Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

Phá giá đồng VND có phải là giải pháp quan trọng nhất để thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam Hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (213.2 KB, 16 trang )

Nhóm 6 : Lớp CH23K
Tham gia nghiên cứu bài tập môn “ Kinh tế quốc tế” gồm có
1. Trần Thị Thanh
2. Nguyễn Tất Thành
3. Nguyễn Thị Ngọc Dung
4. Thiều Thị Ngọc Chi
5. Nguyễn Thị Thanh Mai
6. Nguyễn Thanh Mai
7. Nguyễn Thị Ngọc Mỹ
8. Dương Thị Băng Nhung.
1
Lời nói đầu 3
Phần I: Lý thuyết xuất khẩu và phá giá tiền tệ 4
1.Biện pháp các nước đang phát triển sử dụng để đẩy mạnh xuất khẩu: 4
2.Những vấn đề chung về phá giá đồng nội tệ: 6
2.1.Điều kiện để một cuộc phá giá nội tệ thành công: 6
2.2.Tác động của phá giá nội tệ đến xuất khẩu: 7
Phần II. Phá giá tiền tệ trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay 10
1.Ảnh hưởng của phá giá đến cán cân vãng lai 10
2. Luồng vốn vào – ra trong nền kinh tế 14
3. Ảnh hưởng của phá giá đến lạm phát 14
4. Tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế Việt Nam 14
5. Ảnh hưởng của phá giá đến ngân sách 15
Kết luận: 15
2
Lời nói đầu
Nền kinh tế Việt Nam vận hành theo hướng là nền kinh tế thị trường có sự quản
lý của nhà nước. Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam đã phải gồng mình để
chống lại những đợt khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và chúng ta cũng thấy được các
chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước ta trong việc can thiệp để giữ vừng sự phát triển
kinh tế quốc gia, giữ vững vị thế đất nước, trong những công cụ điều hành đó, chúng


ta cũng thấy được sự thành công và khôn khéo trong việc sử dụng công cụ điều hành
tỷ giá hối đoái và lãi suất trong việc phát triển nền kinh tế nói chung và xuất khẩu nói
riêng, trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu về vấn đề phát triển xuất khẩu tại Việt
Nam, chúng tôi xin được đề xuất nghiên cứu đến vấn đề:
“Phá giá đồng VND có phải là giải pháp quan trọng nhất để thúc đẩy xuất
khẩu của Việt Nam Hiện nay.”
Chúng tôi sẽ đi vào nghiên cứu tính đa chiều của tác động của việc phá giá
đồng nội tệ đến xuất khẩu. Với thời lượng nghiên cứu có hạn, đề tài sẽ không tránh
được sơ sài và thiếu sót, mong các bạn và cố góp ý, xây dựng, và hoàn thiện đề tài
trên.
3
Phần I: Lý thuyết xuất khẩu và phá giá tiền tệ.
1. Biện pháp các nước đang phát triển sử dụng để đẩy mạnh xuất khẩu:
Chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu cách chính phủ Trung Quốc sử dụng công cụ tỉ
giá hối đoái để đẩy mạnh xuất khẩu trong nước ra sao, Trung Quốc thực hiện phá giá
đồng Nhân dân tệ (NDT) như thế nào?
Chính sách phá giá nội tệ Trung Quốc được phân làm 05 giai đoạn: (1) Thời kỳ
cơ chế tỷ giá cố định và đa tỷ giá (trước năm 1979); (2)Thời kỳ chuyển từ cơ chế tỷ
giá cố định sang thả nổi có điều tiết (1979-1993); (3)Thời kỳ phá giá mạnh đồng NDT
và thống nhất 2 tỷ giá hướng tới một đồng NDT có khả năng chuyển đổi (1994-1997);
(4)Chính sách duy trì đồng NDT yếu nhằm thúc đẩy xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế và
giảm những cú sốc bên ngoài (1997-2005); (5) Chính sách tỷ giá của Trung Quốc
trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay.
Thời kỳ cơ chế tỷ giá cố định và đa tỷ giá (trước năm 1979:
Việc thực hiện cơ chế tỷ giá cố định đã làm cho giá trị đồng NDT luôn được
gán cao hơn giá trị thực. Điều này làm cho hàng hóa trong nước trở nên đắt đỏ, tác
động tiêu cực đến xuất khẩu, gây mất cân đối trong nền kinh tế Ngân sách nhà nước
hàng năm phải bù lỗ cho sản xuất và tiêu dùng, năm 1979 mức bù lỗ là 76,3 tỷ NDT
tương đương với 29% thu nhập tài chính. Vào lúc này con số nợ của TQ lên tới 47 tỷ
USD trong khi dự trữ ngoại hối cạn kiệt, lạm phát tăng cao. Nhận ra sự yếu kém của

