Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

Một số vấn đề về quyền của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (143.76 KB, 10 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Trong xã hội Á Đông truyền thống, vai trò vị trí của người phụ nữ luôn
đánh giá thấp. Họ luôn bị những quy định ràng buộc chặt chẽ của xã hội phong
kiến trói buộc như "Tam tòng tứ đức", "Công - dung - ngôn hạnh"...người phụ
nữ luôn phải nín nhịn, chấp nhận địa vị hèn kém của mình trong gia đình và
ngoài xã hội. Ngày nay, khi hơn một nửa dân số thế giới là phụ nữ và phụ nữ
đóng vai trò quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội nhưng bất chấp thực tế
này, trong nhiều nền văn hóa, phụ nữ không những không được đánh giá và đối
xử đúng với năng lực và vị trí thực tế của mình, mà còn là đối tượng của những
phân biệt trong đối xử.
Có thể nói những quan niệm tiêu cực về người phụ nữ không hề mất đi
mà được lưu truyền trong nhiều nền văn hóa, từ đời này sang đời khác, bất chấp
thực tế xã hội. Trong xã hội phong kiến Việt Nam, quyền của người phụ nữ
cũng bị hạn chế hơn nhiều so với quyền của nam giới. Phụ nữ bị hạn chế trong
sở hữu tài sản, trong giáo dục, ít có tiếng nói trong gia đình và xã hội; phụ nữ
mang gánh nặng công việc trong vai trò kép...
Nhằm đi sâu nghiên cứu về phụ nữ trong giai đoạn đoạn phong kiến Việt
Nam, em xin chọn đề tài: Một số vấn đề về quyền của người phụ nữ trong
pháp luật phong kiến Việt Nam. Do quá trình đào sâu nghiên cứu còn hạn chế
nên bài luận không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự giúp đỡ
của thầy cô để bài của của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
Trong lịch sử tồn tại và phát triển hàng nghìn năm, các nhà nước quân chủ
và phong kiến ở Việt Nam đã nhận thức được vai trò của luật pháp và quan tâm,
đầu tư cho việc ban hành pháp luật. Hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ này
gồm các bộ luật tổng hợp và các văn bản pháp luật khác như: Chiếu, Chỉ, Lệ,
Lệnh, Dụ, Sắc…Trong đó, các bộ luật: Hình thư (thời Lý), Quốc triều Hình luật
(thời Trần), Quốc triều Hình luật (gòn gọi là bộ luật Hồng Đức - thời Lê), và
Hoàng Việt Luật lệ (gòn gọi là bộ luật Gia Long - Thời Nguyễn) là những bộ
luật cổ tiêu biểu nhất được xây dựng và ban hành trong lịch sử Việt Nam (từ thế


