BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
!"#$%& #'
(
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
)*+,- /-)0 12)345)6.787
93:0;<<<
!"#$%& #'
=#<#<<>%
(
?@
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, đề tài
“Quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam (2001- 2013)”được hoàn thành nhờ sự hướng
dẫn tận tình, chu đáo của PGS.TS. NGƯT. Nguyễn Công Khanh, khoa Lịch
sử Trường Đại học Vinh.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa Lịch sử, Phòng Sau
đại học trường Đại học Vinh và Bộ môn Lịch sử thế giới đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi hoàn thành đề tài. Tôi cũng muốn dành lời cảm ơn chân thành nhất tới
gia đình, người thân, đồng nghiệp trong quá trình thực hiện đề tài này.
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tư liệu và khả năng nghiên cứu của bản
thân cho nên luận văn này sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết cần được
góp ý, sửa chữa.
Kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn đọc để
luận văn này được hoàn chỉnh hơn.
Nghệ An, tháng 10 năm 2014
A2.7B
C C
Trang
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 12
4. Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu 13
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 14
6. Đóng góp của luận văn 15
7. Bố cục của luận văn 16
B. NỘI DUNG
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HÀN
QUỐC - VIỆT NAM TỪ 2001 ĐẾN 2013
1.1. Tình hình quốc tế và khu vực Đông Á 17
1.1.1. Tình hình quốc tế
1.1.2. Tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương
1.2. Nhân tố bên trong 25
1.2.1. Sự tương đồng về lịch sử - văn hoá giữa Hàn Quốc và Việt
Nam
1.2.2. Tình hình Hàn Quốc và chính sách của Hàn Quốc đối với
Việt Nam
1.3. Nhân tố lịch sử: Quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam trước 2001 32
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2 QUAN HỆ HÀN QUỐC - VIỆT NAM TRÊN MỘT SỐ LĨNH
VỰC CHỦ YẾU TỪ 2001 ĐẾN 2013
2.1. Chính trị - ngoại giao, An ninh - quốc phòng 38
2.1.1. Chính trị - ngoại giao
2.1.2. An ninh - quốc phòng
2.2. Kinh tế 53
2.2.1. Hợp tác về thương mại
2.2.2. Hợp tác trên lĩnh vực đầu tư
2.3. Các lĩnh vực khác 71
2.3.1. Giao thông vận tải
2.3.2. Hợp tác trên lĩnh vực khoa học - kĩ thuật
2.3.3. Văn hóa, giáo dục và y tế
2.3.4. Hợp tác trong lĩnh vực lao động, du lịch và vấn đề hôn nhân
chồng Hàn - vợ Việt
Tiểu kết chương 2 101
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ HÀN QUỐC - VIỆT
NAM TỪ 2001 ĐẾN 2013
3.1. Thành tựu và hạn chế của quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam từ 2001 đến
2013 103
3.1.1. Thành tựu
3.1.2. Hạn chế
3.2. Tác động của quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam từ 2001 đến 2013 đến hai
nước, khu vực và thế giới 108
3.3. Triển vọng quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam 110
C. KẾT LUẬN
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
E. PHỤ LỤC
5
D?EFGH
7655I5 .)JK
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM Diễn đàn hợp tác Á-Âu
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ĐVT Đơn vị tính
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Khu vực thương mại tự do
GDP Tổng thu nhập quốc gia
GNP Tổng thu nhập quốc nội
KH-KT, KH-CN Khoa học- kỹ thuật, khoa học-công nghệ
KT-XH Kinh tế - xã hội
NICs Các nước công nghiệp mới
Nxb Nhà xuất bản
ODA Viện trợ phát triển
SEV Hội đồng Tương trợ kinh tế
START Hiệp ước cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược
TBD Thái Bình Dương
TTX VN Thông tấn xã Việt Nam
USD Đồng Đô la Mỹ
WB Ngân hàng thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới
XHCN Xã hội chủ nghĩa
KTO Tổng cục du lịch Hàn Quốc
<LM
< NOP2)Q-RS5/7
Ngay từ đầu thế k‡ XXI, thế giới lại chứng kiến nhiều biến đổi phức
tạp và khó lường. Toàn cầu hoá tiếp tục phát triển sâu rộng và tác động tới tất
cả các nước. Các quốc gia lớn nhỏ đang tham gia ngày càng tích cực vào quá
trình hội nhập quốc tế. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, phản
ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc trong quá trình phát triển. Thế
k‡ XXI đang mở ra những cơ hội to lớn nhưng cũng chứa đựng rất nhiều
thách thức. Sau gần 3 thập kỉ tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước, thế và
lực của Việt Nam đã lớn mạnh lên nhiều. Nhằm phát huy những thành tựu to
lớn đã đạt được và vươn tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng và Nhà nước ta tiếp
tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng
hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương
châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước
trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.
Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia nằm ven biển Thái Bình Dương
đối diện nhau qua lục địa Trung Hoa, có những điểm gần gũi tương đồng về
lịch sử và văn hoá truyền thống. Ngay cả khi bị thế lực ngoại xâm chiếm đóng
lâu dài, hai nước đã gìn giữ được độc lập và tự chủ, phải chịu bao đau thương,
mất mát của chiến tranh cùng sự nghèo khó, đều trải qua cảnh đất nước chia
cắt không hề mong muốn. Tuy nhiên hai nước không hề bị khuất phục bởi
những thử thách đó mà đã vượt qua mọi khó khăn và tìm kiếm con đường
hướng tới tương lai. Ý chí bất khuất này vừa là điểm tương đồng giữa người
dân Việt Nam và người dân Hàn Quốc, đồng thời còn là ưu điểm lớn nhất hai
nước có được để dọn đường cho thời đại mới.
