Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY THỰC HÀNH SINH HỌC Ở TRƯỜNG THPT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (233.81 KB, 22 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Trần Phú
Mã số: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY THỰC
HÀNH SINH HỌC Ở TRƯỜNG THPT
Người thực hiện: LÊ VĂN TRUNG
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh: X Hiện vật khác
Năm học: 2014 -2015
1
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY THỰC HÀNH SINH HỌC
Ở TRƯỜNG THPT
***
MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 1
NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở khoa học 3
1. Cơ sở pháp lý 3
2. Cơ sở lý luận 3
2.1. Vai trò của thực hành thí nghiệm 3
2.2. Yêu cầu dạy thực hành sinh học có hiệu quả 4
3. Nội dung vấn đề nghiên cứu 5
Chương II: Một số biện pháp để thực hiện 5


1. Cơ sở để thực hiện biện pháp 5
1.1. Qui trình cho một bài thí nghiệm 5
1.2. An toàn trong phòng thí nghiệm 6
1.3. Quy tắc làm việc trong phòng thí nghiệm 10
1.4. Yêu cầu về kĩ năng thực hành 14
2. Một số bài thực hành cụ thể 16
2.1. Bài 12: Co và phản co nguyên sinh 16
2.2. Bài 20: Quan sát các kì nguyên phân trên tiêu bản rễ hành 20
KẾT LUẬN
1. Kết luận chung 22
2. Bài học kinh nghiệm 22
3. Kiến nghị 22
4. Tài liệu tham khảo 22
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học trong các trường THPT
và phát triển chuyên môn cho giáo viên dạy môn Sinh học.
Tăng cường dạy thí nghiệm thực hành trong môn Sinh học ở trường THPT và
chuẩn bị phương hướng, nhân lực, vật lực và kế hoạch bồi dưỡng cho học sinh thi
chọn học sinh giỏi thực hành thí nghiệm môn Sinh học THPT trong những năm tới.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Giúp giáo viên và học sinh tường minh những yêu cầu cần thiết dạy và
học thực hành sinh học có hiệu quả.
2
Giúp giáo viên có một quy trình soạn giảng một bài thực hành sinh học.
Giúp giáo viên và học sinh có một quy tắc làm việc trong phòng thí
nghiệm, và đặc biệt là rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dùng cho thực
hành môn Sinh học.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I

CƠ SỞ KHOA HỌC
1. CƠ SỞ PHÁP LÝ
1.1. Căn cứ nội dụng chương trình sinh học THPT.
1.2. Quy định chuẩn kiến thức kĩ năng môn sinh học THPT
1.3. Quy định giảm tải nội dung chương trình môn sinh học THPT.
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1: Vai trò của thực hành thí nghiệm trong bộ môn Sinh học.
Không thể hình dung được việc giảng dạy sinh vật học trong nhà
trường mà lại không có quan sát, không có thí nghiệm học tập.” B.P.
Exipốp (trong cuốn những cơ sở của LLDH). Quan sát và thí nghiệm là các
phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học tự nhiên, của các môn khoa
học thực nghiệm, trong đó có sinh học. Sinh học là một khoa học đã và sẽ
không thể phát triển được nếu không có quan sát, thí nghiệm.
Quan sát và thí nghiệm đã tạo khả năng cho các nhà khoa học phát
hiện và khai thác các sự kiện, hiện tượng mới, xác định những quy luật
mới, rút ra những kết luận khoa học và tìm cách vận dụng vào thực tiễn.
Đối với quá trình dạy học các môn khoa học tự nhiên, khoa học thực
nghiệm, quan sát và thí nghiệm cũng là phương pháp làm việc của học
sinh, nhưng với học sinh những bài tập quan sát hoặc các thí nghiệm được
giáo viên trình bày hay do chính các em tiến hành một cách độc lập (thực
hành quan sát, thí nghiệm của học sinh) dưới sự tổ chức, hướng dẫn của
giáo viên thường để giải quyết những vấn đề đã biết trong khoa học, rút ra
những kết luận cũng đã biết tuy vậy đối với các em học sinh vẫn là mới.
3
Thông qua quan sát, thí nghiệm, bằng các thao tác tư duy phân tích,
tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa giúp các em xây dựng các khái
niệm. Bằng cách đó các em nắm kiến thức một cách vững chắc và giúp cho
tư duy phát triển.
Quan sát và thí nghiệm đòi hỏi phải có những thiết bị dạy học như
tranh ảnh, mô hình, các mẫu vật tự nhiên và các phương tiện thiết bị phục

vụ cho việc tiến hành các thí nghiệm.
Quan sát và thí nghiệm không chỉ cho phép học sinh lĩnh hội tri thức
một cách sâu sắc, vững chắc mà còn tạo cho các em một động lực bên
trong, thúc đẩy các em thêm hăng say học tập.
Những phân tích trên đây không chỉ cho chúng ta thấy rõ tầm quan trọng
của thí nghiệm thực hành mà còn nhấn mạnh đến phương pháp sử dụng các
thí nghiệm thực hành đó để có thể đạt được hiệu quả cao đáp ứng mục tiêu
dạy học hiện nay của sự nghiệp giáo dục.
2.2: Yêu cầu của dạy học thực hành sinh học có hiệu quả
Dạy thực hành, mục đích chính là rèn các kỹ năng thao tác chân tay,
các đức tính kiên nhẫn, biết chấp nhận thử thách và tự tìm cách vượt qua
các thách thức để đạt được mục tiêu của mình. Vì vậy học sinh phải tự
mình làm thí nghiệm cho dù các thao tác ban đầu còn vụng về và có thể
thất bại. Như vậy, nếu quan niệm thực hành chỉ là minh họa, trình diễn để
học sinh xem thì việc tổ chức cho cả lớp học sinh vào một phòng thí
nghiệm làm cùng lúc là được nhưng học sinh không thể hình thành được kỹ
năng cũng như rèn luyện được những đức tính cần thiết của người làm
khoa học. Còn nếu để học sinh tự làm thì lại phải chia lớp thành nhiều
nhóm nhỏ (tối đa khoảng 10 em) thì các em mới có thể tự làm thí nghiệm
được và học sinh chỉ hình thành được kỹ năng khi được làm đi làm lại
nhiều lần một kỹ năng nhất định.
Một quan niệm không đúng về dạy thực hành là giáo viên thường
không đưa ra các tình huống khác thường để dạy học sinh cách phân tích
rút ra các kết luận phù hợp cũng như không biết cách tìm ra nguyên nhân
khi thí nghiệm không ủng hộ giả thiết ban đầu.
Như vậy, mục đích cốt lõi của dạy thực hành là rèn các kỹ năng khéo
léo trong các thao tác tay chân, các kỹ năng bố trí thí nghiệm, thu thập kết
quả, giải thích kết quả thực nghiệm, lý giải đưa ra các giả thuyết và tự tiến
4
hành các thí nghiệm ủng hộ hay bác bỏ giả thuyết của mình chứ không đơn

