Tải bản đầy đủ (.doc) (98 trang)

Biện pháp kiểm tra hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THCS Thành Vĩnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (473.59 KB, 98 trang )

LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn thầy giáo, cô giáo, cán bộ và nhân viên
Học viện Quản lý Giáo dục đã tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả trong quá trình
học tập cũng như nghiên cứu đề tài này.
Tác giả xin cảm ơn Ban giám hiệu, cán bộ, giáo viên và các em học
sinh của trường THCS Thành Vĩnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh thuộc
diện khảo sát thực trạng của đề tài đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tác
giả trong quá trình khảo sát, thu thập số liệu, nghiên cứu hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với những người thân trong
gia đình, đối với bạn bè đã kịp thời cổ vũ, động viên, giúp đỡ mọi mặt để tác
giả chuyên tâm học tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn
Công Giáp đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để tác giả hoàn thành bản luận
văn.
Dù đã có nhiều cố gắng song chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi
những thiếu sót, hạn chế. Tác giả kính mong nhận được những ý kiến đóng
góp của thầy giáo, cô giáo và các bạn.
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Bùi Thị Sao Băng
1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
S
TT
CHỮ VIẾT
T

T
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
1 CBQL Cán bộ quản lý
2 UBND Ủy ban nhân dân
3 CSVC Cơ sở vật chất


4 CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
5 GV Giáo viên
6 HS Học sinh
7 HT Hiệu trưởng
8 NXB Nhà xuất bản
9 PHT Phó hiệu trưởng
10 PPDH Phương pháp dạy học
11 TBDH Thiết bị dạy học
12 THCS Trung học cơ sở
13 TT Tổ trưởng
14 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
15 QL Quản lý
16 KT Kiểm tra
17 KTĐG Kiểm tra đánh giá
2
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ 3
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THCS 11
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA DẠY HỌC
CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THCS THÀNH VĨNH
HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH 37
CHƯƠNG 3 60
CÁC BIỆN PHÁP KIỂM TRA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 60

CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THCS THÀNH VĨNH 60
HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 90
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ 3
3
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THCS 11
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA DẠY HỌC
CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THCS THÀNH VĨNH
HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH 37
CHƯƠNG 3 60
CÁC BIỆN PHÁP KIỂM TRA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 60
CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THCS THÀNH VĨNH 60
HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 90
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mọi quốc gia đều coi giáo dục là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với sự

phát triển kinh tế xã hội và sự hưng thịnh của đất nước. Do vậy, trong một vài
thập kỉ gần đây, nhiều quốc gia đã và đang thực hiện những công cuộc cải tổ
về giáo dục để chuẩn bị cho thế hệ trẻ nói riêng và cho đất nước nói chung
bước sang thế kỉ XXI, thế kỉ được mệnh danh là thế kỷ của công nghệ thông
tin, thế kỉ của kinh tế tri thức, thế kỉ mà nền văn minh hậu công nghiệp sẽ tạo
nên những biến đổi có tính cách mạng trong sản xuất cũng như trong đời sống
xã hội. Một cuộc chạy đua gay gắt đang diễn ra: các nước phát triển thì nỗ lực
để có thể chiếm lĩnh vị trí hàng đầu về kinh tế, các nước đang phát triển thì
phấn đấu để khỏi tụt hậu. Trong cuộc chạy đua và cạnh tranh gay gắt này tất
yếu phải dẫn đến nhu cầu phải cải tổ hệ thống giáo dục, đặc biệt là hệ thống
đào tạo cho phù hợp với yêu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Theo các dự báo của các nhà tương lai học, thế kỉ XXI là thế kỉ của sự
bùng nổ ký diệu về trí tuệ của con người. Trí tuệ của con người đóng vai trò
quyết định đối với sự tiến bộ cũng như tốc độ phát triển của nền văn minh
nhân loại. Trong cuộc hành trình vào thế kỉ này, vấn đề nhân lực và nhân tài
là vấn đề chiến lược đối với mỗi quốc gia. Con người vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển. Giáo dục đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong
chiến lược phát triển của mỗi quốc gia trong những thập niên đầu của thế kỉ
XXI. Đối với giáo dục có thể nói “ tương lai chính là bây giờ”, phải chuẩn bị
cho lớp trẻ hiên nay như hế nào để đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển.
Việc đặt con người vào trung tâm củ sự phát triển, những vấn đề nóng
bỏng trên thế giới trong điều kiện hiện nay khiến cho giáo dục phải đi vào
thực hiện mục tiêu: “ học để biết” sang nhấn mạnh “ học để làm” học để làm
người và “ học để cùng chung sống”, đây là bốn trụ cột cơ bản của tổ chức
giáo dục thế giới, khuyến cao cho sự phát triển cơ bản, đầy đủ của giáo dục
5
vì lợi ích của mỗi cá nhân, vì tương lai của mỗi dân tộc và của tất cả các cộng
đồng trên thế giới.
Muốn đạt được mục đích cao cả trên của giáo dục, trong năm 2007-
2010 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai các giải pháp mang tính đột phá,