7
Mối quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc không phải ngẫu nhiên mà
đã có một quá trình lâu đời, dù không liên tục, đa diện, đa chiều như quan hệ
của Việt Nam với các nước trong khu vực hay như một số nước Trung Quốc,
Nhật Bản, song mối quan hệ này lại luôn có một vị trí trong đời sống hai
nước, đặc biệt hơn là trong những thập niên gần đây. Đó là yếu tố tác động
quan trọng tới sự phát triển của mỗi bên
Việc quan hệ hợp tác Việt - Hàn đã và đang mở ra những triển vọng tốt
đẹp. Xét về phương diện thực tế cũng như tinh thần quốc tế, nên trong tiến
trình hội nhập giữa các dân tộc trên thế giới ngày càng trở nên mạnh mẽ, các
mối liên hệ xuyên quốc gia ngày càng diễn ra thường xuyên và có chiều sâu
hơn thì quan hệ giữa hai quốc gia này không thể không chịu tác động của các
xu hướng đó.
Nhân tố có tính quyết định đối với toàn bộ sự hợp tác Việt - Hàn là sự
phát triển của mối quan hệ chính trị chuyển từ thù địch, nghi ngại sang hợp
tác hữu nghị giữa hai quốc gia. Hàn Quốc luôn xem Việt Nam là đối tác tin
cậy, quan trọng. Vào năm đầu tiên của thế kỉ XXI, hai nước đã hai lần nâng
cấp quan hệ lên “Đối tác toàn diện trong thế kỉ XXI” (tháng 8/2001) và chỉ
sau 8 năm, tiếp tục nâng cấp thành “Đối tác hợp tác chiến lược” (tháng
10/2009), khẳng định ý chí và quyết tâm chính trị của lãnh đạo cũng như nhân
dân hai nước, đồng thời tạo cơ sở chính trị quan trọng đưa quan hệ hữu nghị
và hợp tác giữa Việt Nam - Hàn Quốc phát triển ở tầm cao chiến lược mới
trên tất cả các lĩnh vực. Trên cơ sở đó hình thành truyền thống tiếp xúc cấp
cao thường xuyên, đối thoại chiến lược ngoại giao - an ninh - quốc phòng
thường niên; mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan quốc phòng, an ninh giữa
nhiều địa phương được thiết lập và không ngừng gia tăng Hai nước không
chỉ hợp tác chặt chẽ với nhau trên bình diện song phương mà sự hợp tác trên
bình diện đa phương cũng ngày càng đa dạng và sôi động như ASEAN- Hàn
8
Quốc, ASEAN + 3, ASEAN + 6, APEC, WTO có sự tích cực tham gia của
Việt Nam- Hàn Quốc.
Nhân chuyến thăm Hàn Quốc cấp nhà nước của Chủ tịch nước Trương
Tấn Sang vào tháng 11/ 2011, lãnh đạo cấp cao hai nước đã tuyên bố lấy năm
2012 là “Năm hữu nghị Hàn Quốc- Việt Nam”. Còn Tổng thống Hàn Quốc
Park Geun Hye đã chọn Việt nam là quốc gia đầu tiên trong chuyến công du
các quốc gia ASEAN trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày
7- 11/9/ 2013, với lí do là luôn coi trọng mối quan hệ hữu hảo với Việt Nam
và quyết tâm sẽ phát triển hơn nữa mối quan hệ hợp tác này; Quan hệ giữa hai
nước đã đạt được sự phát triển đáng chú ý trong suốt 20 năm qua và đây là lúc
chúng ta chuẩn bị cho tương lai 20 năm tới và tiến tới đưa hợp tác kinh tế phát
triển sâu rộng thêm một tầm cao nữa.
Do vậy, việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn
2001 đến 2013 là điều cần thiết nhằm góp phần làm sáng tỏ quá trình vận
động và phát triển liên tục giữa sự hợp tác của hai nước, đồng thời quan đó
để thấy được những thuận lợi và khó khăn cũng như triển vọng về mối quan
hệ này.
Với những lí do trên, tìm hiểu mối quan hệ giữa Việt Nam và Hàn
Quốc nói chung, nhất là từ khi hai nước quyết định nâng cấp thành quan hệ
đối tác toàn diện là một vấn đề vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực
tiễn sâu sắc. Nó không những giúp hiểu thêm về lịch sử hai nước, mối quan
hệ tốt đẹp giữa hai nước mà còn giúp rút được những kinh nghiệm trong quan
hệ với các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Bởi lẽ đó, chúng tôi đã
chọn vấn đề: “Quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam (2001- 2013)” làm đề tài cho
luận văn thạc sĩ, qua đó với hy vọng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu
lịch sử quan hệ Việt Nam với các nước trên thế giới và tăng thêm sự hiểu biết
cho bản thân.
9
< 12)34 )7,-2T*UV-RS
Trước đây do nhiều nguyên nhân, Hàn Quốc là một đối tượng ít được
các học giả quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam, vì vậy chưa có nhiều tác phẩm
chuyên sâu về vấn đề này. Song để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, nguồn
tài liệu chính thức mà chúng tôi tiếp cận được là: các văn bản của Chính phủ,
Bộ Ngoại giao, một số bài viết trong các công trình nghiên cứu về quan hệ
Việt Nam - Đông Bắc Á hay một phần nghiên cứu về Hàn Quốc. Ngoài ra còn
có các tác phẩm viết về một mảng nào đó của giai đoạn này, tuy không nhiều
nhưng khá phong phú, đa dạng, sách tham khảo, sách tư liệu, thông cáo, tuyên
bố, thông sử, sách giới thiệu tổng quan, luận văn, luận án, các công trình
nghiên cứu trên các tạp chí (Nghiên cứu Đông Bắc Á, Nghiên cứu Quốc tế,
Nghiên cứu Đông Nam Á, Những vấn đề kinh tế thế giới ); trên Thông tấn
xã Việt Nam và các báo như Nhân Dân, Quân đội nhân dân
Dưới đây là một số tác phẩm tiêu biểu mà chúng tôi tiếp cận được.