thuần là minh họa cho các bài lý thuyết. Vậy dạy thực hành phát triển các
kỹ năng tổng hợp và do vậy tất cả các học sinh cần được học thực hành.
3. Nội dung vấn đề nghiên cứu.
- Qui trình cho một bài thí nghiệm.
- Nội qui an toàn phòng thí nghiệm.
- Qui tắc làm việc trong phòng thí nghiệm.
- Kĩ năng thực hành sinh học.
CHƯƠNG II
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN
1. CƠ SỞ ĐỂ THỰC HIỆN BIỆN PHÁP:
Trên cơ sở tìm tòi, nghiên cứu và tổng hợp các tài liệu đang được sử dụng
trong
1.1 Qui trình cho một bài thí nghiệm có thể gồm các bước như sau:
1.1.1- Chuẩn bị thí nghiệm: Giáo viên phải có kế hoạch đảm bảo
chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, hóa chất, mẫu vật và các điều kiện cần thiết khác
để thí nghiệm thành công. Có thể giao cho học sinh chuẩn bị nhưng phải
kiểm tra.
1.1.2- Phổ biến nội qui an toàn phòng thí nghiệm: Ngay khi bắt đầu
một bài thực hành, giáo viên cần phải hướng dẫn cho học sinh về qui tắc an
toàn trong phòng thí nghiệm. Điều này là hết sức cần thiết và phải làm
ngay mỗi lần học sinh vào phòng thí nghiệm. Bên cạnh đó cũng cần phổ
biến cách cấp cứu trong những trường hợp cần thiết như bỏng hóa chất,
băng bó khi bị thương vv…
Giáo viên nêu mục tiêu thí nghiệm (hoặc hướng dẫn học sinh phát biểu
mục tiêu thực hành), phải đảm bảo mỗi học sinh nhận thức rõ mục tiêu làm
thí nghiệm để làm gì?
Giáo viên hướng dẫn học sinh cách tiến hành thí nghiệm, phải đảm bảo
mỗi học sinh nhận thức rõ làm thí nghiệm như thế nào? Bằng cách nào?
Học sinh có thể tự đọc qui trình thí nghiệm (nếu có sẵn trong bài thực
hành) hoặc giáo viên giới thiệu cho học sinh. Sau đó học sinh tự kiểm tra

5
các loại hóa chất thiết bị, mẫu vật xem có đáp ứng được với yêu cầu bài
thực hành hay không.
Học sinh tự tiến hành thí nghiệm theo qui trình đã cho để thu thập số
liệu.
Mô tả kết quả thí nghiệm. Học sinh viết ra (hoặc nói ra) các kết quả mà
học sinh quan sát thấy trong quá trình làm thí nghiệm.
Học sinh xử lý số liệu và viết báo cáo thí nghiệm nộp cho giáo viên.
Cuối buổi giáo viên có thể đưa ra các tình huống khác với thí nghiệm để
học sinh suy ngẫm và tìm cách lý giải.
Giải thích các hiện tượng quan sát được: đây là giai đoạn có nhiều
thuận lợi để tổ chức học sinh học theo phương pháp tích cực. Giáo viên có
thể dùng hệ thống câu hỏi dẫn dắt theo kiểu nêu vấn đề giúp học sinh tự
giải thích các kết quả.
Rút ra kết luận cần thiết: Giáo viên yêu cầu học sinh căn cứ vào mục
tiêu ban đầu trước khi làm thí nghiệm để đánh giá công việc đã làm.
Tóm tắt quy trình một bài thực hành thí nghiệm.
Bước 1. Xác định mục tiêu (cho giáo viên và cho học sinh). Yêu cầu của
bước này là học sinh phải nhận thức được và phát biểu rõ mục tiêu (trả lời
câu hỏi: để làm gì?)
Bước 2. Kiểm tra kiến thức cơ sở khoa học và kiểm tra sự chuẩn bị thực
hành (trả lời câu hỏi: có làm được không?).
Bước 3. Xác định nội dung tiến hành (trả lời câu hỏi: làm như thế nào?)
Bước 4. Tiến hành các hoạt động thực hành (trả lời câu hỏi: quan sát thấy
gì? Thu được kết quả ra sao?).
Bước 5. Giải thích và trình bày kết quả, rút ra kết luận. Viết báo cáo thực
hành.
1.2. An toàn trong phòng thí nghiệm sinh học.
1.2.1.An toàn khi tiếp xúc với sinh vật trong phòng thí nghiệm
Khi làm việc trong phòng thí nghiệm sinh học có thể bị lây nhiễm

