Tải bản đầy đủ (.pdf) (105 trang)

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển mô hình nông thôn mới tại xã Trung Thành – huyện Vị Xuyên – tỉnh Hà Giang.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (646.93 KB, 105 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM



TRẦN THỊ GẤM


Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ TRUNG THÀNH
HUYỆN VỊ XUYÊN – TỈNH HÀ GIANG


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC





Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển Nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014




Thái Nguyên, 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM




TRẦN THỊ GẤM


Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ TRUNG THÀNH
HUYỆN VỊ XUYÊN – TỈNH HÀ GIANG


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC



Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển Nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Lớp : 42 - PTNT
Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Dương Văn Sơn






Thái Nguyên, 2014

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp Đại
học, ngoài sự cố gắng của bản thân, em còn nhận được sự quan tâm giúp
đỡ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài trường.
Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô
giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn cùng toàn thể các thầy cô
giáo trong trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã dìu dắt, dạy dỗ em
trong quá trình học tập ở trường.
Để đạt được kết quả này em xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS
Dương Văn Sơn – Giảng viên khoa Kinh tế và PTNT – Giáo viên hướng dẫn
em trong quá trình thực tập. Thầy đã quan tâm, giúp đỡ, chỉ bảo, tháo gỡ
những vướng mắc, hướng dẫn tận tình cho em để em có thể hoàn thành báo
cáo thực tập tốt nghiệp với kết quả tốt nhất. Thầy luôn theo dõi sát sao quá
trình thực tập và cũng là người truyền động lực giúp em hoàn thành tốt đợt
thực tập của mình.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Trung Thành -
huyện Vị Xuyên - tỉnh Hà Giang, các cán bộ và bà con trong xã đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt nội dung đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã quan tâm, động
viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 05 năm 2014
Sinh viên



TRẦN THỊ GẤM
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCH Ban chấp hành
BT Bê tông

BT+Đ Bê tông + Đất
CNH – HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
GTVT Giao thông vận tải
HG Hà Giang
HTX Hợp tác xã
KHKT Khoa học kỹ thuật
KT – PTNT Kinh tế - Phát triển nông thôn
KTXH Kinh tế xã hội
NLN Nông lâm nghiệp
NTM Nông thôn mới
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
TTCP Thủ tướng chính phủ
UBMTTQ Uỷ ban mặt trận tổ quốc
UBND Uỷ ban nhân dân
VH – TT – DL Văn hoá - Thể thao – Du lịch


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Nội dung 19 tiêu chí trong Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM, Bộ
tiêu chí xã đạt chuẩn NTM của tỉnh Hà Giang 20
Bảng 4.1: Diện tích đất đai của xã Trung Thành 36
Bảng 4.2: Dân số theo dân tộc trên địa bàn xã Trung Thành năm 2013 36
Bảng 4.3: Tình hình dân số, lao động xã Trung Thành qua 3 năm 2011-
2013 37
Bảng 4.4: Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch so với Bộ tiêu chí
Quốc gia và so với Bộ tiêu chí của tỉnh Hà Giang 43
Bảng 4.5: Thực trạng hạ tầng kinh tế - xã hội so với bộ tiêu chí 44

Bảng 4.6: Các tuyến đường liên xã trên địa bàn xã Trung Thành năm 2013
47
Bảng 4.7: Các tuyến đường liên thôn trên địa bàn xãTrung Thành năm
2013 47
Bảng 4.8 Tình hình sử dụng điện trên địa bàn xã Trung Thành năm 2013
49
Bảng 4.9: Thực trạng trường học trên địa bàn xã Trung Thành năm 2013
50
Bảng 4.10: Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất so với tiêu chí Quốc
gia, tiêu chí tỉnh Hà Giang 54
Bảng 4.11: Thu nhập bình quân của xã 55
Bảng 4.12: Thực trạng Văn hóa - Xã hội - Môi trường so với bộ tiêu chí 58
Bảng 4.13: Thực trạng hệ thống chính trị so với Bộ tiêu chí 62
Bảng 4.14. Mức độ hiểu biết của người dân về chương trình nông thôn
mới 67
Bảng 4.15: Mức độ tham gia của người dân trong chương trình xây dựng
nông thôn mới 68
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1

