Tải bản đầy đủ (.doc) (89 trang)

Giải pháp mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại chi nhánh Ngân hàng công thương Đông Anh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (511.98 KB, 89 trang )

Lời mở đầu
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta đã khởi xớng và
lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nớc. Nền kinh tế nớc ta chuyển đổi từ cơ chế tập
trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hội
chủ nghĩa. Từ đó, cùng với thành phần kinh tế quốc doanh, thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh ngày càng đợc coi trọng và đóng góp một phần không nhỏ
trong sự tăng trởng kinh tế của đất nớc.
Cũng nh các tổ chức kinh tế khác, hệ thống Ngân hàng cũng đợc đổi mới và
góp phần quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế đất nớc, góp phần kiềm
chế và đẩy lùi lạm phát, thực hiện CNH- HĐH đất nớc. Nghị định 53/HĐBT ngày
26/03/1988 của Hội đồng Bộ trởng về việc chuyển hệ thống Ngân hàng sang hạch
toán kinh doanh và hình thành hệ thống Ngân hàng hai cấp, tách biệt giữa chức
năng quản lý và chức năng kinh doanh tiền tệ tín dụng. Sau hơn 13 năm hoạt động
kể từ Nghị định 53, các Ngân hàng thơng mại ngày càng phát triển và hoàn thiện
nghiệp vụ kinh doanh của mình. Mục tiêu của các Ngân hàng thơng mại quốc
doanh là phấn đấu trở thành Ngân hàng hiện đại đa năng. Các nghiệp vụ đầu t của
Ngân hàng thơng mại ngày càng đa dạng phong phú nhng nhìn chung hoạt động
tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất của các Ngân hàng thơng mại quốc doanh.
Tỷ trọng d dợ tín dụng thuộc tài sản có chiếm tới 70- 80% và doanh thu về hoạt
động tín dụng cũng thờng chiếm 80- 95% tổng thu của Ngân hàng. Có thể nói
hoạt động tín dụng là rất quan trọng đối với bản thân Ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt
động tín dụng ở nớc ta nói chung và của chi nhánh Ngân hàng công thơng Đông
Anh hiện nay còn gặp nhiều khó khăn và không ít tồn tại, vớng mắc, đặc biệt là
hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, trong khi khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế
đất nớc.
Từ những lý do trên, việc mở rộng quy mô và nâng cao chất lợng tín dụng đối
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh của toàn hệ thống Ngân hàng thơng mại nói
chung và chi nhánh Ngân hàng công thơng Đông Anh nói riêng là cần thiết, vừa
đảm bảo cho Ngân hàng thu thêm lợi nhuận, vừa giúp đỡ các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh có sự hỗ trợ tài chính để mở rộng sản xuất, nâng cao chất lợng sản


phẩm, từ đó thúc đẩy tốc độ tăng trởng kinh tế của đất nớc. Vì thế, trong qúa trình
thực tập tại chi nhánh Ngân hàng công thơng Đông Anh, em chọn đề tài : "Giải
pháp mở rộng quy mô và nâng cao chất lợng tín dụng đối với khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh tại chi nhánh Ngân hàng công thơng Đông Anh ". Em hy
Tài chính doanh nghiệp- 40B
1
vọng rằng, luận văn sẽ đóng góp một phần nhỏ bé cho chiến lợc phát triển kinh
doanh của chi nhánh Ngân hàng công thơng Đông Anh.
Luận văn tập trung vào hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh tại chi nhánh Ngân hàng công thơng Đông Anh trong 3 năm gần nhất
là năm 1999, 2000 và năm 2001; tập trung vào một số vấn đề lý luận và thực tiễn
liên quan đến việc thực hiện quy chế tín dụng thông qua hoạt động cho vay của
chi nhánh Ngân hàng công thơng Đông Anh đối với khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh, những mặt làm đợc và cha đợc, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu
nhằm mở rộng quy mô và nâng cao chất lợng tín dụng đối vớí khu vực kinh tế
này.
Ngoài lời mở đầu và trang kết luận, toàn bộ luận văn gồm 3 chơng:
- Chơng I: Hoạt động tín dụng ngân hàng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh.
- Chơng II: Thực trạng quy mô và chất lợng tín dụng đối với khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh tại chi nhánh Ngân hàng công thơng Đông Anh.
- Chơng III: Giải pháp nhằm mở rộng quy mô và nâng cao chất lợng tín dụng đối
với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại chi nhánh Ngân hàng công thơng Đông
Anh.
Đây là đề tài đã đợc đề cập trong nhiều bài viết, nhiều nghiên cứu trớc đó
của các nhà viết báo, các nhà phân tích, các nhà nghiên cứu. Với thời gian và hiểu
biết còn hạn chế, luận văn này sẽ không tránh khỏi những sai sót và khiếm
khuyết. Vì vậy, em rất mong đợc sự góp ý của các thầy cô giáo, của chi nhánh
Ngân hàng công thơng Đông Anh và của các bạn để luận văn đợc hoàn thiện hơn
và để bổ sung vào vốn kiến thức của mình.

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Lê Phong Châu
và các cô chú, anh chị công tác tại chi nhánh Ngân hàng công thơng Đông Anh đã
giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thiện luận văn này.
Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2002
Sinh viên
Nguyễn Thị Thanh Nga
Tài chính doanh nghiệp- 40B
2
cHƯƠNG I
Hoạt động tín dụng ngân hàng ĐốI VớI
KHU VựC KINH Tế NGOàI QUốC DOANH
I.Thành phần KINH Tế NGOàI QUốC DOANH:
1.Các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trờng:
Sự phát triển của lực lợng sản xuất, tiến bộ khoa học công nghệ là tiền đề cho
sự ra đời cho sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Bởi vậy sự
tồn tại của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế hàng hoá là một tất yếu khách
quan. Phát triển kinh tế nhiều thành phần là một quy luật phổ biến trong sự phát
triển kinh tế trên toàn thế giới.
Trong nền kinh tế thị trờng hiện nay có năm thành phần kinh tế:
Thành phần kinh tế Nhà n ớc : Là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu Nhà nớc
về t liệu sản xuất. Chủ yếu bao gồm các đơn vị kinh tế mà toàn bộ số vốn thuộc về
Nhà nớc hoặc Nhà nớc chiếm phần chủ yếu.
Thành phần kinh tế tập thể: Là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể về t
liệu sản xuất. Nó bao gồm các đơn vị kinh tế do những ngời lao động tự nguyện
góp vốn, góp sức kinh doanh theo nguyên tắc dân chủ, bình đẳng cùng có lợi,
cùng chịu rủi ro.
Thành phần kinh tế cá thể: Là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu t liệu
sản xuất và lao động của bản thân ngời sản xuất. Đây là một loại hình bao gồm:
Kinh tế hộ gia đình nông dân, thợ thủ công, dịch vụ, thơng nghiệp. họ tự bỏ vốn ra
để sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh của mình.

Thành phần kinh tế t bản Nhà n ớc : Là thành phần kinh tế dựa trên cơ sở Nhà n-
ớc và các nhà t bản cùng góp vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận đợc
chia theo tỷ lệ góp vốn. Đây là các hình thức doanh nghiệp: hợp tác liên doanh
giữa kinh tế Nhà nớc và kinh tế t bản t nhân trong nớc, hợp tác liên doanh giữa
kinh tế Nhà nớc và kinh tế t bản nớc ngoài.
Thành phần kinh tế t bản t nhân : Là thành phần kinh tế dựa trên chế độ t hữu t
bản chủ nghĩa. Các đơn vị kinh tế do các nhà t bản cùng nhau góp vốn để sản xuất
kinh doanh, loại hình này hoạt động theo nguyên tắc lợi nhuận chia theo tỷ lệ góp
vốn. Trách nhiệm và quyền hạn cũng căn cứ theo tỷ lệ góp vốn. Bao gồm các loại
hình doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần.
Tuy nhiên xét theo hình thức sở hữu, có thể chia thành hai khu vực
kinh tế đó là khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh:
Tài chính doanh nghiệp- 40B
3
Khu vực kinh tế quốc doanh: Là thành phần kinh tế có sự sở hữu của Nhà nớc
về t liệu sản xuất, bao gồm các đơn vị kinh tế mà toàn bộ số vốn thuộc về Nhà nớc
hoặc Nhà nớc chiếm phần chủ yếu.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh: Là thành phần kinh tế đợc phân định trên
tính chất sở hữu về t liệu sản xuất, không có sự sở hữu của Nhà nớc.
Trong nền kinh tế thị trờng, mọi thành phần kinh tế cho dù là quốc doanh hay
ngoài quốc doanh đều dợc tự do cạnh tranh bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật,
đều chịu sự chi phối, điều tiết bởi hàng loạt các qui luật của sản xuất và lu thông
hàng hoá. Thành phần kinh tế nào muốn đợc thị trờng chấp nhận thì phải căn cứ
vào hiệu quả kinh doanh của mình chứ không căn cứ đến tính sở hữu về t liệu sản
xuất.
2. Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.
Kinh tế ngoài quốc doanh bao gồm các tổ chức kinh tế sau đây:
- Hợp tác xã:Là một pháp nhân kinh doanh,là tổ chức kinh tế tự chủ do những
ngời có nhu cầu lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy
định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thểvà của từng xã viên nhằm