bệnh do tiếp xúc với sinh vật. Con đường lây truyền có thể qua da, qua
không khí hoặc do ăn uống của các tác nhân mới chưa được xác định an
toàn.
6
Tác nhân gây bệnh có thể là từ các mô, máu của sinh vật nghiên cứu;
từ đờm dãi của người bệnh; từ virus phát tán trong không khí,
Gặp những trường hợp như vậy thì cần xác định rõ con đường lây
truyền, nguyên nhân và mức độ lây nhiễm. Bệnh có khả năng mắc phải
càng cao thì càng cần phải đánh giá nhanh chóng và thân trọng.
1.2.2. An toàn khi tiếp xúc với hoá chất trong các thí nghiệm sinh học
Giống như với an toàn sinh học, an toàn khi tiếp xúc với hóa chất đặt
nguyên tắc cơ bản là phòng ngừa lên trên hết. Bốn nguyên tắc cơ bản của
hoạt động kiểm soát hóa chất là :
1.2.2.1- Quy định thay thế: Loại bỏ các chất hoặc các quá trình
độc hại, nguy hiểm hoặc thay thế chúng bằng thứ khác ít nguy hiểm hơn
hoặc không còn nguy hiểm nữa. Khi tiến hành các thí nghiệm trong quá
trình dạy học cố gắng lựa chọn các chất ít độc hại , ít gây nguy hiểm ví dụ
thí nghiệm brom tác dụng với nhôm có thể thay thế bằng thí nghiệm ít độc
hơn như iot tác dụng với nhôm. Hoặc loại bỏ các chất gây nguy hiểm thí dụ
thí nghiệm với thuỷ ngân hoặc asen.
1.2.2.2- Quy định khoảng cách: Che chắn giữa người lao động
và hóa chất nhằm ngăn cách mọi nguy cơ liên quan tới hóa chất đối với
người lao động. Trong dạy học các thí nghiệm độc hại hoặc dễ nổ gây
nguy hiểm phải được tiến hành trong tủ hút hoặc có tấm kính mica che phía
học sinh, khoảng cách tiến hành các thí nghiệm không quá gần với học
sinh.
1.2.2.3. Quy định thông gió: sử dụng hệ thống thông gió thích
hợp để di chuyển hoặc làm giảm nồng độ độc hại trong không khí chẳng
hạn như khói, khí, bụi. Phòng thí nghiệm, phòng kho hoá chất…cần phải
thoáng, có hệ thông hút gió, có nhiều cửa ra vào.

1.2.2.4. Quy định về trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân: cho
người lao động ( học sinh) nhằm ngăn ngừa việc hoá chất bám vào người
như : áo blu, kính bảo vệ mắt, găng tay, khẩu trang, ủng …
Tùy theo việc sử dụng từng hóa chất mà có các quy định cụ thể. Ví
dụ:
- Hóa chất dễ cháy nổ :
Trong phòng thí nghiệm có hóa chất dễ cháy nổ phải quy định chặt
chẽ chế độ dùng lửa, khu vực dùng lửa, có bảng chỉ dẫn bằng chữ và ký
7
hiệu cấm lửa để ở nơi dễ nhận thấy. Khi cần thiết phải sửa chữa cơ khí, hàn
điện hay hàn hơi phải có biện pháp làm việc an toàn. Tất cả các dụng cụ
điện và thiết bị điện đều phải là loại phòng chống cháy nổ. Việc dùng điện
chạy máy và điện thắp sáng ở những nơi có hóa chất dễ cháy nổ phải đảm
bảo các yêu cầu sau:
+ Không được đặt dây cáp điện trong cùng một đường rãnh có ống
dẫn khí hoặc hơi chất lỏng dễ cháy nổ, không được lợi dụng đường ống này
làm vật nối đất .
+ Khi sửa chữa, thay thế các thiết bị điện thuộc nhánh nào thì phải cắt
điện vào nhánh đó.
+ Thiết bị điện nếu không được bọc kín, an toàn về cháy nổ thì không
được đặt ở nơi có hóa chất dễ cháy nổ.
+ Cầu dao, cầu chì, ổ cắm điện phải đặt ngoài khu vực dễ cháy nổ. Bất
kỳ nhánh dây điện nào cũng phải có cầu chì hay thiết bị bảo vệ tương
đương.
Tất cả các chi tiết máy động hoặc dụng cụ làm việc đều phải làm bằng
vật liệu không được phát sinh tia lửa do ma sát hay va đập. Tất cả các trang
bị bằng kim loại đều phải tiếp đất., các bộ phận hay thiết bị cách điện đều
phải có cầu nối tiếp dẫn. Trước khi đưa vào đường ống hay thiết bị một
chất có khả năng gây cháy nổ, hoặc trước và sau khi sửa chữa đều phải
thực hiện nghiêm ngặt các quy định phòng chống cháy nổ.

Không dùng thiết bị, thùng chứa, chai, lọ hoặc đường ống bằng nhựa
không chịu được nhiệt chứa hóa chất dễ cháy nổ. Không để các hóa chất dễ
cháy nổ cùng chỗ với các hóa chất duy trì sự cháy. Khi đun nóng các chất
lỏng dễ cháy không dùng ngọn lửa trực tiếp, mức chất lỏng trong nồi phải
cao hơn mức hơi đốt bên ngoài.
Trong quá trình sản xuất, sử dụng hóa chất dễ cháy nổ phải bảo đảm
yêu cầu vệ sinh an toàn lao động. Phải có ống dẫn nước, hệ thống thoát
nước, tránh sự ứ đọng các loại hóa chất dễ cháy nổ
- Hóa chất ăn mòn
Các thiết bị, đường ống chứa hóa chất dễ ăn mòn phải được làm bằng
vật liệu thích hợp, phải đảm bảo kín. Tại nơi làm việc có hóa chất ăn mòn
phải có vòi nước, bể chứa dung dịch natri bicacbonat (NaHCO
3
) nồng độ
0,3%, dung dịch axit axetic nồng độ 0,3% hoặc các chất khác có tác dụng
8
cấp cứu kịp thời tại chỗ khi xảy ra tai nạn. Tất cả các chất thải đều phải
được xử lý không còn tác dụng ăn mòn trước khi đưa ra ngoài v.v
- Hóa chất độc
Khi tiếp xúc với hóa chất độc, phải có mặt nạ phòng độc tuân theo
những quy định sau: Phải chứa chất khử độc tương xứng; Chỉ được dùng
loại mặt nạ lọc khí độc khi nồng độ hơi khí không vượt quá 2% và nồng độ
ôxy không dưới 15%; Đối với cacbua oxit (CO) và những hỗn hợp có nồng
độ CO cao phải dùng loại mặt nạ lọc khí đặc biệt.
Tiếp xúc bụi độc phải mặc quần áo kín may bằng vải bông dày có
khẩu trang chống bụi, quần áo bảo vệ chống hơi, bụi chất lỏng độc cần phải
che kín cổ tay, chân, ngực. Khi làm việc với dung môi hữu cơ hòa tan thì
phải mang quần áo bảo vệ không thấm và mặt nạ cách ly.
Cấm hút dung dịch hóa chất độc bằng miệng. Không được cầm nắm
trực tiếp hóa chất độc. Các thiết bị chứa hóa chất độc dễ bay hơi, phải thật