- Loại tài liệu viết về cơ sở của quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam:
Cuốn Tương đồng văn hoá Việt Nam- Hàn Quốc của tập thể giảng viên
khoa Ngữ văn - Đại học KHXH&NV Hà Nội- Nxb Văn hoá thông tin (1996).
Cuốn Những vấn đề văn hoá, xã hội và ngôn ngữ Hàn Quốc (nhiều tác giả),
Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh (2002). Cuốn Người Việt Nam ở
Triều Tiên và mối giao lưu văn hoá Việt - Triều trong lịch sử - Hội Khoa học
lịch sử Việt Nam (1997) Các tác phẩm này đề cập đến sự tương đồng về văn
hoá, lịch sử cũng như những dòng họ Lí từ Việt Nam sang định cư ở Hàn
Quốc hàng trăm năm trước, là nền tảng cho quan hệ hai nước hiện tại.
Cuốn Hàn Quốc trên đường phát triển do Ngô Xuân Bình và Phạm
Quý Long (đồng chủ biên) Nxb Thống kê (2000); Hàn Quốc trước thềm thế
kỉ XXI của Dương Phú Hiệp và Ngô Xuân Bình (đồng chủ biên) viết về tình
hình kinh tế - xã hội Hàn Quốc, cũng được coi là bối cảnh tác động đến mối
quan hệ Hàn - Việt.
10
- Loại viết về quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam có:
Cuốn K‡ yếu hội thảo Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong lịch sử -
Nxb Thế giới, Hà Nội (2009) đã tập trung các bài viết về chủ đề “Việt Nam
và Hàn Quốc trong lịch sử Đông Bắc Á” và “Nhận thức về thế giới Đông Á
và quan hệ Hàn - Việt trong bối cảnh khu vực” để k‡ niệm thành quả quan hệ
hai nước Hàn - Việt tròn 15 năm.
Cuốn Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh quốc tế mới, Ngô
Xuân Bình (chủ biên) - Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội 2012 đã tập trung
phân tích, đánh giá quan hệ Việt Nam- Hàn Quốc kể từ khi hai nước thiết lập
quan hệ ngoại giao chính thức (1992) đến cuối thập niên đầu thế kỉ XXI (thời
điểm Việt Nam và Hàn Quốc nâng cấp quan hệ thành quan hệ đối tác hợp tác
chiến lược - 2009)
Cuốn Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc 1992 đến nay và triển vọng đến
năm 2020, của Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Văn Dương
(đồng chủ biên; 2011), NXB Chính trị quốc gia Hà Nội đề cập tổng quan
quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong suốt 20 năm, tuy nhiên chưa khắc hoạ
được giai đoạn 2001 - 2011, như chủ đề nghiên cứu của luận văn chúng tôi.
Cuốn Hợp tác kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh hội nhập
Đông Á, do Đỗ Hoài Nam, Ngô Xuân Bình, Sung-YealKoo (đồng chủ biên),
Nxb KHXH - Hà Nội (2005) tập trung nói về một lĩnh vực của quan hệ hợp
tác Hàn Quốc - Việt Nam là lĩnh vực kinh tế.
Ngoài ra, phải kể đến một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề cập đến
các vấn đề liên quan. Đó là: Luận án “Quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của Hàn Quốc (1961 - 1993)” của Hoàng Văn Hiển (Đại học KHXH&NV,
ĐHQG Hà Nội), thuộc nhóm bối cảnh của quan hệ Việt - Hàn. Còn luận
văn“Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từ 1992 đến 2007” của Mai Văn Khánh
(Đại học Vinh, 2007) mới chỉ đề cập đến thời điểm năm 2007 trong quan hệ
của 2 nước.
11
Điểm qua những tác phẩm, bài viết nói trên cho thấy, vấn đề quan hệ
Hàn Quốc - Việt Nam đã được chú ý nhiều hơn. Tuy nhiên chưa có công
trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề Hàn Quốc- Việt Nam giai đoạn
2001 - 2013. Một số công trình chuyên sâu lại chủ yếu tập trung vào một
mảng, hay một lĩnh vực trong một khoảng thời gian nhất định. Mặc dù vậy,
đề tài của chúng tôi ít nhiều đã tiếp thu và kế thừa các thành tựu nghiên
cứu nói trên.
Từ góc độ lịch sử, tác giả luận văn tập trung trình bày một cách hệ
thống mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn 2001 - 2013 là
một giai đoạn phát triển nhất trong lịch sử quan hệ hai nước từ trước tới nay.
<W2RX2)U/-)7YZUW2[KRS5/7
!"#"$%&'
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi hướng tới làm sáng tỏ vấn đề sau:
- Tập trung trình bày có hệ thống các vấn đề cơ bản về quan hệ
Hàn Quốc - Việt Nam từ 2001- 2013. Đây là thời kì quan hệ hai nước
được hai lần nâng cấp lên “đối tác toàn diện trong thế kỉ XXI” vào tháng
8/2001 và tiếp tục nâng cấp thành “đối tác hợp tác chiến lược” từ tháng
10/2009. Quan hệ này đã trở thành nhân tố quan trọng tác động tới sự
phát triển của mối nước. Với việc thiết lập mức quan hệ đối tác ở mức
cao nhất này, hai nước hiện đang theo đuổi các lợi ích chiến lược trong
quan hệ song phương cũng như trong bối cảnh hoà bình và thịnh vượng
khu vực và toàn cầu.