trong đó nhấn mạnh đến việc chăm lo đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục, nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục và đào tạo, phân
cấp và quản lý theo chất lượng tiêu chuẩn. Như vậy, công tác quản lý đóng
một vai trò quan trọn trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển giáo
dục ở nước ta.
Quản lý là hoạt động không thể thiếu trong bất kỳ lĩnh vực nào vì chính
nó quyêt định sự thành công và việc đạt mục tiêu của một tổ chức. quản lý là
một quá trình bao gồm các bước căn bản sau: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện,
kiểm tra đánh giá và điều chỉnh. Kiểm tra là một mắt xích trong chu trình đó.
Quản lý mà buông lỏng kiểm tra sẽ ảnh hưởng tiêu cực cho hoạt chung của
toàn đơn vị, đồng thời củng thể hiện sự yếu kem về năng lực của nhà quản lý.
Trong quản lý giáo dục, việc quản lý hoạt động dạy của thầy và học của trò là
một trong những nội dung thiết yếu. Thông qua kiểm tra hoạt động sư phạm
sẽ giúp cho hiệu trưởng có được những thông tin quan trọng về năng lực sư
phạm, trình độ chuyên môn, tư cách đạo đức của giáo viên cùng chất lượng
học tập, tình hình học sinh của đơn vị mà mình đang quản lý, từ đó người
hiệu trưởng sẽ có kế hoạch điều chỉnh kịp thời và hợp lý nhằm đưa đơn vị
mình đi vào hoạt động một cách ổn định và phát triển hơn.
Trong giai đoạn hiện nay của đất nước, ngành giáo dục đang thực hiện
việc đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy – học theo hướng tích
cực “lấy người học là trung tâm” và đổi mới sách giáo khoa-giáo trình. Đồng
thời các nhà quản lý giáo dục đang tập trung đang đổi mới tư duy lãnh đạo và
quản lý các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của nhà trường trong môi trường có
nhiều thay đổi, đổi mới cách suy nghĩ và hành động để trở thành người hiệu
trưởng biết phát huy và sử dụng những giá trị của mình và nhà trường cho sự
6
phát triển. Tăng cường công tác kiểm tra hoạt động dạy học nhằm đào tạo học
sinh trở thành những chủ nhân mới của đất nước biết thực hiện khát vọng đổi
mới, vươn lên. Đồng thời qua đó các nhà quản lý cũng đánh giá được năng
lực sư phạm của giáo viên để có biện pháp nâng cao tay nghề, chuẩn hoá cho