kín và nếu không do quy trình sản xuất bắt buộc thì không được đặt cùng
chỗ với bộ phận khác không có hóa chất độc v.v
1.2.3. Phòng chống cháy nổ
Phòng chống cháy nổ là yêu cầu của tất cả các phòng thí nghiệm.
Phòng thí nghiệm sinh học cần đáp ứng các điều kiện cụ thể sau :
- Có hệ thống báo động cháy, nổ và có thể tiếp cận hệ thống đó dễ dàng.
- Có cửa thoát hiểm được thiết kế đúng yêu cầu, có dấu báo hiệu đường
dẫn đến cửa thoát hiểm.
- Có hệ thống tự động báo cháy và hệ thống đó được kiểm tra khả năng
hoạt động thường xuyên.
- Có sẵn các thiết bị chống cháy nổ tại chỗ và các thiết bị đó được kiểm
tra thường xuyên và có thể tiếp cận dễ dàng.
- Đồ đạc được sắp xếp gọn gàng, không cản trở lối thoát hiểm và chặn
đường tiếp cận các thiết bị chữa cháy.
- Các hóa chất và thiết bị dễ cháy cần để nơi an toàn, riêng ở một nơi và
xa nơi có thể phát nổ như nguồn điện, lửa, Hóa chất cần được dán
nhãn cảnh báo đầy đủ. Phòng thí nghiệm có hóa chất dễ phát nổ cần
thoáng khí và không quá chật chội.
9
- Những bình khí nén và khí hóa lỏng được đánh dấu rõ ràng, các van
giảm áp được kiểm tra thường xuyên đảm bảo độ kín tuyệt đối. Các
bình đựng khí hóa lỏng được đặt cách xa nguồn điện, lửa,
- Tất cả các thiết bị điện được bảo dưỡng thường xuyên, hệ thống điện ba
pha cần có dây tiếp đất. Các thiết bị ngắt điện luôn trong trạng thái hoạt
động tốt, đảm bảo ngắt điện ngay khi cần thiết. Mỗi ổ cắm chỉ nên sử
dụng cho một thiết bị điện, không nên dùng thiết bị nối.
Giáo viên và học sinh làm việc trong phòng thí nghiệm được thông
báo nguy cơ cháy nổ, và được thực tập phương án phản ứng đúng khi cháy
nổ xảy ra.
1.3. Qui tắc làm việc trong phòng thí nghiệm.

1.3.1. An toàn khi làm việc với axit và kiềm
1.3.1.1. An toàn khi làm việc với axit:
- Phải làm việc trong tủ hút bất cứ khi nào đun nóng axit hoặc thực
hiện phản ứng với các hơi axit tự do.
- Khi pha loãng, luôn phải cho axit vào nước trừ phi được dùng
trực tiếp.
- Giữ để axit không bắn vào da hoặc mắt bằng cách đeo khẩu
trang, găng tay và kính bảo vệ mắt. Nếu làm văng lên da, lập tức rửa ngay
bằng một lượng nước lớn.
- Luôn phải đọc kỹ nhãn của chai đựng và tính chất của chúng.
- H
2
SO
4
: Luôn cho axit vào nước khi pha loãng, sử dụng khẩu
trang và găng tay để tránh phòng khi văng axit.
- Các axit dạng hơi (HCl) thao tác trong tủ hút và mang găng tay,
kính bảo hộ.
1.3.1.2. An toàn khi làm việc với kiềm
- Kiềm có thể làm cháy da, mắt gây hại nghiêm trọng cho hệ hô
hấp.
- Mang găng tay cao su, khẩu trang khi làm việc với dung dịch
kiềm đậm đặc.
- Thao tác trong tủ hút, mang mặt nạ chống độc để phòng ngừa bụi
và hơi kiềm.
- Amoniac: là một chất lỏng và khí rất ăn da, mang găng tay cao
su, khẩu trang, thiết bị bảo vệ hệ thống hô hấp. Hơi amoniac dễ cháy, phản
ứng mạnh với chất oxy hoá, halogen, axit mạnh.
10
- Amoni hydroxyt: chất lỏng ăn da, tạo hỗn hợp nỏ với nhiều kim

loại nặng: Ag, Pb, Zn và muối của chúng.
- Kim loại Na, K, Li, Ca: phản ứng cực mạnh với nước, ẩm, CO
2
,
halogen, axit mạnh, dẫn xuất clo của hydrocacbon. Tạo hơi ăn mòn khi
cháy. Cần mang dụng cụ bảo vệ da mắt. Chỉ sử dụng cồn khô khi tạo dung
dịch natri alcoholate, cho vào từ từ.
- Tránh tạo tinh thể cứng khi hoà tan. Tương tự khi hoà tan với
nước, đồng thời phải làm lạnh nhanh.
- Oxit canxi rất ăn da, phản ứng cực mạnh với nước, cần bảo vệ da
mắt, đường hô hấp do dễ nhiểm bụi oxit.
- Natri và kali hydroxyt: rất ăn da, phản ứng cực mạnh với nước.
Các biện pháp an toàn như trên, cho từng viên hoặc ít bột vào nước chứ
không được làm ngược lại.
1.3.2. Quy tắc làm việc với hóa chất thí nghiệm
1.3.2.1. Hoá chất thí nghiệm
Các hoá chất dùng để phân tích, làm tiêu bản, tiến hành phản ứng,
trong phòng thí nghiệm được gọi là hóa chất thí nghiệm. Hoá chất có thể ở
dạng rắn (Na, MgO, NaOH, KCl, (CH COO) ; lỏng (H
2
SO
4
, aceton,
ethanon, chloroform, ) hoặc khí (Cl
2
, NH
3
, N
2
, C

