Tải bản đầy đủ (.pdf) (105 trang)

Những chuyển biến về tư tưởng và bút pháp trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 1975

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (775.28 KB, 105 trang )

THƯ
VIỆN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

____________________

Nguyễn Văn Cơng

NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ
TƯ TƯỞNG VÀ BÚT PHÁP TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU SAU
1975

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THÀNH THI

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011


LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả học tập, nghiên cứu của tác giả khi kết thúc khóa đào tạo Cao
học tại Trường ĐHSP Tp.HCM. Để hoàn thành luận văn, người viết đã nhờ đến sự giúp đỡ
nhiệt tình của nhiều thầy cô, bạn bè và người thân.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS. TS Nguyễn Thành Thi – người đã
tận tình hướng dẫn để tơi hồn thành luận văn này.


Người viết cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã tận tình chỉ dạy trong
suốt khóa học.
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè đồng
mơn trong suốt thời gian qua.
Nguyễn Văn Công


MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ới
v sự kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước, đất nước ta bước vào một thời kì mới, hịa bình, ổn định nhưng đồng thời cũng đối diện với
nhiều khó khăn thách thức của thời hậu chiến. Cuộc sống mới với nhiều đổi thay địi hỏi văn học
cũng phải có sự chuyển mình biến đổi để kịp thời đáp ứng những yêu cầu của thời đại. Từ một nền
văn học “chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất
nước” suốt trong những năm tháng chiến tranh từ 1945 đến 1975, văn học Việt Nam sau 1975 đã
từng bước chuyển sang một giai đoạn mới. Đặc biệt kể từ năm 1986, hịa cùng cơng cuộc đổi mới
của đất nước, văn học Việt Nam đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trên nhiều phương diện để làm nên
một diện mạo mới cho văn học nước nhà, trong đó sự vận động theo “khuynh hướng dân chủ hóa,
mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc” trở thành một đặc điểm nổi bật.
Trong quá trình vận động và phát triển của văn học Việt Nam qua hai giai đoạn nêu trên,
Nguyễn Minh Châu có vinh dự trở thành một trong số ít những nhà văn mà sáng tác đã trở thành
hiện tượng tiêu biểu cho văn học ở cả hai chặng đường. Đến với văn học vào thời điểm mà cả dân
tộc đang dồn sức cho cuộc chiến đấu chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu nhanh chóng khẳng định chỗ
đứng của mình trong lịng bạn đọc qua một loạt tác phẩm nóng hổi hơi thở đời sống chiến tranh và
cách mạng. Những Cửa sơng, Dấu chân người lính, Những vùng trời khác nhau… đã góp thêm cho
văn học trước 1975 những trang viết hào sảng về những tháng ngày hào hùng của lịch sử đất nước.
Không chỉ là cây bút văn xi có nhiều đóng góp quan trọng cho văn học thời kì kháng chiến
chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu cịn thuộc trong số những người mở đường cho cơng cuộc đổi mới
văn học Việt Nam sau 1975. Trong cuộc chuyển mình đầy khó khăn của văn học những năm đầu

thời kì đổi mới, bằng một sự “dũng cảm rất điềm đạm” (Vương Trí Nhàn), ơng ãđ đã từng bước
thay đổi lối nghĩ, lối viết, lặng lẽ nhận lãnh vai trị của một người lính tiên phong trong việc vượt
lên chính mình, tìm một hướng đi mới cho mình và cho cả một nền văn học. Những tập truyện ngắn
của ông ra đời trong những năm 80 của thế kỉ XX đã trở thành một hiện tượng văn học thu hút được
nhiều sự quan tâm của dư luận.
Là nhà văn có q trình sáng tác tiêu biểu cho sự chuyển mình của văn học Việt Nam qua hai
giai đoạn, 1945 – 1975 và sau 1975, sáng tác của Nguyễn Minh Châu đương nhiên có những chuyển
biến trong tư tưởng và bút pháp. Đó là những chuyển biến như thế nào? Phải chăng có một mối
quan hệ nhân – quả giữa chuyển biến về tư tưởng (nhân) và chuyển biến về bút pháp ( quả) trong
sáng tác của nhà văn này? Việc tìm hiểu và trả lời một cách thỏa đáng những câu hỏi này sẽ giúp ích
nhiều cho nhà nghiên cứu trong việc tìm kiếm sự vận động mang tính qui luật trong sáng tác của
Nguyễn Minh Châu nói riêng và các nhà văn thế hệ ơng nói chung.


Nguyễn Minh Châu cũng là tác giả có tác phẩm truyện ngắn được đưa vào giảng dạy trong
chương trình trung học (trước đây là Bức tranh – THCS, Mảnh trăng cuối rừng – THPT; sau này là
Bến quê – THCS, Chiếc thuyền ngoài xa – THPT). Việc nghiên cứu bước chuyển trong tư tưởng và
bút pháp của ông sau 1975 sẽ giúp cho việc giảng dạy phân tích tác phẩm truyện ngắn của ông trở
nên đúng hướng, sâu sắc, thỏa đáng hơn.
Đây cũng chính là những lý do chủ yếu khiến người viết lựa chọn đề tài “Những chuyển biến
về tư tưởng và bút pháp trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975” để thực hiện luận văn cao
học của mình.

2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Là một trong những tác giả có vị trí quan trọng trong văn xi hiện đại Việt Nam, đặc biệt là
trong giai đoạn đổi mới, Nguyễn Minh Châu và sáng tác của ông đã được các nhà nghiên cứu chú ý
tìm hiểu trên nhiều phương diện. Tính cho đến nay, đã có hàng trăm bài viết đăng trên các báo và
tạp chí cùng rất nhiều những chun luận, cơng trình nghiên cứu về cuộc đời và tác phẩm của ông.
Theo cuốn sách Nguyễn Minh Châu – về tác gia và tác phẩm, thư mục tài liệu nghiên cứu tác gia,
tác phẩm Nguyễn Minh Châu ghi nhận có đến 150 bài viết và cơng trình nghiên cứu lớn nhỏ. Sáng

tác của Nguyễn Minh Châu còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều luận văn tốt nghiệp bậc đại học,
cao học.
Trên cơ sở khảo sát những tài liệu hiện có trong tay, chúng tơi nhận thấy các bài viết về
Nguyễn Minh Châu đã tiếp cận khá kĩ lưỡng cả hai phương diện con người và tác phẩm của nhà
văn. Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu, sau đây, chủ yếu người viết sẽ chỉ điểm qua những ý kiến
và cơng trình nghiên cứu có liên quan đến truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu.
Như đã nêu, cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn là thể loại đem lại nhiều thành tựu cho sự
nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu. Sức hấp dẫn của từng thiên truyện ngắn đã lôi cuốn các
nhà nghiên cứu đi sâu phâ n tích, mổ xẻ, đánh giá…Trong số những bài viết quan tâm đến truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu, có thể kể đến những ý kiến đáng chú ý của Nguyễn Kiên, Trần Đình Sử,
Nguyễn Văn Long, Lại Nguyên Ân, Phạm Vĩnh Cư, Bùi Việt Thắng, Nguyễn Trọng Hồn, Tơn
Phương Lan, Trịnh Thu Tuyết, Huỳnh Như Phương, Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Ngọc Hiến, Hoàng Thị
Văn,…
Về các tác phẩm trong đó có truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu thời kì chống Mĩ, các ý
kiến tỏ ra khá thống nhất khi đánh giá về cảm hứng sáng tác và bút pháp của tác giả thể hiện trong
các tác phẩm. Tiêu biểu là ý kiến của Mai Hương trong Lời giới thiệu Nguyễn Minh Châu toàn tập
(Nxb Văn học, H.,2001) : “ Suốt trong những năm chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu đã dành trọn vẹn
nửa đời văn của mình đi sâu khám phá, phản ánh những “đề tài sinh tử” trong mảng hiện thực
chiến tranh và người lính cách mạng… Những tác phẩm nóng hổi hơi thở đời sống, như còn sặc