giúp đỡ nhau có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải
thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế của đất nớc.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là pháp nhân, là doanh nghiệp trong đó các
thành viên chỉ chịu trách nhiệm về những khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
của công ty trong phạm vi phần vốn góp vào doanh nghiệp
- Công ty cổ phần: Là pháp nhân, trong đóvốn điều lệ của công ty đợc chia
thành nhiều phần bằng nhau(cổ phần),ngời sở hữu cổ phần là cổ đông. Các cổ
đông chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty trong phạm vi phần vốn đã
góp vào doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có quyền phát
hành chứng khoán ra thị trờng để huy động vốn.
- Doanh ngiệp có vốn đầu t nớc ngoài:Bao gồm doanh nghiệp liên doanh và
doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài.
- Doanh nghiệp t nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động cuả doanh nghiệp.
- Cá nhân
- Hộ gia đình
- Tổ hợp tác
2.1. Đặc điểm của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh:
Mỗi thành phần kinh tế là một chủ thể của các quá trình kinh tế mà t cách
pháp nhân của họ đợc quy định bởi quyền sở hữu về t liệu sản xuất khác nhau.
Tài chính doanh nghiệp- 40B
4
Thứ nhất: Các thành phần kinh tế thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có
tính t hữu cao. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế này gắn
liền với quyền lợi, lợi ích cá nhân của ngời sản xuất. Chính vì đặc điểm này mà họ
luôn tập trung tối đa sức lực, tài sản, trí tuệ... để có thể mang lại lợi nhuận cao
nhất.
Thứ hai: Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh không có yếu tố sở hữu
của Nhà nớc, có nghĩa là ngời chủ sở hữu có toàn quyền quyết định hoạt động
kinh doanh của mình (theo khuôn khổ pháp luật) và tự chịu trách nhiệm về hoạt

động đó. Các thành phần này bên cạnh nguồn vốn sẵn có muốn tồn tại và phát
triển đợc trong cơ chế thị trờng thì phải "tự thân vận động" tìm kiếm các nguồn
vốn khác để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Hơn nữa đại đa số các doanh nghiệp tiến
hành sản xuất kinh doanh đều nhằm mục tiêu cuối cùng là tìm kiếm lợi nhuận.
Mục tiêu này đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh mong muốn đạt đ-
ợc bằng bất kỳ giá nào, bằng mọi thủ đoạn trong sản xuất kinh doanh. Xuất phát
từ đặc điểm này mà thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có những phơng án kinh
doanh táo bạo nhng vẫn mạo hiểm. Đôi khi vì mục tiêu lợi nhuận mà các thành
phần kinh tế này có thể xem thờng pháp luật, mang lại những hiệu quả xấu cho xã
hội nh hiện tợng làm ăn thua lỗ nh phá sản các doanh nghiệp ảnh hởng trực tiếp
đến đời sống con ngời, an ninh xã hội
Thứ ba: Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phần lớn có bộ máy sản xuất
kinh doanh năng động, gọn nhẹ, ngành nghề kinh doanh phong phú, đã tạo điều
kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế này nhanh chóng tiếp cận đợc với tiến
bộ của khoa học kỹ thuật mới.
Thứ t: Quy mô sản xuất của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thờng
nhỏ bé nên nó rất dễ dàng thích ứng với sự biến động không ngừng của nhu cầu
thị trờng và cơ chế chính sách của Nhà nớc.
Thứ năm: Với một thị trờng lao động lớn, là một thành phần kinh tế năng
động, lợi ích của ngời sản xuất đợc chú trọng nên các thành phần kinh tế này rất
dễ dàng tận dụng đợc kinh nghiệm làm ăn, truyền thống sản xuất của ngời lao
động. Hơn nữa nó đợc thừa hởng thành quả và phù hợp với xu thế phát triển của
các đơn vị kinh tế trên thế giới thông qua hoạt động liên doanh liên kết đầu t với
nớc ngoài. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh phát triển mạnh mẽ.
Đây là một số những đặc điểm cơ bản của thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh. Để các thành phần có thể phát huy đợc mọi tiềm năng vô tận của mình, có
những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp phát triển phát triển toàn diện xã hội
Tài chính doanh nghiệp- 40B
5

thì đòi hỏi Nhà nớc phải có một chính sách và một môi trờng thuận lợi cho khu
vực kinh tế này phát triển.
2.2.Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh trong nền kinh tế thị trờng:
Sự ra đời của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là một bớc ngoặt quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế, nó tạo ra một cơ chế mà ở đó năng lực con ng ời
đợc giải phóng và có điều kiện phát huy mạnh mẽ. Mỗi con ngời đều phải vơn lên
để tồn tại và tự khẳng định mình. Đây là một động lực lớn thúc đẩy xã hội phát
triển. Trên cơ sở pháp lý của các mối quan hệ kinh tế bình đẳng tự chủ, tìm tòi các
nguồn lực để mục đích mang lại quyền lợi lớn cho mình. Do vậy có thể khẳng
định sự tồn tại của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là tất yếu khách quan, phù
hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế và phù hợp với nhu cầu con ngời. Vai trò
không thể thiếu của kinh tế ngoài quốc doanh đợc biểu hiện trên các khía cạnh
sau:
Một là: Kinh tế ngoài quốc doanh góp phần tập trung vốn của xã hội:
Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nhỏ nhng rất năng động nên dễ dàng
đón đầu và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới. Trong điều kiện cạnh
tranh quyết liệt nh hiện nay thì việc đầu t mở rộng sản xuất cũng nh đổi mới trang
thiết bị quy trình sản xuất kinh doanh là vấn đề sống còn đối với cả các doanh
nghiệp quốc doanh và đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Thông qua
các hoạt động tích tụ tập trung vốn, tái đầu t vào sản xuất, kinh tế ngoài quốc
doanh đã góp phần thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển và tạo điều kiện thực hiện
phân công lao động xã hội.
Hai là: Kinh tế ngoài quốc doanh giải phóng mọi năng lực sản xuất và là đối
tác cạnh tranh của các thành phần kinh tế quốc doanh.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, kinh tế ngoài quốc doanh luôn tập trung
cao độ tinh thần làm việc, phát huy mọi khả năng sẵn có của mình cả về trí thức
và vật lực để đem lại hiệu quả sản xuất cao nhất. Vì hiệu quả hoạt động của khu
vực này gắn liền với quyền lợi của chính bản thân mình. Chính đặc điểm t hữu cao
đó mà khu vực kinh tế ngoài quốc doanh rất năng động linh hoạt trong sản xuất,
tìm kiếm bạn hàng mới, tìm hớng sản xuất kịp thời phù hợp với nhu cầu của thị tr-

ờng. Đồng thời khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, kinh tế quốc doanh không
còn giữ vai trò độc quyền nh thời bao cấp. Nếu các doanh nghiệp kinh tế quốc
doanh không năng động, mạnh dạn đổi mới thì sẽ bị cơ chế thị trờng đào thải. Do
đó kinh tế ngoài quốc doanh trở thành một đối thủ cạnh tranh đáng gờm của khu
vực kinh tế quốc doanh trên trờng đua của nền kinh tế thị trờng.
Ba là: Kinh tế ngoài quốc doanh góp phần quan trọng trong việc tăng GDP.
Tài chính doanh nghiệp- 40B
6
Kinh tế ngoài quốc doanh có mặt hầu hết trong các ngành kinh tế nông nghiệp,
công nghiệp, thơng mại, dịch vụ, giao thông vận tải. Trong những năm qua kinh tế
ngoài quốc doanh không chỉ đáp ứng ngày một nhiều hơn nhu cầu tiêu dùng trong
nớc, góp phần tạo thế cân đối quỹ hàng hoá trong các địa phơng, trong cả nớc mà
còn là nguồn lực chính tạo ra sản phẩm xuất khẩu tăng nguồn thu ngoại tệ cho
một quốc gia.
Bốn là:Kinh tế ngoài quốc doanh tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nớc.
Thuế là nguồn thu chính của Ngân sách Nhà nớc của một quốc gia, nguồn thu
này đợc dùng để đầu t vào các ngành kinh tế mũi nhọn hoặc xây dựng cơ sở hạ
tầng, hoặc giúp đỡ, hỗ trợ một số ngành yếu kém. Nguồn thu này do các tổ chức
kinh tế trong quốc gia thực hiện nghĩa vụ công dân của mình,trong đó có thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh. Trong điều kiện xã hội ngày càng phát triển, nhu
cầu của mọi ngời về mọi mặt sinh hoạt, đi lại, giải trí không ngừng tăng lên. Để
thoả mãn nhu cầu của con ngời, phục vụ lợi ích cho con ngời,mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh đều đợc mở rộng và phát triển. Do đó khả năng đóng góp của khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh cho Ngân sách Nhà nớc sẽ ngày một tăng. Từ đó
góp phần giảm bớt sự mất cân đối trong thu chi Ngân sách Nhà nớc tạo điều kiện
cho Ngân sách Nhà nớc tái đầu t hơn nữa vào sản xuất cũng nh các công trình
phúc lợi, nâng cao đời sống của các tổ chức dân c, phát huy vai trò quản lý vĩ mô
của mình trong cơ chế thị trờng.
Năm là: Kinh tế ngoài quốc doanh đã và đang giải quyết một vấn đề nan giải
đó là các vấn đề công ăn việc làm trong lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần

từng bớc thay đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả lao động cho xã hội. Từ đó
cũng góp một phần cho xã hội ổn định và văn minh hơn.
Hiện nay, một vấn đề đang đợc Đảng, Nhà nớc và mọi ngành mọi cấp quan
tâm đó là vấn đề việc làm trong lao động. Nớc ta có một thị trờng lao động rộng
lớn, số lợng đông đảo, trong năm có khoảng 1,5 triệu ngời đến tuổi lao động vẫn
không có việc làm, đó là cha kể đến số ngời dôi d trong các doanh nghiệp, cơ
quan Nhà nớc, rồi nhiều lĩnh vực khác sẽ tăng thêm lợng d thừa trong xã hội. Nh-
ng với sự phát triển không ngừng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã giải
quyết một lực lợng lao động rất lớn cho xã hội cụ thể năm 1997 thu hút 66.000
lao động. Thông qua đa dạng hoá các ngành nghề kinh doanh, kinh tế ngoài quốc
doanh góp phần tổ chức lại cơ cấu lao động, nâng cao hiệu quả lao động cho xã
hội. Từ đó cũng góp một phần cho xã hội ổn định và văn minh hơn.
Sáu là: Kinh tế ngoài quốc doanh trở thành một thị trờng vốn tín dụng rộng
lớn và đầy tiềm năng cho sự phát triển của ngành Ngân hàng.
Tài chính doanh nghiệp- 40B
7
Kinh tế ngoài quốc doanh là một khu vực kinh tế rộng lớn, quan trọng trong
thể thống nhất của nền kinh tế. Nó trở thành một thị trờng đầy tiềm năng cần đợc
khai thác của các ngành Ngân hàng:
Kinh tế ngoài quốc doanh là một khu vực kinh tế rộng lớn, quan trọng trong
thể thống nhất của nền kinh tế. Nó trở thành một thị trờng đầy tiềm năng cần đợc
khai thác của các ngành Ngân hàng. Vì theo dự đoán của các ngành kinh tế Việt
Nam và nớc ngoài nếu tốc độ tăng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nhanh
hơn khu vực kinh tế quốc doanh bình quân 1% năm thì xu hớng biến động về tỷ
trọng của các thành phần kinh tế trong cơ cấu tổng sản phẩm nớc ta trong 15 đến
20 năm tới sẽ nh sau: Kinh tế quốc doanh chiếm 10%, còn kinh tế ngoài quốc
doanh chiếm 90%.
Tóm lại: Định hớng phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của
Đảng đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có điều kiện
tồn tại, hoạt động và phát triển. Sau hơn 13 năm đổi mới, khu vực kinh tế này đã

thể hiện rõ vị trí của mình và ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Nó tồn tại và phát triển tốt là dựa trên những điều kiện khá thuận lợi nh: cơ chế,
chính sách của Đảng và Nhà nớc...Nhà nớc cũng luôn cố gắng tạo ra một môi tr-
ờng pháp lý bình đẳng tự chủ trong kinh doanh để các doanh nghiệp có điều kiện
vơn lên. Tuy nhiên, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cũng phải đơng đầu
với những khó khăn rất lớn là các thành phần kinh tế này mới đợc hình thành và
phát triển nên cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn lạc hậu,quy mô còn nhỏ. Hơn
nữa trình độ quản lý tổ chức của các thành viên trong khu vực này còn cha cao.
Do vậy, để có thể đứng vững và phát huy đợc vai trò của mình, kinh tế ngoài quốc
doanh cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nớc về nhiều mặt nh cơ chế chính sách, thuế,
công nghệ. ..và đặc biệt là vốn. Tình trạng chung rất phổ biến ở khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh là thiếu vốn sản xuất kinh doanh do vốn tự có còn quá nhỏ bé,
phải tự tìm kiếm từ các nguồn vốn bên ngoài với một chi phí lớn và không ổn
định. Nguồn vốn chính mà kinh tế ngoài quốc doanh nên tiếp cận là nguồn vay từ
Ngân hàng.
II. tín dụng NGÂN HàNG thơng mại Và chất lợng tín dụng Ngân
hàng:
1.Khái niệm chung về tín dụng:
Danh từ tín dụng (credit) dùng để chỉ một số hành vi kinh tế rất phức tạp, nh:
bán chịu hàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác, phát hành giấy bạc.
Trong mỗi một hành vi tín dụng vừa nói, chúng ta thấy hai bên cam kết với
mhau nh sau:
Tài chính doanh nghiệp- 40B
8
- Một bên thì trao ngay một số hàng hoá hay tiền bạc.
- Còn bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của số hàng hoá đó trong
một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định.
Một nhà kinh tế Pháp đã định nghĩa tín dụng nh là một sự trao đổi hàng hoá
hiện tại lấy một hàng hoá trong tơng lai. ở đây, chúng ta thấy yếu tố thời gian đã
xen vào và cũng vì có sự xen lẫn đó, cho nên có thể sự bất trắc rủi ro xảy ra và cần

có sự tín nhiệm của hai bên đơng sự đối với nhau. Hai bên đơng sự dựa vào sự tín
nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau nên mới có danh từ tín dụng. Hiện nay, tồn
tại các hình thức tín dụng chủ yếu sau đây: Tín dụng Ngân hàng, tín dụng Nhà n-
ớc, tín dụng quốc tế, tín dụng thơng mại.
Những hành vi tín dụng có thể do bất cứ ai, chẳng hạn hai ngời thờng cho nhau
vay tiền. Tuy nhiên, với thời gian, chúng ta thấy một sự chuyên nghiệp đã xảy ra,
và ngày nay khi nói đến tín dụng ta nghĩ ngay đến các Ngân hàng, vì các cơ quan
này chuyên làm các việc cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, ký thác và có cả phát hành
giấy bạc nữa.
2. Tín dụng Ngân hàng thơng mại và chất lợng tín dụng Ngân hàng:
2.1.Khái niệm Ngân hàng thơng mại.
Trong Luật các tổ chức tín dụng có ghi: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín
dụng đợc thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động khác có liên
quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình Ngân hàng bao gồm:
Ngân hàng thơng mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu t, Ngân hàng chính
sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác.
Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng
với nội dung thờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng
và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Nh vậy, Ngân hàng thơng mại là một tổ chức kinh doanh mà hoạt động chủ
yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng. Trách nhiệm đầu tiên là phải
hoàn trả số tiền đó và phải sử dụng số tiền đó để đầu t, cho vay, để chiết khấu, để
làm phơng tiện thanh toán.
Các hoạt động của một Ngân hàng thơng mại đợc phân thành 3 hoạt động
cơ bản sau:
a)Hoạt động tạo lập vốn kinh doanh:
Bao gồm tất cả các hoạt động bên tài sản nợ của Ngân hàng thơng mại:
- Vốn tiền gửi: Là số tiền khách hàng gửi Ngân hàng dới hình thức tiền gửi
không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền
gửi đợc hởng lãi hoặc không đợc hởng lãi và phải đợc hoàn trả cho ngời gửi tiền.

Tài chính doanh nghiệp- 40B
9
+ Tiền gửi của các tổ chức kinh tế gồm các khoản tiền gửi vào Ngân hàng có
thời hạn và không kỳ hạn.
Tiền gửi không kỳ hạn là số tiền mà ngời gửi có thể gửi vào và rút ra một cách
linh hoạt không có cam kết trớc về kỳ hạn. Nhng cần phải phân biệt tiền gửi
không kỳ hạn và tiền gửi tạm thời. Tiền gửi tạm thời là số tiền gửi "qua đêm hay
trong một ngày". Loại tiền gửi không kỳ hạn thờng đợc tính lãi suất rất thấp. Đặc
trng của nguồn vốn này với Ngân hàng thơng mại là biến động thờng xuyên và
đây là nguồn vốn quan trọng đối với kinh doanh Ngân hàng.
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi có nguyên tắc ngời gửi chỉ đợc rút ra khi
đến kỳ hạn thanh toán đã thoả thuận (trừ trờng hợp đặc biệt). Đây là nguồn vốn t-
ơng đối ổn định, phù hợp với yêu cầu cho vay có kỳ hạn của Ngân hàng thơng
mại.
+ Tiền gửi dân c: Gồm tiền gửi tiết kiệm (có kỳ hạn, không kỳ hạn).
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi: Trái phiếu Ngân hàng, kỳ phiếu, chứng từ có
giá là nguồn vốn Ngân hàng nhận đợc bằng việc phát hành các chứng chỉ tiền gửi.
- Vay Ngân hàng Trung ơng hoặc các Ngân hàng khác, đây là khoản vốn Ngân
hàng tìm kiếm trên thị trờng liên Ngân hàng từ Ngân hàng Trung ơng hoặc các tổ
chức tín dụng khác. Nó đợc sử dụng chủ yếu để hỗ trợ cho khả năng thanh toán và
bổ sung vốn tín dụng ngắn hạn.
- Nguồn vốn tự có: Nguồn vốn tự có của một Ngân hàng thơng mại bao gồm
toàn bộ các nguồn: Vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và các quỹ khác.Vốn điều lệ là số
vốn đầu t ban đầu khi thành lập Ngân hàng và đợc ghi rõ trong điều lệ hoạt động
của Ngân hàng thơng mại. Vốn này chủ yếu dùng để mua sắm bất động sản, trang
thiết bị cho hoạt động của Ngân hàng, ngoài ra còn đợc dùng để góp vốn liên
doanh, cho vay, mua cổ phần của các công ty khác....Ngoài vốn điều lệ, Ngân
hàng thơng mại còn có các quỹ dự trữ Ngân hàng, quỹ phát triển kỹ thuật, quỹ
khấu hao tài sản cố định, quỹ bảo toàn vốn, quỹ phúc lợi... Nguồn vốn tự có của
một Ngân hàng thơng mại chiếm tỷ trọng nhỏ trọng tổng số nguồn vốn hoạt động