2
H
2
) và mức độ tinh
khiết khác nhau:
- Sạch kỹ thuật (P): độ sạch > 90%
- Sạch phân tích (PA): độ sạch < 99%
- Sạch hóa học (PC): độ sạch > 99%
Hóa chất có độ tinh khiết khác nhau được sử dụng phù hợp theo
những yêu cầu khác nhau và chỉ nên sử dụng hóa chất còn nhãn hiệu.
1.3.2.2. Nhãn hiệu hoá chất:
Hóa chất được bảo quản trong chai lọ thủy tinh hoặc nhựa đóng kín có
nhãn ghi tên hoá chất, công thức hóa học, mức độ sạch, tạp chất, khối
lượng tịnh, khối lượng phân tử, nơi sản xuất, điều kiện bảo quản.
1.3.2.3. Cách sử dụng và bảo quản hoá chất:
Khi làm việc với hóa chất, nhân viên phòng thí nghiệm cũng như sinh
viên cần hết sức cẩn thận, tránh gây những tai nạn đáng tiếc cho mình và
cho mọi người. Những điều cần nhớ khi sử dụng và bảo quản hóa chất
được tóm tắt như sau:
11
- Hóa chất phải được sắp xếp trong kho hay tủ theo từng loại (hữu
ơ, vô cơ, muối, acid, bazơ, kim loại, ) hay theo một thứ tự a, b, c để khi
cần dễ tìm.
- Tất cả các chai lọ đều phải có nhãn ghi, phải đọc kỹ nhãn hiệu
hóa chất trước khi dùng, dùng xong phải trả đúng vị trí ban đầu.
- Chai lọ hóa chất phải có nắp. Trước khi mở chai hóa chất phải
lau sạch nắp, cổ chai, tránh bụi bẩn lọt vào làm hỏng hóa chất đựng trong
chai.
- Các loại hóa chất dễ bị thay đổi ngoài ánh sáng cần phải được
giữ trong chai lọ màu vàng hoặc nâu và bảo quản vào chổ tối.

- Dụng cụ dùng để lấy hóa chất phải thật sạch và dùng xong phải
rửa ngay, không dùng lẫn nắp đậy và dụng cụ lấy hóa chất.
- Khi làm việc với chất dễ nổ, dễ cháy không được để gần nơi dễ
bắt lửa. Khi cần sử dụng các hóa chất dễ bốc hơi, có mùi, phải đưa vào tủ
hút, chú ý đậy kín nắp sau khi lấy hóa chất xong.
- Không hút bằng pipette khi chỉ còn ít hóa chất trong lọ, không
ngửi hay nếm thử hóa chất.
- Khi làm việc với axit hay bazơ mạnh: Bao giờ cũng đổ axit hay
bazơ vào nước khi pha loãng (không được đổ nước vào acid hay base);
Không hút axit hay bazơ bằng miệng mà phải dùng các dụng cụ riêng như
ống bóp cao su. Trường hợp bị bỏng với axit hay bazơ rửa ngay với nước
lạnh rồi bôi lên vết bỏng NaHCO
3
1% (trường hợp bỏng acid) hoặc
CH
3
COOH 1% (nếu bỏng base). Nếu bị bắn vào mắt, dội mạnh với nước
lạnh hoặc NaCl 1%.
Trường hợp bị hóa chất vào miệng hay dạ dày, nếu là axit phải súc
miệng và uống nước lạnh có MgO, nếu là bazơ phải súc miệng và uống
nước lạnh có CH
3
COOH 1%.
Lưu ý các kí hiệu cảnh báo nguy hiểm:
12
Chất dễ bắt lửa
(X
i
)
và độc (X

n
)
Chất ăn mòn (C)
Chất gây nguy hiểm
với môi trường (N)
13
1.4. Yêu cầu về kĩ năng thực hành sinh học.
(Trích từ yêu cầu về kĩ năng thực hành của IBO năm 2010)
Phần thực hành tập trung vào việc đánh giá năng lực giải quyết các
vấn đề sinh học của các học sinh. Để có được năng lực này các học sinh
cần được trang bị các kĩ năng sau:
1.4.1. Các kĩ năng khoa học (science process skills)
1. Quan sát (Observation).
2. Đo đạc (Measurement).
3. Phân loại hay phân nhóm (Grouping or classification).
4. Tìm kiếm mối quan hệ (Relationship finding).
5. Tính toán (Calculation).
6. Xử lí và trình bày các số liệu bao gồm vẽ đồ thị, lập các bảng
biểu, biểu đồ cột, sơ đồ, ảnh chụp.
7. Đưa ra các tiên đoán (Prediction/projection).
8. Hình thành giả thuyết khoa học (Hypothesis formulation).
9. Xây dựng khái niệm (Operational definition: scope, condition,
assumption).
10. Xác định các biến và đối chứng (Variable identification and
control).
11. Thực hiện thí nghiệm: thiết kế thí nghiệm, làm thực nghiệm, thu
thập số liệu và kết quả thí nghiệm, giải thích kết quả thí nghiệm và rút ra
các kết luận.
12. Biểu diễn kết quả thí nghiệm dưới dạng đồ thị ở mức chính xác
phù hợp (số thập phân).

1.4.2. Các kĩ năng sinh học cơ bản (Basic biological skills)
1. Quan sát các đối tương sinh học bằng kính lúp.
2. Biết sử dụng kính hiển vi (vật kính tối đa 45 X).
3. Biết sử dụng kính hiển vi soi nổi (stereo microscope).
4. Biết vẽ các ảnh quan sát được trên tiêu bản hiển vi (vẽ hình ảnh
từ kính hiển vi).
5. Biết mô tả chính xác các hình vẽ sinh học bằng cách sử dụng
bảng các thuật ngữ sinh học được đánh dấu bằng các mã số.
1.4.3. Các phương pháp sinh học (Biological methods)
A. Các phương pháp tế bào học (Cytological methods)
14
1. Các kĩ thuật ngâm và ép tiêu bản
2. Phương pháp làm tiêu bản vết bôi
3. Phương pháp nhuộm tế bào và tiêu bản hiển vi.
B. Các phương pháp nghiên cứu giải phẫu và sinh lý thực vật
1. Làm tiêu bản cắt ngang hoa và xác định công thức hoa.
2. Làm tiêu bản cắt ngang các bộ phận khác nhau của cây: rễ, thân,
lá và quả.
3. Dùng tay tách các phần của thân, rễ, lá.
4. Thuốc nhuộm (ví dụ thuốc nhuộm lignin) và nhuộm các tiêu bản
mô thực vật.
5. Đo các thông số cơ bản về quang hợp.
6. Đo các thông số cơ bản về hô hấp
C . Các phương pháp nghiên cứu giải phẫu và sinh lý động vật
1. Mổ các động vật không xương sống; Mổ các phần hoặc các cơ
quan của động vật có xương sống được nuôi cho tiêu dùng.
2. Làm tiêu bản cả con các động vật không xương sống loại nhỏ
(Whole - mount slide preparation of small invertebrates)
3. Đo các thông số cơ bản về hô hấp
D. Các phương pháp nghiên cứu tập tính học