mùi thuốc súng, khói bom…đã phản ánh được khát vọng tinh thần cháy bỏng của của cả dân tộc,
thời đại – khát vọng độc lập, tự do – góp phần tái hiện bức tranh lịch sử hoành tráng của dân tộc
trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại… Những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trong chiến tranh
thường nghiêng về vẻ đẹp hào hùng và tươi tắn của cả cộng đồng, nghiêng về những sự kiện vĩ đại,
những người anh hùng và được thể hiện với bút pháp trữ tình đậm đà, giàu chất thơ. Ở đó, cảm
hứng trữ tình hòa nhập, giao thoa nhuần nhị với cảm hứng anh hùng”. Truyện ngắn Mảnh trăng
cuối rừng sáng tác ở giai đoạn này cũng thu hút được nhiều ý kiến giảng bình mà trong đó đa phần
là nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn con người trong chiến tranh và chất thơ trữ tình của thiên truyện.
Đặc biệt, trong những năm 80, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đã thu hút được sự quan

tâm sâu rộng từ phía bạn đọc và giới nghiên cứu.
Vào tháng 6 năm 1985, báo Văn nghệ đã tổ chức một cuộc Trao đổi về truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu những năm gần đây. Trong cuộc hội thảo này, có những ý kiến vẫn cịn tỏ ra băn khoăn,
nghi ngờ về những tìm tịi đổi mới của ơng, cho rằng trong tác phẩm cịn có điều gì đó “mung lung”,
“hụt hẫng”, “khó nắm bắt”, “kém đi vẻ chân thực sinh động ”. Nhiều ý kiến khác thì đánh giá cao
những tìm tịi, trăn trở trong ngịi bút của ơng, ghi nhận tác phẩm của ơng “có nhiều thành tựu, có
nhiều đóng góp rất đáng quý” [58, tr.288-311].
Sau cuộc hội thảo, nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu tiếp tục bàn luận về truyện ngắn của
Nguyễn Minh Châu, dần dần đi tới những thống nhất trong đó có sự khẳng định q trình đổi mới
tích cực và đầy hiệu quả của ông. Về những tập truyện ra đời trong giai đoạn sau này, có thể kể đến
những ý kiến của Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân,...
Trần Đình Sử nhận xét rằng: “Bắt đầu từ truyện ngắn Bức tranh, rồi tập Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành và nay là tập Bến quê, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu xuất hiện như là
một hiện tượng văn học mới, một phong cách trần thuật mới… Đặc sắc của tập Bến quê chủ yếu là
sự thể nghiệm một hướng trần thuật có chiều sâu…, phát hiện các hiện tượng đời sống trong chiều
sâu triết học và lịch sử, thể hiện nhu cầu chiêm nghiệm, tự đối thoại với chính mình và với ý thức
của mình… Có thể nói thiên hướng muốn nắm bắt hiện thực ở bề sâu ẩn kín là một đặc điểm nổi bật
mới mẻ của phong cách Nguyễn Minh Châu” [78, tr.505-508].
Lại Nguyên Ân, “khi nhận xét về xu hướng triết lí nhận thức trong những truyện ngắn gần
đây của Nguyễn Minh Châu”, đã tạm xếp thử các truyện ấy vào một số dạng chính, “Từ loại truyện
“tự thú” mà trung tâm thường là một nhân vật đang sám hối,…nhà văn chuyển sang thể nghiệm
loại truyện tuy có dạng thức tự nhiên khách quan nhưng phê phán gay gắt những lối sống vô ý
thức… Thêm một mức nữa, nhà văn đi tới loại truyện cũng có dạng khách quan tự nhiên, nhưng
không phải để lên án phê phán đối tượng cụ thể nào mà chủ yếu để nhận thức những tình thế,
những khía cạnh trái ngược vốn có trong đời sống con người…” [58, tr.269].


Một số ý kiến khác như của Ngọc Trai, khi nhận xét đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu, đã cho rằng : “Phần lớn các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là loại truyện luận đề những luận đề về đạo đức, nhân văn, về tâm lí xã hội…” [58, tr.325]. Ngồi ra, cịn có nhiều bài viết
khác đi vào bình giá, phân tích giá trị của từng truyện ngắn cụ thể, trong đó có sự ghi nhận những

tìm tịi đổi mới của nhà văn ở cả hai phương diện tư tưởng và bút pháp thể hiện.
Những năm sau khi Nguyễn Minh Châu mất, trong số những bài viết tiếp tục nghiên cứu về
truyện ngắn của ơng, có nhiều bài viết đi theo một lối tiếp cận mới mà theo đánh giá của Đỗ Lai
Thúy (trong Phê bình thi pháp học như là sự thay đổi hệ hình ) thì “bài viết về Phiên chợ Giát của
Đỗ Đức Hiểu có ý nghĩa mở đường” [45, tr.109]. Đỗ Đức Hiểu đánh giá rất cao về truyện ngắn cuối
cùng của Nguyễn Minh Châu khi cho rằng: “ Phiên chợ Giát có một tầm cỡ lớn”;…“một truyện
mở; từ cái logic của ngôn ngữ trên bề mặt, truyện đi tới ngôn ngữ thứ hai, ngôn ngữ biểu tượng
xiêu vẹo, những ảo giác, với những cơn sốc, những nghịch lí, tức là một thế giới quyện nhịe giữa
hư và thực… Sự hóa thân người / bị của ơng lão Khúng / Khoang Đen, sự phân đôi nhân cách ấy,
sự kết hợp hai ý thức con người / con vật ấy, là bi kịch của nhân vật, của thời đại…” [30, tr.256].
Hồng Ngọc Hiến thì cho rằng: “Truyện này là một giả thuyết văn học về bản chất và thân phận
người nơng dân…” [26, tr.237].
Có nhiều bài viết đi vào khai thác về một khía cạnh nào đó trong thế giới nghệ thuật của tác
phẩm như khơng gian nghệ thuật (Lê Văn Tùng), những hình ảnh biểu tượng (Dương Thị Thanh
Hiên)…
Dưới góc độ thi pháp thể loại, Bùi Việt Thắng đi vào tìm hiểu cấu trúc và tình huống trong
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, phân chia ra các dạng cơ bản là tình huống – tương phản , tình
huống – thắt nút, tình huống – luận đề [58, tr.313]. Cũng nhìn dưới góc độ thể loại, Phạm Vĩnh Cư
phát hiện ra “những yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu” [58, tr.346].
Thời gian gần đây, tiếp tục có những ý kiến bàn về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu. Nguyễn
Trọng Hoàn, trong bài Tiếp tục hành trình đọc Nguyễn Minh Châu [58], đã dành nhiều trang viết về
truyện ngắn của ơng và nhìn chung là các ý kiến ở đây khá nhất quán với những nhận định đã có
trước đó.
Trong cơng trình Truyện ngắn Việt Nam, lịch sử - thi pháp – chân dung do Phan Cự Đệ chủ
biên, in 2007, khi vi
ết về đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, người viết đã khái quát lại
trong hai luận điểm lớn. Đó là:
-

Xu hướng ôm trùm những thể loại lớn


-

Chất luận đề tan hòa vào tình huống và nhân vật

Theo chúng tơi, đây là những gợi mở đáng chú ý, có thể suy nghĩ để nghiên cứu thêm.