kinh doanh của nó nhng lại là một nguồn vốn rất quan trọng, vì nó cho thấy đợc
thực lực quy mô của Ngân hàng và vì nó là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác,
là vốn khởi đầu tạo uy tín của Ngân hàng đối với khách hàng.
- Ngoài ra các Ngân hàng còn có các nguồn khác: Nguồn vốn tiếp nhận qua uỷ
thác đầu t. Nguồn này nảy sinh khi tổ chức nào đó nhờ Ngân hàng quản lý giúp,
đầu t tài chính, nguốn vốn này không có thờng xuyên và không phải Ngân hàng
nào cũng có.
b. Hoạt động sử dụng vốn kinh doanh của Ngân hàng thơng mại
Tài chính doanh nghiệp- 40B
10
Bao gồm tất cả các hoạt động bên phía tài sản có, gồm các hoạt động bảo đảm
khả năng thanh khoản của Ngân hàng, hoạt động đầu t cho vay tạo lợi nhuận.
Trong đó, hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu.
Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn
vốn huy động để cấp tín dụng. Một tổ chức tín dụng đợc cấp tín dụng (thoả thuận
để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả) cho các tổ
chức, cá nhân dới các hình thức cho vay, chiết khấu thơng phiếu và giấy tờ có giá
khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác.
Nguồn vốn huy động của các Ngân hàng thơng mại là nguồn vốn chiếm tỷ
trọng lớn, nguồn vốn chủ yếu để Ngân hàng cấp tín dụng đã đợc trình bày trong
phần hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thơng mại.
c. Hoạt động dịch vụ trung gian:
Ngân hàng thơng mại thực hiện các dịch vụ theo yêu cầu cuả khách hàng.
Thông qua dịch vụ đó Ngân hàng nhận đợc hoa hồng hoặc thu phí.
Hoạt động này bao gồm một số nghiệp vụ sau:
- Nghiệp vụ trung gian thanh toán: Là những nghiệp vụ Ngân hàng thực hiện
theo sự uỷ nhiệm của khách hàng và đợc nhận một khoản thu nhập về việc làm
trung gian đó. Nghiệp vụ này bao gồm: Thanh toán hộ, chuyển tiền hộ, uỷ thác tài
sản. Trên cơ sở khách hàng gửi tiền cho Ngân hàng, uỷ thác Ngân hàng thanh
toán hộ và trả hộ.

- Nghiệp vụ đầu t: Là loại hoạt động trong đó Ngân hàng bỏ vốn để nắm giữ
các chứng khoán có giá với mục đích trợ giúp cho khả năng thanh toán, đa dạng
hoá việc sử dụng vốn và tăng thêm lãi cho Ngân hàng.
- Nghiệp vụ bảo lãnh: Là nghiệp vụ mà Ngân hàng cam kết trả tiền thay cho
ngời đợc bảo lãnh nếu ngời này không thực hiện đúng và đủ nghĩa vụ đã thoả
thuận với ngời yêu cầu bảo lãnh.
- Các nghiệp vụ khác...
Đây là một số nghiệp vụ kinh doanh cơ bản của hệ thống Ngân hàng thơng
mại hiện nay. Có thể nói nó chỉ phát triển đầy đủ trong điều kiện của một nền
kinh tế thị trờng phát triển. Hiệu quả hoạt động của các nghiệp vụ này quyết định
hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng.
2.2. tín dụng ngân hàng và chất lợng tín dụng ngân hàng:
2.2.1) tín dụng ngân hàng
a) Khái niệm tín dụng ngân hàng:
Tài chính doanh nghiệp- 40B
11
Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh
tế xã hội khác nhau. Cho đến nay cha có sự thống nhất trong việc đa ra một khái
niệm đầy đủ về tín dụng.
Tuỳ theo cách tiếp cận, tuỳ theo mức độ quan tâm của từng đối tợng mà có
cách hiểu khác nhau. Chẳng hạn theo quan niệm truyền thống, tín dụng là một
ngành kinh tế trong đó một ngời là tổ chức kinh tế chuyển cho ngời khác hoặc tổ
chức khác quyền sử dụng một lợng giá trị hoặc vật giá trị nào đó với điều kiện đợc
hai bên thoả thuận trớc. Còn đứng về phơng diện nghiệp vụ thì tín dụng là một
hoạt động, trong đó một ngời đa vốn hoặc hứa đa vốn cho ngời khác sử dụng hoặc
cam kết bằng chữ ký cho ngời này nhng bảo đảm, bảo chứng hay bảo lãnh có thu
tiền.... Dù đứng trên phơng diện nào thì chúng ta đều hiểu tín dụng là phạm trù
kinh tế, phản ánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau qua các tác nhân và thể nhân
trong nền kinh tế hàng hoá.
Quan hệ tín dụng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, tuỳ theo

từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội. Qua mỗi thời kỳ phát sinh những quan hệ
tín dụng phù hợp với nó và ngày càng đa dạng hoá.
Cùng với sự phát triển kinh tế hàng hoá, nhu cầu vốn của xã hội ngày càng
tăng thì tín dụng Ngân hàng đã ra đời. tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng
một bên là Ngân hàng còn bên kia là các tác nhân và thể nhân trong nền kinh tế.
Tín dụng Ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trờng
và nó luôn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt và kịp thời.
Thông thờng quá trình vận động của tín dụng Ngân hàng trải qua 3 giai đoạn:
- Phân phối tín dụng dới hình thứ cho vay: ở giai đoạn này vốn tiền tệ đợc
chuyển từ Ngân hàng sang ngời đi vay. Đây là đặc điểm khác với mua bán hàng
hoá thông thờng bởi vì trong quan hệ mua bán hàng hoá thì giá trị chỉ thay đổi
hình thái tồn tại.
- Sử dụng vốn trong quá trình sản xuất: Sau khi đã nhận đợc khoản vay từ
Ngân hàng, ngời đi vay có quyền sử dụng lợng giá trị đó để thoả mãn một mục
đích nhất định. ở giai đoạn này vốn đựơc sử dụng vào trong quá trình mua bán
hàng hoá, vật t, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị... để phục vụ cho sản xuất. Tuy
nhiên ngời đi vay không có quyền sở hữu lợng giá trị này mà phải hoàn trả trong
một thời gian nhất định.
- Hoàn trả tín dụng: Là giai đoạn kết thúc của chu kỳ tín dụng. Sau khi vốn đ-
ợc sử dụng vào việc thực hiện một chu kỳ sản xuất.
Tín dụng Ngân hàng thể hiện những u thế hơn hẳn của mình so với các hình
thức tín dụng khác dựa trên những đặc điểm của tín dụng Ngân hàng.Cụ thể:
Tài chính doanh nghiệp- 40B
12
- Huy động vốn và cho vay đều đợc thực hiện dới hình thức tiền tệ. Do đó
nguồn vốn mà Ngân hàng sử dụng thông qua hoạt động tín dụng là rất lớn.
- Các Ngân hàng đóng vai trò là trung gian trong quá trình huy động vốn và
cho vay.
- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng Ngân hàng độc lập tơng đối
với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội.

b)Tính chất pháp lý của các nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng:
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng một bên là Ngân hàng, còn bên kia là
các tác nhân trong nền kinh tế: Các đơn vị kinh tế, các cơ quan Nhà nớc, các tổ
chức xã hội và các tầng lớp dân c. Trong nền kinh tế thị trờng, tín dụng Ngân
hàng giữ một vai trò hết sức quan trọng và đối với Ngân hàng thì nghiệp vụ tín
dụng là nghiệp vụ chính yếu. Tất cả các nghiệp vụ khác của Ngân hàng đều bổ
xung cho nghiệp vụ tín dụng và đây là nghiệp vụ quyết định sự phát triển và tồn
tại của Ngân hàng. ở các nớc có nền kinh tế thị trờng, những tổ chức tài chính
làm môi giới nh vậy có nhiều, bao gồm các Ngân hàng thơng mại, các công ty tài
chính, các hợp tác xã tín dụng... nhng nhiều nhất và rộng nhất vẫn là các Ngân
hàng thơng mại.
Tín dụng Ngân hàng là một khái niệm kinh tế hơn là pháp lý, các hành vi tín
dụng có cùng một logic kinh tế: hứng chịu rủi ro cho một ngời mà Ngân hàng đã
tin tởng ứng vốn cho vay, nhng nó không chỉ gồm một giao dịch về pháp lý, mà
nhiều loại (cho vay, bảo lãnh, bảo chứng...). Luật Ngân hàng các nớc định nghĩa
tín dụng nh sau: Nghiệp vụ tín dụng bất cứ động tác nào, qua đó một ngời đa
hoặc hứa đa vốn cho một ngời khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho ngời này
nh bảo đảm, bảo chứng hay bảo lãnh mà có thu tiền. Định nghĩa này nêu ra 3 tr-
ờng hợp:
- Trờng hợp 1:Cho vay tiền
Nh vậy nghiệp vụ tín dụng xuất hiện khi một ngời ứng vốn cho một ngời khác
để đợc hoàn trả về sau. Đó chủ yếu là trờng hợp cho vay tiền. Trong trờng hợp này
tín dụng thờng mang hình thức một hợp đồng cho vay tiền
Cho vay tiền là hợp đồng qua đó ngời cho vay cam kết giao cho ngời vay một
khoản tiền và ngời vay cam kết hoàn trả ngời cho vay khoản tiền tơng ứng với số
tiền đã vay(vốn). Khoản cho vay có lãi là khoản vay khi ngời đi vay cam kết trả
thù lao cho ngời cho vay, gọi là lãi, tỷ lệ với số tiền và thời hạnvay. Tổng lãi suất
thực sự của một khoản vay là lãi suất thoả thuận cộng với mọi chi phí, thù lao hay
thủ tục phí mà ngời vay phải chịu.
Tài chính doanh nghiệp- 40B