1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1. Mục tiêu chung 2

1.2.2. Mục tiêu cụ thể 2

1.3. Ý nghĩa khoa học của khóa luận 2


1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3

1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 3

1.4. Bố cục của khóa luận 3

PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

2.1. Cơ sở khoa học 4

2.1.1. Khái niệm nông thôn 4

2.1.2. Khái niệm phát triển nông thôn 4

2.1.3. Khái niệm về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới 5

2.1.4. Quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới 7

2.1.6. Nội dung Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới, Bộ tiêu chí
xã đạt chuẩn NTM tỉnh Hà Giang 18

2.1.7. Các bước xây dựng nông thôn mới 23

2.2. Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới 24

2.2.1. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số nước trên thế giới 24

2.2.2. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 28


2.2.3. Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới 31

PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 32

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 32

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 32

3.2. Nội dung nghiên cứu 32

3.3. Câu hỏi nghiên cứu 32

3.4. Phương pháp nghiên cứu 33

3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 33

3.4.2. Phương pháp xử lý số liệu 34

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

4.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Trung Thành 35

4.1.1. Đặc điểm tự nhiên 35

4.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 37

4.1.3. Đánh giá chung 41


4.2. Thực trạng nông thôn và so sánh với Bộ tiêu chí Quốc gia về xây
dựng nông thôn mới, so sánh với Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn NTM của tỉnh
Hà Giang 42

4.2.1. Thực trạng nông thôn xã Trung Thành so với Bộ tiêu chí Quốc gia
NTM, so với Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn NTM của tỉnh Hà Giang 42

4.2.2. Mức độ hiểu biết của người dân và mức độ tham gia của người dân
trong chương trình nông thôn mới 66

4.2.3. Những thuận lợi và khó khăn trong việc xây dựng nông thôn mới tại
xã Trung Thành 68

4.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng mô hình
nông thôn mới tại xã Trung Thành 69

4.3.1. Mục tiêu, phương hướng xây dựng NTM xã Trung Thành 69

4.3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới
xã Trung Thành 71

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79

5.1 Kết luận 79

5.2. Khuyến nghị 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81





1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nông nghiệp nông thôn luôn đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, là nền tảng của xã hội Việt Nam
trong quá trình lịch sử. Từ xưa đến nay, đại đa số dân cư nước ta sống ở nông
thôn và cuộc sống phụ thuộc chủ yếu vào nông nghịêp. Nước ta là một nước
nông nghiệp truyền thống, do lịch sử quá trình đấu tranh dựng nước và giữ
nước nên phần lớn dân cư nước ta sống quần tụ theo từng dòng họ và theo
phạm vi làng, xã. Đến nay, tuy quá trình đô thị hóa đã diễn ra khá mạnh mẽ
nhưng vẫn còn hơn 70% dân số sinh sống và hơn 54% lao động làm việc ở
nông thôn.
Từ khi thực hiện chính sách “Đổi mới”, nông thôn nói chung, nông
nghiệp và nông dân nói riêng đã và đang là những vấn đề được Đảng và Nhà
nước hết sức quan tâm. Đã có nhiều chính sách được ban hành trong thời gian
vừa qua để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội và nâng cao mức sống
người dân khu vực nông thôn. Nhiều mô hình nông thôn mới của các nước
tiên tiến trong khu vực cũng đã được giới thiệu và áp dụng thành công ở mức
độ nhất định tại một số địa phương trong toàn quốc. Tuy nhiên, đây chỉ là các
mô hình điểm, quy mô nhỏ và chưa phù hợp hoàn toàn với hoàn cảnh và điều
kiện thực tiễn của Việt Nam.
Phát triển nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội hiện nay và ngày càng được Đảng và Nhà nước
ta đặc biệt chú trọng và quan tâm. Muốn phát triển nông thôn bền vững, nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn đòi hỏi phải có sự đột
phá trên tất cả các lĩnh vực như: Kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường. Chính vì
thế ngày 04/06/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-

TTg về Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới
giai đoạn 2010 – 2020, với mục tiêu đến năm 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn
nông thôn mới, đến năm 2020: 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới.
Trung Thành là một trong những xã điểm về xây dựng nông thôn mới
của tỉnh Hà Giang. Sản xuất nông nghiệp của xã Trung Thành vẫn còn chưa