- “Quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam (2001- 2013)” là mối quan hệ được
kế thừa truyền thống. Nó thể hiện quan hệ ở nhiều tầng và thực hiện ở nhiều
cấp độ. Không những thế, mối quan hệ này phải chịu nhiều tác động lớn từ
bên ngoài với những thách thức, cường độ và quy mô khá đa dạng. Do vậy
qua luận văn này chúng ta thấy được những đóng góp thiết thực của hai nước
12
trong việc góp phần vào hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực
Châu Á nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung.
- Nghiên cứu Quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam từ đối tác toàn diện đến
đối tác chiến lược (2001- 2013) đã cung cấp cho chúng ta những kiến thức về
quan hệ hai nước trong lịch sử phát triển một cách liên tục, không gián đoạn
và có nhiều triển vọng. Từ đó chúng ta có những chính sách phù hợp để thúc
đẩy mối quan hệ này phát triển hơn nữa trong tương lai.
!"(")*%
Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từu năm 2001 đã góp phần quan trọng
vào sự phát triển của mỗi dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay.
Vì thế, việc nghiên cứu quan hệ hai nước trong giai đoạn này góp phần tăng
thêm sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước, đồng thời giúp chúng ta nhận thức
được cơ sở lý luận và thực tiễn của mối quan hệ này. Trên tinh thần đó, với
luận văn này tác giả cố gắng giải quyết những vấn đề sau:
- Tập trung hệ thống những thành tựu chủ yếu trong quan hệ Hàn
Quốc- Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế, an ninh -
quốc phòng, văn hoá giáo dục và một số quan hệ khác.
- Trình bày những nhân tố lịch sử chủ yếu tác động đến mối quan hệ
này.
- Làm rõ vai trò của mối quan hệ này trong quá trình phát triển của mỗi
dân tộc trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới hiện nay. Qua đó rút ra
những bài học trong quan hệ hai nước và nêu lên triển vọng về quan hệ hai
nước trong tương lai.
(<:75*\ U/])^ZU7 )7,-2T*
+"#",-./0
Đề tài xác định nội dung nghiên cứu là: Quan hệ giữa Đại Hàn Dân
Quốc với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001- 2013) trên các
lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế, an ninh - quốc phòng, văn hoá giáo
13
dục và một số lĩnh vực khác. Ngoài ra, chúng tôi trình bày những nhân tố ảnh
hưởng tới mối quan hệ này, đồng thời nêu lên những thành tựu và triển vọng
trong mối quan hệ hai nước.
+"("1 */0
Đề tài được chúng tôi giới hạn như sau:
Về thời gian, luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ hai
nước kể từ khi thiết lập quan hệ đối tác toàn diện tháng 8/2001 đến khi Tổng
thống Hàn Quốc Park Geun Hye thăm cấp nhà nước tới Việt Nam tháng 9/2013
nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược. Bên cạnh đó chúng
tôi cũng đề cập khái quát một số nội dung của thời kì trước nhằm phản ánh quá
trình phát triển liền mạch của mối quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam.
Về nội dung, luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam -
Hàn Quốc giai đoạn 2001 - 2013, cụ thể là nghiên cứu mối quan hệ trên các
lĩnh vực: chính trị- ngoại giao, an ninh- quốc phòng, kinh tế, văn hoá, giáo
dục và một số lĩnh vực khác. Trong luận văn này, chúng tôi trình bày những
nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn 2001 -
2013, đồng thời nêu lên những nhận xét, đánh giá và triển vọng của mối quan
hệ này.
Ngoài những giới hạn về thời gian và nội dung trên, những vấn đề khác
không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
_<.*`-5ab7Y*U/])ac ])A] )7,-2T*
2"#"34)
Luận văn sử dụng các nguồn tư liệu sau:
- Những văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam và Hàn Quốc,
những Hiệp ước, Hiệp định kí kết giữa hai nước Hàn Quốc và Việt Nam được
lưu trữ tại Thông tấn xã Việt Nam, các trung tâm lưu trữ quốc gia.
14
- Các cuốn sách, tạp chí nghiên cứu ở các trung tâm nghiên cứu như
Viện Thông tin Khoa học và xã hội viết về Hàn Quốc và Việt Nam.
- Sách báo ở các thư viện như thư viện Học viện quan hệ Quốc tế, Thư
viện Quốc gia
- Các bản tin và các bài báo ở các báo Nhân dân, báo Quân đội nhân
dân do Thông tấn xã Việt Nam sưu tầm và biên soạn theo sự kiện các năm.
Nguồn tài liệu trên internet
2"("156547*5565/0
Quá trình phát triển quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam giai đoạn 2001-
2013 là một quá trình lịch sử trong quan hệ quốc tế. Bởi vậy, khi nghiên cứu
vấn đề này chúng tôi sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra chúng tôi
còn sử dụng một số phương pháp khác: định lượng, thống kê, so sánh để giải
quyết các vấn đề mà luận văn đưa ra.
Tất nhiên, sự phân chia các loại phương pháp như trên chỉ mang tính
chất tương đối bởi khả năng kết hợp và vận dụng do tính chất liên ngành của
quan hệ quốc tế.