13
Cho vay là một hình thức của cấp tín dụng. Đây là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu
của Ngân hàng thơng mại, bao gồm các loại cho vay sau:
- Cho vay ngắn hạn: Ngân hàng cho khách hàng vay ngắn hạn nhằm đáp ứng
nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống. Thời hạn cho vay đợc
xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách
hàng nhng không quá 12 tháng.
- Cho vay trung và dài hạn: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn trung dài hạn
nhằm thực hiện các dự án đầu t phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.
Thời hạn cho vay đợc xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả
năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn cho vay của Ngân hàng.
+ Thời hạn chovay trung hạn trên 1 năm đến 5 năm ( đối với các NHTM Việt
Nam) hoặc từ 1 năm đến 7 năm ( đối với các NHTM trên thế giới).
+ Thời hạn cho vay dài hạn từ 5 năm trở lên ( đối với các NHTM Việt Nam)
hoặc 7năm trở lên ( đối với các NHTM trên thế giới).
Đối với mỗi khách hàng, Ngân hàng có thể sử dụng những phơng thức cho
vay khác nhau, chẳng hạn nh:
+ Cho vay chiết khấu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn trong đó Ngân hàng mua
các chứng khoán có giá còn giá trị lu hành của các doanh nghiệp, dân c.
+ Cho vay thấu chi là một loại hình tín dụng ngắn hạn mà Ngân hàng cho vay
nhằm đảm bảo cân đối ngân quỹ hàng ngày của khách hàng. Hình thức này đợc
áp dụng đối với những khách hàng đặc biệt, có quan hệ tín dụng thờng xuyên với
Ngân hàng và có tình hình tài chính ổn định.
+ Cho vay thông thờng là phơng pháp cho vay mà Ngân hàng căn cứ vào từng
kế hoạch, từng phơng án sản xuất kinh doanh hoặc từng khâu từng loại vật t cụ thể
để phát tiền vay, đây là phơng pháp cho vay phổ biến nhất hiện nay bao gồm: cho
vay theo hạn mức và cho vay từng lần, tuỳ thuộc vào mức độ tín nhiệm của khách
hàng mà Ngân hàng có thể áp dụng.
+ Cho vay luân chuyển là phơng pháp cho vay mà việc phát tiền vay và thu nợ
căn cứ vào tình hình nhập và xuất vật t, hàng hoá cho các đơn vị vay. Đây là ph-

ơng pháp cho vay cá biệt chỉ sử dụng để cho vay vốn lu động, đối với những đơn
vị thờng xuyên phát sinh quan hệ tín dụng với Ngân hàng, có tốc độ lu chuyển
vốn nhanh. Việc cho vay đợc thực hiện trong phạm vi hạn mức tín dụng do khách
hàng và tổ chức tín dụng thoả thuận.
+ Cho vay theo dự án là loại tín dụng trung và dài hạn mà Ngân hàng thực hiện
nhằm tài trợ vốn cho khách hàng thực hiện các dự án đầu t trong đó có hai loại
Tài chính doanh nghiệp- 40B
14
cho vay đối với dự án phát triển sản xuất theo chiều sâu, đầu t xây dựng cơ bản
mới.
+ Tín dụng thuê mua là hình thức tín dụng trong đó Ngân hàng (ngời cho thuê)
chuyển giao tài sản cho ngời thuê sử dụng trong một thời gian nhất định, đổi lại
ngời thuê phải trả cho Ngân hàng một khoản tiền tơng đơng với quyền sử dụng tài
sản.
- Trờng hợp 2: Tín dụng dựa trên việc chuyển nhợng trái quyền:
Trong hình thức tín dụng dựa trên việc chuyển nhợng trái quyền này, khách
hàng là chủ một trái quyền có kỳ hạn, nhng muốn có vốn ngay lập tức, nên họ
phải yêu cầu Ngân hàng cấp cho ngay số tiền đó, trừ đi phần trả lãi. Đổi lại, họ
chuyển nhợng trái quyền cho Ngân hàng và khi đến hạn Ngân hàng sẽ đòi tiền ng-
ời thụ trái (Ngời phải trả). Đây chủ yếu là phơng thức chiết khấu thơng phiếu và
chuyển nhợng khoản cho vay nghề nghiệp.
+ Chiết khấu thơng phiếu: chiết khấu thơng phiếu đã có lịch sử hàng trăm nâm
nay, nó là một kỹ thuật cổ điển nhất về huy độngcác khoản cho vay thơng mại và
hiẹn nay nó vẫn giữ vị trí then chốt trong hoạt động Ngân hàng. Đó là một nghiệp
vụ tín dụng, qua đó Ngân hàng giao cho khách hàng một số tiền ghi trong thơng
phiếu nhận đợcmà không đợi đến hạn thanh toán nó. Việc giao nộp thơng phiếu
(Ngân hàng trở thành chủ sở hữu) thông thờng phải đem lại sự hoàn trả cho Ngân
hàng- ngời chiết khấu- khoản tiền mà họ ứng trớc: Ngời cung cấp hàng hoá hay
làm dịch vụ lập ra các thơng phiếu thể hiện số hàng đã cung cấp hoặc dich vụ đã
làm và nhợng lại cho Ngân hàng để đợc thanh toán trớc hạn và Ngân hàng sẽ chịu

trách nhiệm thu tiền ở ngời mua khi đến hạn. Đây là một công cụ tín dụng và
thanh toán mà giới kinh doanh thờng hay sử dụng, chiết khấu thơng mại là loại tín
dụng đầu tiên mag doanh nghiệp có thể xin cấp
Theo nghĩa rộng, chiết khấu là một kỹ thuật tài trợ dẫn đến việc cấp tín dụng
nhằm tái tài trợ, và với mục đích này, nó đợc thực hiện dựa trên các thơng phiếu
kỳ chuyển nhợng của ngời đi vay giao cho Ngân hàng- ngời cho vay. Kỹ thuật này
đợc sử dụng để tài trợ ngắn hạn- kể cả tín dụng để cân đối ngân quỹ cũng nh cho
các tài trợ trung và dài hạn. Nh vậy chiết khấu thơng mại bao trùm tất cả các lĩnh
vực hoạt động,trừ cam kết bằng chữ ký - và đáp ứng các nhu cầu và những thực tế
khác nhau.
Trong thực tiễn Ngân hàng, chiết khấu là nghiệp vụ qua đó Ngân hàng sở hữu
một thơng phiếu cha đến hạn hoặc một trái quyền có kỳ hạn và giao ngay số tiền
tơng ứng cho khách hàng trừ đi phần thù lao của Ngân hàng.
Tài chính doanh nghiệp- 40B
15
Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng, vì nó đem lại ngay cho khách hàng một
số tiền mà bình thờng chỉ đợc trả cho họ khi đến hạn cuả thơng phiếu.
Nhng về pháp lý, thì đó không phải là khoản cho vay, vì Ngân hàng không cho
khách hàng vay số tiền mà khách hàng sẽ trả lại cho Ngân hàng. ở đây Ngân hàng
ứng trớc trị giá của một thơng phiếu cha đến hạn và đổi lại, Ngân hàng nắm quyền
sở hữu thơng phiếu đó. Vì vậy Ngân hàng sẽ đợc trả lại khoản ứng trớc đấy bằng
cách truy đòi khi thơng phiếu đến hạn.
Chiết khấu có thể thực hiện với hối phiếu, kỳ phiếu, và thậm chí với cả séc.
+ Chuyển nhợng cáckhoản cho vay nghề nghiệp.
Bên cạnh những thuận lợi không thể phủ nhận, chiết khấu thơng phiếu còn có
bất lợi lớn là chi phí quản lý cao, mỗi thơng phiếu phải đợc quản lý một cách
riêng biêt, do vậy cần phải có những giải pháp thay thế.
Do tính chất từng phần của chiết khấu thơng mại mà những ngời sử dụng đã đi
đến thoả thuận với chính quyền là tìm kiếm những giải pháp mới để làm giảm bớt
các chi phí xử lý và giám sát các Ngân hàng, đồng thời vẫn giữ đợc những điểm