Ngoài những bài viết đề cập trực tiếp đến truyện ngắn nêu trên, không thể không nhắc đến
hai chuyên luận nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu là Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu
(Nxb KHXH, 2002) của tác giả Tôn Phương Lan và Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn
học Việt Nam sau 1975 (Nxb ĐHSP, H. 2007) của các tác giả Nguyễn Văn Long – Trịnh Thu
Tuyết. Những cơng trình này, dù có đối tượng và phạm vi nghiên cứu khác nhau, nhưng đều dành
nhiều dung lượng cho phần nghiên cứu mảng truyện ngắn.
Cuốn Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu , như tên gọi của nó, khơng phải là cơng
trình nghiên cứu chun biệt về truyện ngắn, nhưng rõ ràng để khái quát và nhận diện phong cách
nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, không thể không nghiên cứu truyện ngắn. Trong cơng trình này,
Tơn Phương Lan đã đi vào tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật cũng như quan niệm nghệ thuật về con
người của Nguyễn Minh Châu, tìm hiểu hệ thống nhân vật cũng như nghệ thuật trần thuật, những
đặc điểm về ngôn ngữ và giọng điệu…, từ đó phác họa được những nét cơ bản về phong cách nghệ
thuật của nhà văn.
Cuốn Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 đặt vấn đề
nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong sự vận động của văn xuôi đương đại
(chủ yếu từ 1975 trở đi). Người viết đã cố gắng chỉ ra quá trình vận động đổi mới của sáng tác
Nguyễn Minh Châu, tất nhiên trong đó có cả truyện ngắn, trên ba bình diện:
-Về quá trình đổi mới ý thức nghệ thuật mà trọng tâm là quan niệm nghệ thuật về con người:
từ con người được thể hiện chủ yếu ở bình diện xã hội trong những mơ hình giản đơn và vận động
xi chiều đến con người cá nhân trong đời thường với những mối quan hệ phức tạp, đa dạng.
-Về thế giới nhân vật: Trước 1975, chủ yếu là dạng nhân vật loại hình, sau 1975, có các
dạng nhân vật tư tưởng, nhân vật tính cách, nhân vật thế sự. Nghệ thuật xây dựng nhân vật được đổi

mới nhờ vào các thủ pháp tăng cường độc thoại nội tâm; miêu tả nhân vật qua những chi tiết tâm lí
chân thực, tinh tế; khắc họa nhân vật qua những chi tiết ngoại hình sinh động
-Về đổi mới kết cấu và nghệ thuật trần thuật: từ cốt truyện có hành động bên ngồi chiếm ưu
thế (trước 75) chuyển sang cốt truyện khơng có biến cố; một số đổi mới ở các hình thức trần thuật từ
ngơi thứ ba và ngôi thứ nhất; một số đổi mới về nhịp điệu trần thuật, giọng điệu trần thuật…
Như vậy, có thể nói hai cuốn sách trên đã đề cập đến được nhiều phương diện trong sáng tác
của Nguyễn Minh Châu, tuy nhiên, chúng khơng phải là những cơng trình nghiên cứu riêng biệt về
thể loại truyện ngắn.
Những đặc điểm của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 cũng được đề cập khá nhiều
trong luận án tiến sĩ “Đặc trưng truyện ngắn Việt Nam từ 1975 đến đầu thập niên 90” (2001) của
Hoàng Thị Văn, trong chuyên luận “Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt Nam 1975 –
2000” của Nguyễn Văn Kha (Nxb ĐHQG, 2006) . Ngoài ra cũng cịn có nhiều ý kiến nhắc đến


truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong những bài nghiên cứu về văn học Việt Nam giai đoạn sau
1975 mà luận văn khơng thể nêu hết. Những cơng trình nêu trên đã cho thấy sự quan tâm sâu sắc
của giới nghiên cứu đến sáng tác Nguyễn Minh Châu. Sức hấp dẫn của tác phẩm Nguyễn Minh
Châu, đặc biệt là mảng truyện ngắn chắc chắn sẽ cịn cần thêm nhiều cơng trình nghiên cứu khác
quan tâm làm rõ.

3. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN
VĂN
Những bài viết đề cập trực tiếp đến truyện ngắn Nguyễn Minh Châu mà tác giả luận văn đã nêu
ở phần trên, nhìn chung đã khai thác được khá đầy đủ nhiều phương diện trong truyện ngắn của ông.
Tuy nhiên, những bài viết trên, do chỉ đề cập đến một vài khía cạnh nào đó hay chỉ đi sâu vào một
vài tác phẩm cụ thể nên chưa nói hết được những đặc trưng của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
một cách đầy đủ, cũng như chưa có một sự đánh giá tồn diện về những chuyển biến về tư tưởng và
bút pháp trong truyện ngắn của ơng sau 1975. Những cơng trình nghiên cứu về phong cách nghệ
thuật hay sự đổi mới trong sáng tác Nguyễn Minh Châu đã nêu cũng chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ
thể những đặc trưng của thể loại truyện ngắn như là một vấn đề nghiên cứu chuyên biệt.

Đặt vấn đề nghiên cứu đề tài “Những chuyển biến về tư tưởng và bút pháp trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu sau 1975”, luận văn muốn đi vào tìm hiểu truyện ngắn của ơng dưới góc độ thể
loại, thấy được những nét chuyển biến trong tư tưởng và bút pháp nghệ thuật qua quá trình vận động
và đổi mới suốt chiều dài sự nghiệp sáng tác, đồng thời góp phần hiểu rõ hơn những đặc trưng
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu. Với định hướng như vậy, trong phạm vi của đề tài, luận văn sẽ tập
trung vào việc xem xét, đối chiếu đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn trước
và sau 1975, từ đó làm rõ quá trình vận độn g chuyển đổi về quan niệm nghệ thuật và phương thức
biểu hiện trong truyện ngắn của nhà văn giai đoạn sau 1975 cùng những đóng góp của ông cho văn
học thời kì đổi mới.
Trên cơ sở đào sâu những phát hiện của những nhà nghiên cứu đi trước, luận văn cố gắng hệ
thống hóa và phân tích kĩ một số đặc điểm của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn
sáng tác trước và sau 1975, thấy được những đổi mới trong cách cảm nhận hiện thực và con người,
thấy được cùng với sự thay đổi về tư duy nghệ thuật là sự thay đổi từ loại hình truyện ngắn sử thi
hóa sang loại hình truyện ngắn tiểu thuyết hóa, thấy được những đóng góp của nhà văn về phương
diện nghệ thuật biểu hiện cho thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại.

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:


Phương pháp xã hội học được dùng để làm rõ sự tác động cũng như ảnh hưởng của hoàn
cảnh xã hội đối với quá trình vận động đổi mới của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước và sau
1975.
Phương pháp loại hình được sử dụng nhằm khảo sát, phân loại và xác định đặc điểm của
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong từng giai đoạn.
Phương pháp hệ thống giúp xác định vị trí truyện ngắn của ơng trong tiến trình vận động của
văn xuôi Việt Nam qua hai giai đoạn.
Phương pháp so sánh được dùng như là một phương pháp chủ yếu để thấy được những đổi
mới của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 so với giai đoạn trước đó.
Ngồi ra luận văn còn sử dụng phương pháp thi pháp học, tự sự học và các thao tác nghiên

cứu hỗ trợ như thống kê, phân tích, tổng hợp...

5. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn, ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tham khảo, Phụ lục, được tổ chức triển khai
thành 3 chương:
Chương 1:
Truyện ngắn trong sáng tác văn học của Nguyễn Minh Châu
Chương 2 :
Những chuyển biến về quan niệm nghệ thuật và nội dung tự sự trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu (sau 1975)
Chương 3 :
Những chuyển biến về kĩ thuật thể loại, phương thức tự sự và lời văn nghệ thuật trong
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (sau 1975)
Trong đó, chương 2 và chương 3 tập trung giải quyết một số nội dung chuyên sâu.
Chương 2 tập trung giải quyết hai nội dung chính:
-

Bước chuyển về quan niệm nghệ thuật: khước từ văn chương “minh họa” để đến với văn
chương thực sự là cây đời; từ hứng thú với con người sử thi đơn phiến đến hứng thú với con
người thường nhật phức tạp, bí ẩn chưa biết hết,…

-

Bước chuyển về nội dung tự sự: từ tự sự về “bài ca ra trận” của cộng đồng với những phẩm
chất huyền thoại của người anh hùng đến tự sự về những bi kịch, những nỗi đau, những lời
sám hối, những khủng hoảng, và cả hoài nghi…

Chương 3 tập trung làm rõ ba nội dung:
-


Chuyển biến về kĩ thuật thể loại (tiểu thuyết hóa, phức thể hóa truyện ngắn)

-

Chuyển biến về phương thức tự sự: phương thức khắc họa nhân vật, phương thức sử dụng
biểu tượng nghệ thuật, phương thức trần thuật (dịch chuyển, phối hợp điểm nhìn, vai kể,…)


-

Chuyển biến trong cách sáng tạo ngôn từ: đa dạng hóa, phức điệu hóa lời văn nghệ thuật (các
loại diễn ngơn kể, diễn ngơn thoại, diễn ngơn trữ tình ngoại đề; tổ chức lời văn nghệ thuật,
giọng điệu nghệ thuật…).


Chương 1:
TRUYỆN NGẮN TRONG SÁNG TÁC VĂN HỌC
CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
1.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu
1.1.1. Cuộc đời nhà văn Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20 tháng 10 năm 1930 tại làng Thơi, xã Quỳnh Hải, thuộc
huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Từ nhỏ, Nguyễn Minh Châu đã được tạo điều kiện học hành khá
chu đáo. Học ở quê rồi vào Huế, học tiếp đến năm 1945 thi đỗ bằng Thành Chung. Những năm đầu
cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Minh Châu tiếp tục học trung học trong vùng kháng chiến.
Đầu năm 1950, khi đang là học sinh chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ Tĩnh, Nguyễn
Minh Châu tình nguyện vào quân đội, theo học trường sĩ quan Trần Quốc Tuấn. Sau đó, Nguyễn
Minh Châu về cơng tác ở sư đồn 32 0. Năm 1961, ơng theo học Trường Văn hóa quân đội ở Lạng
Sơn. Từ năm 1962 cho đến khi mất, Nguyễn Minh Châu làm việc tại tạp chí Văn nghệ qn đội .
Ơng mất ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội.
Vốn là một sĩ quan tham mưu trong quân đội, Nguyễn Minh Châu sống và làm việc trước hết

với tư cách là một người lính, nhưng lại là một người lính viết văn. Cũng như đối với nhiều nhà văn
mặc áo lính cùng thời, cơng việc sáng tác địi hỏi người cầm bút phải có nhiều lăn lộn thực tế ở
những nơi đầu sóng ngọn gió, ơng đã tham gia nhiều chiến dịch, đã từng trải qua những khó khăn
gian khổ ở rừng Trường Sơn. Hịa bình lập lại, ơng cũng đi nhiều nơi, vào thành phố Hồ Chí Minh
rồi trở ra Hà Nội, nhưng có lẽ dải đất miền Trung mới là miền đất để lại cho ơng nhiều u thương
nhất. Hình ảnh cái làng quê nghèo ven biển miền Trung cứ trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm của
ông như một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Những năm cuối đời, ông còn ấp ủ dự định viết một cuốn tiểu
thuyết về cuộc chiến ở thành cổ Quảng Trị, rất tiếc nó khơng thể hồn thành vì ơng đã đột ngột ra đi
khi đang ở giai đoạn tài năng chín muồi nhất. Sau hơn một năm trời vật lộn với cơn bệnh ung thư
máu hiểm nghèo, ông đã vĩnh viễn chia tay với cuộc đời vào ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Viện
Quân y 108 Hà Nội.
Những người thân, những người bạn của ông cùng với nhiều người trong giới nghiên cứu
đương thời luôn dành cho ông một sự yêu quý và kính trọng sâu sắc. Họ nhìn thấy ở ơng “một sự
dũng cảm rất điềm đạm” (Vương Trí Nhàn), “một chiến sĩ chiến đấu đến cùng cho điều mình nhận
thức là đúng” (Thái Bá Lợi), với vẻ ngoài “hiền lành, có khi lại cịn nhút nhát nữa, nhưng bên trong
dường như có một ngọn lửa, ngọn lửa ấy ln ln tạo ra sức nóng ở nơi đầu ngọn bút” (Ngơ Vĩnh
Bình)… Đọc những bài viết của họ về ơng, ta hình dung ra một Nguyễn Minh Châu thâm trầm lặng
lẽ, ít nói nhưng giàu lịng thương u, ln sống trung thực với chính mình và mọi người. Ơng
khơng thích ồn ào, khơng thích bon chen tranh đoạt mà lặng lẽ nhẫn nại theo đuổi những công việc


và mục đích mình đã lựa chọn. Có cảm giác như ơng ln ngơ ngác giữa dịng đời xi ngược đầy
những hệ lụy phiền tối. Nhưng ơng rất nhạy cảm và quyết liệt với những gì được coi là cái xấu, cái
ác, làm tổn hại đến con người. Và trên hết, Nguyễn Minh Châu là một người có ý thức sâu sắc về
thiên chức của nhà văn, về trách nhiệm và lương tâm của người cầm bút.
Ở góc độ một cơng dân, ơng đã làm hết sức mình để sống một cuộc sống có ích cho xã hội và
những người xung quanh mình. Ở góc độ một nhà văn, bằng tài năng và tấm lịng nhiệt tình u
nghề, với thái độ điềm đạm nhưng cũng hết sức dũng cảm, ông cũng đã dành trọn cuộc đời mình để
cống hiến hết thảy cho những mục tiêu cao đẹp của văn chương nghệ thuật, xứng đáng là “niềm
hãnh diện của những người cầm bút về một đời văn trong sáng và trọn vẹn” (Nguyễn Khải).

1.1.2. Sáng tác văn học của Nguyễn Minh Châu
Con đường sáng tác văn chương của Nguyễn Minh Châu bắt đầu tương đối muộn, mãi đến
năm 1960 mới bắt đầu có sáng tác đầu tiên, và chỉ thực sự được bạn đọc biết đến với tiểu thuyết
Cửa sông in năm 1967. Trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, Nguyễn Minh Châu đã để lại 9 cuốn
tiểu thuyết, 4 tập truyện ngắn, 1 tập tiểu luận phê bình và một số bút kí, truyện ngắn khác đăng rải
rác trên các báo, tạp chí.
Các tác phẩm đã xuất bản gồm : Cửa sông (tiểu thuyết, 1967), Những vùng trời khác nhau
(tập truyện ngắn, 1970), Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972), Từ giã tuổi thơ (tiểu thuyết viết
cho thiếu nhi, 1974), Miền cháy (tiểu thuyết, 1977), Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977),
Những ngày lưu lạc (tiểu thuyết viết cho thiếu nhi, 1981), Những người đi từ trong rừng ra (tiểu
thuyết, 1982), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện ngắn, 1983), Đảo đá kì lạ (tiểu
thuyết viết cho thiếu nhi, 1985), Bến quê ( tập truyện ngắn, 1985), Mảnh đất tình yêu ( tiểu thuyết,
1987), Cỏ lau (tập truyện, 1989), tập tiểu luận phê bình Trang giâý trước đèn...
Có thể nói với một khối lượng sáng tác tương đối dày dặn như trên, Nguyễn Minh Châu đã
kịp ghi tên mình vào lịch sử văn học Việt Nam hiện đại như một tên tuổi hết sức quan trọng.
Là một nhà văn quân đội, tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu viết nhiều về đề
tài chiến tranh như là một điều tất yếu. Tác phẩm “Dấu chân người lính” của ơng từ lúc mới ra đời
đã được bạn đọc và giới nghiên cứu đánh giá cao, được xem như là một trong những tiểu thuyết tiêu
biểu viết về chiến tranh chống Mĩ. Bám sát hiện thực đời sống những năm chiến tranh, các sáng tác
của Nguyễn Minh Châu trước 1975 (Cửa sông, Những vùng trời khác nhau, Dấu chân người
lính…) đã cho chúng ta một cái nhìn tương đối trọn vẹn về một thời kì hào hùng của cả dân tộc.
Sau 1975, hiện thực cuộc sống mới địi hỏi văn học phải có sự nhìn nhận tồn diện và thấu
đáo hơn. Là một nhà văn ln có ý thức gắn bó với đời sống, nhạy cảm với những đổi thay của thời
cuộc, Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận ra những vấn đề mới của đất nước ngay vào thời điểm
chuyển giao từ chiến tranh sang hòa bình. Trong các tiểu thuyết Miền cháy, Những người đi từ