;<d .d]2[Kb*e-Uf-
- Luận văn phác thảo một cách tương đối toàn diện, tổng thể với tính
khách quan và chân thực về mối quan hệ hợp tác giữa Hàn Quốc và Việt Nam
trên các lĩnh vực.
- Bước đầu xác định những nhân tố tác động đến quan hệ giữa hai
nước, những thành tựu và hạn chế trong quá trình hợp tác.
- Một số nhận xét, nhận định về bài học kinh nghiệm và định hướng có
tính chất tham khảo về triển vọng hợp tác giữa hai nước trong các giai đoạn sau.
- Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và
giảng dạy về quan hệ hợp tác giữa lãnh đạo và nhân dân hai nước Hàn
15
Quốc - Việt Nam, tham khảo phục vụ học tập và nghiên cứu lịch sử quan
hệ quốc tế.
g<D:2W22[Kb*e-Uf-
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận
văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1. Những nhân tố tác động đến quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam
từ 2001 đến 2013.
Chương 2. Quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam trên các lĩnh vực chính từ
2001 đến 2013.
Chương 3. Một số nhận xét về quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam từ 2001
đến 2013.
16
D<hi
)ac
EjFhG
kG
<<l-))l-)m*:256U/n)*Uo2p F
#"#"#"889-:
Mười năm sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới tiếp tục chứng
kiến những biến chuyển lớn trong đời sống chính trị thế giới nói chung và
trong quan hệ quốc tế nói riêng.
Bước vào thập niên đầu của thế k‡ XXI, quan hệ quốc tế có những
bước phát triển mới, thay đổi cả hình thức và tính chất. Cục diện thế giới đã
có những chuyển hoá cơ bản. Trật tự thế giới hai cực không còn nhưng một
trật tự thế giới mới đang trong quá trình hình thành theo xu thế đa cực, đa
trung tâm. Từ thời điểm này, sự khác biệt về ý thức hệ không còn trở ngại
giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau, mà thay vào đó, việc phát triển
kinh tế trở thành ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của mọi quốc
gia. Kinh tế trở thành nhân tố có ý nghĩa trong quan hệ quốc tế. Cuộc cách
mạng KH- CN, nhất là cuộc cách mạng về thông tin đã mở ra những triển
vọng phát triển kinh tế to lớn cho tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ, phát
triển hay đang phát triển ở mọi châu lục trên thế giới. Xu thế toàn cầu hoá,
khu vực hoá nhất là trong lĩnh vực kinh tế có những bước phát triển mạnh và
càng gia tăng đã tác động tới mọi mặt trong quan hệ quốc tế. Các nước dù lớn
hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển đều phải điều chỉnh chính sách đối
ngoại phù hợp với tình hình mới. Quan hệ giữa các nước lớn có những biến
chuyển mạnh, chuyển dần từ đối đầu hoặc liên kết với nước này chống lại
nước kia sang vừa hợp tác vừa đấu tranh cùng tồn tại hoà bình. Với hoàn cảnh
17
quốc tế đó, các nước đã đặt ưu tiên cao cho phát triển kinh tế, đẩy mạnh đa
dạng hoá, đa phương hoá các mối quan hệ đối ngoại để tạo cho mình một thế
đứng trên trường quốc tế và một vị thế đảm bảo cho an ninh quốc gia và phát
triển đất nước. Kinh tế trở thành “cán cân” số một so sánh thực lực và vị thế
của mỗi quốc gia.
Thập niên đầu tiên của thế k‡ XXI là giai đoạn thế giới đầy biến động
với hàng loạt sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội lớn. Vụ khủng bố ngày
11/9/2001 ở nước Mĩ làm chấn động thế giới. Khoảng 3 nghìn người đã thiệt
mạng trong loạt vụ tấn công khủng khiếp mà thủ phạm được xác định là tổ
chức khủng bố Al - Qaeda do Bin Laden cầm đầu. Sự kiện này không chỉ tác
động toàn diện đến nước Mỹ mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống quốc tế,
bắt đầu “thời đại khủng bố và chống khủng bố” trên toàn cầu.
Cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế 2008 - 2009 khởi đầu từ Mĩ đã tác
động mạnh đến kinh tế thế giới. Cuộc khủng hoảng này đã tàn phá hệ thống
tài chính của các nước Mĩ, châu Âu hàng loạt các doanh nghiệp phá sản và
tái cơ cấu, và hệ quả của nó là sự suy thoái trầm trọng nền kinh tế và tỉ lệ thất
nghiệp cao nhất trong nhiều năm nay[8, 42].
Vấn đề hạt nhân là một nhân tố làm “nóng” quan hệ quốc tế. Tháng
4/2010, Tổng thống Mỹ B. Obama và Tổng thống Nga D. Metvedev ký Hiệp
ước cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược (START) giai đoạn hai đã thắp lên
hy vọng phi hạt nhân hóa toàn cầu. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn những ảo
tưởng coi vũ khí hạt nhân như công cụ trong cuộc đua giành ưu thế, vẫn còn
những mưu toan, những tham vọng lợi dụng ranh giới nhạy cảm giữa hạt nhân
dân sự và quân sự để ngấm ngầm phát triển vũ khí hạt nhân, đặt thế giới trước
sự việc đã rồi.
Dịch bệnh cũng là vấn đề thế giới đáng quan tâm. Năm 2003, từ Trung
Quốc, đại dịch SARS nhanh chóng lây truyền ra nhiều nước, làm hơn 8.000
18
người tại 37 quốc gia mắc dịch, cướp đi sinh mạng của 774 người. Sau dịch
cúm gia cầm H5N1, năm 2009 cả thế giới lại hoang mang và tập trung đối
phó với dịch cúm lợn do virus cúm A (H1N1) gây ra. Tình hình đó buộc toàn
thế giới phải bắt tay vào hợp tác để tìm ra được cách giải quyết cho chính
cuộc sống cho cả nhân loại.