2
phát triển, phân tán, sản xuất công nghiệp dịch vụ chưa phát triển, kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, chưa đáp ứng được đời sống của nhân dân.
Khoảng cách giàu, nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng, công
tác xóa đói giảm nghèo chưa bền vững, môi trường sinh thái bị ảnh hưởng do
rác thải sinh hoạt của người dân chưa được thu gom và xử lý theo quy định.
Để xã Trung Thành có thể phát triển nông thôn một cách toàn diện; có kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ
chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch
vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân
chủ ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ,
an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân
ngày càng nâng cao thì cần phải có một định hướng, chiến lược rõ ràng cho
quá trình phát triển.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn việc nghiên cứu đề tài:
”Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển mô
hình nông thôn mới tại xã Trung Thành – huyện Vị Xuyên – tỉnh Hà
Giang” làm đề tài nghiên cứu.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu được thực trạng xây dựng nông thôn mới tại xã Trung
Thành – huyện Vị Xuyên – tỉnh Hà Giang và đề xuất một số giải pháp để
chương trình thực hiện nông thôn mới đạt hiệu quả cao nhất
1.2.2. Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của xã Trung
Thành – huyện Vị Xuyên – tỉnh Hà Giang.
- Nghiên cứu thực trạng mô hình nông thôn mới tại xã Trung Thành –
huyện Vị Xuyên – tỉnh Hà Giang và so sánh với Bộ tiêu chí Quốc gia và Bộ
tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới của tỉnh Hà Giang.
- Đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh quá trình xây
dựng nông thôn mới ở địa phương trong những năm tới.
1.3. Ý nghĩa khoa học của khóa luận

3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Giúp bản thân có thể vận dụng được những kiến thức đã học để viết
khóa luận tốt nghiệp phục vụ cho học tập và nghiên cứu khoa học. Nâng cao
được năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng, vận dụng được những kiến thức
đã học được ở nhà trường vào thực tiễn, đồng thời bổ sung những kiến thức
còn thiếu và những kỹ năng tiếp cận các phương pháp nghiên cứu khoa học
cho bản thân.
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu và học tập trong lĩnh
vực nông thôn mới. Các khuyến nghị và dự báo có thể dùng làm tài liệu tham khảo
cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách tại địa phương.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất khi thực hiện chương trình
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã, từ đó có thể làm tài liệu tham khảo
cho đội ngũ cán bộ ủy ban nhân dân xã và các ban ngành có liên quan, đặc
biệt là những người học tập, nghiên cứu và những người quan tâm đến xây
dựng nông thôn mới.
1.4. Bố cục của khóa luận
Khóa luận gồm 5 phần:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Phần 5: Kết luận và khuyến nghị

4
PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Khái niệm nông thôn
Khi nói về nông thôn có rất nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn.
Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ
tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng
đô thị. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị
trường phát triển hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường của nông thôn so
với đô thị là thấp hơn. Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu của mật độ
dân cư và số lượng dân cư trong vùng để xác định. Một số quan điểm khác
nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là
nguồn sinh kế chính của dân cư trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp. Những
ý kiến này chỉ đúng trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình
độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế. Đối với
những nước đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển từ sản xuất
thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng khu
đô thị nhỏ, thị trấn thị tứ rải rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông
thôn có những thay đổi khác so với các khái niệm trước đây.
Như vậy, có thể nói khái niệm vùng nông thôn chỉ có tính chất tương
đối thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các
quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới
góc độ quản lý, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư,
trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động
kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và

chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác [3].
2.1.2. Khái niệm phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với nhiều
quan điểm khác nhau. Đã có nhiều nghiên cứu và triển khai ứng dụng thuật
ngữ này ở các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam thuật ngữ phát triển nông
thôn được đề cập đến từ lâu và có sự thay đổi qua các thời kì khác nhau. Tuy
nhiên, nhìn duới góc độ lý luận quản lý, chúng ta vẫn chưa có sự tổng hợp lý luận