trong rừng ra, Mảnh đất tình yêu…, mảng hiện thực quen thuộc về chiến tranh cách mạng và người
lính vẫn tiếp tục được ông quan tâm nhưng các vấn đề đặt ra trong tác phẩm đã cho thấy ở nhà văn
một cách nhìn khác trước. Ngịi bút nhà văn hướng đến nhiều vấn đề đặt ra ở thời kì hậu chiến như

việc tổ chức lại cuộc sống và làm ăn kinh tế trong thời kì mới, vấn đề giải quyết hậu quả và hàn gắn
những vết thương chiến tranh, vấn đề chống lại những tiêu cực mới nảy sinh trong cuộc sống hôm
nay…
Trước đây, ngay trong những năm tháng chiến đấu chống Mĩ ác liệt, Nguyễn Minh Châu đã
từng băn khoăn : “Ngòi bút của chúng ta sẽ trở nên phản bội người chiến sĩ nếu chỉ biết cái lúc họ
vác súng ra mặt trận với một tâm hồn phơi phới mà không biết cái lúc buồn bã, đau đớn, những lúc
đói rét, những lúc nằm giữa đồng đội chết và bị thương, trong bùn lầy, trong mưa bom bão đạn… ”
[14, tr.190]. Sau chiến tranh, cái nhìn sử thi lí tưởng hóa về con người của văn học một thời tỏ ra
khơng cịn phù hợp khi đối mặt với thực tế bộn bề, phức tạp của cuộc sống thường nhật. Ý thức
hướng tới một thứ văn chương sâu sắc hơn đã trở thành một nhu cầu hết sức bức xúc trong ơng, địi
hỏi ở ơng một sự thay đổi quyết liệt hơn. Với tiểu luận “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn
nghệ minh họa” (1987), Nguyễn Minh Châu đã mạnh dạn đề nghị đoạn tuyệt với lối văn chương
minh họa “chỉ quen với công việc cài hoa kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn”, quyết
tâm chọn cho mình một hướng đi mới, tiếp cận đời sống và con người dưới góc độ nhân bản. Nhà
văn lặng lẽ và kiên trì thực hiện một loạt những cuộc đối chứng lại với quá khứ để nâng tầm tác
phẩm, tạo ra trong tác phẩm của mình một chiều sâu suy nghĩ và nhận thức mới về con người. Ông
muốn tác phẩm văn chương phải làm “hiện lên những mẫu người của xã hội với tất cả da thịt và hơi
thở, với tất cả những mầu vẻ của những mối quan hệ xã hội bên ngoài và những gì đang được giấu
kín và cũng đang giao tranh với nhau ở bên trong: những lý tưởng và dục vọng, trí tuệ và bản năng,
thiện và ác, những phần con người ý thức được và những phần vô thức của con người mà chỉ ngòi
bút nhà văn mới có thể soi sáng, lý giải và báo hiệu” [14,tr.345].
Bằng tài năng và tâm huyết của một nhà văn luôn trăn trở với sự nghiệp văn học nước nhà,
Nguyễn Minh Châu đã thể hiện những thay đổi trong tư duy nghệ thuật của mình qua một loạt tác
phẩm có nhiều tìm tịi, khám phá. Những truyện ngắn viết vào những năm 80 của thế kỉ XX in trong
các tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Cỏ lau của ông đã tạo nên một hiện
tượng mới lạ trong văn học đương đại. Bạn đọc từng biết đến Nguyễn Minh Châu như một cây bút
tiểu thuyết tên tuổi giờ đây cịn phát hiện ở ơng một tài năng viết truyện ngắn hết sức tài hoa, độc
đáo. Đánh giá về vai trò của Nguyễn Minh Châu đối với văn học sau 1975, nhà văn Nguyên Ngọc
trân trọng khẳng định: “Thời gian, nhà phê bình nghiêm khắc và cơng bằng ấy rồi sẽ xác định lại
đúng đắn hơn nữa vị trí của Nguyễn Minh Châu. Song tơi nghĩ, hơm nay có lẽ cũng đã có thể nói



không sai rằng Nguyễn Minh Châu thuộc số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất
của văn học ta hiện nay”.
Khơng chỉ trong sáng tác, ơng cịn lưu lại dấu ấn cá nhân của mình qua những trang tiểu luận
phê bình hết sức sâu sắc được viết rải rác suốt một khoảng thời gian dài, sau này được tập hợp lại
trong cuốn Trang giấy trước đèn. Các bài tiểu luận của ông đã đề cập đến n hiều phương diện trong
quá trình văn học: từ tác dụng của văn học đến mối quan hệ giữa văn học và đời sống chiến tranh
cách mạng, mối quan hệ giữa nhà văn – nhân vật – bạn đọc, vai trò và trách nhiệm của người cầm
bút, chân dung nhà văn, kinh nghiệm sáng t ác… Những bài viết của ông cũng đã góp phần khơng
nhỏ vào việc tạo nên một khơng khí sơi nổi trong đời sống văn học những năm cuối thế kỉ XX, đồng
thời giúp cho người đọc hôm nay hiểu thêm về con người và sáng tác của ông, một trong những nhà
văn đi đầu công cuộc đổi mới văn học.
Các bài phê bình, tiểu luận cùng với những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao ra đời trong
thập kỉ 80 là minh chứng rõ nét cho bước chuyển âm thầm mà quyết liệt của hành trình đổi mới ở
Nguyễn Minh Châu, đem đến cho ơng một vị trí khơng thể thay thế trong giai đoạn quá độ của văn
học Việt Nam sau 1975.
Đời văn của Nguyễn Minh Châu được khép lại với thiên truyện ngắn nổi tiếng Phiên chợ
Giát. Được viết trên giường bệnh trong những ngày cuối đời, thiên truyện đặt dấu chấm hết cho một
đời văn đầy nhọc nhằn nhưng cũng rất đáng tự hào của ơng. Với những đóng góp sau ba mươi năm
miệt mài cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã vinh dự được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí
Minh về văn học và nghệ thuật (đợt II, năm 2000).
1.2. Truyện ngắn và hành trình đổi mới của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
1.2.1. Truyện ngắn và truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
1.2.1.1. Truyện ngắn (khái niệm – đặc trưng – ưu thế thẩm mĩ)
Truyện ngắn hiện đại là một thể loại hết sức quen thuộc và gần gũi nhưng để tìm một định
nghĩa duy nhất, đầy đủ và chính xác về nó thì khơng dễ. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, truyện
ngắn được xác định như sau: “Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm
hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn.
Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [23, tr.370]. Mục

Truyện ngắn trong cuốn 150 thuật ngữ văn học cũng ghi nhận đây là “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ,
thường được viết bằng văn xuôi… Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng…” [1,
tr.345].
Nhìn chung, các nhà nghiên ứu
c đều thống nhất nhận dạng truyện ngắn trước hết ở dung
lượng và tính chất của nó. “Hình thức tự sự nhỏ, ngắn” trở thành đặc điểm hàng đầu và cũng là dấu
hiệu đầu tiên để người đọc nhận ra diện mạo của truyện ngắn.


