhà máy chế biến
thực phẩm với các sản phẩm đa dạng, gần với vùng nguyên liệu là các tỉnh
2
sản xuất nông nghiệp thuộc đồng bằng sông Cửu Long, điều kiện cơ sở hạ
tầng cho chế biến xuất khẩu có nhiều thuận lợi hơn các tỉnh khác. Mặc dù có
tiềm năng như vậy song trong những năm qua ngành công nghiệp chế biến
đang có xu hướng giảm dần, các tiềm năng chưa được phát huy một cách
đúng mức và hiện nay đang có dấu hiệu suy giảm về năng lực cạnh tranh
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đề tài “Phát triển ngoại thương ở thành phố Hồ Chí Minh trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế” là một đề tài mang tính cấp thiết, thời sự cả về
lý luận lẫn thực tiễn. Thông qua đề tài này, tác giả muốn có sự tìm hiểu, phân
tích kỹ các khả năng và điều kiện của Thành phố Hồ Chí Minh trong việc hội
nhập kinh tế quốc tế, nhất là việc gia nhập WTO. Đồng thời, tác giả cũng hy
vọng rằng thông qua đề tài này sẽ góp phần nhất định vào việc xác lập các
luận cứ khoa học để hoạch định các chiến lược và chính sách thương mại, các
chiến lược phát triển kinh tế xã hội nhằm phục vụ công cuộc xây dựng và phát
triển nền kinh tế đất nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế trong khu vực
và quốc tế, đặt biệt là từ tháng 7 năm 1995 Việt Nam đã trở thành thành viên
chính thức của khối ASEAN, đã được kết nạp vào diễn đàn hợp tác Châu Á -

Thái Bình Dương (APEC) và đang chuẩn bị xúc tiến các điều kiện để gia
nhập khối WTO (Tổ chức Thương mại quốc tế). Việt Nam cũng đã và đang
ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương với các quốc gia
trên thế giới, đặc biệt là hiệp định thương mại Việt - Mỹ đã được ký vào
13.07.2000 và được quốc hội Mỹ thông qua vào tháng 12/2001. Trong bối
cảnh mở cửa và hội nhập nói trên, Việt Nam sẽ có điều kiện để mở rộng thị
trường, mở rộng sản xuất, tăng cường xúc tiến các hoạt động thương mại
quốc tế, tiến tới gia nhập WTO.
3
Đất nước ta đang đứng trước những thời cơ và không ít những thử
thách trong quá trình gia nhập WTO. Chúng ta phải làm sao hội nhập một
cách có hiệu quả và nhất là không bị “hòa tan” vào trong thế giới phức tạp,
đầy rẫy những cạm bẫy và thử thách đó. Hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế
thế giới của Việt Nam đã thực sự bước vào chiều sâu trên một phương diện
rộng lớn bao gồm hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân từ
hàng hóa công - nông - ngư nghiệp cho đến ngành điện tử, tin học, du lịch,
hàng không… và ở nhiều mức độ khác nhau từ đơn phương, song phương cho
đến đa phương và nhiều hình thức đa dạng khác. Tuy nhiên, quá trình hội
nhập kinh tế ở nước ta trong hơn một thập niên vừa qua đã bộc lộ nhiều yếu
kém, tồn tại cần được nhận thức rõ để khắc phục. Vấn đề then chốt ở đây là
công tác chuẩn bị cho quá trình hội nhập chưa tốt, từ đó dẫn đến việc thiếu
chủ động và chưa thực sự tích cực thể hiện qua các điểm sau:
- Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và giới doanh nhân
chưa thống nhất về sự cần thiết, về lợi và hại của hội nhập kinh tế quốc tế đối
với Việt Nam. Từ đó dẫn đến việc thiếu quyết tâm thực hiện hội nhập kinh tế
quốc tế chính vì vậy mà Đại hội IX của Đảng vào tháng 4 năm 2001 đã giải
quyết một bước quan trọng về quan điểm và chủ trương liên quan đến hội
nhập kinh tế của nước ta. Đây là cơ sở quan trọng để thống nhất nhận thức và
hành động của các tầng lớp, các giới trong tiến trình hội nhập.
- Việc nghiên cứu và đánh giá các tác động toàn diện của hội nhập kinh

tế quốc tế một cách có hệ thống đối với Việt Nam để làm cơ sở cho các quyết
sách chưa thực sự được coi trọng. Mặt khác, bộ máy và đội ngũ cán bộ thực
hiện công tác hội nhập quốc tế còn hạn chế về nhiều mặt, chưa thực sự đáp
ứng tốt nhất yêu cầu của hội nhập trong điều kiện mới.
Từ những thực tế trên, đã có nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào
việc xây dựng định hướng phát triển ngoại thương ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, các đề tài trên chủ yếu nêu lên các định hướng cơ bản về nhịp độ
4
phát triển, cơ cấu mặt hàng và cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu mà chưa đi
sâu vào phân tích các khả năng cũng như điều kiện của Thành phố Hồ Chí
Minh trước những biến đổi của thế giới hiện nay. Đứng trước bối cảnh như
vậy, cần có một đề tài nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống về vấn đề
chuẩn bị các điều kiện trong hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phục vụ trước hết
là cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu trong nhà trường. Mặt khác, tác giả
muốn đi sâu vào phân tích những thuận lợi và khó khăn cũng như việc chuẩn
bị của Thành phố Hồ Chí Minh trước cơ hội lớn này nhằm tạo được thế chủ
động trong hội nhập.
Nói tóm lại, đứng trước bối cảnh trong nước và quốc tế nêu trên đã tác
động tạo nên tính cấp thiết cần phải nghiên cứu, đánh giá hoạt động ngoại
thương ở Thành phố Hồ Chí Minh nhằm làm cơ sở cho việc xác định quan
điểm, định hướng phát triển ngoại thương trên địa bàn thành phố trong thời
gian tới, đồng thời làm rõ việc Thành phố Hồ Chí Minh đã chuẩn bị như thế
nào cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích:
- Trình bày một cách rõ ràng bối cảnh quốc tế đã và đang tạo ra tính tất
yếu phải mở rộng kinh tế đối ngoại. Từ đó chỉ ra những cơ hội và thách thức
đối với hoạt động ngoại thương trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Phân tích và trình bày m ột cách có hệ thống các điều kiện và khả năng
của Thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế.