Rõ ràng thế giới đang biến động và tình hình thế giới tác động sâu rộng
tới quan hệ toàn cầu. Mỗi quốc gia, khu vực đều cần hòa mình vào dòng chảy
chung đó, tăng cường hợp tác để có thể đứng vững và phát triển.
Tình hình phức tạp của những năm đầu thế kỉ XXI đã tác động trực tiếp
tới khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam và Hàn Quốc.
Tại khu vực này, sự vươn lên mạnh mẽ của các trung tâm kinh tế như Trung
Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ , sự phát triển mạnh của các tổ chức khu vực như
ASEAN, EU, NAFTA , của các nước Công nghiệp mới (NICs) đã và đang
tạo ra những biến chuyển mạnh trong quan hệ quốc tế. Mọi quốc gia đều
chuyển hướng, điều chỉnh chính sách ngoại giao mới nhằm tôn trọng lợi ích
chiến lược của nhau, hợp tác hai bên cùng có lợi, vì trong lý luận của quan hệ
quốc tế: “Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn,
chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn”. Tuy Việt Nam và Hàn Quốc không
cùng một chế độ chính trị, song cũng không nằm ngoài xu thế của thời đại.
Nhu cầu phát triển kinh tế cũng tạo điều kiện cho hai nước xúc tiến thiết lập
quan hệ ngoại giao và phát triển quan hệ nhiều phương diện.
#"#"("88*;<=6>8?
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là Đông Ácũng không
nằm ngoài sự vận động của những biến chuyển trong tình hình thế giới. Đây
là khu vực đa dạng về văn hóa và chính trị, có sự hội tụ gần đủ các nước lớn
của thế giới quan hệ với nhau trong lợi ích đan xen, vừa hợp tác vừa cạnh
tranh kiềm chế nhau. Tuy nhiên xu thế hoà bình, ổn định và hợp tác ngày
19
càng chiếm ưu thế chủ đạo ở khu vực. Trên thực tế, khu vực châu Á - Thái
Bình Dương trong nửa sau thập k‡ 80 và bước sang thập k‡ 90 của thế k‡ XX
là một khu vực với các nền kinh tế có mức tăng trưởng cao tạo nên sự năng
động vào bậc nhất thé giới. Vai trò của các nước vừa và nhỏ trong khu vực
ngày càng tăng lên, góp phần vào việc bảo vệ hoà bình và duy trì sự ổn định
trong khu vực. Tại khu vực này, quan hệ quốc tế đã có sự thay đổi tính chất,
có sự “tiếp xúc chéo” và bình thường hoá quan hệ các nước có chế độ chính
trị - xã hội khác nhau.
Dự báo thế k‡ XXI được coi là k‡ nguyên châu Á - Thái Bình Dương.
Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, Ấn Độ cùng với Mỹ được xem là
những nhân tố quan trọng hàng đầu để nói đến điều đó. Sau cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu, châu Á - Thái Bình Dương được Liên hợp quốc
đánh giá là khu vực dẫn đầu thế giới về phục hồi kinh tế.
Hiện dân số ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương chiếm khoảng 1/2
dân số thế giới; châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có trữ lượng dầu mỏ,
khí đốt rất lớn và tập trung sự trỗi dậy kinh tế của nhiều nước (Trung Quốc,
Ấn Độ…). Đây là hai quốc gia có số dân đông nhất thế giới và là những nền
kinh tế lớn nhất toàn cầu, tất yếu có vị thế chính trị lớn trong việc giải quyết
các vấn đề cấp thiết của cộng đồng quốc tế. Trong "Chiến lược quốc gia cho
thế kỷ XXI", Mỹ xác định khu vực châu Á - Thái Bình Dương là một địa bàn
quan trọng đối với an ninh quốc gia của nước Mỹ. Khu vực này còn là nơi tập
trung sự chú ý của nhiều nước lớn và nhiều tổ chức quốc tế quan trọng thế
nên nơi đây đang tập trung nhiều mâu thuẫn về lợi ích có tính chiến lược của
một số nước lớn đối trọng với lợi ích quốc gia Mỹ, đặc biệt những nước đang
cạnh tranh với Mỹ để giành quyền khống chế khu vực này về chính trị và kinh
tế.
20
Bước sang thế k‡ XXI, khu vực châu Á - Thái Bình Dương có những
thay đổi mang tính căn bản: Thứ nhất, sức mạnh chính trị và tốc độ phát
triển kinh tế của khu vực này tăng lên nhanh chóng so với các khu vực khác
trên thế giới; Thứ hai, sự trỗi dậy của Trung Quốc một mặt đã đem đến cơ
hội để kinh tế các nước xung quanh phát triển, mặt khác lại làm cho họ cảm
thấy e ngại và lo lắng trước sự cạnh tranh gay gắt thậm chí là sự lấn át trên
nhiều phương diện; Thứ ba, các quốc gia sở hữu hạt nhân ở khu vực châu Á
- Thái Bình Dương không ngừng tăng lên, sự theo đuổi của các tổ chức phi
chính phủ đối với vũ khí hủy diệt hàng loạt và việc triển khai hệ thống
phòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ ở khu vực này, đều có khả năng dẫn đến
cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương thêm gay gắt;
Thứ tư, cơ chế hợp tác đa phương khu vực không ngừng tăng làm cho khả
năng xuất hiện nhất thể hóa khu vực cũng có phần tăng lên, cho dù để điều
đó trở thành hiện thực còn là câu chuyện của tương lai.
Sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng là một nhân tố tác động mạnh mẽ tới
quan hệ quốc tế hiện nay, trong đó có cả Việt Nam và Hàn Quốc. Sau 3 thập
k‡ tăng trưởng với tốc độ chóng mặt, năm 2010, Trung Quốc đã vượt qua
Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Báo cáo của Ủy ban Tình
báo quốc gia Mỹ cho biết: năm 2035, tổng sản phẩm quốc dân của Trung
Quốc sẽ cao hơn Mỹ. Tháng 10 năm 2003, con tàu “Thần Châu 5” cùng nhà
du hành vũ trụ Dương Lợi Vĩ đã bay vào không gian vũ trụ. Sự kiện này đưa
Trung Quốc trở thành nước thứ ba trên thế giới phóng thành công tàu vũ trụ
có người lái vào không gian, phá vỡ thế độc quyền của Nga và Mỹ. Với sức
trỗi dậy mạnh mẽ và toàn diện, Trung Quốc đã trở thành một trong những
nhân tố chủ chốt trong “cuộc chơi lớn” toàn cầu. Xét trên góc độ địa - kinh
tế, Trung Quốc trở thành công xưởng của thế giới sau khi đã vượt Pháp, Anh
21
và Đức nhờ mức tăng trưởng kinh tế bình quân khoảng 10%/năm trong hai
thập k‡ qua.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương không chỉ là một trong những khu
vực có dân số đông nhất thế giới, có nền kinh tế phát triển sôi động nhất và
tập trung nhiều của cải nhất mà còn là một trong những khu vực có lực lượng
quân sự dày đặc nhất, tiềm lực phát triển quân sự lớn nhất và vấn đề phổ biến
vũ khí hạt nhân nghiêm trọng nhất thế giới. Thực tế cho thấy bất kể về lĩnh
vực kinh tế, hay là an ninh, đối với Mỹ khu vực châu Á - Thái Bình Dương
ngày càng trở nên quan trọng trong quan hệ quốc tế.
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) gồm
21 thành viên được thành lập năm 1989 tại Úc nhằm thúc đẩy hơn nữa tăng
trưởng kinh tế, thịnh vượng trong khu vực và củng cố cộng đồng châu Á -
Thái Bình Dương. Với 2,6 tỉ người (khoảng 40% dân số trên thế giới),
chiếm 56% GDP và 57% giá trị thương mại toàn cầu, APEC tự hào đại diện
cho một khu vực kinh tế phát triển năng động nhất thế giới. Sau cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu, Tuyên bố chung tại APEC lần thứ 17
(2010) nhấn mạnh đến hai điểm: Thứ nhất, đưa ra chiến lược lối thoát
chung cho nền kinh tế thế giới sau khi gói kích thích kinh tế thành công;
Thứ hai, đưa ra tầm nhìn tăng trưởng mới của khu vực châu Á - Thái Bình
Dương trong thế k‡ XXI1 đó là “tăng trưởng cân bằng”, “tăng trưởng bao
dung” và “duy trì tăng trưởng”. Tăng trưởng bao dung nhằm mục đích đưa
thành quả của phát triển đến được với người dân, nghĩa là tất cả mọi ngưòi
dân phải được hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hoá kinh tế. Mặc dù khó để
đạt được sự tăng trưởng cân bằng đích thực, nhưng các quốc gia cần hợp
tác để hướng tới sự cân bằng tương đối nhằm đảm bảo lợi ích của tất cả các
bên tham gia và giúp nền kinh tế thế giới tránh rơi vào vòng xoáy khủng
hoảng mới.
22
Tuy nhiên, những thách thức mới trên lĩnh vực an ninh đối với khu vực
này đang rất đáng lo ngại, bởi châu Á - Thái Bình Dương là khu vực hết sức
quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh trên thế giới. Những vụ
tranh chấp về biển, đảo giữa các nước ở khu vực Đông Bắc Á vẫn tiềm ẩn
nguy cơ căng thẳng trong các mối quan hệ song phương hoặc đa phương về
an ninh ở châu Á - Thái Bình Dương. Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc luôn đặt quân
đội của họ ở Đông Bắc Á trong tình trạng báo động cao, sẵn sàng cho một
cuộc chiến tranh. Những động thái đó đã làm bật lên những thách thức lớn về
an ninh đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Hiện nay, vấn đề Biển
Đông do tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc, đã trở thành một trong những
vấn đề nóng của khu vực và trên thế giới. Việt Nam đang có những chính
sách ngoại giao đúng đắn, tăng cường sự ủng hộ, đồng tình từ các nước trong
khu vực và trên thế giới để tiến tới giải quyết thoả đáng những liên quan đến
vấn đề này. Mối quan hệ Việt - Hàn được củng cố sẽ góp tiếng nói chung,
quan trọng vào tiến trình giải quyết vấn đề Biển Đông đối với Việt Nam.