Cũng chính do dung lượng ngắn là yếu tố thuộc về bản chất nên khác với các hình thức tự sự
cỡ lớn, truyện ngắn có tính cơ đọng, hàm súc cao.
Với dung lượng câu chữ giới hạn, truyện ngắn giúp người đọc có thể tiếp nhận liền mạch
trong một khoảng thời gian ngắn. Đây cũng là thế mạnh của những hình thức tự sự cỡ nhỏ, tỏ ra hết
sức phù hợp với xu thế của thời đại bùng nổ thông tin hiện nay.
Thơng thường, một truyện ngắn có thể kéo dài từ vài ba trang đến mấy c hục trang. Số chữ
trung bình trong một truyện ngắn khoảng từ 10.000 đến 12.000 chữ nhưng có thể nhiều hoặc ít hơn.
Trong cuốn Truyện ngắn: lí luận, tác gia và tác phẩm, tác giả Lê Huy Bắc có ghi nhận là : “Dung
lượng truyện ngắn kéo dài từ vài chục chữ đến khoảng 20.000 chữ” [3, tr.28].
Bên cạnh đặc điểm “ngắn”, các nhà nghiên cứu cịn khu biệt truyện ngắn ở tính chất giới hạn
trong việc phản ánh đời sống và ở hiệu quả nghệ thuật mà nó tạo ra khi so sánh với một thể loại gần
gũi là tiểu thuyết.
Cùng thuộc về loại hình tự sự hư cấu bằng văn xi, truyện ngắn và tiểu thuyết tuy gần gũi
nhưng vẫn có những đặc trưng thẩm mĩ khác nhau. Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn ít nhiều bị
hạn hẹp trong khn khổ của một khơng gian, thời gian có tính giới hạn. “Khác với tiểu thuyết là thể
loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng
tới việc khắc họa một hiện tượng, phác họa một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống
tâm hồn con người…” [23, tr. 370].
So với truyện ngắn, tiểu thuyết thường có cấu trúc phức tạp với nhiều nhân vật trung tâm,
nhiều chủ đề, nhiều tuyến cốt truyện đan xen nhau. Trong khi đó, mỗi truyện ngắn thường xoay
quanh một chủ đề tập trung, có xu hướng ưu tiên cho những cốt truyện có quy mơ nhỏ, có tính khám

phá, gợi vấn đề, số lượng nhân vật cũng ít hơn.
Chỉ là một “lát cắt đời sống”, nhiệm vụ chính của truyện ngắn cũng khơng phải là trình bày
đầy đủ một bức tranh xã hội rộng lớn mà chủ yếu là tập trung thể hiện một khoảnh khắc, một bước
ngoặt quan trọng nào đó của đời sống, của đời người.
Do vì ngắn mà vẫn không phải là tiểu thuyết rút ngắn nên chất lượng nghệ thuật của truyện
ngắn thường được yêu cầu cao ở sự chọn lọc, cô đúc, tiết kiệm. Một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn vẫn có
thể có những đoạn tầm thường, những phần dàn trải nhưng truyện ngắn thì khơng được phép như
thế. Ở đây, mỗi chữ mỗi câu, mỗi hình ảnh, mỗi chi tiết đều phải đáng giá. Vì thế khi sáng tác
truyện ngắn, nhà văn cần chọn lựa ngôn từ, tìm kiếm các chi tiết tiêu biểu có giá trị biểu đạt cao
nhằm tạo nên một chiều sâu chưa nói hết cho nhân vật, cho tác phẩm. Kết cấu của một truyện ngắn
hay địi hỏi phải có sự chặt chẽ, đảm bảo sự thống nhất cao độ để có thể tạo nên một hiệu quả nghệ
thuật duy nhất, từ đó tạo nên một ấn tượng sâu đậm trong lịng người đọc. Nói như Nguyễn Minh
Châu : “Chỉ cần ít trang văn xi… có thể làm nổ tung trong tình cảm và ý nghĩ người đọc những


điều rất sâu xa và da diết của con người, khiến người đọc phải nhớ mãi, suy nghĩ mãi, đọc đi đọc
lại vẫn không thấy chán” [14, tr.313].
Là thể loại có khả năng cập nhật và thích ứng linh hoạt, trong quá trình phát triển của mình,
truyện ngắn hiện đại cũng đã dung chứa và bao hàm những đặc điểm của nhiều thể loại khác. Nhìn
sang tiểu thuyết, kịch, thơ trữ tình, bút kí …, truyện ngắn đã biết chọn cho mình mọi kiểu dung
lượng, mọi phong cách khác nhau để làm tròn vai trò của một thể loại nhanh nhạy, đi đầu trong việc
đáp ứng những yêu cầu của đời sống xã hội.
1.2.1.2. Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong sự nghiệp văn học của ông
Như đã nêu, nếu xét về số lượng trang viết, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu
nghiêng về thể loại tiểu thuyết hơn là thể loại truyện ngắn. Tuy nhiên, khơng vì thế mà nói rằng
truyện ngắn ít có vai trị hơn trong việc làm nên tên tuổi của ông. Nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư,
trong một bài viết của mình về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, tuy không phủ nhận những thành
tựu của mảng tiểu thuyết nhưng vẫn cho rằng: “…cái mà nhà văn để lại cho đời lại không phải là
những tác phẩm dài hơi ấy, mà là dăm ba truyện ngắn in rải rác trên báo chí, trong các tập truyện
cuối đời của anh” [58, tr.346]. Đi vào tìm hiểu sự nghiệp sáng tác văn chương của Nguyễn Minh

Châu qua hai giai đoạn, nhất là giai đoạn sau 1975, ta thấy truyện ngắn có một vị trí đặc biệt trên
nhiều bình diện: lượng, chất, nhịp độ chuyển biến, khả năng thể hiện tư tưởng nghệ thuật đáp ứng
tinh thần “tiên phong” trong hoạt động sáng tác của nhà văn,… Khảo sát hành trình đổi mới trong
sáng tác Nguyễn Minh Châu, chỉ cần nhìn vào quá trình sáng tác ở mả ng truyện ngắn, ta đã có thể
nhận thấy được một cách rõ nét những chuyển biến trong tư tưởng và bút pháp của nhà văn qua hai
giai đoạn trước và sau 1975, nếu khơng nói là nổi bật và dễ nhận thấy hơn là ở mảng tiểu thuyết.
Nguyễn Minh Châu mở đầu nghiệp văn của mình bằng một truyện ngắn và kết thúc cũng
bằng một truyện ngắn. Truyện ngắn đầu tay “Sau một buổi tập ” của Nguyễn Minh Châu được in
trên tạp chí Văn nghệ quân đội vào năm 1960. Tiếp sau đó là một loạt các truyện ngắn khác cũng
được đăng trên tạp chí này. Theo tài liệu mà người viết có trong tay, tính đến 1975, ơng có tất cả 19
truyện ngắn, gồm 7 truyện in trong tập “Những vùng trời khác nhau”, 11 truyện khác đăng trên tạp
chí Văn nghệ quân đội (Xem Phụ lục, Nguyễn Minh Châu toàn tập, tập 5, Nxb Văn học, 2001) và 1
truyện in trong tập “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” (1983) nhưng thời gian sáng tác là năm
1967 (truyện Mùa hè năm ấy ). Ngồi ra cịn phải kể thêm “ Ký sự hai bờ đất” mà tác giả luận văn
cho là có tính chất của một truyện ngắn hơn là một bài kí. Nhìn chung, chất lượng của các truyện
ngắn giai đoạn này không đồng đều. Những truyện ngắn ở giai đoạn đầu như Sau một buổi tập, Con
đường đến trường học, Buổi tập cuối năm…chỉ có tính chất thử nghiệm, chất lượng nghệ thuật chưa
cao. Những truyện hay hơn đã được tuyển chọn vào tập Những vùng trời khác nhau, trong số đó có