- Phân tích những triển vọng của Thành phố Hồ Chí Minh trong việc
gia nhập WTO một cách thành công và hiệu quả.
* Nhiệm vụ:
Việc nghiên cứu nhằm đáp ứng các nhiệm vụ cụ thể sau:
5
- Thống nhất về quan điểm, ý chí và hành động trong việc xúc tiến
thương mại, đẩy mạnh tốc độ phát triển ngoại thương trong điều kiện hội
nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của các hàng hóa, dịch vụ, các
doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn thiện các luận cứ khoa học, phân tích rõ thực trạng cũng như
việc phát huy các lợi thế của địa phương nhằm góp phần nhất định vào việc
định hướng phát triển ngoại thương ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian
tới, cụ thể là đến năm 2010.
- Đưa ra một số kiến nghị để phát triển các ngành sản xuất nhằm chuẩn
bị điều kiện sẵn sàng, tạo ra thế chủ động cho hoạt động ngoại thương trên địa
bàn thành phố trước cơ hội mở rộng thị trường quốc tế khi Việt Nam đã gia
nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO).
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Các quan điểm, kinh nghiệm trong việc vận dụng các lý thuyết về khả
năng cạnh tranh, lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế cũng như chiến
lược công nghiệp hóa theo xu thế kinh tế mở hiện nay. Từ việc nhận thức rõ
về ngoại thương và cũng như tầm quan trọng và vai trò của hoạt động ngoại
thương đối với thành phố Hồ Chí Minh đã tạo nền tảng cho việc hoạch định
các mục tiêu và giải pháp cụ thể để phát triển ngoại thương trên địa bàn thành
phố trong bối cảnh hội nhập.
* Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với
phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phân tích tổng hợp và phương pháp so
sánh nhằm làm nổi bật nội dung cần trình bày.

5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
6
Tác giả tập trung vào nghiên cứu về những lợi thế so sánh, khả năng
cạnh tranh cũng như một số hạn chế nhất định trong các mặt hàng chủ lực ở
Thành phố Hồ Chí Minh để chứng minh làm rõ vấn đề.
Phạm vi nghiên cứu về không gian chủ yếu là địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh nhưng do tính chất và điều kiện của nền kinh tế mở nên đối với
nguồn hàng xuất khẩu sẽ được nghiên cứu mở rộng cả khu vực phía Nam và
trong sự tác động của các chính sách quản lý chung nhưng có tác động đến
Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Đóng góp của luận văn
Đề tài tập trung nghiên cứu những kinh nghiệm vận dụng các lý thuyết
thương mại quốc tế, kinh nghiệm của các nước có điều kiện tương tự như
Thành phố Hồ Chí Minh nhằm có thể áp dụng được vào tình hình thực tiễn ở
Thành phố trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần thực hiện thành
công sự nghiệp CNH, HĐH. Đề tài còn tiến thêm một bước nữa là phân tích
các điều kiện, khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng chủ lực trên địa bàn
từ đó làm rõ về sự chuẩn bị của Thành phố Hồ Chí Minh cho công cuộc hội
nhập trong thời gian trước mắt.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương với 17 tiết.
Chương 1: Tính tất yếu khách quan của việc mở rộng kinh tế đối ngoại
và một số kinh nghiệm của các nước về phát triển ngoại thương.
Chương 2: Những điều kiện và thực trạng của hoạt động ngoại thương
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm phát triển hoạt động
ngoại thương ở Thành phố Hồ Chí Minh.

7








Chƣơng 1
TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC MỞ RỘNG
KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƢỚC
VỀ PHÁT TRIỂN NGOẠI THƢƠNG

1.1. Tính tất yếu khách quan của việc mở rộng kinh tế đối ngoại
1.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước
Thế giới ngày nay đang có nhiều sự thay đổi lớn cả về sự phát triển của
lực lượng sản xuất lẫn mối quan hệ quốc tế. Xu thế của thế giới từ đối đầu đã
chuyển dần sang đối thoại và hợp tác, xu thế hội nhập mở cửa ngày càng trở
nên phổ biến, mặt khác mối quan hệ quốc tế trở nên phức tạp hơn nhiều so
với các thập kỷ trước. Tất cả các vấn đề trên đều xuất phát bởi các nguyên
nhân sau đây:
- Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai xuất hiện đã làm thay
đổi tính chất của nền sản xuất. Từ chỗ dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên
là chính đã chuyển sang sử dụng các vật phẩm do con nguời chế tạo ra với
hàm lượng chất xám và trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao. Sở dĩ
như vậy là do sự phát triển kinh tế theo kiểu truyền thống theo quy luật đánh
đổi đã phải trả giá quá đắt, tài nguyên bị khai thác đến cạn kiệt kèm theo đó là
nạn ô nhiễm môi trường đã ảnh hưởng, đe dọa trực tiếp đến đời sống của con
8
người trên trái đất. Từ đó buộc các quốc gia trên thế giới phải thận trọng hơn
trong việc tính toán hiệu quả kinh tế đồng thời phải bắt tay nhau trong vấn đề