thuận lợi của chiết khấu. Điều này đã dẫn đến việc tìm kiếm sự cá thể hoá cao
nhất của tín dụng cho ngời ký phát hơn là đánh giá một cách chặt chẽ giá trị từng
thơng phiếu và xem xét phẩm chất của ngời trả tiền.
Chính vì vậymà vào năm 1967, tín dụng huy động các khoản cho vay thơng
mại đã ra đời và năm 1981 có thêm hình thức tín dụng chuyển nhợng các khoản
cho vay nghề nghiệp. Kỹ thuật này ra đời nhằm giúp cho việc chuyển nhợng cho
Ngân hàng một hay nhiều khoản cho vay nghề nghiệp với những giấy tờ tối thiểu
nhng an toàn tối đa cho Ngân hàng. Để áp dụng phơng thức này, cần phải có điều
kiện:
+ Khoản cho vay là một hành động đã hoàn thành với một ngời thứ ba trong
khi thực hành nghề nghiệp của khách hàng của Ngân hàng(ví dụ: một doanh
nghiệp cho khách hàng của họ chịu tiền hàng).
+ Việc chuyển nhợng phải đợc thực hiện cho tổ chức tín dụng trong một
nghiệp vụ tín dụng cấp cho việc hoạt động nghề nghiệp (ví dụ: mở một khoản tín
dụng ngân quỹ cho một doanh nghiệp).
Việc chuyển giao đợc thực hiện đơn giản bằng cách trao một bản kê cho Ngân
hàng, trong đó có một số chi phí bắt buộc (nhất là nêu rõ khoản(hoặc các khoản)
cho vay có bảo lãnh và ghi chú về mức độ chắc chắn theo quy ớc của ngời bảo
lãnh)
Phơng thức này nhằm thay thế cho việc ký hậu các hối phiếu trong nghiệp vụ
chiết khấu.Việc chuyển nhợng các khoản cho vay nghề nghiệp cho phép chuyển
Tài chính doanh nghiệp- 40B
16
nhợng cho Ngân hàng các trái quyền làm bảo đảm cho một khoản tín dụng mà
không cần đến các thể thức chuyển nhợng trái quyền dân sự, và cũng không cần
phải lập các giấy tờ nh chiết khấu thơng phiếu.
+ Mua uỷ nhiệm thu hay bao thanh toán:
Sự cần thiết phải hiện đại hoá chiết khấu thơng mại đợc thể hiện qua hàng loạt
các thể thức huy động hạng mục tài khoản- khách hàng
Bao thanh toán trớc hết là một công cụ cho phép doanh nghiệp huy động hạng

mục khách hàng của mình ngay từ khi lập hoá đơn. Ra đời từ thế kỷ trớc ở Hoa
Kỳ, factoring đợc Pháp hoá bằng từ bao thanh toán (affacturage) chỉ xuất
hiện vào giữa những năm 60. Đó là một kỹ thuật để huy động các trái quyền th-
ơng mại, dùng để thay thế chiết khấu đối với một số doanh nghiệp. Theo thuật
ngữ, bao thanh toán có thể đợc xác định là một hợp đồng, mà trong đó có một tổ
chức tín dụng chuyên nghiệp, gọi là factor, mua đứt các trái quyền của mgời cung
cấp(ngời bán) đối với khách hàng của họ (ngời mua).
Ngân hàng Pháp đa ra định nghĩa nh sau: Bao thanh toán là chuyển nhợng các
trái quyền thơng mại từ ngời sở hữu nó sang một tổ chức tín dụng chuyên nghiệp
chịu trách nhiệm thu nợ và đảm bảo thanh toán ngay cả trong trờng hợp ngời mắc
nợ bị phá sản. Tổ chức tín dụng này có thể thanh toán một phần hay toàn bộ số
tiền của các trái quyền đã chuyển nhợng. Do vậy, bao thanh toán vừa là một ph-
ơng thức thu nợ, vừa là một kỹ thuật phòng tránh rủi rovà cũng có thể là một ph-
ơng tiện để tài trợ cho những trái quyền.
Đợc lập ra theo quan niệm là để thay thế, bao thanh toán đặc biệt phù hợp với
các doanh nghiệp thơng mại và công nghiệp có một mạng lới khách hàng rông
khắp và sản xuất hoặc buôn bán các hàng hoá thông dụng, nó cũng thích hợp với
các doanh nghiệp làm dịch vụ và không thể sử dụng hình thức chiết khấu.
Bao thanh toán đợc các công ty chuyên nghiệp thực hiện chỉ phù hợp với một
số ít các doanh nghiệp mong muốn trút bỏ trách nhiệm về những khoản tín dụng
trong tài khoản khách hàng và việc đảm bảo thu nợ và tránh đợc rủi ro: điều
này giải thích vì sao chi phí cho nghiệp vụ này ban đầu rất cao.
- Trờng hợp 3: tín dụng qua chữ ký.
Ngoài ra tín dụng cũng có thể là kết quả của chữ ký của Ngân hàng. Trong
hình thức tín dụng này, Ngân hàng không ứng tiền ra mà chỉ cam kết sẽ trả một
khoản nợ của khách hàng trong trờng hợp khách hàng không trả đợc. tín dụng này
có nhiều dạng:
Tài chính doanh nghiệp- 40B
17
+ Bảo lãnh Ngân hàng: Đây là hình thức rất quan trọng trong thực tiễn, bởi vì

nó là điều kiện rất hay phải có để một số ngời vay mợn đợc trả chậm hoặc không
phải ký quỹ tiền đặt cọc.
+ tín dụng chấp nhận:Trong loại hình tín dụng này, Ngân hàng chấp nhận một
hối phiếu đòi tiền chính Ngân hàng, và ngay trớc khi hối phiếu đến hạn khách
hàng phải nộp trớc tiền vào Ngân hàng số tiền cần thiết để thanh toán. Nh vậy
Ngân hàng không phải chi vốn ra về nguyên tắc. Việc chấp nhận này cho phép
chủ nợ có đợc một chứng từ thanh toán bởi khả năng thanh toán của Ngân hàng đã
đứng ra chấp nhận.
c)Phân loại tín dụng Ngân hàng:
Có nhiều tiêu thức đợc dùng để phân loại tín dụng Ngân hàng thơng mại. Dới
đây ta có thể đợc phân loại theo một số tiêu thức sau đây:
- Căn cứ vào mục đích:
Có các hình thức:
+ Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thơng
mại, dịch vụ
+ Cho vay công nghiệp và thơng mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn
lu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thơng mại, dịch vụ.
+ Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nh
mua sắm các vận dụng đắt tiền, cho vay để trang trải các chi phí thông thờng của
đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
+ Thuê mua và các loại khác.
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
Có các hình thức:
+ Cho vay ngắn hạn: loại cho vay này có thời hạn dới 12 tháng và đợc sử dụng
để bù đắp sự thiếu hụt vốn lu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chỉ tiêu
ngắn hạn của cá nhân. Đối với Ngân hàng thơng mại tín dụng ngắn hạn thờng
chiếm tỷ trọng cao nhất.
+ Cho vay trung hạn: Theo quy định của Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam, cho
vay trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, còn đối với các Ngân hàng trên

thế giới là đến 7 năm. tín dụng trung hạn chủ yếu là để đầu t mua sắm tài sản cố
định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây
dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
+ Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm đối với Ngân hàng
thơng mại Việt Nam, đối với các Ngân hàng trên thế giới là trên 7 năm. tín dụng
Tài chính doanh nghiệp- 40B
18
dài hạn là loại cho vay cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn nh xây dựng nhà
ở, xây dựng các xí nghiệp mới.
- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
Có các hình thức:
+ Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc bảo lãnh của bên thứ 3, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân
khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh,có khả
năng tài chính lành mạnh thì Ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vàouy tín của
bảnn thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ bổ sung.
+ Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay đợc Ngân hàng cung ứng phải có tài sản
thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ 3. Đối với khách hàng không có uy
tín cao đối với Ngân hàng thì khi vay vốn đòi hỏi phải có đảm bảo.Sự đảm bảo
này là căn cứ pháp lý để Ngân hàng có thêm nguồn thứ hai bổ sung cho nguồn thu
nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
- Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng:
Có các hình thức:
+ Cho vay bằng tiền: là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng đợc cung
cấp bằng tiền, Đây là loại cho vay chủ yếu của Ngân hàng và đợc thực hiện bằng
kỹ thuật khác nhau nh tín dụng ứng trớc, thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả
góp.
+ Cho vay bằng tài sản: là loại cho vay rất phổ biến hiện nay. Riêng đối với
Ngân hàng, hình thức cho vay bằng tài sản đợc áp dụng phổ biến đó là tài trợ thuê
mua. Theo phơng thức cho vay này Ngân hàng hoặc công ty thuê mau cung cấp

trực tiếp tài sản cho ngơì đi vay đợc gọi là ngời đi thuê và theo định kì ngời đi
thuê hoàn trả nợ vay bao gồm cả lãi và vốn gốc.
- Căn cứ vào phơng pháp hoàn trả:
Có các hình thức:
+ Cho vay trả góp: là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả đủ gốc và lãi
theo định kì. Loại cho vay này đợc áp dụng chủ yếu trong cho vay bất động sản
nhà ở, cho vay tiêu dùng đối với những ngời kinh doanh nhỏ, cho vay trang thiết
bị kỹ thuật trong công nghiệp. Thông thờng có 4 phơng pháp trả góp sau:
Phơng pháp cộng thêm
Phơng pháp trả vốn gốc bằng nhau và lãi trả định kì theo số d vào cuối quý.
Phơng pháp trả vốn gốc bằng nhau và trả lãi tính trên mức hoàn trả vốn
gốc.
Phơng pháp trả vốn gốc và lãi bằng nhau trong tất cả các định kì.
Tài chính doanh nghiệp- 40B
19
+ Cho vay phi trả góp: là loại cho vay đợc thanh toán một lần theo kì hạn đã
thoả thuận.
+ Cho vay hoàn trả theo yêu cầu (áp dụng kỹ thuật thấu chi).
- Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
Có các hình thức.
+ Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho ngời có nhu cầu, đồng
thời ngời đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho Ngân hàng.
+ Cho vay gián tiếp: Khoản cho vay đợc thực hiện thông qua việc mua lại các
khế ớc hoặc chứng từ nhận nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Các
Ngân hàng cho vay gián tiếp theo các loại sau:
Chiết khấu thơng mại.
Mua lại các phiếu bán hàng tiêu dùng và các máy móc nông nghiệp trả
góp.
Mua lại các khoản nợ của doanh nghiệp (Nghiệp vụ factoring).
Ngoài các loại cho vay trên, Ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ bảo