5
hệ thống về thuật ngữ này. Nhiều tổ chức phát triển quốc tế đã nghiên cứu và vận
dụng thuật ngữ này ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng Thế giới (WB) năm 1975 đã đưa ra định nghĩa: “Phát triển
nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và
xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn. Nó giúp
những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn
được hưởng lợi ích từ sự phát triển”. Chiến lược này cũng nhằm mở rộng
phúc lợi của quá trình phát triển cho những dân cư nông thôn, những người
đang tìm kiếm sinh kế ở nông thôn.
Một số quan điểm khác cho rằng, phát triển nông thôn là hoạt động
nhằm nâng cao vị thế về kinh tế và xã hội cho nguời dân nông thôn qua việc
sử dụng hiệu quả các nguồn lực địa phương bao gồm nhân lực, vật lực và tài
lực. Phát triển nông thôn sẽ thành công khi chính người dân nông thôn tham
gia tích cực vào quá trình phát triển. Điều đó đòi hỏi chiến lược phát triển
nông thôn phải xây dựng trên nền tảng của cộng đồng người dân nông thôn.
Giúp hộ biết cách tự duy trì bền vững cuộc sống của mình về tài chính, sự độc
lập về kinh tế, có khả năng tiếp cận các hàng hóa, dịch vụ vật chất và tinh
thần ngày càng nhiều hơn. Qua đó, tự người dân nông thôn sẽ nâng cao vị thế
của bản thân họ trong xã hội và trong quá trình phát triển của đất nước.
Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều khác nhau. Đây là
một quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển,

nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các dân cư nông thôn.
Đồng thời, nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc
ứng dụng khoa học công nghệ.
Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện và đa phương, bao
gồm các hoạt động về nông nghiệp và các hoạt động có tính liên kết phục vụ
nông nghiệp, công nghiệp quy mô vừa và nhỏ, các ngành nghề truyền thống,
cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, nguồn nhân lực nông thôn, xây dựng, tăng cường
các hoạt động dịch vụ và phương tiện phục vụ cộng đồng nông thôn [3].
2.1.3. Khái niệm về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới
a. Khái niệm nông thôn mới
Nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn,
thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát

6
gọn theo năm nội dung cơ bản sau: Nông thôn là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ
tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời
sống về vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao;
bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt,
quản lý dân chủ.
Ngày 16 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 491/Q Đ-TTg về Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu
chí là: Tiêu chí về quy hoạch và thực hiện quy hoạch; tiêu chí về giao thông;
tiêu chí về thủy lợi; tiêu chí về điện; tiêu chí trường học; tiêu chí cơ sở vật
chất văn hóa; tiêu chí chợ nông thôn; tiêu chí về bưu điện; tiêu chí về nhà ở dân
cư; tiêu chí về y tế; tiêu chí về văn hóa; tiêu chí về môi trường; tiêu chí về hệ
thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; tiêu chí về an ninh, trật tự xã hội [5].
Năm 2010 Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg
về Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2010 - 2020. Tại quyết định này, mục tiêu chung của Chương trình được
xác định là: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng

bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn
nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông
thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc
văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ
vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao;
theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [3].
Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về
chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn: Nông thôn là
phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn,
được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. Nông thôn Việt
Nam hiện nay có khoảng 70% dân số sinh sống.
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ,
ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng
cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững.

7
b. Khái niệm xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để
cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của
mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được
đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn
dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã
hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích
cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp,
dân chủ, văn minh [2].
2.1.4. Quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới

a. Các quan điểm của Đảng về xây dựng NTM trước Đại hội V
Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn khẳng định tầm quan trọng
của vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
- Đại hội Đảng lần thứ III (năm 1960)
Trong bối cảnh đất nước ta đang tạm bị chia cắt thành 2 miền, cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ngày càng ác liệt, Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ III đã xác định đường lối chung của miền Bắc trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội là: Đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở
hữu cá thể về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, dựa trên
sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, từ tình trạng kinh tế rời rạc và lạc hậu,
xây dựng thành một nền kinh tế cân đối và hiện đại. Chủ trương của Đảng là:
“ xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp
công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông
nghiệp và công nghiệp nhẹ, ”[2].
Tiếp theo, Hội nghị Trung ương 5 khóa III (năm 1961) đã ra Nghị quyết về
vấn đề phát triển nông nghiệp, trong đó nêu lên phương hướng cải tiến công cụ và
cơ giới hóa nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).