Tình hình trên bán đảo Triều Tiên cũng là một vấn đề nóng của khu
vực và thế giới. Nó tác động mạnh mẽ tới quan hệ quốc tế trong đó có Việt
Nam và Hàn Quốc. Chiến tranh lạnh kết thúc dẫn đến tình hình trên bán đảo
này được cải thiện theo chiều hướng giảm dần căng thẳng, tiến tới hoà dịu,
đối thoại và hợp tác. Quan hệ giữa hai miền trên bán đảo Triều Tiên đã có
những tiến triển đáng kể: đàm phán cấp Thủ tướng bắt đầu từ tháng 9/1990
và kí thoả thuận về hoà giải; hợp tác và không xâm lược lẫn nhau vào tháng
12/1991; cùng gia nhập Liên Hợp Quốc riêng rẽ tháng 9/1991; ký tuyên bố
chung về phi hạt nhân hoá bán đảo Triều Tiên tháng 12/1991; thoả thuận gặp
gỡ cấp cao tháng 8/1994; Cuộc gặp thượng đỉnh lịch sử giữa hai miền Nam -
Bắc Triều Tiên và Tuyên bố chung Nam - Bắc ngày 15/06/2000; giao lưu
hợp tác hai miền về kinh tế, văn hoá, thể thao ngày càng tốt đẹp hơn. Chính
23
sự hoà dịu, đối thoại, hợp tác ở khu vực, đặc biệt là những tiến triển trong
quan hệ trên bán đảo Triều Tiên là một nhân tố quan trọng đưa đến việc Việt
Nam và Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao, thúc đẩy và phát triển mối
quan hệ đó.
Hiện nay, tình hình trên bán đảo Triều Tiên vẫn luôn nóng bỏng, thêm
vào nữa, những tranh chấp trên vùng biển Đông Hải làm cho quan hệ Đông
Bắc Á căng thẳng, có thể ảnh hưởng tới quan hệ Việt - Hàn. Việt Nam một
mặt, thúc đẩy mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược với Hàn Quốc nhưng
mặt khác gia tăng mối quan hệ hữu nghị truyền thống với Cộng hoà Dân chủ
Nhân dân Triều Tiên. Việt Nam muốn duy trì mối quan hệ đa dạng và thực tế
với bán đảo Triều Tiên trên cơ sở “Chính Bắc, kinh Nam” (về chính trị: duy
trì quan hệ hữu nghị truyền thống với phía Bắc - Triều Tiên; về kinh tế: thúc
đẩy quan hệ hợp tác chặt chẽ với phía Nam - Hàn Quốc). Rõ ràng, mỗi khi có
sự biến động lớn trên bán đảo Triều Tiên thì quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc
khó phát triển bền vững.
Xuyên suốt lịch sử, quan hệ Việt - Hàn cũng chịu ảnh hưởng mối quan
hệ Xô - Mĩ. Trong chiến tranh Việt Nam, mâu thuẫn hai phe thể hiện khá rõ
ràng, ảnh hưởng trực tiếp tới quan hệ Việt - Hàn. Năm 1991, Liên Xô sụp đổ,
chiến tranh lạnh kết thúc đồng thời với việc mâu thuẫn Xô - Mĩ đã không còn
căng thẳng, gay gắt, tác động tích cực tới quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Á
và quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc. Từ năm 1995, Việt Nam và Mĩ thi hành
những chính sách đối ngoại mới, quan hệ Việt - Mĩ cũng ngày càng được cải
thiện và có chiều hướng tích cực hơn, do đó tác động tốt tới mối quan hệ Việt
Nam - Hàn Quốc trong thế kỉ XXI.
Bên cạnh đó, Đông Nam Á là một khu vực có sự ảnh hưởng rất lớn
của Nhật Bản và Trung Quốc. Nhật Bản gây được ảnh hưởng rất lớn ở các
nước Đông Nam Á hải đảo, còn các nước Đông Nam Á lục địa lại chịu ảnh
24
hưởng lớn của Trung Quốc. Nhật Bản không chỉ là nơi cung cấp các khoản
đầu tư, công nghệ mà còn là thị trường tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu của các
nước trong khu vực. Và như vậy, mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc sẽ góp
phần củng cố quan hệ ở khu vực, điều này Nhật Bản có quyền lợi to lớn khi
tiến hành hoạt động thương mại và đầu tư trong môi trường ổn định. Không
thể phủ nhận, các hoạt động kinh tế mạnh mẽ của Nhật Bản và các công ty
xuyên quốc gia của nó góp phần thúc đẩy xu thế tăng cường hợp tác Việt
Nam - Hàn Quốc nói riêng và trong khu vực nói chung. Còn đối với Trung
Quốc, ảnh hưởng rất lớn tới các nước Đông Nam Á lục địa, do vậy trực tiếp
ảnh hưởng tới quan hệ Việt Nam - ASEAN, tới quan hệ Việt Nam - Hàn
Quốc.
Như vậy, tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương tạo ra nhiều
thời cơ nhưng cũng không ít thách thức cho các quốc gia trong khu vực. Đặc
biệt là xúc tiến phát triển các mối quan hệ song phương, đa phương. Mối quan
hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong quá khứ, hiện tại và tương lai không thể không
chịu tác động của tình hình khu vực. Vấn đề đặt ra là hai nước cần phải tăng
cường thúc đẩy hơn nữa, hợp tác toàn diện hơn nữa để cùng nhau phát triển.
Đó là con đường duy nhất để hai nước giải quyết được vấn đề còn tồn tại,
thích ứng được với tình hình đang thay đổi để phát triển mối quan hệ Việt
Nam - Hàn Quốc lên những tầm cao mới đúng như quyết tâm của lãnh đạo và
nguyện vọng của nhân dân hai nước.
<<)q-5:r,-5sP
#"("#"@;&3*A4BC=*D6EF-*G)
Trải qua một thời kì dài của lịch sử, Hàn Quốc và Việt Nam tuy không
gần gũi về mặt địa lý nhưng lại có nhiều nét tương đồng về văn hoá - lịch sử.
Chính những điểm tương đồng ấy trở thành cơ sở để xây dựng mối quan hệ
25