kỷ XI đến thế kỷ XIX).
Theo các cứ liệu lịch sử, trong lịch sử lập pháp Việt Nam, Hình thư là bộ
luật quốc gia thành văn đầu tiên, được ban hành dưới thời nhà Lý. Toàn thư
chép: “Năm 1042, Lý Thái Tông sai quan trung thư san định lệnh, châm chước
những điều thời thế thông dụng, xếp thành môn loại, biên rõ điều mục, làm thành
riêng quyển Hình thư một triều đại, để cho người xem dễ biết. Sách làm xong,
chiếu ban ra cho thi hành. Dân đều lấy làm tiện”. Việc ban hành bộ luật Hình
thư được đánh giá là một cột mốc quan trọng trong lịch sử lập pháp ở Việt Nam.
Về mặt văn bản, Bộ luật này không còn bản gốc, nhưng nội dung của nó còn
được ghi chép lại trong sử cũ. Căn cứ vào những ghi chép trong sách Đại Việt sử
ký toàn thư thì Hình thư là một sưu tập luật lệ có tính pháp điển. Về quy mô,
theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, Hình thư gồm 3
quyển. Về nội dung, qua những ghi chép còn lại trong sử cũ, bộ luật có những
quy định về tổ chức của triều đình, quân đội và hệ thống quan lại; quy định biện
pháp trừng trị đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội; quy định một số vấn
đề về sở hữu và mua bán đất đai, tài sản; quy định về thuế… Theo đánh giá của
các nhà nghiên cứu, bộ luật Hình thư được ban hành để khẳng định quyền lợi,
địa vị của nhà nước phong kiến và giai cấp quý tộc quan liêu, đồng thời là công
cụ để ổn định xã hội, giữ gìn kỷ cương, bảo vệ sản xuất nông nghiệp...
Kế thừa và phát triển tư duy lập pháp từ Thời Lý, nhà nước Việt Nam
dưới thời Trần tiếp tục quan tâm đến vấn đề xây dựng pháp luật. Từ năm 1226,
ngay sau khi Trần Cảnh lên ngôi, nhà Trần đã định các điều luật lệnh và tiếp tục
bổ sung vào các năm 1230, 1244. Trên cơ sở đó, năm 1341, vua Trần Dụ Tông
đã sai Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu soạn ra bộ Quốc triều hình luật
(còn gọi là Hình thư) gồm một quyển để ban hành. Về nội dung, ngoài việc kế
thừa những quy định có từ thời Lý, bộ luật Hình thư của thời Trần đã có những
2
bổ sung và điều chỉnh nhất định, đặc biệt là những quy định về hình phạt, thủ
tục tố tụng và chế độ tư hữu đất đai, tài sản. Việc ban hành bộ Hình thư của nhà
Trần cũng là dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của pháp luật Việt

Nam.
Trong hai bộ luật trên địa vị của người phụ nữ không được đề cập đến.
Hai bộ này ra đời nhằm điều chỉnh bộ máy triều đình, hệ thống quan lại, quan hệ
vua – tôi, quan hệ xã hội và các hình phạt… Vì thế, người phụ nữ trong xã hội
thời bấy giờ có địa vị thấp hèn, họ không được tôn trọng, bảo vệ, phải chịu
nhiều ràng buộc, định kiến của tư tưởng Nho giáo, phong kiến lạc hậu. Theo
quan niệm phong kiến, Nho giáo xưa thì có sự khác biệt giá trị rõ ràng giữa con
trai và con gái “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, không coi con gái là thành
viên trong họ mạc “nữ nhi ngoại tộc”. Nho giáo có chủ trương trọng nam khinh
nữ “nam tôn nữ ty” ( đàn ông thì cao quý, đàn bà thì thấp hèn), “tam cương ngũ
thường”…Theo giáo lý của Nho giáo – Khổng giáo thì người đàn bà “suốt đời
là khẻ vị thành nhân phải sống dựa vào một người đàn ông làm chủ chốt, chứ
không bao giờ được độc lập”. Đây là một sự phụ thuộc trên mọi phương diện kể
cả đời sống vợ chồng, do vậy mối quan hệ vợ chồng trong xã hội Việt Nam đầu
thế kỷ XIX giống như mối quan hệ theo chiều dọc: giữa vua – tôi, cha – con.
Trong “Kinh Lễ” có dẫn người đàn ông có bảy lý do để bỏ vợ là: không có con,
đâm dật, không thờ cha mẹ, lắm mồm, trộm cắp, ghen tuông, có ác tật. Cứ như
những điều ghi trên thì người phụ nữ chịu thiệt thòi qua nhiều, người chồng
muốn bỏ vợ lúc nào cũng được vì anh ta có thể quá dễ khi tìm ra môt trong bảy
lý do để bỏ vợ như trong “ Thất xuất” đã ghi. Trong gia đình phong kiến, quyền
hành của anh trai trưởng trong gia đình rất lớn (quyền huynh thế phụ); người
phụ nữ phải kiêm đủ Tam tòng Tứ đức; quyền thừa kế gia sản của cha mẹ dành
cho con trai; việc truyền nghề tại các làng nghề thường không truyền cho con
dâu hay con gái; người con trai được học hành để thi cử, tiến thân bằng theo con
đường quan lộ nhưng người phụ nữ thì chỉ quanh quẩn với việc nhà... Người
nam giới có thể có quyền lấy năm, lấy bảy vợ lẽ nhưng người con gái phải thủ
tiết chỉ với một người chồng. Tiền của dù là hai vợ chồng làm ra hay của người
chồng hoặc người vợ làm ra, thì cũng gọi là của chồng cả.
Như vậy, dưới thời Lý, Trần người phụ nữ không được pháp luật bảo vệ
vì thế vẫn còn nhiều sự phân biệt đối xử giữa nam giới và nữ giới. Nhưng đến