8
Thực hiện chủ trương trên, trong giai đoạn này, Nhà nước đã đầu tư hàng
nghìn máy kéo lớn nhỏ, hàng vạn động cơ điện, động cơ nổ và hàng triệu công
cụ cải tiến cho nông nghiệp. Có gần 100 nhà máy chế biến nông sản, chế biến
thức ăn gia súc được xây dựng. Phong trào cải tiến công cụ, thâm canh, làm thủy
lợi, thực hiện cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp đã làm cho nông nghiệp,
nông thôn nước ta tiến lên một bước và thu được nhiều thành tựu, ngay cả trong
điều kiện chiến tranh.
- Đại hội Đảng lần thứ IV (năm 1976)
Sau khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Đảng ta đã chủ trương:
“Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, đưa nền kinh tế nước ta từ nền

sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, kết hợp xây dựng công
nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp”
(Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IV, tháng 12 năm 1976, tr 68). Đại hội đã xác định kế hoạch
5 năm 1976 - 1980 là: “Tập trung cao độ lực lượng của cả nước, của các
ngành, các cấp, tạo ra một bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp, nhằm
giải quyết vững chắc nhu cầu của cả nước về lương thực, thực phẩm và một
phần hàng tiêu dùng thông thường, ”
Để thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển, trong giai đoạn này
Đảng đã đề ra nhiều chính sách để đầu tư làm thủy lợi, làm giao thông nông
thôn, xây dựng trường học, trạm xá và cơ giới hóa nông nghiệp. Nhờ đó, mặc
dù hậu quả chiến tranh để lại rất nặng nề, nhưng nông thôn cả nước đã có
những biến đổi to lớn.
- Đại hội Đảng lần thứ V (năm 1982)
Từ thực tiễn 30 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và những
năm sau thống nhất đất nước, Đảng ta ngày càng thấy rõ vai trò của sản xuất
nông nghiệp. Đại hội V đã chỉ rõ: “Trong 5 năm 1981 - 1985 và những năm
80 cần tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận
hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức
đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công
nghiệp nặng quan trọng; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và
công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý”.

9
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, Đại hội đã xác định áp dụng nhiều giải
pháp, trong đó coi trọng khai thác lực lượng lao động và tài nguyên thiên nhiên.
“ Cái vốn quý nhất của chúng ta là lao động, lực lượng tiềm tàng lớn nhất có thể
phát huy trước tiên, cũng là đối tượng lao động có khả năng thu hút lực lượng
đông đảo nhất, là đất đai (kể cả rừng và biển), có điều kiện phát triển mạnh và
sử dụng nhiều lao động sớm tạo ra một lực lượng sản xuất mới”.

Như vậy, từ Đại hội III đến Đại hội IV và Đại hội V của Đảng, chúng ta
có thể khẳng định rằng, tuy chưa chưa đề cập đến cụm từ “Nông thôn mới”
nhưng Đảng ta luôn xác định nông nghiệp có một vị trí rất quan trọng, là mặt
trận hàng đầu, đồng thời đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối để phát triển
nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại.
b. Các quan điểm của Đảng về xây dựng NTM từ Đại hội VI đến nay
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986)
Đại hội VI đã nêu 4 bài học kinh nghiệm lớn, trong đó có bài học
“Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy
luật khách quan”.
Đại hội VI đã đề ra những quan điểm và chính sách đổi mới, trước hết
là đổi mới kinh tế; phấn đấu đưa nông nghiệp trở thành nền nông nghiệp sản
xuất hàng hóa xã hội chủ nghĩa; thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần;
xác định cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong
suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xóa bỏ cơ chế kinh tế tập trung quan
liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình
độ phát triển của nền kinh tế.
Đại hội chỉ rõ: “ nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những
năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế -
xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công
nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo”
Từ những tư tưởng chỉ đạo trên và rút kinh nghiệm từ khoán theo Chỉ
thị 100 của Ban Bí thư (khóa IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khóa VI)
đã thổi vào nông nghiệp, nông thôn nước ta một luồng gió mới, cuộc sống của
người dân đã được cải thiện nhanh chóng.