bảo vệ môi trường sống trên hành tinh của chúng ta.
- Quan hệ kinh tế quốc tế ngày nay đã trở thành vấn đề sống còn của
các quốc gia trên thế giới. Mặt khác, sự cạnh tranh khốc liệt để giành giật thị
trường đã dẫn đến việc hình thành các liên minh kinh tế khu vực và liên minh
kinh tế quốc tế. Điều này chứng tỏ rằng hoạt động thương mại quốc tế đã giữ
vai trò quan trọng không thể thiếu đối với các quốc gia, không một nước nào
có thể đứng ngoài cuộc vì dù muốn hay không đã bị ràng buộc chặt chẽ về
kinh tế, xu thế hội nhập, toàn cầu hóa về kinh tế ngày càng trở nên phổ biến.
- Hầu hết các quốc gia hiện nay đều lựa chọn chiến lược kinh tế mở,
nhất là các nước đang phát triển nhằm tranh thủ sự chuyển giao công nghệ và
nguồn vốn từ nước ngoài biến ngoại lực thành nội lực để đẩy nhanh quá trình
phát triển tích cực nền kinh tế. Đều này hết sức có ý nghĩa đối với những
nước như Việt Nam vì nó đã tạo tiền đề để quá độ về cơ sở vật chất kỹ thuật
lên một trình độ mới.
- Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở nhiều nước, vai trò điều
tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước đã thể hiện ngày càng rõ nét hơn. Hiện
nay, hầu hết các quốc gia đều lựa chọn cơ cấu kinh tế mở, còn đối với các
nước đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa thì chọn chiến lược công
nghiệp hóa hướng về xuất khẩu để đẩy nhanh quá trình hội nhập.
Từ những nguyên nhân trên cho phép rút ra những nhận định sau:
- Quan hệ kinh tế quốc tế ngày nay đã có những nội dung mới. Đó là sự
chuyển giao công nghệ và các hình thức hợp tác quốc tế ngày càng trở nên đa
dạng và phong phú hơn.
- Mỗi quốc gia phải định hướng đúng về chiến lược phát triển kinh tế
và chiến lược về cơ cấu ngành kinh tế nhằm phát triển kinh tế xã hội theo
9
hướng xuất khẩu, khai thác tốt lợi thế so sánh giữa các quốc gia, tận dụng
được những lợi thế và thời cơ do xu thế quốc tế hóa mang lại.
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế
tập trung quan liêu bao cấp mang nặng tính tự cấp tự túc sang nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với quá trình đổi mới, mở cửa kinh
tế, trong những năm gần đây hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta đã phát
triển rất mạnh mẽ, có thể cụ thể một số nét cơ bản sau:
- Sau khi Liên Xô (cũ) và khối SEV tan rã, kể từ năm 1991, Việt Nam
buộc phải chuyển hướng thay đổi các thị trường truyền thống Đông Âu sang
các thị trường khu vực khác như: Đông Bắc Á, Trung Đông, Tây Âu, Bắc
Mỹ Dưới góc độ mậu dịch thì đó là sự chuyển đổi từ thị trường đồng tiền
không có khả năng chuyển đổi sang thị trường có đồng tiền có khả năng
chuyển đổi.
- Năm 1993, chúng ta đã khai thông quan hệ với các tổ chức quốc tế
khác như: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), ADP…
- Ngày 25/07/1995, gia nhập chính thức ASEAN, đồng thời gia nhập
vào khu vực mậu dịch tự do (AFTA) và cam kết thực hiện chương trình
CEPT.
- Năm 1995 Mỹ xóa bỏ cấm vận kinh tế Việt Nam, điều này đã tạo
nhiều thuận lợi hơn cho ta trong quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước khác
trên thế giới, việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ đã thúc đẩy
quan hệ mậu dịch giữa hai nước tăng nhanh. Năm 2000, hiệp định thương mại
Việt Mỹ đã được ký kết và thực hiện.
- Tháng 3 năm 1996 tham gia diễn đàn hợp tác Á- Âu ASEM với tư
cách là thành viên sáng lập, ngày 15/06/1996 gửi đơn xin gia nhập diễn đàn
hợp tác Châu Á Thái Bình Dương APEC và năm 1998 được công nhận là
thành viên của tổ chức này, hội nhập đầy đủ đến năm 2020.
10
- Tháng 12 năm 1998 gửi đơn xin gia nhập WTO, cho đến nay đã tiến
hành mười phiên đàm phám để giải thích các chính sách kinh tế Việt Nam,
tiến hành đàm phán song phương và đa phương với trên 130 nước.
Nhìn chung, đến năm 1998 chính sách ngoại thương của nước ta đã có
sự chuyển biến mạnh mẽ, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VIII) đã hoàn thiện
chủ trương xây dựng nền kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu và đi đôi với việc

bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước, đặt các doanh nghiệp vào môi trường
cạnh tranh nhằm nâng cao hiệu quả của nền kinh tế và khả năng cạnh tranh
của các mặt hàng Việt Nam trên thị trường nội địa, khu vực và quốc tế. Tuy
nhiên, những biện pháp của chính phủ triển khai thực hiện chủ trương này
chưa đồng bộ, còn nhiều kẽ làm cho tiêu cực phát sinh, việc này đã tạo không
ít những khó khăn cho các doanh nghiệp, làm hạn chế hiệu quả hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu. Trong đó cụ thể là việc quản lý về hạn ngạch, quy
định đầu mối xuất nhập khẩu không hợp lý, thủ tục quản lý còn nhiêu khê,
chưa có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ liên quan gây nhiều phiền hà cho
các doanh nghiệp. Đặc biệt, biểu thuế xuất nhập khẩu Việt Nam hiện tại vẫn
bị đánh giá là phức tạp, vả lại thay đổi thường xuyên làm cho các doanh
nghiệp khó định hướng xuất khẩu dài hạn từ đó dẫn đến việc bị động, chậm
trễ mất thời cơ. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện chính sách
và cơ chế điều hành xuất nhập khẩu.
Trước tình hình đó, quốc hội đã thông qua nhiều văn bản dưới luật, đạo
luật tạo hành lang pháp lý cho từng bước hội nhập nền kinh tế quốc tế như:
luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật phá sản, luật đất đai…ngày 10 tháng 02
năm 1998 thủ tướng chính phủ ra quyết định 31/TTg thành lập Ủy ban quốc
gia về hợp tác kinh tế quốc tế do đồng chí Nguyễn Mạnh Cầm làm chủ tịch,
có nhiệm vụ giúp Thủ tướng chỉ đạo, điều hành các bộ ban ngành địa phương
trong việc hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.2. Tính tất yếu khách quan của việc hội nhập kinh tế quốc tế
11
Trước hết, xét về quan điểm cần nhấn mạnh rằng quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế và quá trình toàn cầu hóa kinh tế là hai mặt của một quá trình,
sẽ không có quá trình toàn cầu hóa nếu không có sự tham gia của các quốc
gia, toàn cầu hóa là xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều các nước
tham gia, quá trình này vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp
tác vừa có đấu tranh. Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan thì hội
nhập kinh tế cũng là một tất yếu khách quan, chính quá trình toàn cầu hóa có

ảnh hưởng một cách sâu rộng đến tất cả các quốc gia trên thế giới nhất là quá
trình hội nhập kinh tế, có thể cụ thể một số vấn đề sau:
- Trước nhu cầu phát triển của các nước yêu cầu phải nắm bắt thời cơ
và có khả năng tận dụng một cách tích cực vào quá trình toàn cầu hóa, các
quốc gia trên thế giới đều có xu hướng chuyển sang nền kinh tế mở, đẩy mạnh
xu thế tận dụng các điều kiện quốc tế để phát triển. Do vậy, các nước có nền
kinh tế tự cấp, tự túc, đóng cửa khép kín cũng bắt buộc phải từng bước điều
chỉnh để mở cửa.
- Bên cạnh quan hệ song phương, đa phương đóng vai trò quan trọng đã
xuất hiện cơ cấu nhiều tầng lớp, tiểu vùng, khu vực, đại khu vực và toàn cầu
như: EU, NAFTA, APEC, ASEAN…, liên minh kinh tế và thuế quan Trung
Phi, cộng đồng kinh tế các nước Tây Phi, các tổ chức lớn như WTO, WB,
G7… đã mang lại nhiều ưu đãi về thương mại cho các nước tham gia.
- Quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra một hệ thống quan hệ quốc tế đan
xen làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Tuy nhiên mỗi
nước tham gia đều có một lợi ích riêng và đôi khi đối lập nhau. Do vậy, trong
quan hệ quốc tế luôn luôn có hai chiều hướng hợp tác và cạnh tranh, có hàng
trăm dân tộc và các nước tham gia nhưng vẫn có lợi ích riêng, cụ thể như đối
với các nước tư bản phát triển : không chỉ thu được lợi nhuận mà còn khống
chế thị trường thế giới và dùng mọi thủ đoạn để lôi kéo các nước khác để có
lợi cho mình; còn các nước đang phát triển thì tìm kiếm nguồn lực về vốn,
12
khoa học công nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý để phát triển kinh tế, thoát
nghèo.
Nói tóm lại, hội nhập kinh tế quốc tế bắt nguồn từ xu thế khách quan và
tất cả các nước trên thế giới dù là nước phát triển hay đang phát triển đều có
những lợi ích riêng và những cơ hội để phát triển khi tham gia quá trình này.
Tuy nhiên chính vì lẽ đó mà hội nhập kinh tế quốc tế vừa là thời cơ và cũng là
thách thức đối với các nước.
Thật vậy, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ đem lại nhiều thời cơ cho việc