Nhận biết và giải thích các hành vi của động vật
E. Các phương pháp nghiên cứu môi trường và sinh thái học
1. Ước tính mật độ quần thể (Estimation of population density)
2. Ước tính sinh khối quần thể (Estimation of biomass )
3. Ước tính các thông số cơ bản của chất lượng nước (Elementary
estimation of water quality)
4. Ước tính các thông số cơ bản của chất lượng không khí
(Elementary estimation of air quality)
F . Các phương pháp phân loại (Taxonomic methods)
1. Sử dụng khoá lưỡng phân (Use of dichotomous keys )
2. Xây dựng khoá lưỡng phân đơn giản (Construction of simple
dichotomous keys)
3. Nhận biết được các họ thực vật có hoa phổ biến nhất
(Identification of the most common flowering-plant families)
4. Nhận biết được các bộ côn trùng (Identification of insect orders)
15
5. Nhận diện đến ngành và lớp các sinh vật khác (Identification of
phyla and classes of other organisms)
1.4.4. Các phương pháp vật lý và hoá học (Physical and chemical
methods)
1. Các kĩ thuật tách chiết xuất: lọc và li tâm, sắc kí.
2. Các phép thử chuẩn nhận biết đường đơn, đường đa, lipit, protein
(Fehling, I
2
in KI(aq), biuret )
3. Chuẩn độ (Titration)
4. Đo lường số lượng bằng phương pháp nhỏ giọt và dải
(Measuring quantities by drip and strip methods)
5. Các phương pháp pha loãng dung dịch.
6. Kỹ thuật sử dụng pipet, bao gồm cả sử dụng các micropipet.

7. Kính hiển vi, bao gồm cả sử dụng buồng đếm tế bào.
8. Đo mức độ hấp thụ ánh sáng.
9. Điện di trên gel (Gel electrophoresis )
1.4.5 . Các phương pháp vi sinh vật (Microbiological Methods)
1. Chuẩn bị môi trường dinh dưỡng.
2. Các kĩ thuật vô trùng (vật liệu thủy tinh chịu nhiệt và chịu lửa)
3. Các kĩ thuật nuôi cấy vi sinh vật.
1.4.6 . Các phương pháp thống kê (Statistical methods)
1. Xác suất và phân bố xác suất
2. Biết cách tính và sử dụng các giá trị trung bình, trung vị, tỉ lệ %,
phương sai, độ lệch chuẩn, sai số chuẩn, T-test và phép thử Khi bình
phương.
1.4.7 . Sử dụng thiết bị (Handling equipment)
Do các đơn vị có thể có các thiết bị khác nhau nên các kĩ năng này chỉ
được đánh giá nếu các thí sinh đã được thông báo trước về thuật toán
(algorithm), cách sử dụng thiết bị, cách tiến hành thí nghiệm đặc biệt nào
đó ra sao vv
2. MỘT SỐ BÀI THỰC HÀNH CỤ THỂ:
2.1: BÀI 12 – SINH HỌC 10 CB
16
CO VÀ PHẢN CO NGUYÊN SINH
I. MỤC TIÊU
1- Học sinh biết cách làm tiêu bản tạm thời của tế bào thực vật để
quan sát hình dạng tế bào.
2- Học sinh có thể quan sát được các thành phần chính của tế bào, hiện
tượng co nguyên sinh và phản co nguyên sinh củng cố kiến thức về sự trao
đổi chất qua màng tế bào.
3- Học sinh có thể làm được thí nghiệm quan sát hiện tượng co và
phản co nguyên sinh ở tế bào thực vật, củng cố kiến thức về sự trao đổi
chất qua màng tế bào.

4- Rèn luyện kĩ năng sử dụng kính hiển vi quang học.
5- Rèn cho học sinh tính cẩn thận, tỉ mỉ trong thao tác thí nghiệm.
II. CƠ SỞ KHOA HỌC
1. Thế nào là hiện tượng thẩm thấu?
Thẩm thấu là cách vận chuyển nước thụ động, đó là sự khuếch tán của
các phân tử nước qua màng bán thấm chọn lọc.
Mỗi tế bào đều chứa dung dịch nội bào có áp suất thẩm thấu nhất định
và màng tế bào chất có tính thấm nước nên các phân tử nước có thể đi vào
hay đi ra khỏi tế bào
2. Tính trương của dung dịch là gì? khả năng dung dịch làm cho tế bào
lấy thêm hoặc mất nước.
3. Thế nào là môi trường ưu trương?
Môi trường ưu trương là môi trường có nồng độ chất tan cao hơn so
với dịch nội bào nên áp suất thẩm thấu cao hơn và có sức hút dung môi
nước lớn hơn.
4. Khi đặt tế bào vào môi trường ưu trương thì tế bào có hiện tượng
gì? Vì sao?
Tế bào bị co nguyên sinh là vì khi đặt tế bào thực vật trong dung dịch
ưu trương thì tế bào bị mất nước và khối tế bào chất bị co lại, nhăn nhúm
và tách ra khỏi thành tế bào.
5. Thế nào là môi trường nhược trương?
17
Môi trường nhược trương là môi trường có nồng độ các chất tan thấp
hơn nồng độ chất tan trong tế bào nên áp suất thẩm thấu thấp hơn và sức
hút nước kém hơn.
6. Khi đặt tế bào vào môi trường nhược trương thì tế bào có hiện tượng
gì? Vì sao?
Khi đặt tế bào trong dung dịch nhược trương thì do nồng độ dịch bào
cao hơn nên đã hút nước từ ngoài vào làm nguyên sinh chất trương phồng.
7. Thế nào là phản co nguyên sinh?