Mảnh trăng cuối rừng được xem là truyện hay nhất và cũng tiêu biểu nhất cho cảm hứng và bút
pháp trữ tình, lãng mạn của nhà văn.
Sau 1975, Nguyễn Minh Châu có 23 truyện ngắn, gồm 8 truyện in trong tập “Người đàn bà
trên chuyến tàu tốc hành”, 9 truyện in trong tập “Bến quê”, 3 truyện in trong tập “Cỏ lau”, 3 truyện
đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội (Chú chim, Chợ Tết, Sân cỏ Tây Ban Nha – xem Phụ lục ,
Nguyễn Minh Châu toàn tập, tập 5).
Điểm qua q trình sáng tác truyện ngắn của ơng, ta có thể nhận thấy số lượng truyện ngắn
viết sau 1975 dù khơng nhiều hơn bao nhiêu nhưng có chất lượng vượt trội so với các truyện viết
trước 1975. Những truyện được đánh giá cao như Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành, Chiếc thuyền ngoài xa, Khách ở quê ra, Cỏ lau, Phiên chợ Giát…đều thuộc về giai đoạn

thứ hai này.
Căn cứ vào thời gian ra đời và những chuyển đổi trên nhiều phương diện nghệ thuật, có thể
coi Bức tranh là tác phẩm đánh dấu bước ngoặt trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu qua hai giai
đoạn trước và sau 1975. Thiên truyện này được viết từ 1976, ngay sau khi kết thúc chiến tranh
nhưng mãi đến 1982 mới được in. Dù không phải là tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Minh Châu
nhưng truyện ngắn này đã cắm một cột mốc quan trọng trong hành trình sáng tạo văn học của nhà
văn, dự báo cho sự ra đời những tác phẩm tiếp theo với một quan niệm, một mơ hình, một bút pháp
hồn tồn mới. Từ đây, cái nhìn của nhà văn đã thay đổi theo hướng tiến gần đến sự thực hơn, quan
tâm nhiều hơn đến hiện thực đời thường với số phận của con người cá nhân.
Xuất phát từ mối quan tâm lo lắng của nhà văn về những vấn đề phức tạp nảy sinh trong cuộc
sống mới thời hậu chiến, mỗi truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu thời kì này thường ngầm chứa
một bức thơng điệp nào đó về đạo đức, lối sống, về quan niệm nhân sinh. Cùng với Bức tranh, một
loạt truyện ngắn ra đời sau đó đã cho người đọc thấy được nhiều ưu tư trăn trở của ông về cuộc sống
và con người, trong đó nổi bật lên vấn đề về sự thức tỉnh của lương tâm để hướng tới cái đẹp và sự
hồn thiện nhân cách. Ơng lưu ý mọi người về sự độc ác hồn nhiên ngoài ý muốn (Đứa ăn cắp),
nhắc nhở về lối ứng xử của con cái đối với cha mẹ (Mẹ con chị Hằng), cảnh báo về hậu quả của lối
sống gia trưởng (Giao thừa ), ông day dứt về hậu quả của sự đánh mất bản thân mình ( Sắm vai),
mong muốn mỗi người hãy luôn tự đối chứng, tự vấn lương tâm (Bức tranh, Hạng)…
Tiếp theo những thể nghiệm bước đầu trong tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, các
tập Bến quê, Cỏ lau ra đời sau đó càng được dư luận đặc biệt chú ý, được xem “như là một hiện
tượng văn học mới, một phong cách trần thuật mới”. Lấy số phận con người làm tiêu điểm cho lăng
kính nghệ thuật của mình, Nguyễn Minh Châu đi sâu khám phá nh ững tầng vỉa sâu thẳm của thế
giới bên trong con người. Trong các truyện ngắn của ơng, xu hướng triết lí nhận thức ngày càng rõ
nét hơn, con người trong tác phẩm luôn khao khát nhận thức, chiêm nghiệm đời sống, tự đối thoại


và tự nhận thức mình trong mối tương quan với tự nhiên và xã hội. Đằng sau những câu chuyện đời
thường trong Dấu vết nghề nghiệp, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa, Một lần đối chứng… là những
chiêm nghiệm sâu sắc về lẽ đời, là những suy nghĩ da diết về chân lí nghệ thuật và đời sống.
Các truyện như Khách ở quê ra, Sống mãi với cây xanh, Cỏ lau, Phiên chợ Giát… còn như

muốn bao quát thêm nhiều vấn đề có tính lịch sử vào trong cái nhỏ bé của một đời người. Về nội
dung phản ánh, ở các truyện này vấn đề không chỉ là “một lát cắt của đời sống” mà đã có tham vọng
muốn tái hiện diễn tiến của một cuộc đời, một số phận với nhiều mối quan hệ đan xen phức tạp. Nhà
văn dường như muốn thông qua câu chuyện về một cuộc đời mà gợi lên những vấn đề có tầm vóc
dân tộc, thời đại.
Muôn mặt đời thường đã đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, đem lại cho tác phẩm của
ơng sự đóng góp quan trọng trong việc nỗ lực lấp đầy một khoảng trống của văn chương trước đó
bằng cái hằng ngày, bằng những số phận cá nhân trong đời sống cộng đồng. Ông quan niệm: “Con
người vừa dễ hiểu vừa đầy bí ẩn. Chúng ta đào bằng ngòi bút cho đến cùng đáy cái thật chứa đầy bí
ẩn, đầy nỗi niềm nguồn cơn của con người đất nước mình thì sẽ gặp con người nhân loại, sẽ gặp cái
nhân bản của nhân loại, con người Việt Nam sẽ giao hịa với nhân loại” [14,tr.144]. Việc tìm tịi,
khám phá, đào sâu vào bản chất con người cũng là con đường để tác phẩm của ông vươn đến tiếp
cận với những giá trị vĩnh hằng của cuộc đời.
Song song với việc mở rộng diện phản ánh dưới một góc nhìn mới, truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu sau 1975 cũng có nhiều thay đổi về bút pháp thể hiện. Quan niệm nghệ thuật về con
người thay đổi tất yếu kéo theo nhiều sự thay đổi về nghệ thuật biểu đạt: từ nhân vật đến cốt truyện,
tình huống, giọng điệu, ngơn ngữ … Một điều đáng ghi nhận nữa là về mặt dung lượng, một số
truyện ngắn sau 1975 có xu hướng mở rộng số trang nhiều hơn thơng thường. Có khá nhiều truyện
dài trên 60 trang (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Sống mãi với cây xanh, Cỏ lau, Mùa
trái cóc ở miền Nam, Phiên chợ Giát ), đặc biệt có truyện dài đến cả 100 trang như Người đàn bà
trên chuyến tàu tốc hành. Có lẽ vì vậy mà nhiều người đã gọi những truyện này là truyện vừa chứ
khơng phải truyện ngắn.
Để lí giải cho việc Nguyễn Minh Châu chuyên tâm về thể loại truyện ngắn trong giai đoạn
thập niên 80, ta cần phải nhắc đến ý kiến của ông trong cuộc trao đổi do tuần báo Văn nghệ tổ chức:
“Cái đời sống của ngày hôm nay nó bắt tơi phải quan tâm…, tơi muốn dùng ngịi bút tham gia trợ
lực vào cuộc giao tranh giữa cái tốt và cái xấu bên trong mỗi người…”. Và theo như ờ
l i ơng nói:
“Mỗi truyện ngắn tơi nêu ra một trường hợp cụ thể và xen vào mạch kể chuyện, tôi bàn bạc về quan
niệm sống hoặc báo động một điều gì” [58, tr.294].
Như vậy, lí do chính nằm ở tính kịp thời và khả năng tác động mạnh mẽ của truyện ngắn