phát triển kinh tế của các nước trên thế giới, điều này có ý nghĩa rất lớn đối
với nền kinh tế nước ta, có thể cụ thể hóa một số nét cơ bản sau:
- Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ mở rộng các cơ hội kinh doanh và xâm
nhập thị trường thế giới. Bởi lẽ từ năm 1990 trở lại đây Việt Nam đã mất các
thị trường truyền thống như: Liên Xô(cũ), Đông Âu Do vậy hội nhập kinh
tế sẽ giúp khắc phục tình trạng trên và tiếp cận với thị trường thương mại thế
giới.
- Trong điều kiện toàn cầu hóa, việc giảm và tiến tới bãi bỏ các hàng
rào thuế quan cản trở thương mại quốc tế đã làm cho hàng hóa và sản phẩm
của mỗi nước có thị trường quốc tế rộng lớn, từ đó kích thích sản xuất phát
triển.
- Tự do hóa thương mại đã đặt các doanh nghiệp mỗi nước trước những
cơ hội lớn và thị trường về các nguồn lực cho sản xuất kinh doanhnhư: vốn,
công nghệ, lao động Đồng thời đặt các nước trước những sự cạnh tranh
quốc tế quyết liệt, điều này đã buộc họ phải cải tiến công nghệ, phương thức
tổ chức quản lý sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất
kinh doanh để tồn tại và phát triển.
- Khi các nước đang phát triển hội nhập kinh tế quốc tế sẽ nâng cao vị
thế quốc tế và tạo thế đứng vững chắc trong quan hệ quốc tế.
13
Mặt khác, hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra nhiều thách thức đối với
các nước đang phát triển, cụ thể như sau:
- Các nước đang phát triển như Việt Nam có trình độ phát riển kinh tế
thấp hơn so với các nước có nền kinh tế phát triển, do vậy dễ bị thua thiệt khi
hội nhập nếu không có các phương sách hội nhập có hiệu quả. Như chúng ta
đều biết rằng hầu hết các vấn đề liên quan đến thể chế như WTO, WB, IMF
và các luật lệ quy định liên quan đến hoạt động thương mại đều bị khống chế
bởi các nước phát triển.
- Một thách thức nữa đối với các nước đang phát triển là việc thực hiện
các nguyên tắc và chương trình hợp tác của các tổ chức thương mại quốc tế.

Do mỗi tổ chức đều có những nội dung, mục tiêu, nguyên tắc hoạt động riêng
của tổ chức mình nên một nước nào muốn trở thành thành viên của các tổ
chức đó phải cam kết và chứng tỏ khả năng hoàn thành các nghĩa vụ của một
thành viên trong tổ chức. Điều này là một thử thách rất lớn đối với nước ta vì
mỗi tổ chức đều có nhiều chương trình, nghĩa vụ đòi hỏi khác nhau mà chúng
ta phải đáp ứng chẳng hạn như:
o AFTA: giảm thuế nhập khẩu chỉ còn từ 0 đến 5% và đến thời hạn
năm 2006 là hạn cuối mà chúng ta phải thực hiện, điều này có ảnh hưởng trực
tiếp đến ngân sách nhà nước.
o WTO: bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, buộc phải điều chỉnh các cơ
chế, chính sách, luật lệ, thuế quan WTO phải giảm 40% trong 5 năm (Việt
Nam mới chỉ giảm 25%), xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, hạn ngạch xuất nhập
khẩu…
Tất cả các vấn đề trên đã gây một sức ép rất lớn đối với nước ta từ quốc
tế. Đó là sức ép từ cuộc cạnh tranh khốc liệt xuất phát từ tác động của cuộc
cách mạng khoa học công nghệ đã đưa con người vào giai đoạn kinh tế tri
thức, đặt ra nhiều yêu cầu đối với các hàng hóa tham gia thương mại quốc tế.
Ví dụ như hàng hóa đòi hỏi phải có chất lượng và hàm lượng chất xám cao,
14
đối tượng thương mại quốc tế được mở rộng bao gồm cả sản phẩm hữu hình
truyền thống và sản phẩm phần mềm của kinh tế tri thức. Điều này đã làm cho
lợi thế so sánh, cơ chế kinh tế phải không ngừng thay đổi thì mới có thể đáp
ứng tốt nhu cầu của thị trường thế giới. Không những thế mà ngay cả phương
thức tiến hành thương mại quốc tế cũng thay đổi, thương mại điện tử ra đời và
phát triển nhanh đã làm thay đổi tư duy kinh tế, chiến lược tiếp thị và phương
thức kinh doanh phải thay đổi sâu sắc. Đây là một thử thách quá lớn đối với
nước ta khi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp, phần lớn sản
phẩm xuất khẩu đều là sản phẩm sơ chế có hàm lượng chất xám rất ít, do vậy
các sản phẩm này không được ổn định về nhu cầu, giá cả hay bị dao động.
- Một thách thức rất lớn nữa đối với các nước đang phát triển là sức ép