Phản co nguyên sinh là hiện tượng khi đặt tế bào vào môi trường ưu
trương, tế bào bị mất nước co lại, sau đó chuyển tế bào bị co vào môi
trường nhược trương thì tế bào hút nước trương phòng trở lại.
III. THIẾT BỊ – HÓA CHẤT- MẪU VẬT
1. Thiết bị:
Kính hiển vi với các vật kính 10X, 40X, lam kính, lamen, kim mũi
mác, đèn cồn, cốc thủy tinh, đĩa đồng hồ, giấy thấm.
2. Hoá chất:
Nước cất, dung dịch NaCl 1% và 0,9%.
Nếu chuẩn bị các dung dịch ưu trương khác (KNO
3
hoặc đường) thì
không nên để nồng độ quá cao sẽ làm co nguyên sinh quá nhanh không kịp
quan sát
3. Mẫu vật:
Củ hành tươi (hoặc lá thài lài tía).
IV. TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM
1. Qui trình sử dụng và bảo quản kính hiển vi.
- Kỹ thuật lấy ánh sáng: Nếu là kính hiển vi dùng nguồn sáng ngoài thì
cần điều chỉnh gương chiếu sáng; nếu là kính hiển vi dùng điện thì hướng
dẫn các em vị trí công tắc và nút điều chỉnh cường độ ánh sáng
- Đặt và cố định tiêu bản trên bàn kính sao cho mẫu vật nằm đúng
trung tâm, dùng kẹp giữ tiêu bản.
- Quan sát: mắt nhìn vào thị kính (nếu là kính 2 mắt thì cần phải quan
sát bằng cả 2 mắt), dùng tay điều chỉnh ốc sơ cấp (ốc to) sao cho quan sát
thấy rõ vật cần quan sát. Lưu ý, không để cho tiêu bản chạm vào vật kính
(có thể dùng ốc hãm, hoặc chỉnh ốc sơ cấp cho vật kính xuống gần chạm
vào tiêu bản thì dừng lại rồi bắt đầu vừa quan sát vừa chỉnh vật kính lên
18
cho tới khi quan sát rõ mẫu vật). Dể nhìn rõ nhất hình ảnh của mẫu vật co

thể điều chỉnh ốc vi cấp (ốc nhỏ).
- Nghiêm cấm học sinh không được sờ tay vào vật kính và thị kính,
không được để bộ phận này tiếp xúc với nước hay hóa chất hoặc bất cứ thứ
gì để tránh làm hư hỏng các bộ phận này.
- Sau khi sử dụng cần lau kính bằng khăn sạch rồi chụp bao nilon hay
cho vào hộp bảo quản. Luôn bê kính bằng 2 tay (một tay cầm, một tay đỡ
phía dưới)
2. Cách làm tiêu bản tế bào thực vật quan sát tế bào và khí khổng.
- Dùng kim mũi mác bóc một lớp tế bào biểu bì của lá cây thài lài tía.
Để thí nghiệm quan sát được rõ cần tách lớp biểu bì càng mỏng càng tốt,
nếu không tách được mỏng thì các lớp tế bào chồng lên nhau rất khó quan
sát.
- Đặt miếng biểu bì trên lam kính đã nhỏ sẵn một giọt nước, đậy lamen
và quan sát cấu trúc tế bào. Lưu ý học sinh kỹ thuật đậy lamen để tiêu bản
không bị lẫn nhiều bọt khí và vị trí của mẫu ở vị trí trung tâm của lam kính.
- Vẽ các tế bào bình thường và các tế bào cấu tạo nên khí khổng.
- Khí khổng lúc này đóng hay mở?
3. Quan sát hiện tượng co nguyên sinh và phản co nguyên sinh
- Nhỏ vào mép lamen một giọt nước muối NaCl 1%. Giữ nguyên
tiêu bản ở vị trí này, dùng ống hút nhỏ một giọt nước ở mép lamen, đồng
thời dùng miếng giấy thấm đặt ở phía bên kia lamen để hút hết phần nước
cho đến khi dung dịch muối thay thế hoàn toàn. Sau 1 – 2 phút ta thấy
màng tế bào tách khỏi lớp vỏ xenlulozơ → thể tích tế bào chất bị thu hẹp
lại. Đó là hiện tượng co sinh chất.
Tế bào lúc này có gì khác so với trước khi nhỏ nước muối?
Khí khổng lúc này đóng hay mở? Vì sao?
- Giữ nguyên tiêu bản ở vị trí này, dùng ống hút nhỏ một vài giọt nước
ở một mép lamen và ở mép lamen phía đối diện, dùng giấy thấm hút hết
dung dịch muối ra, quan sát sẽ thấy hiện tượng ngược lại với co nguyên
sinh chất: Thể tích của tế bào chất và các không bào dần dần mở rộng trở

về vị trí ban đầu do nước được hút ngược trở lại. Đó là hiện tượng phản co
nguyên sinh.
Khí khổng lúc này đóng hay mở?
19
Giải thích tại sao khí khổng lúc này lại mở?
4. Thí nghiệm đối chứng (Dùng cho đối tượng học sinh giỏi và chuyên)
Giết chết tế bào bằng cách hơ lam kính trên ngọn lửa đèn cồn và lặp
lại thí nghiệm, sau đó quan sát, nhận xét hiện tượng.
Cũng cách làm tương tự trên, ta cho tế bào trong dung dịch NaCl
0,9%. Quan sát hiện tượng xảy ra và giải thích.
V. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM VÀ VIẾT BÁO CÁO
1. Học sinh vừa quan sát và vẽ
- Hình dạng tế bào và chú thích các thành phần cấu trúc chính của tế
bào
- Hình dạng của tế bào khi xảy ra hiện tượng co nguyên sinh và phản
co nguyên sinh
- Vẽ khí khổng lúc mở và lúc đóng.
2. So sánh kết quả thí nghiệm trong 2 trường hợp mẫu không xử lý
nhiệt và đã qua xử lý nhiệt.
Từ kết quả so sánh ở phần trên yêu cầu học sinh rút ra kết luận về đặc
điểm sống của tế bào.
2.2: BÀI 20 – SINH HỌC 10 CB
QUAN SÁT CÁC KÌ CỦA NGUYÊN PHÂN TRÊN TIÊU
BẢN RỄ HÀNH
I. MỤC ĐÍCH
Quan sát sự phân bào nguyên nhiễm ở tế bào sinh dưỡng và phân bào
giảm nhiễm ở tế bào sinh dục. Hình thái và hoạt động của NST qua các kì
của 2 quá trình phân bào và sự sai khác có ý nghĩa của 2 quá trình này.
II. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA NGUYÊN PHÂN
1. Quá trình nguyên phân được chia thành những giai đoạn nào?