thời Lê và sau đó dưới triều Nguyễn, quyền của người phụ nữ đã được cụ thể
3
hóa trong hai bộ luật Hồng Đức và Gia Long. Đấy chính là một bước tiến lớn
trong lịch sử lập pháp của Việt Nam thời kỳ phong kiến.
1. Quyền của người phụ nữ trong Bộ luật Hồng Đức
Trong xã hội truyền thống phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản,
Triều Tiên, Việt Nam... thân phận người phụ nữ luôn bị xem nhẹ, coi thường, bị
ràng buộc bởi đạo đức khắt khe, bị áp chế bởi luật lệ bất công. Nguyên nhân
chính là do hệ tư tưởng Nho giáo chi phối mọi mặt đời sống xã hội. Song, cũng
rất đặc biệt, ở Việt Nam, nhà Lê (1428-1788), một triều đại được đánh giá là có
ảnh hưởng sâu sắc nhất từ tư tưởng Nho giáo, đã ban hành bộ Quốc triều hình
luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức, trong đó, những quyền lợi của người phụ
nữ được đảm bảo, đặc biệt là hôn nhân và quyền thừa kế gia sản.
Tính đặc thù của "Quốc triều hình luật" thể hiện rõ trong hai chương "Hộ
hôn" và "Điền sản". Qua hai chương này, các nhà làm luật đã coi trọng cá nhân
và vai trò của người phụ nữ - điều mà các bộ luật trước và sau không mấy quan
tâm. Có 53/722 điều luật (7%) bàn về hôn nhân - gia đình; 30/722 điều luật (4%)
bàn về việc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản. Những điều luật này ít
nhiều đã đề cập đến một số quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội và trong gia
đình. Người vợ, trên lý thuyết, bị đòi hỏi phải lệ thuộc vào chồng và không được
làm điều gì nếu không có sự chỉ đạo hay đồng ý của chồng. Nhưng trên thực tế,
địa vị của người vợ - chồng thay đổi nhiều tùy thuộc theo vị trí xã hội và kinh tế
của họ. Cũng giống như chồng, người phụ nữ Việt Nam xưa có tài sản riêng và
tham gia các hoạt động kinh tế. Đó là điều khác biệt với người phụ nữ Trung
Quốc. Trong lao động, người phụ nữ được trả công ngang bằng với người thợ
nam, "không có sự phân biệt về tiền công nhật cho lao động đàn ông với đàn bà".
Điều 23 trong Bộ luật Hồng Đức quy định tiền công nhật cho nô tỳ là 30 đồng.
Việc trả công ngang bằng như thế rõ ràng cho thấy lao động của phụ nữ được
đánh giá cao và vị trí của người phụ nữ được tôn trọng trong xã hội. Trong hôn
nhân, người phụ nữ cũng có thể yêu cầu ly hôn (đâm đơn kiện).