lãnhcho khách hàng bằng uy tín của mình. Đối với nghiệp vụ này Ngân hàng
không phải cung cấp bằng tiền, nhng khi ngời đợc bảo lãnh không thực hiện đợc
nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng bảo lãnh phải thay thế thực hiện nghĩa vụ thanh
toán. Chính lý do trên loại tín dụng này còn gọi là tín dụng chữ kí. Có các loại
sau:
Tín dụng chấp nhận: là việc khách hàng phát hành một hối phiếu mà trong
đó Ngân hàng đóng vai trò là ngời thụ lệnh. Khách hàng dùng hối phiếu để
chiết khấu ở một Ngân hàng khác để nhận tiền. Trớc khi hối phiếu đến hạn
thanh toán, khách hàng phải thanh toán cho Ngân hàng thụ lệnhđể Ngân
hàng này chi trả cho Ngân hàng chiết khấu. Trong quan hệ này, Ngân hàng
không phải là ngời thiếu nợ, mà Ngân hàng cho mợn uy tín của mình để
khác h hàng vay vốn.
Tín dụng chứng từ: Ngân hàng mở tín dụng chứng từ cho k hách hàng là
nhà nhập khấu và ngời hởng thụ là nhà xuất khẩu ở nớc ngoài. Điều này có
nghĩa là Ngân hàng đã cam kết trả tiền khi nha xuất khẩu đã gửi hàng và
xuất trình các chứng từtheo các điều kiện của tín dụng th.
Bảo lãnh của Ngân hàng: trong hình thức tín dụng bằng chữ kí, bảo lãnh là
một loại tín dụng đợc áp dụng phổ biến.Để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ
trả nợ của khách hàng, Ngân hàng đứng ra bảo lãnh cho khách hàng bằng
việc đứng ra phát hành những chứng th bảo lãnh. Chứng th bảo lãnh là giấy
cam kết của Ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho ngời đợc bảo lãnh
Tài chính doanh nghiệp- 40B
20
nếu ngời này không thực hiện nghĩa vụ. Bảo lãnh Ngân hàng có các loaị
sau đây: Bảo lãnh thuế quan, bảo lãnh khoản tiền giữ lại. Bảo lãnh thanh
toán khỏan tạm ứng, bảo lãnh thực hợp đồng.
d)Vai trò tín dụng của Ngân hàng thơng mại đối với nền kinh tế:
Tín dụng Ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế:
Thứ nhất: Nói đến tín dụng là đến Ngân hàng. Hoạt động tín dụng gắn liền
với một chức năng cơ bản của Ngân hàng là điểu hoà vốn trong nền kinh tế.

Thông qua hoạt động nhận gửi và cho vay, Ngân hàng đóng vai trò là một kênh
dẫn vốn từ những ngời tạm thời thừa vốn sang những ngời có nhu cầu về vốn. Đây
cũng chính là bản chất của tài chính gián tiếp. Nếu không thông qua hoạt động tín
dụng, chẳng những Ngân hàng không thực hiện đợc chức năng của mình mà hoạt
động tài chính trên thị trờng sẽ không đạt hiệu quả nếu chỉ thông qua tài chính
trực tiếp.
Thứ hai: tín dụng luôn là mảng kinh doanh quyết định doanh thu và lợi nhuận
đôí với Ngân hàng. Tuy các Ngân hàng ngày càng có xu hớng đa dạng hoá hoạt
động của mình để hạn chế rủi ro và đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trờng, nhng
nếu làm tốt và có hiệu quả hoạt động tín dụng thì có thể đảm bảo 80% thành công
của một Ngân hàng vì hoạt động tín dụng đem lại lợi nhuận lớn hơn nhiều lần so
với các hoạt động khác của Ngân hàng.
Thứ ba: tín dụng đợc xem là cơ sở và nền tảng để Ngân hàng mở rộng hoạt
động kinh doanh của mình sang các lĩnh vực khác nh thanh toán hộ và các hoạt
động khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Có thể nói mối quan hệ của khách hàng với
Ngân hàng đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến hoạt động tín dụng. Một
phần cua nguồn vốn huy động đợc Ngân hàng sử dụng vào kinh doanh ngoại tệ
mua trái phiếu, ứng trớc thanh toán cho khách hàng hoặc thực hiện nghiệp vụ bảo
lãnh... ít có dịch vụ nào mà Ngân hàng cung cấp lại không liên quan đến tín dụng.
Quan hệ tín dụng rộng rãi với khách hàng sẽ giúp cho Ngân hàng nắm sát đợc nhu
cầu thực tế của khách hàng đối với các sản phẩm, dịch vụ mà Ngân hàng cung
ứng từ đó Ngân hàng tìm cách thoả mãn tốt nhất những nhu cầu đó để đợc lợi
nhuận cao nhất.
2.2.2.Quy mô và chất lợng tín dụng Ngân hàng:
a)Khái niệm quy mô tín dụng Ngân hàng:
Quy mô tín dụng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hoạt
động tín dụng của một Ngân hàng.
Quy mô tín dụng Ngân hàng đợc định nghĩa là tỷ phần tín dụng trong tổng tài
sản có của Ngân hàng.
Tài chính doanh nghiệp- 40B

21
Hoạt động cơ bản của một Ngân hàng thơng mại truyền thống có thể quy về
hai mảng chính là huy động vốn và sử dụng vốn, tơng ứng với nó tài sản của Ngân
hàng cũng đợc chia thành hai loại là tài sản có và tài sản nợ.
Tài sản có phản ánh nội dung sử dụng vốn của Ngân hàng. Ngày nay, hoạt
động của Ngân hàng không chỉ bó hẹp trong hoạt động tín dụng mà nó đợc mở
rộng ra nhiều hoạt động khác, nhng hoạt động tín dụng vẫn là quan trọng nhất
đối với một Ngân hàng thơng mại. Một quy mô tín dụng sẽ là một tỷ phần tín
dụng cao trong tổng tài sản có, sẽ cho Ngân hàng thu đợc khoản lợi nhuận cao vì
tín dụng là một hoạt động sinh lời chủ yếu của Ngân hàng.
b)Khái niệm chất lợng tín dụng Ngân hàng:
Chất lợng tín dụng cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
tình hình hoạt động tín dụng của Ngân hàng.
Một cách chung nhất, chất lợng tín dụng đợc hiểu là sự đáp ứng các yêu cầu
hợp lý của khách hàng có lựa chọn đồng thơì thúc đầy tăng trởng kinh tế xã hội và
đảm bảo sự tồn tại phát triển của Ngân hàng.
Cụ thể hơn, chất lợng tín dụng chính là chất lợng các món vay, đợc đánh giá là
có chất lợng tốt khi các khoản tiền đó sử dụng đúng mục đích phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả kinh tế đảm bảo trả nợ cho Ngân hàng
đúng hạnbù đắp đợc những chi phí và có lợi nhuận, cũng có nghĩa là Ngân hàng
vừa đem hiệu quả kinh tế, vừa đem lại hiệu quả xã hội.
Nếu xét từ phía Ngân hàng: Chất lợng tín dụng đợc phản ánh qua phạm vi,mức
độ giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng thực lực theo hớng tích cực của
bản thân Ngân hàng, phải đảm bảo đợc sự cạnh tranh, tuân thủ quy tắc hoàn trả
đúng hạn. Đó chính là sự gia tăng hợp lý của các chỉ tiêu nh chỉ tiêu lợi nhuận,
mức d nợ và chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn phải ở mức chấp nhận đợc đồng thời đảm
bảo mức cân đối vốn nguồn vốn ngắn hạn, trung và dài hạn.
Nếu xét theo quan điểm của khách hàng: thì chất lợng tíndụng chính là sự thoả
mãn yêu cầu của họ về mức lãi suất hợp lý, về thủ tục vay vốn đợc đơn giản...
Nếu xét từ giác độ kinh tế xã hội: Chất lợng tín dụng phải tạo ra đợc những

hiệu quả xã hội nh phục vu nhu cầu sản xuất kinh doanh thúc đẩy phát triển kinh
tế, xã hội, giải quyết đợc một phần vấn đề việc làm, tăng thêm sản phẩm cho xã
hội, góp phần tăng trởng kinh tế, huy động và khai thác các nguồn lực. ......
Qua những phân tích trên ta thấy:
- Chất lợng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp nó phản ánh mức độ thích nghi
của Ngân hàng đối với sự thay đổi của môi trờng, thể hiện sức mạnh của Ngân
hàng trong cạnh tranh.
Tài chính doanh nghiệp- 40B
22
- Chất lợng tín dụng đợc xem xét qua nhiều yếu tố nh khả năng thu hút khách
hàng, mức độ an toàn vốn tín dụng, doanh thu, chi phí, lợi nhuận...
- Chất lợng t ín dụng không tự nhiên mà có, nó là kết quả của quá trình kết hợp
hoạt động của các tổ chức vì một mục đích chung. Do đó để có chất lợng tốt thì
phải có sự quản lý khoa học chặt chẽ. Vì thế hoạt động tín dụng phải hiệu quả và
quan hệ tín dụng phải đợc thiết lập trên cơ sở sự tin cậy, uy tín.
c)Một số chỉ tiêu đánh giá quy mô và chất lợng tín dụng Ngân hàng:
- Nhóm chỉ tiêu về sử dụng vốn:
+ Tỷ trọng d nợ tín dụng trên tổng tài sản có: Chỉ tiêu này phản ánh quy mô tín
dụng cũng nh cơ cấu sử dụng vốn của Ngân hàng.
+ Tỷ lệ vốn sử dụng trên vốn huy động: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sử
dụng vốn và quy mô tín dụng của Ngân hàng. Tỷ lệ này nhìn chung càng cao càng
tốt.
+ Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng d nợ: Đây là chỉ tiêu quan trọng nó cho biết chất
lợng tín dụng của Ngân hàng cũng nh khả năng tìm kiếm của Ngân hàng.
- Nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận và lãi treo:
+ Chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên tổng tài sản: Đây là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
của hoạt động Ngân hàng nói chung. Nó đánh gía mức độ hiệu quả của sử dụng
tài sản của nhà quản lý. Bằng việc so sánh giữa chỉ tiêu này với các Ngân hàng
cùng cấp ngời ta có thể đánh giá xếp hạn chất lợng tín dụng của các Ngân hàng.
+ Lãi treo: Đây là thuật ngữ chỉ số tiền lẽ ra là nguồn thu cho Ngân hàng nhng