về kinh tế của các công ty xuyên quốc gia có vai trò rất lớn đối với quá trình
toàn cầu hóa và hội nhập. Trong đó Mỹ, Nhật và các nước G7 có nhiều công
ty xuyên quốc gia trên thế giới.
Nói tóm lại, các nước đang phát triển phải hội nhập kinh tế quốc tế vì
đó là xu thế khách quan nên không nước nào có thể đứng ngoài được. Điều
này là không bàn cãi thế nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là làm sao giành
được nhiều lợi ích và hạn chế các tác hại, rủi ro? Để làm được việc này cần
thực hiện bốn vấn đề sao đây:
+ Các nước đang phát triển phải tăng cường liên kết với nhau để đấu
tranh đòi thiết lập một trật tự thế giới công bằng hơn.
+ Mỗi nước phải giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập, nếu chần
chừ sẽ mất thời cơ.
+ Vừa phải thích nghi với tập quán và các quy tắc quốc tế vừa phải giữ
vững độc lập, chủ quyền của quốc gia, hội nhập chứ không “hòa tan”.
15
+ Mỗi nước phải có chiến lược xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ,
thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế để tranh thủ các nguồn lực quốc tế, phát
huy có hiệu quả các lợi thế so sánh của quốc gia.
1.2. Hoạt động ngoại thƣơng, các yếu tố tác động và vai trò của
hoạt động ngoại thƣơng ở địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
1.2.1. Quan niệm về hoạt động ngoại thương
Ngoại thương hay còn gọi là thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng
hóa, dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia.
Ngoại thương là một bộ phận quan trọng của kinh tế đối ngoại, có liên quan
và tác động mạnh đến sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế nhờ vào quy
mô và chuyên môn hóa trong phân công lao động quốc tế dựa trên lợi thế so
sánh của các quốc gia. Ngoại thương thường được nghiên cứu dưới ba góc độ
sau:
- Đứng trên quan điểm và lợi ích toàn cầu để tìm ra những quy luật, xu
hướng và vấn đề mang tính chất chung của thế giới.

- Đứng trên lợi ích và quan điểm của mỗi quốc gia để xem xét hoạt
động mậu dịch của quốc gia đó so với phần còn lại của thế giới.
- Đứng trên quan điểm và lợi ích của các doanh nghiệp để xác định
phương án kinh doanh quốc tế nhằm tối đa hóa lợi nhuận của mình.
Theo nghĩa phổ biến thì ngoại thương là phạm trù kinh tế phản ánh
quan hệ hàng- tiền giữa các quốc gia với nhau. Theo quan điểm của Hội nghị
liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), ngoại thương được
hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm mọi hoạt động kinh doanh trên thị trường
quốc tế từ thương mại hữu hình (hàng hóa gồm cả hàng sơ chế và hàng hóa có
hàm lượng công nghệ cao) đến thương mại vô hình (liên quan đến quyền sở
hữu trí tuệ như phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả,
thương hiệu…) và bao gồm cả dịch vụ (như tài chính, ngân hàng, vận tải, bưu
16
chính viễn thông, du lịch, y tế, giáo dục…). Nội dung của ngoại thương bao
gồm hoạt động xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, khoa học kỹ thuật
giữa nước này với nước khác, hoặc trong phạm vi một quốc gia (với các cá
nhân hay doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động trên lãnh thổ quốc gia đó).
Trong điều kiện hiện nay, khái niệm trong nước và nước ngoài phải được quy
ước rất chặt chẽ vì trong thực tiễn xuất hiện những hình thức ngoại thương
như: xuất khẩu tại chỗ, xuất nhập khẩu quá cảnh Trong đó, xuất khẩu là
hướng ưu tiên và là trọng điểm của hoạt động ngoại thương ở các nước nói
chung và nước ta nói riêng. Đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia
phát triển như nước ta ngoại thương có tác dụng rất lớn như:
- Góp phần làm tăng của cải và sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia.
- Là động lực của tăng trưởng kinh tế quốc dân.
- Điều tiết nền kinh tế “tình trạng thừa, thiếu” của mỗi nước.
- Nâng cao trình độ công nghệ và cơ cấu ngành nghề trong nước.
- Tạo điều kiện giải quyết việc làm cho người lao động trong nước.
Mấy thập kỷ gần đây, dưới tác động của cách mạng khoa học công
nghệ cùng với xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa đã làm cho hoạt động

ngoại thương có những đặc điểm mới sau:
- Tốc độ tăng trưởng ngoại thương quốc tế tăng nhanh hơn tốc độ tăng
trưởng của tổng sản phẩm quốc dân.
- Tốc độ tăng trưởng ngoại thương của hàng hóa vô hình có xu hướng
tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng ngoại thương của hàng hóa hữu hình do có
sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế giữa những ngành sản xuất vật chất và dịch
vụ trong mỗi quốc gia.
- Cơ cấu mặt hàng có sự biến đổi quan trọng, thành phẩm công nghiệp
chế biến chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với sản phẩm sơ chế, tỷ trọng nhiên
liệu và sản phẩm máy móc tăng rất nhanh so với các loại hàng hóa khác.
17
- Phạm vi, phương thức và công cụ cạnh tranh của thương mại quốc tế
diễn ra rất đa dạng, không chỉ về mặt chất lượng, giá cả mà còn về điều kiện
giao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các dịch vụ sau khi bán hàng.
Phạm vi thị trường ngày một mở rộng không chỉ hàng hóa, dịch vụ thông
thường mà còn mở rộng sang lĩnh vực tài chính, tiền tệ và các lĩnh vực này
ngày càng đóng vai trò qua trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế.
- Chu kỳ “sống” của từng loại sản phẩm ngày ngày rút ngắn lại. Các
hàng hóa có hàm lượng khoa học công nghệ cao có sức cạnh tranh lớn hơn so
với các hàng hóa truyền thống.
Quá trình phát triển thương mại quốc tế đòi hỏi phải tự do hóa thương
mại đồng thời phải thực hiện bảo hộ mậu dịch một cách hợp lý. Để biến ngoại
thương thành đòn bẩy phát triển kinh tế quốc dâncần phải sử dụng thành thạo
các lợi thế so sánh, nguyên tắc lợi ích tương đối. Thuyết lợi thế so sánh cho
rằng, các nước có năng suất lao động khác nhau, thông qua trao đổi hàng hóa
trên thị trường đều có thể thực hiện tiết kiệm lao động xã hội với những mức
độ khác nhau, đem lại lợi ích về kinh tế cho cả hai bên tham gia quá trình trao
đổi. Tức là các nước có thể thông qua sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm
mình có ưu thế tương đối để nhập khẩu những sản phẩm mình kém ưu thế
hơn. Lợi ích tương đối gắn liền với lợi ích so sánh, sự phân công lao động