đội ngũ này và từng bước đưa đơn vị mình đạt được mục tiêu đề ra.
Hiện nay công tác kiểm tra hoạt động dạy học ở các cấp học của huyện
Cẩm Xuyên nói chung và của trường THCS Thành Vĩnh nói riêng, đang được
các cấp quan tâm chỉ đạo thực hiện theo tinh thần đổi mới. Việc đổi mới cơ
chế và phương thức quản lý giáo dục theo hướng tự chủ và tự chịu trách
nhiệm, nhằm phát huy được tiềm năng, sức sáng tạo của nhà trường. Thông
qua công tác kiểm tra đánh giá bằng các biện pháp quản lý chặt chẽ sẽ nâng
cao được chất lượng giáo dục, đạt được các mục tiêu mà ngành đề ra. Trong
công tác báo cáo tổng kết hàng năm về công tác thanh tra, kiểm tra, Phòng
giáo dục & Đào tạo huyện Cẩm Xuyên đã chỉ ra những hạn chế, tuy vậy vẫn
có trường vẫn chưa thực sự thấy rõ được tầm quan trọng của công tác kiểm tra
nội bộ trường học nên một số trường vẫn buông lỏng công tác kiểm tra, hoặc
kiểm tra, đánh giá chung chung, chiếu lệ… có những nơi còn chạy theo thành
tích đã làm thay đổi kết quả, che đậy những yếu kém, tô hồng thành tích. Điều
đó cho thấy chất lượng thực chất của một số trường chưa được khả quan. Bên
cạnh đó hoạt động này vẫn chưa được thống nhất đồng đều theo một tiêu chí
chung cho tất cả các trường nên chưa có sự đều tay khi đánh giá chất lượng
giáo dục ở mỗi trường. Chính vì vậy cần có nhận thức đúng đắn về vị trí và
tầm quan trọng của việc kiểm tra đánh giá hoạt động dạy học, có những giải
pháp tích cực để khắc phục những nhược điểm nhằm làm cho công tác này
được thuận lợi, có tác dụng thiết thực và hiệu quả hơn.
Việc kiểm tra hoạt động dạy học là vấn đề được nhiều người quan tâm,
vì đây là một trong những hoạt động chính trong hoạt động quản lý của nhà
trường. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng
dạy ở trường THCS để đề xuất những giải pháp quản lý đạt hiệu quả cao là
7
vấn đề cấp thiết cần phải được thực hiện nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
cấp học và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường hiện nay.
Từ những lý do trên, đề tài “ Biện pháp kiểm tra hoạt động dạy học
của hiệu trưởng trường THCS Thành Vĩnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà

Tĩnh” được thực hiện, để từ đó đề xuất những giải pháp cho việc quản lý hoạt
động giảng dạy ở trường THCS góp phần nâng cao chất lượng và phát triển
giáo dục đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi của xã hội đối với Giáo dục & Đào tạo
trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động dạy học ở
trường THCS Thành Vĩnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, luận văn đề xuất
các biện pháp kiểm tra của hiệu trưởng nhằm đảm bảo cho hoạt động dạy học
trong nhà trường có chất lượng và hiệu quả.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý của hiệu trưởng trong hoạt động dạy học ở trường THCS.
3.2 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động day học ở trường THCS Thành Vĩnh, huyện Cẩm Xuyên,
tỉnh Hà Tĩnh.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Giới hạn đối đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chức năng nhiệm vụ kiểm tra của hiệu
trưởng, các tổ bộ môn trong quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
4.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu công tác hoạt động dạy học trên lớp
của hiệu trưởng ở trường THCS Thành Vĩnh.
5. Giả thuyết khoa học
Hoạt động dạy học ở trường THCS Thành Vĩnh, huyện Cẩm Xuyên,
tỉnh Hà Tĩnh có những bước tiến bộ đáng kể, chất lượng giáo dục được nâng
8
lên, song vẫn còn có những hạn chế trong công tác quản lý hoạt động giảng
dạy. Nếu hiệu trưởng thực hiện những biện pháp kiểm tra phù hợp, kịp thời
thì sẽ khắc phục được những hạn chế đó và qua đó góp phần nâng cao chất
lượng dạy học.