cơ chế quản lý kinh tế theo kế hoạch, từ năm 1979 Trung Quốc đã thực hiện cải cách
kinh tế. Chính sách tỷ giá cũng được cải cách cho phù hợp với những chuyển đổi của
nền kinh tế.
Thời kỳ chuyển từ cơ chế tỷ giá cố định sang thả nổi có điều tiết (1979-1993):
Ngay từ đầu những năm 80, Trung Quốc đã cho phép thực hiện cơ chế điều
chỉnh tỷ giá giảm dần để phản ảnh đúng sức mua của đồng NDT trên thị trường. Từ
năm 1981- 1985, Trung Quốc thực hiện là phá giá đồng tiền. Trong thời gian này,
đồng NDT được điều chỉnh 23 lần trong năm 1981, 28 lần trong năm 1982 và 56 lần
trong năm 1984 ở các mức độ khác nhau để tiến tới tỷ giá thực của nó.
Ra đời từ đầu những năm 1980 ở TQ, thị trường ngoại hối phát triển rất nhanh
từ đầu những năm 1980 ở TQ, thị trường ngoại hối phát triển rất nhanh từ sau những
năm 1986 dẫn tới một mạng lưới thanh toándựa vào thị trường Với sự hiện diện của thị
trường này, đã làm cho tỷ giá trao đổi từng bước được dao động tự do hơn. Chính sách
tỷ giá trong thời kỳ này đã giúp Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu, giảm thâm hụt cán
cân thương mại, cán cân thanh toán và đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế.
Nếu như năm 1978 tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu chỉ đạt 20,64 tỷ USD bằng 9,8%
GDP, đứng thứ 27 trên thế giới về buôn bán đối ngoại và cán cân thương mại là
-15.002 triệu USD thì nhờ thương mại phát triển đến năm 1990 cán cân thương mại là
8.646 triệu USD.
Cho nên, đầu những năm 90 (1991- 1993), Trung Quốc chính thức công bố áp
dụng một tỷ giá thả nổi. Trong giai đoạn này, tỷ giá trao đổi của đồng NDT thường
xuyên dao động, đồng NDT hầu như hạ giá. Sau khi tỷ giá được điều chỉnh tương đối
sát với biến đổi của thị trường và sức mua thực tế của đồng NDT, tỷ giá danh nghĩa
giữa đồng NDT với USD tương đối ổn định ở mức 5,2 -> 5,8 NDT/USD. Tuy nhiên,
4
mức điều chỉnh này được dựa vào mức giá giữa Trung Quốc và Mỹ đã làm cho lạm
phát cao ở Trung Quốc tác động xấu tới mục tiêu tăng trưởng và thúc đẩy xuất khẩu
của nền kinh tế. Có thể nói đây là những bước đầu tiên của quá trình chuyển đổi tỷ giá
hối đoá và chính sách tỷ giá ở Trung Quốc, là giai đoạn để cho tỷ giá ấn định trước
đây được thả nổi theo sát với những diễn biến của thị trường. Như từ mức thặng dư

thương mại là 9.165 triệu USD với tốc độ lạm phát 3,06% năm 1990 thì đến năm 1993
cán cân thương mại bị thâm hụt – 10.654 triệu USD và tốc độ lạm phát là 14,58%.
Thời kỳ phá giá mạnh đồng NDT và thống nhất 2 tỷ giá hướng tới một đồng
NDT có khả năng chuyển đổi (1994-1997):
Ngày 1/1/1994, Trung Quốc chính thức công bố điều chỉnh mạnh tỷ giá đồng
NDT từ 5,8 NDT/USD lên 8,7 NDT/USD, tỷ lệ điều chỉnh (thực chất là phá giá đồng
NDT) lên tới 35%. Đồng thời đưa tỷ giá chính thức ngang bằng với tỷ giá thị thường,
thống nhất 2 tỷ giá về một tỷ giá. Mục tiêu nhằm kiềm chế lạm phát, kích thích xuất
khẩu, khôi phục sản xuất trong nước; khắc phục tình trạng 2 tỷ giá chênh lệch quá lớn,
hiện tượng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ, thao túng tỷ giá làm cho thị trường ngoại hối bất
ổn Ban hành một loạt những biện pháp hỗ trợ và quản lý ngoại hối như: thực hiện chế
độ ngân hàngkết hối, xoá bỏ sự găm giữ ngoại tệ và tăng giá ngoại hối của các công ty,
xây dựng thị trường giao dịch ngoại tệ liên ngân hàng; cải tiến cơ chế hình thành tỷ giá
hối đoái; xoá bỏ kế hoạch mang tính mệnh lệnh đối với thu chi ngoại hối
Năm 1994 1995 1996 1997
FDI 33.79 35.84 40.18 44.23
Lạm phát (%) 24.2 16.9 8.3 8.3
Xuất khẩu (tỷ
USD)
121 148.8 151.2 182.9
Nhập khẩu (tỷ
USD)
115.7 129.1 138.9 142.2
Cán cân XNK +5.3 +19.7 +12.3 +40.7
Chính sách duy trì đồng NDT yếu nhằm thúc đẩy xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế
và giảm những cú sốc bên ngoài (1997-2005):
Tháng 7/1997, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á bắt đầu từ Thái Lan sau đó
đã lan rộng ra toàn khu vực và trên thế giới. Trước tình hình đó, chính phủ Trung
Quốc đã có chủ trương không phá giá đồng NDT, tỷ giá vẫn giữ ở mức 8,3NDT/USD,
với biên độ giao động nhỏ. Thu nhập ngoại tệ của các DN bắt buộc phải bán cho

những NH đã được chỉ định trước, việc bán ngoại tệ cũng phải có hoá đơn theo quy
định mới được rút, thậm chí các nhà đầu tư NN cũng phải bán ngoại tệ cho các NH TQ
để đổi lấy một lượng NDT nhất định sử dụng trong lãnh thổ nước này Trong thời kỳ
này, TQ đã liên tiếp 3 lần hạ lãi suất cho vay và tiền gửi bằng đồng NDT, lãi suất chiết
5
khấu cũng giảm 1,91%, đồng thời với việc giảm cả lãi suất với các loại tiền gửi bằng
ngoại tệ, hỗ trợ vốn cho các DN, kích thích tiêu dùng ở các tầng lớp dân cư.
Chính sách tỷ giá của Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay.
Ngày 21/07/05 nâng tỷ giá hối đoái của đồng NDT so với đồng USD một lần
lên 2%, tức là 8,11 NDT đổi 1 USD.
Ngày 15/5/2006 Giá trung gian của tỷ giá hối đoái đồng NDT so với đồng USD
lần đầu tiên giảm xuống dưới mức 8NDT/1USD.
Ngày 18/05/07 NHTW Trung Quốc thông báo biên độ giao dịch ngay giữa các
ngân hàng từ mức 0,3% tăng lên 0,5%.
Ngày 10/04/08, giá trung gian của tỷ giá hối đoái giữa đồng NDT với đồng
USD lần đầu tiên xuống dưới mức 7NDT/1USD.
Ngày 07/2008 Tỷ giá 6,8 NDT đổi 1USD nhằm mục tiêu kích thích tăng trưởng
XK, khôi phục lại nền kinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Ngày 06/2010 Đồng NDT đã giảm 1,8% lên mức 6,7081 nhân dân tệ/USD từ
mức 6,8202 NDT/USD sau 23 tháng tỷ giá neo cố định.
Ngày 29/04/11 Nhân dân tệ phá vỡ gưỡng 6,5 NDT/USD. Ngày 22/06/11 Nhân
dân tệ lên mức 6,7980 NDT/USD. Xuất khẩu và vai trò của nó đối với sự phát triển
của mỗi quốc gia.
Những chính sách Trung Quốc sử dụng đã mang lại cho Việt Nam một số bài
học trong việc thực hiện chính sách tỷ giá thúc đẩy xuất khẩu trong nước.
2. Những vấn đề chung về phá giá đồng nội tệ:
2.1. Điều kiện để một cuộc phá giá nội tệ thành công:
Khi xem xét có nên phá giá tiền tệ hay không, các nhà hoạch định chính sách
cần cân nhắc thận trọng các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả của phá giá tiền tê, bao
gồm các điều kiện sau:

Thứ nhất, thị trường phải ổn định và lạm phát phải kiểm soát được. Khi môi
trường vĩ mô ổn định, duy trì niềm tin vào VND thì ngân hàng nhà nước phải giữ một
mức chênh lệch đủ lớn về lãi suất của VND và USD, song giữ cho VND không được
mất giá quá nhanh khiến mức chênh lệch lãi suất không còn nhiều ý nghĩa. Khi thực
hiện phá giá và mở đường cho nới lỏng tiền tệ hơn nữa sẽ tạo nguy cơ lạm phát và
khiến cầu mua USD tăng lên. Một sự mất ổn định trong giá cả tiêu dùng và phá giá có
thể dẫn đến kì vọng về lạm phát tăng cao và VND sẽ càng mất giá. Nếu rủi ro càng
cao, kỳ vọng về phá giá và lạm phát sẽ càng lớn, tạo thành một vòng xoáy liên tục
trong vài năm trước đây khi mà chúng ta đối phó với lạm phát hai con số. Như vậy có
một sự mâu thuẫn ở một chừng mực nào đó giữa việc muốn ổn định vĩ mô và việc phá
giá đồng nội tệ để cải thiện sức cạnh tranh. Ngân hàng nhà nước không thể lựa chọn cả
hai nhưng quan điểm của ngân hàng nhà nước là rất rõ ràng: ổn định vĩ mô thì ngân
hàng nhà nước mới điều chỉnh tỷ giá hỗ trợ xuất khẩu một ít. Nói cách khác, để phá
giá thành công thì ổn định vĩ mô vẫn là ưu tiên. Những năm gần đây, rủi ro về lạm
phát được đánh giá là thấp và sự ổn định của VND trong một thời gian dài khiến kì
vọng về phá giá không nhiều khiến kỳ vọng về phá giá không nhiều, NHNN ít nhiều
6
đã tạo ra uy tín rằng mình có thể làm chủ được phương tiện về chính sách tiền tệ.
Điều chỉnh phá giá tiền tệ không diễn tả sự thay đổi trong quan điểm chính sách của
ngân hàng nhà nước mà chỉ khẳng định thêm rằng ngân hàng nhà nước vẫn ưu tiên giữ
ổn định vĩ mô và lạm phát cần phải được kiểm soát. Nền kinh tế Việt Nam sau một đợt
phá giá mạnh thì sẽ lại trở thành một nền kinh tế chi phí cao, năng suất thấp và sẽ lại
phải tiếp phá giá… Do vậy, để phá giá nội tệ có hiệu quả, cải thiện sức cạnh tranh thì
cần phải có môi trường ổn định và lạm phát ở mức kiểm soát được. Khi đó, cải cách
được doanh nghiệp nhà nước, gỡ bỏ nút thắt về thiết chế để tăng năng suất và tăng
năng lực áp dụng công nghệ. Sau đó, mới dùng tỷ giá để tương trợ cho sức cạnh tranh
hàng hóa xuất khẩu. Trong điều kiện hiện tại, khi mà ngân hàng nhà nước phải cân
nhắc giữa hai chọn lựa: chính sách ổn định vĩ mô giữ đồng VND ổn định hoặc cho
đồng VND mất giá nhiều hơn nữa để tương trợ xuất khẩu (đi kèm rủi ro về lạm phát,
gánh nặng nợ và gia tăng chuyển đổi tài sản tử VND sang đồng tiền khác). Do vậy,

ngân hàng nhà nước có lẽ sẽ chọn phương án an toàn, điều này ẩn ý trong thời gian tới,
lạm phát duy trì thấp và cán cân tính số ổn định, ngân hàng nhà nước sẽ có thời cơ
điều chỉnh phá giá thêm một ít, nhưng khó có cú sốc tỷ giá.
Thứ hai, cơ cấu xuất khẩu hàng hóa ít phụ thuộc vào đầu vào nhập khẩu. Một
số lĩnh vực sản xuất tại một quốc gia, cần thiết phải nhập nguyên liệu thô hoặc sản
phẩm sơ chế làm đầu vào cho sản xuất xuất khẩu, Trong trường hợp này, phá giá tiền
tệ làm tăng giá thành sản xuất hàng xuất khẩu và làm hạn chế cơ hội có giá cả cạnh
tranh hơn so với những hàng xuất khẩu mà đầu vào chỉ bao gồm hàng hóa trong nước.
Do đó, phá giá tiền tệ đặc biệt thuận lợi cho các ngành sản xuất mà nguyên liệu đầu
vào là các hàng hóa nội địa. Ví dụ như khoảng sản và nông nghiệp.
Thứ ba, chi phí sản phẩm thiết yếu không được quá cao. Các nước đang phát
triển đặc biệt phụ thuộc vào một số sản phẩm nhập khẩu, đầu tư, năng lượng và sản
phẩm y tế. Phá giá tiền tệ làm giá thành các sản phẩm này tương đối đắt đỏ và có thể
có tác động tiêu cực đến tăng trưởng và đời sống nhân dân.
Thứ tư, nợ nước ngoài/GDP phải ở mức tương đối thấp. Một số nước nghèo
luôn trong tình trạng vay nợ nước ngoài nhiều. Việc phá giá sanh nghĩa đồng tiền nội
địa làm tăng nợ nước ngoài tính bằng đồng nội địa. Điều này đặt ra nhiều vấn đề cho
ngân sách nhà nước, do phải trả lãi và các khoản trả góp nước ngoài cao do đồng ngoại
tệ tăng giá. Trong trường hợp này cần thay đổi thuế và chi tiêu chính phủ. Các công ty
tư nhân có nợ nước ngoài cũng có thể bị ảnh hưởng lớn đặc biệt nếu sản phẩm của các
công ty này hướng vào thị trường nội địa.
Cuối cùng là vấn đề về cơ cấu chính sách. Khi tác động của những chính sách
như trợ giá, kiểm soát giá hoặc hạn ngạch xuất khẩu, sẽ làm cản trở sự cân bằng các
yếu tố bên ngoài theo quy luật kinh tế, Những vấn đề này cần được xử lý ngay nếu
không việc phá giá tiền tệ sẽ không còn ý nghĩa.
Tóm lai, phá giá tiền tệ không chỉ tác động đến những vấn đề kinh tế mà còn
ảnh hưởng đến những vấn đề mang tính chính trị-xã hội. Vì thế, để thực hiện chính
sách phá giá đồng nội tệ, các nước đều phải xem xét và cân nhắc một cách kỹ lưỡng
các mặt lợi và hại của biện pháp này dựa trên tất cả các khía cạnh của nền kinh tế.
2.2. Tác động của phá giá nội tệ đến xuất khẩu:

7
Ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đối với tài khoản vãng lai
Mục tiêu của phá giá tiền tệ là làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa nội địa
và từ đó cải thiện cán cân thanh toán vãng lai. Khi đồng nội tệ giảm giá sẽ làm tăng
tỷ giá danh nghĩa, kéo theo tỷ giá thực tăng sẽ kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập
khẩu, cải thiện cán cân thương mại. Khi tỷ giá tăng (phá giá), giá xuất khẩu rẻ đi
khi tính bằng ngoại tệ, giá nhập khẩu tính theo đồng nội tệ tăng được gọi là hiệu
ứng giá cả. Khi tỷ giá giảm làm giá hàng xuất khẩu rẻ hơn đã làm tăng khối lượng
xuất khẩu trong khi hạn chế khối lượng nhập khẩu. Hiện tượng này gọi là hiệu ứng
khối lượng.
Tuy nhiên, việc cán cân thương mại xấu đi hay được cải thiện tùy thuộc vào
hiệu ứng giá cả và hiệu ứng số lượng cái nào trội hơn.
Trong ngắn hạn, khi tỷ giá tăng trong lúc giá cả và tiền lương trong nước
tương đối cứng nhắc sẽ làm giá hàng hóa xuất khẩu rẻ hơn, nhập khẩu trở nên đắt
hơn: các hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết với tỷ giá cũ, các doanh nghiệp trong
nước chưa huy động đủ nguồn lực để sẵn sàng tiến hành sản xuất nhiều hơn trước
nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu tăng lên, cũng như nhu cầu trong nước tăng lên.
Ngoài ra, trong ngắn hạn, cầu hàng nhập khẩu không nhanh chóng giảm còn do tâm
lý người tiêu dùng. Khi phá giá, giá hàng nhập khẩu tăng lên, tuy nhiên, người tiêu
dùng có thể lo ngại về chất lượng hàng nội chưa có hàng thay thế xứng đáng hàng
nhập làm cho cầu hàng nhập khẩu chưa thể giảm ngay. Do đó, số lượng hàng xuất
khẩu trong ngắn hạn không tăng lên nhanh chóng và số lượng hàng nhập cũng
không giảm mạnh. Vì vậy, trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả thường có tính trội hơn
hiệu ứng số lượng làm cho cán cân thương mại xấu đi.
Trong dài hạn, giá hàng nội địa giảm đã kích thích sản xuất trong nước và
người tiêu dùng trong nước cũng đủ thời gian tiếp cận và so sánh chất lượng hàng
trong nước với hàng nhập. Mặt khác, trong dài hạn, doanh nghiệp có thời gian tập
hợp đủ các nguồn lực để tăng khối lượng sản xuất. Lúc này sản lượng bắt đầu co
giãn, hiệu ứng số lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả làm cán cân thương mại
được cải thiện.

Một số nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tác động lên cán cân thương mại
sau khi phá giá bao gồm:
- Năng lực sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu: Đối với các nền kinh tế
đang phát triển (Việt Nam thuộc nhóm nước này), có một số hàng hóa các nền kinh
tế này không thể sản xuất được hay có sản xuất được đi nữa thì chất lượng không
tốt bằng hoặc giá cả có thể cao hơn. Vì vậy, mặc dù giá nhập khẩu có đắt hơn,
người tiêu dùng cũng không thể lựa chọn hàng trong nước. Điều này làm kéo dài
thời gian của hiệu ứng giá cả.
- Tỷ trọng hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu: Đối với các nước đang phát
triển, yêu cầu về chuẩn hàng hóa tham gia thương mại quốc tế cao, cho nên một sự
phá giá tiền tệ làm cho khối lượng xuất khẩu tăng chậm hơn. Điều này làm cho hiệu
ứng khối lượng ít có tác động đến cán cân thương mại hơn ở các nước đang phát
triển. Vì vậy, tác động cải thiện cán cân thương mại của phá giá ở các nước phát
triển thường mạnh hơn ở các nước đang phát triển.
8
- Tỷ trọng hàng nhập khẩu trong giá thành hàng sản xuất trong nước: Nếu tỷ
trọng này cao, giá thành sản xuất của hàng hóa trong nước sẽ tăng lên khi hàng
nhập khẩu tăng giá. Điều này làm triệt tiêu lợi thế giá rẻ của hàng xuất khẩu khi
phá giá. Cho nên, phá giá tiền tệ chưa hẳn đã làm tăng khối lượng hàng xuất khẩu.
- Mức độ linh hoạt của tiền lương: Động thái phá giá tiền tệ thường làm chỉ
số giá hàng tiêu dùng tăng lên. Nếu tiền lương linh hoạt, nó sẽ tăng theo chỉ số giá.
Điều này làm tăng chi phí sản xuất, từ đó làm cho giá hàng trong nước giảm bớt lợi
thế có được từ phá giá tiền tệ.
- Tâm lý người tiêu dùng và thương hiệu quốc gia của hàng hóa trong nước:
Nếu người tiêu dùng trong nước có tâm lý sùng hàng ngoại, thì một sự đắt lên của
hàng nhập và sự rẻ đi của hàng trong nước có tác động đến hành vi tiêu dùng của
họ, họ sẽ tiếp tục sử dụng hàng nhập mặc dù giá có đắt hơn. Tiếp theo, mức độ gia
tăng số lượng hàng xuất khẩu phụ thuộc vào sự tin tưởng và ưa chuộng hàng hóa
xuất khẩu của người tiêu dùng nước ngoài.
Ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đối với lạm phát