10
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII
Trên cơ sở khẳng định những thành quả của công cuộc đổi mới và phân
tích tình hình đất nước trong bối cảnh đất nước có nhiều diễn biến phức tạp, Đại

hội VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000.
Đại hội VII đã chỉ rõ: “Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công
nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn
mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế- xã hội”
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Xem xét việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VII và quá trình 10 năm đổi
mới, Đại hội VIII đã nhận định rằng nước ta đã chuyển sang thời kỳ phát triển
mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời khẳng định:
“Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”
Tiếp theo, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
VIII đã ra Nghị quyết về “Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội
lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hoá, hiện đại
hóa, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000”. Nghị
quyết đã xác định các những nội dung cần đẩy mạnh trong phát triển nông
nghiệp và nông thôn, đó là: Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
gắn với phân công lao động ở nông thôn; giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ
nông sản; phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới các hoạt
động của các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn, phát triển
các cơ sở quốc doanh ở vùng sâu, vùng xa [13].
Ngày 10 tháng 11 năm 1998, Bộ Chính trị khóa VIII đã ra Nghị
quyết số 06 - NQ/TW về một số vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn.
Nghị quyết đã nêu 4 quan điểm:
“Một là, coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phát triển nông
nghiệp và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản


11
xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn
định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, củng cố liên minh giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hai là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông
nghiệp với công nghiệp chế biến, ngành nghề, gắn sản xuất với thị trường để
hình thành sự liên kết công - nông nghiệp - dịch vụ và thị trường ngay trên địa
bàn nông thôn và trên phạm vi cả nước; gắn phát triển nông nghiệp với xây
dựng nông thôn mới; gắn công nghiệp hóa với dân chủ chủ hóa và nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực ở nông thôn; tạo ra sự phân công lao động mới, giải
quyết việc làm, nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng
cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn, thực hiện có kết quả mục tiêu
phát triển dân số.
Ba là, phát huy lợi thế của từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh các tiến bộ
khoa học, công nghệ để phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng, đáp ứng ngày
càng cao nhu cầu nông sản thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp, hướng mạnh
ra xuất khẩu.
Bốn là, phát triển nền nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế, trong
đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã dần trở
thành nền tảng, hợp tác và hướng dẫn kinh tế tư nhân phát triển theo đúng
pháp luật. Tạo điều kiện và khuyến khích mạnh mẽ hộ nông dân và những
người có khả năng phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp,
dịch vụ ở nông thôn” [14].
- Đại hội Đảng lần thứ IX
Đại hội IX của Đảng đã chủ trương phải rút ngắn thời gian công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2020, nước ta trở thành một
nước công nghiệp. Nghị quyết Đại hội IX đã chỉ rõ phải ưu tiên phát triển lực
lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế đi đôi với phát triển vắn hóa - xã

hội, tăng cường các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hóa nông
nghiệp, nông thôn.

12
Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa IX đã ra Nghị
quyết về “Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
thời kỳ 2001 - 2010”. Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung tổng quát công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là: “ là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công
nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi
hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh
học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông
nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của
nông sản hàng hóa trên thị trường”.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động
các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông
nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông
thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản
xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng văn minh, không ngừng
nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn” [15].
Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX đã đề ra 5 quan điểm trong xây dựng
nông thôn. Đó là:
+ Coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu.
+ Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường để sản
xuất hàng hóa quy mô lớn với chất lượng và hiệu quả cao, bảo vệ môi trường,
phòng chống, hạn chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp, nông
thôn bền vững.

+ Dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ
bên ngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền
tảng vững chắc; phát triển mạnh mẽ kinh tế hộ sản xuất hàng hóa, các loại
hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn.

13
+ Kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và xã hội trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Giữ gìn, phát huy truyền
thống văn hóa và thuần phong mỹ tục.
+ Kết hợp chặt chẽ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân.
- Đại hội Đảng lần thứ X
Nghị quyết Đại hội X đã xác định: “ Phải luôn luôn coi trong đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Gắn phát triển kinh tế
với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn
với thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội”.
Để thực hiện mục tiêu trên, Nghị quyết đã đề ra các nhiệm vụ:
+ Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế
nông thôn, đẩy mạnh thâm canh các loại cây trồng; phát triển mạnh ngành
chăn nuôi; xây dựng các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung.
+ Đẩy mạnh công tác trồng và bảo vệ rừng; phát triển mạnh nuôi trồng
thủy sản theo hướng hàng hóa lớn, phục vụ xuất khẩu; quy hoạch và có chính
sách phát triển nghề làm muối.
+ Đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn.
+ Đầu tư phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội ở nông thôn;
tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc và xây dựng nông thôn mới.
+ Đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao khoa học, công nghệ.
+ Phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp ở nông thôn, phát triển
các làng nghề, kinh tế trang trại,