quốc tế phát triển dẫn đến những sản phẩm tổng hợp quốc tế. Những sản
phẩm này tập trung lợi thế so sánh của nhiều nước khiến cho lợi ích của mỗi
nước tham gia đều trở thành tương đối.
Tuy nhiên, lợi thế so sánh cũng không phải là không thay đổi vì có khả
năng những người đi sau sẽ đuổi kịp và vượt lên do tác động của quy luật phát
triển không đồng đều về kỹ thuật. Các nước thuộc thế giới thứ ba trong khi sử
dụng lợi thế so sánh không ngừng học tập, sáng tạo lợi thế so sánh mới và
không ngừng khắc phục thế yếu kém của mình.
18
Đối với nước ta, trong điều kiện hiện nay để đẩy mạnh hoạt động ngoại
thương cần hướng vào giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, cần tăng kim ngạch xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu.
Nhu cầu phát triển sản xất và đời sống nhân dân trong kinh tế mở đòi hỏi phải
tăng nhập khẩu, do vậy tăng kim ngạch xuất khẩu là một yêu cầu mang tính
bức xúc của nước ta.
Thứ hai là về nhập khẩu, chính sách mặt hàng nhập khẩu phải tập trung
vào việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, phục vụ chiến lược hướng mạnh vào xuất khẩu đồng thời
thay thế nhập khẩu những mặt hàng có thể sản xuất hiệu quả ở trong nước.
Thứ ba là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chính sách thương mại
tự do và chính sách bảo hộ thương mại. chính sách thương mại tự do có nghĩa
là chính phủ không can thiệp bằng biện pháp hành chính đối với ngoại
thương, cho phép hàng hóa cạnh tranh tự do trên thị trường trong nước và
nước ngoài, không thực hiện đặc quyền và ưu đãi đối với hàng hóa xuất nhập
khẩu của nước mình, không có sự kỳ thị đối với hàng hóa nước ngoài. Còn
chính sách bảo hộ thương mại có nghĩa là chính phủ thông qua các biện pháp
thuế quan và phi thuế quan như hạn chế số lượng nhập khẩu, chế độ quản lý
ngoại tệ để hạn chế hàng hóa nước ngoài xâm nhập, phát triển và mở rộng
hàng hóa xuất khẩu nhằm bảo vệ ngành nghề và bảo vệ thị trường nội địa.
Nhà nước cần phải kết hợp cả hai chính sách trên để sao cho vừa bảo vệ và

phát triển kinh tế, bảo vệ thị trường trong nước, vừa thúc đẩy tự do thương
mại, khai thác có hiệu quả thị trường thế giới.
Thứ tư là việc hình thành tỷ giá hối đoái một cách chủ động và hợp lý.
Tỷ giá hối đoái là tỷ giá giữa đồng tiền nước ta so với đồng tiền của nước
ngoài. Tỷ giá hối đoái là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng trong
việc trao đổi kinh tế đặc biệt ảnh hưởng trực tiếp đến đối với xuất, nhập khẩu.
19
Do vậy, việc xây dựng một tỷ giá hối đoái thống nhất, sát với thị trường tiền
tệ là rất cần thiết cho mỗi nước.
1.2.2. Các yếu tố tác động đến hoạt động ngoại thương
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động ngoại thương, tuy nhiên
thực tế cho thấy các yếu tố có tác động đến hoạt động ngoại thương trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh cụ thể là:
- Hoạt động giáo dục đào tạo: yếu tố này đóng vai trò then chốt trong
việc tạo ra lợi thế cạnh tranh. Kinh nghiệm cho thấy những quốc gia có sự đầu
tư mạnh vào giáo dục như: Đức, Nhật, Hàn Quốc đã có lợi thế trong nhiều
ngành công nghiệp. Việc đạt được lợi thế cạnh tranh này ngày càng tinh vi
hơn và có khả năng cạnh tranh trong những ngành công nghiệp mới đòi hỏi
phải có nguồn nhân lực với kỹ năng và trình độ ngày càng cao. Không chỉ đạt
được năng suất lao động cao mà đòi hỏi phải có những nhà quản lý và nhân
viên đạt các tiêu chuẩn ngày càng cao để duy trì khả năng cạnh tranh hiện tại.
- Khoa học công nghệ: công nghệ được cải thiện sẽ giúp nâng cao hiệu
quả, cải thiện chất lượng sản phẩm, tăng năng suất và thâm nhập vào những
ngành công nghiệp hiện đại. Khuyến khích những cải tiến về khoa học công
nghệ từ lâu đã là một vai trò quan trọng của bất cứ một chính phủ của quốc
gia nào, hoạt động nghiên cứu và phát triển không thể chỉ để cho các công ty
thực hiện, bởi vì lợi ích từ hoạt động này đối với từng ngành công nghiệp hay
toàn bộ nền kinh tế quốc dân vượt xa lợi ích mang lại cho từng công ty nhờ
vào hiệu ứng lan tỏa của công nghệ. Tiến bộ về khoa học công nghệ làm tăng
tốc độ hiện đại hóa trong bản thân ngành công nghiệp và cả những ngành liên