trong việc thể hiện những vấn đề nóng hổi của cuộc sống hằng ngày. Mặt khác, tính hàm súc và khả


năng khái quát ở chiều sâu của truyện ngắn giúp cho nhà văn vẫn có thể biểu hiện được những vấn
đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn qua những câu chuyện đời thường.
Phát huy thế mạnh của thể loại, truyện ngắn chính là nơi chuyên chở những tư tưởng nghệ
thuật mới của Nguyễn Minh Châu. Sự đầu tư của ông cho thể loại truyện ngắn đã thu được nhiều
thành quả tốt đẹp, đồng thời góp phần tạo nên một diện mạo mới cho văn học nước nhà.
1.2.2. Hành trìnhđổi mới của truyện ngắn N guyễn Minh Châu trong hành trìnhđổi
mới văn xi Việt Nam (từ văn học thời chiến sang văn học thời hậu chiến và thời hội nhập)
1.2.2.1. Văn xuôi Việt Nam – từ văn học thời chiến sang văn học thời hậu chiến (sau
1975)
Năm 1975 là một mốc son lịch sử đánh dấu một thời kì mới của đất nước. Chiến tranh đã đi
qua và đất nước bước vào thời kì xây dựng trong hịa bình. Văn học cũng như nhiều lĩnh vực đời
sống xã hội khác đứng trước yêu cầu cần phải có sự thay đổi để giải quyết những vấn đề mới nảy
sinh từ cuộc sống sau chiến tranh.
Quá trình phát triển của văn học Việt Nam sau 1975 có thể chia ra là m hai chặng đường tiếp
nối nhau: từ 1975 đến 1985 là chặng đường có tính chất chuyển tiếp từ văn học sử thi thời chiến
tranh sang văn học thời hậu chiến; từ 1986 trở đi, văn học chính thức bước vào giai đoạn đổi mới
một cách toàn diện.
Những năm đầu sau 1975, văn học về cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo những quy luật và
những cảm hứng chủ đạo trong thời kì chiến tranh trước đó. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian giao
thời này, ở một số cây bút nhạy cảm với những vấn đề của đời sống, ý thức muốn đổi mới đã bộc lộ
qua việc thay đổi cách viết về chiến tranh, cách tiếp cận hiện thực đời sống.
So với thơ ca, văn xi có nhiều khởi sắc hơn. Một loạt các sáng tác của Nguyễn Khải (Gặp
gỡ cuối năm, Thời gian của người), Nguyễn Mạnh Tuấn (Đứng trước biển, Cù lao Tràm), Ma Văn
Kháng (Mùa lá rụng trong vườn), Nguyễn Minh Châu (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến
quê)… ra đời và được bạn đọc hoan nghênh đón nhận. Các sáng tác nói trên đã khởi ra một hướng
tiếp cận mới, chú ý nhiều đến mảng hiện thực đời thường, đặc biệt là các vấn đề đạo đức – thế sự.
Từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986), văn học thật sự bước vào thời kì đổi mới. Đường

lối đổi mới của Đảng đã tạo động lực lớn lao cho sự chuyển biến mạnh mẽ của đời sống văn học
nghệ thuật nước nhà, mở ra một thời kỳ mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới tư duy
và nhìn thẳng vào sự thật. Khơng khí dân chủ được đề cao hơn.
Văn xuôi tiếp tục khởi sắc với nhiều tác phẩm có chất lượng nghệ thuật cao như Thời xa
vắng của Lê Lựu, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh, Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp…Tiếp tục
hướng đi đã được khai mở ở chặng trước, nhiều cây bút đã đi vào “thể hiện mọi khía cạnh của đời


sống cá nhân và những quan hệ thế sự đan dệt nên cuộc sống đời thường phồn tạp mà vĩnh hằng”
[45, tr.12]. Hiện thực đời sống được khám phá trên nhiều phương diện, nhất là đời sống nội tâm con
người với những trăn trở, khát vọng thầm kín mà trước đây văn học thời chiến tranh chưa có điều
kiện nói đến. Tinh thần nhân văn, ý thức cá nhân đã trở thành cảm hứng sáng tạo cho các văn nghệ
sĩ.
Cùng với sự thay đổi về tư duy nghệ thuật, các nhà văn đã có nhiều tìm tịi đổi mới về những
phương diện nghệ thuật. Văn xi có nhiều đổi mới về nghệ thuật tự sự, từ sự thay đổi điểm nhìn
trần thuật đến nghệ thuật xây dựng nhân vật, sử dụng các thủ pháp độc thoại nội tâm và dòng ý thức,
tính đa thanh, đa giọng điệu…
Nhìn chung, văn học Việt Nam từ sau 1975 trong đó có văn xi đã vận động theo khuynh
hướng dân chủ hóa, đổi mới các quan niệm về văn học, quan niệm nghệ thuật về con người, phát
huy cá tính sáng ạt o và phong cách nghệ thuật của nhà văn với những tìm tòi, thể nghiệm mới về
nghệ thuật.
1.2.2.2. Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu: từ loại hình truyện ngắn sử thi hóa sang loại
hình truyện ngắn tiểu thuyết hóa có tính tổng hợp cao
Cho đến nay vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về phân loại truyện ngắn. Dựa vào tiêu
chí phân loại là tư duy nghệ thuật, có thể chia truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước và sau 1975
theo các loại hình truyện ngắn sử thi hóa và loại hình truyện ngắn tiểu thuyết hóa.
Khảo sát sơ bộ về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong q trình sáng tác, có thể thấy trong
giai đoạn đầu, truyện ngắn của ông được sáng tác theo hướng sử thi hóa, chuyển sang giai đoạn sau
1975 là những truyện ngắn được sáng tác theo hướng tiểu thuyết hóa.

Cũng như nhiều sáng tác của giai đoạn 1945 – 1975, một giai đoạn mà văn học “có đặc điểm
gần gũi và mang “tính tương đồng” về chất liệu và nội dung phản ánh hiện thực” [19, tr.314],
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu mang đậm tính chất sử thi trên nhiều phương diện.
Nói đến truyện ngắn sử thi hóa không phải là muốn đề cập đến quy mô sử thi của tác phẩm
mà chủ yếu muốn nói đến tính chất sử thi trong tư duy nghệ thuật, trong cách nhìn nhận con người
và đời sống hiện thực. Biểu hiện của truyện ngắn sử thi hóa là ở sự chiếm lĩnh và bao quát những
vấn đề hiện thực lớn lao của dân tộc, của đất nước; giọng điệu chủ yếu trong tác phẩm là ngợi ca,
khẳng định; nhân vật được khai thác chủ yếu ở những nét đẹp tiêu biểu cho phẩm chất và ý chí của
cộng đồng; trong truyện luôn tồn tại một “khoảng cách sử thi” [2, tr.35,38] giữa nhân vật và chủ thể
trần thuật…
Hoàn cảnh đất nước ta trong giai đoạn 1945- 1975 là một hoàn cảnh đặc biệt. Đối mặt với hai
cuộc chiến tranh ác liệt chống Pháp và chống Mĩ, vấn đề được quan tâm hàng đầu là sự sống còn
của cả dân tộc. Yêu cầu đặt ra cho tất cả mọi người lúc này là phải lấy trách nhiệm công dân, nghĩa



×