+ Tăng cường đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân và cho lao
động nông thôn.
+ Xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển nông nghiệp và nông
thôn. Tổ chức chương trình xây dựng nông thôn mới nhằm xây dựng các làng,
xã, ấp, bản có cuộc sống văn minh, sạch đẹp, gắn với việc hình thành các khu
dân cư đô thị hóa [16].
Ngày 5 tháng 8 năm 2008, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã
ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

14
Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đã đánh giá thành tựu và hạn chế
trong vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn sau hơn 20 năm đổi mới,
đồng thời nêu 4 quan điểm về các vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông
thôn, đó là:
+ Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở
và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn
định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước.
+ Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết
đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông
thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới
gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy
hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt.
+ Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, khai thác tốt các điều kiện thuận lợi
trong hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư
của Nhà nước và xã hội,

+ Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự
chủ, tự lực, tự cường vươn lên của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn
định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân
tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng
cao đời sống nhân dân”.
Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đã đề ra các giải pháp để đẩy mạnh
xây dựng nông thôn mới:
+ Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời
phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn.
+ Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển các
đô thị.

15
+ Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nhất là vùng
khó khăn.
+ Đổi mới và xây dựng các hình thức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả
ở nông thôn.
+ Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học,
công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hóa nông nghiệp,
công nghiệp hóa nông thôn.
+ Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn lực,
phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
nông dân.
+ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức
mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là hội nông dân.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X), Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn mới tại Quyết định 491/QĐ-TTg,
ngày 16/4/2009 và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn
mới giai đoạn 2010 - 2020 tại Quyết định 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2020.

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng:
Đại hội XI đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó đã xác
định những định hướng lớn về phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội, quốc
phòng, an ninh, đối ngoại là: Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp
nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng và các ngành công nghiệp có lợi
thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao,
chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 đã xác định rõ định
hướng trong xây dựng nông thôn mới: Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với
phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ
và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường. Triển khai chương trình nông thôn mới
phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng
giai đoạn; giữ gìn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của nông thôn Việt

16
Nam. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tạo môi trường thuận lợi
để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động. Triển khai có hiệu quả
Chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm. Thực hiện
tốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính sách,
chương trình nhà ở cho đồng bào vùng bão, lũ, bố trí hợp lý dân cư, bảo đảm an
toàn ở những vùng ngập úng, lũ lụt, sạt lở núi, ven sông, ven biển.
Như vậy, kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, quan
điểm, chủ trương, biện pháp về xây dựng nông thôn mới của Đảng ta ngày
càng rõ và đến Đại hội X thì hoàn chỉnh và thống nhất chỉ đạo trên phạm vi
toàn quốc. [2]
2.1.5. Phân biệt giữa nông thôn và nông thôn mới
Về cơ bản nông thôn và nông thôn mới không khác nhau nhưng xét
trên những tiêu chí cụ thể thì 2 khái niệm này có nhiều điểm khác nhau. Khác

với nông thôn truyền thống, NTM là một vùng nông thôn với cơ cấu mới,
mang những nét đặc trưng của một vùng nông thôn phát triển theo hướng đô thị
hóa mà biểu hiện cụ thể đó là sự phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa sản xuất. Ở đó nền sản xuất không chỉ đơn thuần là sản xuất các
ngành nông nghiệp mà có sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp,
thương mại, dịch vụ, du lịch,… Một vùng NTM phải đảm bảo được ít nhất các
chức năng sau:
2.1.5.1. Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại
Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông
nghiệp chất lượng cao. Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông
nghiệp của NTM bao gồm cơ cấu các ngành nghề mới, các điều kiện sản xuất
nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và
xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại. Cần phân tách rõ nông thôn với
thành thị; các đặc điểm riêng của thành thị và làng xã; phân công hợp lý thành
thị với nông thôn, tức là nhấn mạnh nông thôn phục vụ thành thị, ngược lại
thành thị hỗ trợ nông thôn. Đó chính là cơ sở quan trọng để thực hiện thành
thị và nông thôn phát triển hài hoà. Với nông thôn, có thể nói nông nghiệp là