Do giá cả nhập khẩu tăng, nên giá cả nội địa cũng thường tăng lên sau khi
thực hiện phá giá tiền tệ. Ảnh hưởng này sẽ càng lớn nếu nhập khẩu chiếm một tỉ
trọng lớn trong tiêu dùng nội địa và nếu nhà xuất khẩu đặt giá nội địa cao bằng với
giá xuất khẩu sang nước ngoài. Việc tăng giá hàng nội địa sẽ làm ảnh hưởng đến
mối quan hệ giá cả – lương. Nếu lương được điều chỉnh theo mức độ lạm phát thì
trong trường hợp này lương sẽ tăng. Như vậy, sẽ dẫn tới hiện tượng lạm phát leo
thang gây ảnh xấu đến tiết kiệm, đầu tư, phát triển kinh tế, phân bổ thu nhập cũng
như ổn định chính trị. Ảnh hưởng của phá giá tiền tệ gây nên lạm phát có thể kiểm
soát được bằng cách giảm tín dụng kinh tế và giảm thâm hụt ngân sách.
Ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đối với sản xuất
Trong ngắn hạn, việc tăng giá sẽ làm giảm tiền lương thực tế (trước khi
lương danh nghĩa được điều chỉnh), đồng thời giảm tài sản của người dân đang
được cất giữ dưới dạng đồng tiền nội địa, tài khoản ngân hàng và trái phiếu nội địa.
Tài sản của người dân sẽ không bị ảnh hưởng nhiều nếu họ cất giữ dưới phương
thức tài sản nước ngoài. Giảm thu nhập thực tế sẽ hạn chế người dân tiêu dùng dẫn
tới giảm mức chi tiêu của quốc gia. Do vậy, thông thường sẽ có sự tái phân bổ thu
nhập và tài sản sau khi phá giá tiền tệ. Tuy nhiên, nếu việc tái phân bổ này được
thực hiện ở nhóm dân số có mức tiêu dùng thấp thì vẫn dẫn tới việc giảm chi tiêu
của quốc gia. Việc giảm chi tiêu có thể cải thiện tài khoản vãng lai, nhưng đồng
thời cũng làm giảm cầu đối với hàng hóa nội địa, từ đó gây ra thất nghiệp trong một
số ngành kinh tế. Qui mô sản xuất sẽ tăng hoặc giảm phụ thuộc vào mức độ chi tiêu
chính phủ và tốc độ ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đến việc sản xuất hàng xuất khẩu
và hàng thay thế hàng nhập khẩu.
Ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đến ngân sách
Phá giá tiền tệ có thể có những ảnh hưởng gián tiếp đến ngân sách, có thể cải
thiện hay làm thâm hụt ngân sách. Điều này phụ thuộc vào tầm quan trọng của các
khoản thu và chi chịu ảnh hưởng trực tiếp của tỷ giá hối đoái.
9
- Xét về nguồn thu ngân sách bao gồm các khoản như thuế xuất nhập khẩu
và viện trợ nước ngoài. Phá giá có xu hướng làm tăng thuế thu đối với giao dịch

thương mại nước ngoài. Mức độ ảnh hưởng của chính sách này phụ thuộc vào
tương quan so sánh giữa thuế thu từ xuất nhập khẩu và tổng thuế thu được, độ co
giãn về thuế, độ co giãn theo giá của xuất nhập khẩu. Nếu đất nước nhận được một
lượng lớn viện trợ nước ngoài, thì khoản thu này cũng sẽ tăng theo tỉ lệ của phá giá
tiền tệ.
- Xét về nguồn chi ngân sách gồm những khoản bù trừ nguồn thu. Trước hết,
nếu đất nước đang có một khoản nợ nước ngoài lớn, thì việc phá giá tiền tệ sẽ làm
cho họ phải trả khoản lãi suất lớn. Thứ hai, khoản chi của chính phủ cho mua xăng
dầu, máy tính, thiết bị quân sự từ nước ngoài sẽ tăng lên.
Phần II. Phá giá tiền tệ trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay
1. Ảnh hưởng của phá giá đến cán cân vãng lai
Mục tiêu của phá giá là để cải thiện cán cân vãng lai, có nghĩa là góp phần
vào làm giảm sự mất cân bằng giữa tiết kiệm vào đầu tư. Nhưng đối với Việt Nam,
liệu biện pháp phá giá có cải thiện được cán cân thương mại hay không khi hầu hết
các mặt hàng sản xuất trong nước đều phụ thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu
(90% tổng giá trị hàng nhập là nhập nguyên vật liệu sản xuất), ngay cả hàng xuất
khẩu cũng đến 70% là giá trị hàng nhập. Bên cạnh đó, năng lực sản xuất hàng hóa
thay thế nhập khẩu và hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu ở Việt Nam đều còn hạn
chế.
Thâm hụt cán cân thương mại đã trở thành một hiện tượng thường nhật trong
cán cân thanh toán tổng thể của Việt Nam trong nhiều năm gần đây. Thực trạng này
bắt nguồn sâu xa từ chính sự mất cân đối trong cơ cấu xuất nhập khẩu.
- Cơ cấu xuất khẩu (Xem bảng 1)
Bảng 1: Tỷ trọng một số mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong xuất
khẩu giai đoạn 2005- 2013
Trị giá xuất khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế và phân theo nhóm hàng
Triệu đô la Mỹ
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Sơ bộ
2013