quan.
- Cơ sở hạ tầng: lợi thế cạnh tranh của một ngành công nghiệp hay một
sản phẩm cũng phụ thuộc nhiều vào cơ sở hạ tầng hiện đại và ngày càng được
cải thiện, nhất là ngành vận tải, bưu chính viễn thông Cả doanh nghiệp và
chính phủ đều có vai trò trong việc tạo ra và nâng cấp cơ sở hạ tầng, trong đó
20
Chính phủ là then chốt cho đầu tư vì cần nhiều vốn và thời gian thu hồi vốn
tương đối lâu.
- Nguồn vốn đầu tư và tín dụng: việc nâng cao khả năng cạnh tranh
trong mỗi ngành đòi hỏi một nguồn vốn sẵn có đồi dào, có chi phí thấp và
được phân bổ một cách hữu hiệu cho các hoạt động đầu tư có năng suất cao
nhất thông qua hệ thống ngân hàng và các thị trường vốn khác. Chi phí vốn
thấp không những khuyến khích các khoản đầu tư quy mô lớn cần thiết cho
việc cải thiện năng suất mà còn hỗ trợ cho các dự án đầu tư lâu dài thông qua
việc giảm suất chiết khấu theo thời gian.
- Thông tin: số lượng và chất lượng của thông tin trong một nước ngaỳ
càng có ảnh hưởng đến hoạt động thương mại quốc tế. Thông tin là một
phương tiện cần thiết để tạo ra tính nhạy bén cho mỗi nhà sản xuất, kinh
doanh. Thông tin về thị trường, công nghệ hay sự cạnh tranh Chính những
thông tin này sẽ làm nổi bật nhu cầu và cơ hội mới cũng như bộc lộ những
nguy cơ đe dọa tiềm ẩn, Chính phủ giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp
thông tin mang tính dự báo và phổ biến một cách nhanh chóng đến các doanh
nghiệp.
- Chính sách thương mại: việc trợ giá nguyên vật liệu, trợ cấp vốn, trợ
cấp xuất khẩu, hỗ trợ nghiên cứu là những biện pháp chủ yếu phổ biến mà hầu
như quốc gia nào cũng áp dụng. Tuy nhiên, các hình thức trợ cấp trực tiếp
thường klhông hiệu quả vì vậy ngày nay các biện pháp khuyến khích về thuế
và trợ cấp gián tiếp trong các lĩnh vực giáo dục, các viện nghiên cứu, cơ sở hạ
tầng tỏ ra có hiệu quả hơn. Ngoài ra, chính sách về thương mại của các chính
phủ còn thể hiện qua việc giúp các doanh nghiệp nước mình xâm nhập vào

những thị trường mà sản phẩm của mình có lợi thế so sánh. Các chính sách
này chủ yếu chú trọng việc mở rộng thị trường và loại trừ những thông lệ
không công bằng trong thương mại chứ không bảo hộ các doanh nghiệp trong
21
nước vì làm như thế có thể khiến các doanh nghiệp ỷ lại không nỗ lực vươn
lên, làm chậm quá trình đổi mới trong ngành.
Ngoài những yếu tố cơ bản trên, đối với Chính phủ mỗi nước còn thể
hiện vai trò tác động của mình thông qua việc ban hành các văn bản luật, thiết
lập các tiêu chuẩn kỹ thuật, các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, an toàn,
vệ sinh môi trường…để tạo cơ chế thông thoáng, đồng thời buộc các doanh
nghiệp phải nỗ lực hết mình trong việc đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến quy
trình sản xuất, nâng cao năng lực quản lý nhằm đáp ứng được các tiêu chuẩn
đã đề ra.
1.2.3. Vai trò của hoạt động ngoại thương đối với Thành phố Hồ Chí
Minh
Về vai trò của hoạt động ngoại thương có nhiều quan điểm khác nhau,
đối với quan điểm của trường phái tự do thì ngoại thương được đánh giá rất
cao vì nó giúp cho các quốc gia có được những hàng hóa mà nước đó không
sản xuất được. Ngoài ra, hoạt động ngoại thương còn có các vai trò quan
trọng khác như: phân bổ có hiệu quả các nguồn lực sản xuất của thế giới, làm
thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi cho mỗi quốc gia, tăng thu hút vốn
đầu tư và góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Còn vai trò của ngoại
thương theo quan điểm của trường phái dân tộc chủ nghĩa thì ngoại thương là
hành vi rất nguy hiểm vì nó làm cho an ninh của mỗi quốc gia không được
đảm bảo, tác động đến cả những giá trị văn hóa của quốc gia thậm chí có
người cho rằng ngoại thương là hình thức chủ nghĩa đế quốc văn hóa cần phải
được kiểm soát nghiêm ngặt. Đối với họ, ngoại thương được xem như nguồn
gốc tạo nên sự căng thẳng về chính trị và đòn bẫy kinh tế. Nói tóm lại, ngoại
thương mang lại lợi ích cho nhiều quốc gia, tuy nhiên mức độ lợi ích sẽ khác
nhau tùy theo từng nước và nhóm nước. Các nước phát triển thường thu được

nhiều lợi ích từ ngoại thương do họ có trình độ công nghệ và tổ chức quản lý
sản xuất cao, có khả năng cạnh tranh cao trên cả bốn cấp độ là Nhà nước,

×