1.1 Trong chương Hôn điền
Điều 322 Bộ luật Hồng Đức ghi: "Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật
có thể kêu quan mà trả đồ sính lễ", nếu "con rể lăng mạ cha mẹ vợ, đem thưa
quan, cho ly dị". Ngoài ra, Điều 314, 320 và 338 cũng có những quy định nhằm
nâng cao giá trị của người con gái: “Kết hôn mà không đủ sính lễ đến nhà cha
mẹ (người con gái) (nếu cha mẹ chết cả thì đem đến nhà người trưởng họ, hay
4
đến nhà của người trưởng làng để xin), mà thành hôn với nhau một cách cẩu thả
thì phải biếm một tư và theo lệ sang hèn, bắt phải nộp tiền tạ (xin lỗi) cho cha mẹ
( nếu cha mẹ chết cả thì nộp cho trưởng họ hay người trưởng làng), người con
gái phải phạt 50 roi” (điều 314); quy định về sự tôn trọng quyền thủ tiết của
người vợ đối với chồng: “Tang chồng đã hết mà vợ muốn thủ tiết, nếu ai không
phải là ông bà cha mẹ mà ép gả cho người khác, thì xử biếm ba tư, bắt phải li dị;
người đàn bà phải trả về nhà chồng cũ” (Điều 320); bảo vệ con gái nhà lương
dân trước cường quyền: “Những nhà quyền thế mà ức hiếp để lấy con gái kẻ
lương dân, thì xử tội phạt, biếm hay đồ” (Điều 338).
Trong gia đình người vợ tương đối bình quyền với người chồng và do đó,
hôn nhân không được coi là sự chuyển giao hoàn toàn cô gái từ gia đình bên nội
của mình sang gia đình chồng như ở Trung Quốc. Không những thế, luật pháp
còn bảo vệ người phụ nữ. Họ được phép đến nhà đương chức xin ly hôn trong
trường hợp chồng không chăm nom, săn sóc vợ trong 5 tháng (1 năm - nếu vợ
đã có con). Nếu vợ đem đơn đến công đường thì bộ luật cho phép cưỡng bức ly
hôn. Nghĩa là, người chồng không làm tròn nghĩa vụ với vợ thì người vợ cũng
không buộc phải làm tròn bổn phận của mình. Quy định này không có trong bất
kỳ bộ luật nào của Trung Quốc cũng như các văn bản cổ luật trước hay sau triều
Lê. Ngay cả khi luật bắt buộc người chồng phải bỏ vợ ngoài ý muốn chủ quan,
Điều 310 quy định "Vợ, nàng dâu đã phạm vào điều "thất xuất" mà người chồng
ẩn nhẫn không bỏ thì phải tội biếm tùy theo nặng nhẹ". Tuy nhiên, sẽ không thể
ly hôn được nếu như khi phạm vào điều thất xuất người vợ đang ở trong ba
trường hợp (tam bất khứ): đã để tang nhà chồng 3 năm; khi lấy nhau nghèo mà

sau giàu có; khi lấy nhau có bà con mà khi bỏ lại không có bà con để trở về.
Đồng thời, khi hai bên vợ chồng đang có tang cha mẹ thì vấn đề ly hôn cũng
không được đặt ra. Khi ly hôn, con cái thường thuộc về chồng, nhưng nếu muốn
giữ con, người vợ có quyền đòi chia một nửa số con. Điều 167 - Hồng Đức thiện
chính thư - quy định rõ hình thức thuận tình ly hôn: Giấy ly hôn được làm dưới
hình thức hợp đồng, người vợ và người chồng mỗi bên giữ một bản làm bằng
chứng. Vậy là, bên cạnh sự ưng thuận của cha mẹ hay các bậc tôn thuộc rất quan
trọng thì sự ưng thuận của hai bên trai - gái cũng là một thành tố được nhà lập
pháp chú ý đến. Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng sau khi ly hôn hoàn toàn
chấm dứt, hai bên đều có quyền kết hôn với người khác mà không bị pháp luật
ngăn cấm.
5

×