TỔNG SỐ 32447.1 39826.2 48561.4 62685.1 57096.3 72236.7 96905.7 114529.2 132032.9
Phân theo khu
vực kinh tế
Khu vực kinh
tế trong nước 13893.4 16764.9 20786.8 28162.3 26724.0 33084.3 41781.4 42277.2 43872.7
Khu vực có
vốn đầu tư nước
ngoài
(*)
18553.7 23061.3 27774.6 34522.8 30372.3 39152.4 55124.3 72252.0 88160.2
Phân theo
nhóm hàng
Hàng công 11701.4 14428.6 16646.7 23209.4 17621.8 22402.9 34722.6 48228.2 58554.7
10
nghiệp nặng và
khoáng sản
Hàng CN nhẹ
và TTCN 13288.0 16382.4 20693.6 24896.4 25580.3 33336.9 40339.6 43298.7 50278.7
Hàng nông
sản 4467.4 5352.4 7032.8 9239.6 8352.8
10639.5 14447.5 15463.4
16487.3
Hàng lâm sản 252.5 297.6 408.4 468.7 463.4
803.9
1220.7
1363.7
Hàng thủy
sản 2732.5 3358.0 3763.4 4510.1 4255.3 5016.9 6112.4 6088.5 6712.2
Vàng phi tiền
tệ

(**)
5.3 7.2 16.5 360.9 822.6 36.6 62.8 86.7
CƠ CẤU (%)
TỔNG SỐ 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0
Phân theo khu
vực kinh tế
Khu vực kinh
tế trong nước 42.8 42.1 42.8 44.9 46.8 45.8 43.1 36.9 33.2
Khu vực có
vốn đầu tư nước
ngoài
(*)
57.2 57.9 57.2 55.1 53.2 54.2 56.9 63.1 66.8
Phân theo
nhóm hàng
Hàng công
nghiệp nặng và
khoáng sản 36.1 36.2 34.4 37.0 30.9 31.0 35.8 42.1 44.3
Hàng CN nhẹ
và TTCN 41.0 41.2 42.6 39.8 44.8 46.1 41.6 37.8 38.1
Hàng nông
sản 13.7 13.4
14.5 14.7 14.6 14.7 14.9 13.5
12.5
Hàng lâm sản 0.8 0.8
0.8 0.7 0.8 1.1
1.3
1.2
Hàng thủy
sản 8.4 8.4 7.7 7.2 7.5 7.0 6.3 5.3 5.1

Vàng phi tiền
tệ 0.0 0.0 0.0 0.6 1.4 0.1 0.1 0.1

(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Nhìn vào cơ cấu xuất khẩu, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp vào
tổng giá trị xuất khẩu là rất lớn những năm gần đây, 2012: 63.1%, 2013: 66.8%
thể , các mặt hàng xuất khẩu có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu là ngành hàm chứa
giá trị cao tập trung chủ yếu ngành máy móc, linh kiện điện tử.
Danh mục nhóm hàng xuất khẩu tập trung chủ yêú vào mặt hàng công
nghiệp nặng và khoáng sản, những năm gần đây chiếm khoảng hơn 40 %, đây là
những ngành hàng phát triển không bền vững, bên cạnh đó hàng công nghiệp nhẹ
và tiểu thủ công nghiệp cũng chiếm tỉ trọng khá lớn gần sấp sỉ 40%, mặt hàng xuất
khẩu chậm đa dạng hóa, các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chất lượng và giá trị còn
thấp. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như gỗ và sản phẩm gỗ, dệt
may và giày dép vẫn phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu nên giá trị gia tăng
thấp.
- Cơ cấu nhập khẩu (Xem bảng 2)
11
Bảng 2: Tỷ trọng một số mặt hàng nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong xuất
khẩu giai đoạn 2005- 2013
Trị giá nhập khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế và phân theo nhóm hàng
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Sơ bộ
2013
Triệu đô la mỹ
TỔNG SỐ 36761.1 44891.1 62764.7 80713.8 69948.8 84838.6 106749.8 113780.4 132032.6
Phân theo
khu vực kinh
tế
Khu vực

kinh tế trong
nước 23121.0 28401.7 41052.3 52831.7 43882.1 47870.7 58362.8 53839.2 57597.6
Khu vực có
vốn đầu tư
nước ngoài 13640.1 16489.4 21712.4 27882.1 26066.7 36967.9 48387.0 59941.2 74435.0
Phân theo
nhóm hàng
Tư liệu sản
xuất 32949.2 39504.1 56788.6 71715.9 63093.2 75496.0 94551.5 103430.2 121440.1
Máy móc,
thiết bị, dụng
cụ, phụ tùng 9285.3 11040.8 17966.2 22566.7 22081.5 25152.4 31592.9 39911.6 48465.9
Nguyên,
nhiên, vật liệu 23663.9 28463.3 38822.4 49149.1 41011.7 50343.6 62958.6 63518.6 72974.2
Hàng tiêu
dùng 2992.5 3508.4 4660.1 6269.9 6473.3 8378.0 10125.4 10249.8 10592.5
Lương thực 3.8 7.2 2.5 3.8 41.2 7.9 3.5 8.4
Thực phẩm 1100.2 1238.9 1555.2 2190.2 2085.5 2838.4 3711.1 3761.6
Hàng y tế 527.1 598.8 763.8 890.2 1158.6 1312.0 1589.8 1868.6 1878.2
Hàng khác 1361.4 1663.5 2338.6 3185.7 3188.0 4219.7 4821.0 4611.2
Vàng phi tiền
tệ 819.4 1878.6 1316.0 2728.0 382.3 964.6 2073.0 100.4
CƠ CẤU %
TỔNG SỐ 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0
Phân theo
khu vực kinh
tế
Khu vực
kinh tế trong
nước 62.9 63.3 65.4 65.5 62.7 56.4 54.7 47.3 43.6