17
chức năng tự nhiên của nông thôn. Tuy nhiên xây dựng NTM không có nghĩa
là biến nông thôn trở thành thành thị bằng cách chuyển nền sản xuất từ sản
xuất nông nghiệp hoàn toàn sang sản xuất công nghiệp mà phải có sự kết hợp
chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp hiện đại với phát triển công nghiệp và các
ngành khác. [1]
2.1.5.2. Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống
Kho tàng văn hoá truyền thống Việt Nam được cấu thành từ bởi rất
nhiều thành phần quan trọng khác nhau. Các thành phần này không chỉ đóng
vai trò không thể thay thế trong sự nghiệp hiện đại hoá và phát triển xã hội hài
hoà của riêng Việt Nam, mà còn là một bộ phận cấu thành quan trọng trong
kho tàng văn hoá của toàn nhân loại. Nền văn hoá truyền thống mang đậm

màu sắc thôn quê này đã được sản sinh trong một hoàn cảnh đặc biệt. Các
phương thức sản xuất, sinh sống cũng như cơ cấu tổ chức mang tính đặc thù
của xã hội nông thôn chính là nhân tố quyết định nền văn hoá mang đậm màu
sắc Việt Nam. Quy tắc hành vi của xã hội là những phong tục tập quán đã
được hình thành từ lâu đời, ở đó con người đối xử tin cậy lẫn nhau trên quy
phạm phong tục tập quán đó và quan hệ huyết thống là mối quan hệ quan
trọng nhất. Chính các tập thể nông dân cùng huyết thống đã giúp họ khắc
phục được những nhược điểm của kinh tế tiểu nông, giúp bà con nông dân
chống chọi với thiên tai, đại hạn. Và cũng chính văn hoá quê hương đã sản
sinh ra những sản phẩm văn hoá tinh thần quý báu như lòng kính lão yêu trẻ,
giản dị tiết kiệm, thật thà đáng tin, yêu quý quê hương,… tất cả được sản sinh
trong hoàn cảnh xã hội nông thôn đặc thù. Các truyền thống văn hoá quý báu
này đòi hỏi phải được giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù. Môi
trường thành thị là nơi có tính mở cao, con người cũng có tính năng động cao,
vì thế văn hoá quê hương ở đây sẽ không còn tính kế tục. Do vậy, chỉ có nông
thôn với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và tụ cư theo dân tộc mới là môi
trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương. Việc xây dựng
NTM nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực đã được
hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của
nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn. Điều này không những hạn

18
chế tác dụng của chức năng nông thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ
gìn sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh quan văn hoá truyền thống.[1]
2.1.5.3. Chức năng sinh thái
Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt
giữa thành thị với nông thôn. Nền văn minh nông nghiệp được hình thành từ
những tích lũy trong suốt một quá trình lâu dài, từ khi con người thích ứng
với thiên nhiên, lợi dụng, cải tạo thiên nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn
đến phải hứng chịu các ảnh hưởng xấu và cuối cùng là tôn trọng tự nhiên.

Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hoà với
nhau, chức năng con người tôn trọng tự nhiên, bảo vệ tự nhiên và hình thành
nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên. Quá trình công nghiệp hoá và
đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm
trong môi trường nước và không khí. Xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo
giữ gìn và cải tạo môi trường tự nhiên vốn có của nông thôn truyền thống,
đồng thời làm giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường. [1]
2.1.6. Nội dung Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới, Bộ tiêu chí
xã đạt chuẩn NTM tỉnh Hà Giang
Ý nghĩa của Bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn mới:
- Là cụ thể hóa đặc tính của xã NTM thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
- Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu
Quốc gia về xây dựng NTM, là chuẩn mực để các xã lập kế hoạch phấn đấu
đạt 19 tiêu chí nông thôn mới.
- Là căn cứ để chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiện xây dựng NTM
của các địa phương trong từng thời kỳ; đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt
nông thôn mới; đánh giá trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền xã
trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
Ý nghĩa của Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mớ tỉnh Hà Giang:
- Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn Nông thôn mới của tỉnh Hà Giang dựa trên
nền tảng chủ yếu của Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới và được chỉnh
sửa, bổ sung một số tiêu chí mới nên có nội dụng cơ bản giống như Bộ tiêu
chí Quốc gia.

×