2. Nêu đặc điểm hình thái của nhiễm sắc thể qua các kì của nguyên phân?
3. Sự phân chia tế bào chất có gì khác nhau giữa tế bào động vật và tế bào
thực vật? Vì sao có sự khác nhau đó?
III. CHUẨN BỊ
1. Dụng cụ: Kính hiển vi, lam kính, lamen, kim mũi mác, lưỡi dao cạo, đèn
cồn, cốc thủy tinh, bình đung ổn nhiệt, đĩa đồng hồ, giấy thấm, panh, kéo.
20
2. Hoá chất: Dung dịch cố định (3 cồn : 1 axetic); thuốc nhuộm Shiff,
axêto–carmin 2%, H
2
O cất, cồn tuyệt đối, axit axêtic, xylen.
3. Mẫu vật: Chuẩn bị trước từ 3 đến 4 ngày hoặc lâu hơn Củ hành tây,
hành ta, hạt đại mạch (để lấy rễ non)
IV. TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM
Ngâm cho hành ra rễ trước thí nghiệm độ 4 ngày (ngâm củ trong cốc
có nước khoảng 4 ngày hoặc trồng hành trong cát ẩm 2–3 ngày là được).
Khi có rễ dài khỏang 1cm, dùng dao cạo cắt 1 đoạn 0,2cm (kể từ chóp
rễ). Sau khi cắt rễ hành, chỉ cần nhuộm trong orcein 4–5% trong axit acetic
45% khoảng 10 phút là có thể quan sát.
Chú ý: Khi làm tiêu bản cắt phần chóp rễ đi thì rất dễ mất phần đỉnh
sinh trưởng, không thể quan sát được các kì phân bào.
Làm tiêu bản bằng phương pháp nén và quan sát trên kính hiển vi.
Lấy rễ ra đặt lên lam kính, dùng dao lam cắt bỏ chóp rễ, sau đó cắt
một lát mỏng phần đỉnh sinh trưởng (phần đỉnh rễ nhuộm màu đậm). Nhỏ
thêm một giọt 45% axetic hoặc 1% axêto–carmin. Đậy bằng lamen và đặt
lam kính trong một tờ giấy thấm gấp đôi, dùng đầu que diêm hoặc đầu
panh gõ nhẹ thẳng góc lên mẫu. Đưa lam kính hơ nhẹ trên ngọn đèn cồn
(tránh để qua nóng làm khô mẫu và không khí lọt vào) khoảng 5 – 10 giây.
Đặt lam kính trở lại tờ giấy thấm và dùng đầu ngón tay cái ép thẳng góc lên
lamen mẫu qua lớp giấy thấm.

Chú ý: Phải ép đều và thẳng góc tránh vỡ lamen mà mẫu được trải
đều. Đặt lên kính hiển vi, điều chỉnh cho rõ. Quan sát, vẽ hình, phân biệt
các pha phân chia, gọi tên các pha đó.
(Trong thí nghiệm này, ta có thể tìm thấy hình thái của tế bào phân
chia ở các kì phân bào. Nếu là kì giữa thì toàn bộ thể nhiễm sắc tập trung
trên mặt phẳng xích đạo; nếu là kì sau thì các nhiễm sắc thể đã phân li và
đang tách xa dần mặt phẳng xích đạo để về hai cực mới. Ngoài ra, chúng ta
có thể thấy hai tế bào con mới xuất hiện, kích thước tế bào còn bé so với tế
bào mẹ, thể nhiễm sắc đã cụm lại trong nhân ở hai tế bào con. Cũng có thể
thấy các tế bào mẹ chưa phân chia to hơn so với các tế bào con mới sinh
ra).
Đối với các tiêu bản tốt có thể tiến hành chụp ảnh trên kính hiển vi có
hệ thống chụp ảnh sau đó cố định tiêu bản.
21
V. KẾT QUẢ THU HOẠCH
1. Vẽ và chú thích các kì của nguyên phân đã quan sát được?
2. Giải thích tại sao cùng một kì nào đó của nguyên phân trên tiêu bản
lại có thể trông rất khác nhau?
KẾT LUẬN
1. KẾT LUẬN CHUNG
Trong thời gian ngắn, chưa được thực nghiệm nhiều trên các đối tượng người
học khác nhau. Nên đề tài này còn nhiều khiếm khuyết, mong nhận được
nhiều ý kiến từ hội đồng bộ môn sinh của sở GD – ĐT Đồng Nai và các thầy
giáo, cô giáo ở các trường THPT trong tỉnh để bổ sung cho đề tài hòan thiện
hơn.
2. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
a. Nhược điểm:
 Phương pháp này đòi hỏi người dạy phải có nhiều thời gian soạn giảng và
chuẩn bị.
 Phải trang bị đủ dụng cụ thực hành thí nghiệm.

b. Ưu điểm:
 Có hiệu quả cao trong việc kích thích người học nghiên cứu và tìm tòi.
 Khích thích được khả năng tư duy của người học.
 Rèn kĩ năng sử dụng các đồ dùng nghiên cứu khoa học.
3. KIẾN NGHỊ
Tiếp tục đưa đề tài vào nghiên cứu thực nghiệm trên nhiều bộ môn khác nhau
và trên nhiều đối tượng người học khác nhau để đánh giá kết quả của đề tài
và đưa vào ứng dụng thực tiễn mhằm phát huy hết các bài thực hành thí
nghiệm trong chương trình môn học THPT, nhất là môn sinh học THPT.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sinh học 10 CB
2. Chuẩn kiến thức kĩ năng và giảm tải chương trình sinh học THPT.
3. Thí nghiệm thực hành trường THPT chuyên môn sinh
(Biên tập: Ngô Văn Hưng – 2011)
22

×