Khu vực có
vốn đầu tư
nước ngoài 37.1 36.7 34.6 34.5 37.3 43.6 45.3 52.7 56.4
Phân theo
nhóm hàng
Tư liệu sản
xuất 89.6 88.0 90.5 88.8 90.2 89.0 88.6 90.9 92.0
Máy móc,
thiết bị, dụng
cụ, phụ tùng 25.3 24.6 28.6 28.0 31.6 29.6 29.6 35.1 36.7
12
Nguyên,
nhiên, vật liệu 64.4 63.4 61.9 60.8 58.6 59.4 59.0 55.8 55.3
Hàng tiêu
dùng 8.2 7.8 7.4 7.8 9.3 9.9 9.5 9.0 8.0
Lương thực 0.0 0.0 0.0 0.0 0.1 0.0 0.0 0.0
Thực phẩm 3.0 2.8 2.5 2.8 3.0 3.3 3.5 3.3
Hàng y tế 1.4 1.3 1.2 1.1 1.7 1.6 1.5 1.6 1.4
Hàng khác 3.7 3.7 3.7 3.9 4.5 5.0 4.5 4.1
Vàng phi tiền
tệ 2.2 4.2 2.1 3.4 0.5 1.1 1.9 0.1

(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Tỷ trọng nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu vẫn không thay đổi nhiều từ năm
2005 - đến nay . Nhóm hàng máy móc tư liệu sản xuất vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Cơ
cấu này cho thấy nhập khẩu của ta chủ yếu là để phục vụ sản xuất nên những biện
pháp kiềm chế nhập khẩu hiện nay tập trung vào các nhóm hàng hóa tiêu dùng đặc
biệt như ô tô, xa xỉ phẩm… sẽ chỉ có thể có những tác động nhỏ đến tình trạng
nhập siêu hiện nay. Hơn thế nữa, tỷ lệ nhập khẩu trong sản phẩm xuất khẩu của
nước ta ở mức cao (theo một số tính toán là khoảng 70%) dẫn tới thực tế là muốn

tăng xuất khẩu thì nhất thiết phải tăng nhập khẩu, làm hạn chế khả năng gia tăng
xuất khẩu nhanh hơn so với nhập khẩu.
- Năng lực sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu
Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển, mà đối với một nền kinh tế
đang phát triển, có một số hàng hóa mà các nền kinh tế này không thể sản xuất
được hay có sản xuất được đi nữa thì chất lượng không tốt bằng hoặc giá cả có thể
cao hơn. Vì vậy, mặc dù giá nhập khẩu có đắt hơn, người tiêu dùng cũng không
chắc sẽ lựa chọn hàng trong nước. Như vậy, nếu thực hiện phá giá, nền kinh tế Việt
Nam với năng lực sản xuất hàng thay thế cho hàng nhập khẩu còn hạn chế, có thực
sự hạn chế được nhập khẩu để cải thiện cán cân thương mại hay không?
- Năng lực sản xuất hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu
Đa phần các doanh nghiệp Việt Nam vẫn là sản xuất nhỏ lẻ và có năng suất
thấp. Chất lượng hàng hóa, kể cả những mặt hàng chiến lược là gạo, cà phê, hạt
tiêu, thủy, hải sản chế biến là những mặt hàng Việt Nam chiếm vị trí nhất nhì trên
thế giới thì chất lượng sản phẩm của chúng ta còn kém so với các nước có cùng mặt
hàng trong châu lục vì thế tỷ lệ hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ và châu Âu
còn nhỏ. Thêm vào đó, cơ sở hạ tầng cho sản xuất các mặt hàng xuất khẩu và xuất
khẩu lớn còn rất manh mún và chưa đủ sức để thúc đẩy sản xuất đại trà. Nếu các
doanh nghiệp trong nước không có năng lực sản xuất hàng xuất khẩu (cung cấp
không đủ lượng, chất theo nhu cầu của đối tác) hoặc không tìm được thị trường
xuất khẩu cho mình thì khi Chính phủ thực hiện phá giá, những cơ hội kinh doanh
tốt mà Chính phủ hướng tới thông qua phá giá sẽ bị bỏ lỡ, hoạt động xuất khẩu và
cán cân thương mại không chắc chắn có thể được cải thiện.
13
2. Luồng vốn vào – ra trong nền kinh tế
Dòng vốn vào là một nguồn quan trọng, bù đắp lại thâm hụt thương mại cho
nước ta trong những năm gần đây. Dòng chu chuyển vốn (qua các kênh FDI, FII và
vay nợ) nhìn chung tăng qua các năm, đặc biệt tăng mạnh từ năm 2007 sang năm
2008 – đạt mức cao kỷ lục vào năm 2008. (Xem biểu 1)
Biểu 1

Như vậy, nếu thực hiện phá giá mạnh sẽ có thể gây ra tâm lý lo ngại về các
bất ổn, yếu kém trong nền kinh tế Việt Nam cho các nhà đầu tư, có thể khiến họ
đưa ra quyết định rút vốn. Hậu quả là có thể gây bất ổn định kinh tế.
3. Ảnh hưởng của phá giá đến lạm phát
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng CPI cho thấy nhìn chung, CPI từ năm 2001
đến 2008 tăng khá mạnh, đặc biệt là hai năm 2007 và 2008 (12,6% và 19,89%).
Lạm phát tuy đã được kiềm chế ở mức thấp trong năm 2009 và hiện đang trong tầm
kiểm soát, nhưng diễn biến của lạm phát trong 20 năm qua ở Việt Nam, cho thấy
tính ổn định nhìn chung là không cao. Do đó, ổn định lạm phát luôn luôn là mục
tiêu điều hành của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Khi thực hiện phá giá, do giá cả nhập khẩu tăng nên giá cả nội địa cũng
thường tăng lên, gây áp lực lên lạm phát. Điều này đã từng xảy ra ở Trung Quốc,
khi Trung Quốc phá giá CNY 50% năm 1994, Trung Quốc đã phải đối mặt với lạm
phát tăng cao, năm 1994 là 24,24%, tăng hơn 66,25% so với mức lạm phát năm
1993. Xét trên khía cạnh này thì trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, khi mà phá
giá có cải thiện cán cân thương mại hay không còn chưa chắc chắn (như đã phân
tích ở trên) thì lạm phát đã tăng. Trong khi đó, Việt Nam với thực trạng kinh tế như
hiện nay khó có thể chấp nhận trước tình trạng tái lạm phát trở lại.
Một điểm khác hết sức quan trọng là hiện nay Chính phủ đang kêu gọi hạ lãi
suất. Trong khi đó, thông thường, nếu NHNN phá giá nội tệ, để có thể kiềm chế
lạm phát, biện pháp thường được sử dụng theo lý thuyết là thắt chặt tiền tệ, nghĩa là
phải tăng lãi suất. Như vậy, việc phá giá nội tệ sẽ có thể trở thành mâu thuẫn với
chủ trương giảm lãi suất của Chính phủ.
4. Tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế Việt Nam
Việt Nam là nền kinh tế đô la hóa, trong suốt thời kỳ cải cách, mức độ đôla
hóa tính theo tiêu chí của IMF có giảm dần, song so với các nước trên thế giới Việt
Nam vẫn là nước bị đôla hóa. Tâm lý đầu cơ và găm giữ ngoại tệ rất phổ biến trong
nền kinh tế. Nhận biết được điều này, Chính phủ và đặc biệt là NHNN Việt Nam đã
và đang hết sức nỗ lực để hạn chế tình trạng đô la hóa. Nếu phá giá VND vào lúc
này mà không có biện pháp đi cùng để ngăn chặn tâm lý kỳ vọng vốn đang tồn tại