trên thực tế doanh nghiệp cha trả, nó phản ánh mặt trái của chất lợng tín dụng. Số
lợng và tốc độ tăng của lãi treo là một trong những dấu hiệu tiềm ẩn c ủa sự sụt
giảm chất lợng tín dụng Ngân hàng.
Trên đây là một số chỉ tiêu định lợng thờng đợc sử dụng để đánh giá quy mô
và chất lợng tín dụng Ngân hàng. Để phân tích toàn diện hơn cần thiết phải bổ
sung những chỉ tiêu định tính đợc xem nh những nhân tố ảnh hởng đến quy mô và
chất lợng tín dụng Ngân hàng.
d)Các nhân tố ảnh hởng đến quy mô và chất lợng tín dụng Ngân hàng:
Quy mô tín dụng và chất lợng tín dụng Ngân hàng là hai chỉ tiêu đợc dùng để
đánh gía tình hình hoạt động tín dụng của một Ngân hàng. Để có thể thực hiện đ-
ợc mục tiêu hoạt động của mình là tìm kiếm lợi nhuận dựa trên những hoạt động
Ngân hàng, cụ thể ở đây là hoạt động tín dụng thì mỗi Ngân hàng phải kết hợp
đồng thời hai mục tiêu là mở rộng đợc quy mô và chất lợng tín dụng phải đợc
nâng cao. Hai chỉ tiêu này không thể tách rời nhau, nó có tác dụng hỗ trợ nhau, bổ
sung cho nhau khi chúng ta phân tích và đánh giá hoạt động tín dụng của một
Tài chính doanh nghiệp- 40B
23
Ngân hàng cũng nh khi Ngân hàng muốn tìm kiếm lợi nhuận. Vì vậy, các nhân tố
ảnh hởng đến quy mô tín dụng cũng gián tiếp hay trực tiếp ảnh hởng lại đến chất
lợng tín dụng và ngợc lại. Đó là những nhân tố sau đây:
- Các nhân tố thuộc về Ngân hàng:
*Vốn của Ngân hàng
Vốn tự có của Ngân hàng bao gồm vốn pháp định, các quỹ dự trữ Ngân hàng
và các quỹ khác. Nguồn vốn này tuy chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của
Ngân hàng tham gia hoạt động kinh doanh nhng nó lại có vai trò vô cùng quan
trọng vì nó cho thấy đợc quy mô, thực lực, uy tín của Ngân hàng. Vốn tự có là
điều kiện pháp lý cơ bản đồng thời là cơ sở để Ngân hàng có thể thu hút các
nguồn vốn khác vì nó là yếu tố tài chính quan trọng nhất trong việc đảm bảo khả
năng trả nợ của Ngân hàng cho các khách hàng. Chính vì vậy, quy mô vốn tự có là
yếu tố quyết định đến quy mô huy động vốn và quy mô tài sản có. Vốn tự có càng

lớn sức chịu đựng của Ngân hàng càng cao. Khi một Ngân hàng có vốn tự có lớn
cũng có nghĩa là Ngân hàng đó có đủ khả năng tự trang bị các trang thiết bị cho
hoạt động Ngân hàng những thiết bị tiên tiến nhất, giúp các công việc nh thẩm
định khách hàng và dự án vay vón có độ chính xác cao, trực tiếp ảnh hởng đến
chất lợng tín dụng.
* Chính sách tín dụng:
Yếu tố tiếp theo phải đề cập đến là chính sách tín dụng của Ngân hàng. Chính
sách tín dụng là kim chỉ nam đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng quỹ đạo.
Do đó việc hoạch định chính sách tín dụng có ý nghĩa quyết định đến sự thành
công hay thất bại đối với mỗi Ngân hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn thu
hút đợc nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng trên
cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ đờng lối của Ngân hàng Nhà nớc đảm bảo công
bằng xã hội, bất kỳ một Ngân hàng nào muốn nâng cao hiệu quả của mình thì
phải có chính sách tín dụng kịp thời, hợp lý với điều kiện cụ thể của Ngân hàng.
Chính sách tín dụng tác động đến quy mô tín dụng và chất lợng tín dụng thông
qua mục tiêu của Ngân hàng trong từng giai đoạn cụ thể của Ngân hàng có thể u
tiên quy mô tín dụng hay là u tiên đến chất lợng tín dụng hơn hoặc dung hoà cả
hai mục tiêu.
*Uy tín của Ngân hàng:
Uy tín của Ngân hàng trong những hoạt động quá khứ và chất lợng của các
hoạt động hiện tại là một nhân tố tác động đến mở rộng quy mô tín dụng trong t-
ơng lai, bởi vì tín dụng là một hoạt động dựa trên cơ sở sự tin tởng nhau.
Tài chính doanh nghiệp- 40B
24
Muốn mở rộng quy mô tín dụng thì mỗi Ngân hàng phải chứng minh chất
lựơng tín dụng của Ngân hàng mình là tốt, hiệu quả hoạt động của Ngân hàng
đảm bảo. Không những thế Ngân hàng phải kết hợp với chiến lợc marketing hiệu
quả trong con mắt khách hàng.
* Quy trình cho vay:
Quy trình cho vay bắt đầu từ khi tiếp nhận hồ sơ xin vay của khách hàng đến

khi thu hồi nợ vay. Việc thực hiện quy trình này nh thế nào sẽ ảnh hởng trực tiếp
đến hiệu quả của khoản vay đó. Quy trình cho vay gồm rất nhiều khâu, nếu không
đợc chấp hành một cách đúng đắn, chính xác nhịp nhàng thì rất dễ xảy ra rủi ro
gây thất thoát vốn của Ngân hàng, mặt khác quy trình này phải đảm bảo tính
thuận tiện, gọn nhẹ, không gây khó khăn, mất thời gian cho khách hàng thì mới
thu hút đợc đông đảo khách hàng đến vay vốn.
Trong quy trình cho vay một khâu đặc biệt quan trọng quyết định chính đến
hiệu quả công tác cho vay đó chính là khâu thẩm định.Công việc này cần tiến
hành một cách chặt chẽ, xác thực và toàn diện. Cán bộ tín dụng khi tiến hành
thẩm định không chỉ thu thập thông tin phân tích mà phải đi vào thực tế kiểm tra.
Kết quả của công tác thẩm định để đa ra quyết định có nên cho vay hay không.
Nếu kết quả thẩm định càng chính xác bao nhiêu thì hiệu quả cho vay càng cao
bấy nhiêu. Đi đôi với việc mở rộng cho vay Ngân hàng cần phải nâng cao chất l-
ợng thẩm định.
Hiệu quả hoạt động cho vay còn phụ thuộc vào công tác kiểm tra. Cán bộ tín
dụng không chỉ thực hiện việc kiểm tra trớc khi cho vay mà diễn ra trong suốt quá
trình cho vay và thu nợ. Vì chỉ có kiểm tra trớc, trong và sau khi phát tiền vay thì
Ngân hàng mới có thể nắm chắc đợc mình cho vay có đúng đối tợng không, khách
hàng sử dụng vốn vay có đúng mục đích không và hiệu quả vốn vay nh thế nào.
Thông qua kiểm tra Ngân hàng có thể đảm bảo khoản vay nh mong muốn và đồng
thời có những biện pháp kịp thời khi phát hiện những sai trái bất hợp pháp, Đó là
biện pháp ngăn ngừa, hạn chế rủi ro có thể xảy ra góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động cho vay của Ngân hàng.
Việc xác định thu nợ gốc và lãi của Ngân hàng cho từng đối tợng khách hàng
là rất quan trọng, vì hiệu quả đợc đánh giá trên kết quả thu đợc. Đối với các doanh
nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp ngoài quốc doanh chu kỳ sản xuất kinh doanh th-
ờng hay biến động, có thể vì một lý do nào đó mà khách hàng cha muốn trả nợ,
cha tìm đợc nguồn trả nợ. Do vậy nếu Ngân hàng không thu nợ kịp thời hay xác
định kỳ hạn trả nợ không hợp lý có thể dẫn đến nợ quá hạn gia tăng, mất khả năng
thu đợc nợ sẽ làm ảnh hởng đến hiệu quả khoản vay của Ngân hàng. Nếu khi xuất

Tài chính doanh nghiệp- 40B
25

×