khá mạnh trên thị trường tiền tệ Việt Nam, khi hệ quả của dư âm về lạm phát năm
2008 vẫn còn, sẽ khiến người dân và doanh nghiệp tích cực dự trữ ngoại tệ, làm
cho cung ngoại tệ không những không được cải thiện mà còn đẩy cầu ngoại tệ lên
cao; ảnh hưởng không tốt tới nỗ lực hạn chế đô la hóa của các nhà điều hành. Thậm
chí, trong trường hợp các giải pháp không tạo được lòng tin, thì mục đích ngăn
14
chặn những bất ổn trong nền kinh tế trong việc phá giá VND không những không
giải quyết được, mà có thể còn đẩy nền kinh tế tới chỗ bất ổn hơn.
5. Ảnh hưởng của phá giá đến ngân sách
Phá giá tiền tệ có thể cải thiện hoặc làm thâm hụt ngân sách còn phụ thuộc
rất nhiều vào việc các nguồn thu, chi ngân sách có chịu ảnh hướng trực tiếp bởi tỷ
giá hay không.
- Xem xét cơ cấu thu ngân sách của Việt Nam thì tỷ lệ thu ngân sách từ dầu
thô và xuất nhập khẩu chiếm tỷ trọng khá cao, khoảng gần 40% trong tổng nguồn
thu của ngân sách, hơn nữa, nguồn viện trợ cũng khá lớn. Vì vậy, phá giá sẽ tăng
đáng kể nguồn thu của Chính phủ nếu tính bằng VND. Tuy nhiên, phá giá làm ảnh
hưởng đến hoạt động doanh nghiệp, làm kinh tế suy giảm thì sẽ ảnh hưởng đáng kể
đến nguồn thu của Chính phủ.
- Xét về cơ cấu chi, thì khoản chi lớn nhất mà chịu tác động lớn của tỷ giá là
các khoản vay để bù đắp thâm hụt ngân sách bằng ngoại tệ.
- Xem xét vấn đề nợ nước ngoài (Xem bảng 3)
Bảng 3
Tổng số dư nợ nước ngoài so với GDP (%)
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Dự báo
2014
31.2 31.4 32.5 29.8 39.0 42.2 41.5 37.4 37.3 39.9
Nguồn: Bộ Tài chính
Xem xét tình trạng nợ nước ngoài của Việt Nam, nợ nước ngoài của quốc gia
so với GDP bằng 39%, thuộc diện quốc gia có nợ nước ngoài vừa phải, nếu xét

theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới. Hiện nay, nợ nước ngoài của Chính phủ
Việt Nam tập trung chủ yếu vào các loại tiền JPY, USD, EUR, SDR. Cụ thể, lớn
nhất là các khoản vay bằng đồng Yên, chiếm 41,96%; SDR chiếm 27,39%; vay
theo đồng USD chiếm 16,61%; vay bằng đồng Euro chiếm 10,68%; còn lại là các
đồng tiền khác chiếm 3,37% tổng dư nợ nước ngoài Chính phủ. Mặc dù cơ cấu
đồng tiền vay trong tổng dư nợ nước ngoài Chính phủ cũng khá đa dạng, được cho
là có thể hạn chế rủi ro về tỷ giá, giảm áp lực lên nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của
Chính phủ nhưng không thể phủ nhận thực tế những dao động của tỷ giá sẽ có ảnh
hưởng nhất định đến giá trị của các khoản nợ khi quy đổi ra nội tệ.
Kết luận:
Tóm lại, để thực hiện chính sách phá giá đồng nội tệ, phá giá phải được xem
xét và cân nhắc một cách kỹ lưỡng các mặt lợi và hại dựa trên tất cả các khía cạnh
của nền kinh tế; phải đảm bảo nền kinh tế đã có đủ các điều kiện để có thể phát huy
tốt mặt tích cực và hạn chế được những mặt tiêu cực của việc phá giá. Thêm vào
15
đó, mức độ phá giá là bao nhiêu cũng phải được cân nhắc cẩn thận, dựa trên tình
hình cụ thể.
Nếu có quyết định phá giá, cũng phải phá giá có lộ trình. Để tránh việc phá
giá sẽ dẫn đến lạm phát tăng cao và từ đó dẫn đến bất ổn định vĩ mô, đi kèm với
phá giá cần phải có một sự phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách kinh tế vĩ mô mà
trong đó quan trọng nhất là sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ thắt chặt và chính
sách tài khóa với hiệu quả đầu tư cao. Thêm nữa, có lẽ cần có một quỹ dự trữ ngoại
hối đủ mạnh để can thiệp trong thời gian đầu sau khi tiến hành phá giá.
16

×