6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Trình bày cơ sở lý luận về kiểm tra hoạt động dạy học trên lớp của
hiệu trưởng các trường THCS.
6.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng việc kiểm tra hoạt động dạy học
trên lớp của hiệu trưởng trường THCS Thành Vĩnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh
Hà Tĩnh, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu, làm rõ nguyên nhân của thực
trạng này.
6.3. Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra của hiệu trưởng
đối với hoạt động dạy học ở trường THCS Thành Vĩnh, huyện Cẩm Xuyên,
tỉnh Hà Tĩnh.
7. Phương pháp nghiên cứu.
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết :
- Tham khảo các tài liệu, văn bản của Nhà nước, của ngành; các quy
chế, điều lệ có liên quan làm cơ sở lý luận cho đề tài.
- Căn cứ vào các tài liệu, các báo cáo tổng kết năm học của trường
THCS Thành Vĩnh, các số liệu để nhận định, đánh giá về thực trạng công tác
quản lý hoạt động giảng dạy ở trường THCS, tìm ra nguyên nhân và đề ra các
giải pháp.
7.2 . Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Tiến hành điều tra CBQL và giáo viên trường THCS, Phòng Giáo dục
bằng các phương pháp:
+ Quan sát sư phạm: dự giờ, họp tổ chuyên môn, đánh giá thi đua…
+ Điều tra: trưng cầu ý kiến, điều tra bằng phiếu ( bảng hỏi dành cho
hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, học sinh).
9
+ Phỏng vấn, trò chuyện để khảo sát nguyên nhân, tham khảo giải
pháp.
7.3. Phương pháp phân tích thống kê
8. Cấu trúc luận văn: Gồm các phần :
* Mở đầu

* Nội dung
- Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra hoạt động dạy học của Hiệu
trưởng trường THCS.
- Chương 2: Thực trạng kiểm tra hoạt động dạy học của Hiệu trưởng
trường THCS Thành Vĩnh huyện Cẩm Xuyên Tỉnh Hà Tĩnh.
- Chương 3: Các biện pháp kiểm tra hoạt động dạy học của Hiệu trưởng
trường THCS Thành Vĩnh huyện Cẩm Xuyên Tỉnh Hà Tĩnh.
* Kết luận và khuyến nghị
* Danh mục các tài liệu tham khảo
* Phụ lục
10
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THCS
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong thế giới ngày nay, hầu hết các quốc gia đều nhận thấy vai trò to
lớn của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia mình. Giáo
dục là bước đầu của sự phát triển con người, là điều kiện cơ bản để hình
thành, phát triển và hoàn thiện lực lượng sản xuất của xã hội. Các nhà lãnh
đạo, các nhà nghiên cứu trên thế giới đều khẳng định rằng : Giáo dục là động
lực để phát triển kinh tế - xã hội, nguồn lực con người là tài sản quyết định
cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Nhận thấy được giáo dục là động lực để phát triển kinh tế - xã hội cho
nên trong nhiều năm qua các nước phát triển đã có chiến lược đầu từ cho giáo
dục với một tỉ lệ cao và phù hợp đã tạo ra sự thay đổi lớn lao về diện mạo
kinh tế và xã hội của đất nước như: Nhật bản: Nước được coi là “câu đố của
thế kỷ, bí hiểm nhất, kỳ lạ nhất”. Muốn nói đến nguyên nhân nào làm cho
Nhật Bản, nước bại trận sau thế chiến thứ 2(1945), lại phát triển thần tốc đến
như vậy. Đó chính là nhờ chính sách phát triển giáo dục hợp lý, kết hợp hài
hoà giữa truyền thống và hiện đại, giữa tính dân tộc và kiểu quản lý của

phương tây. Nhật Bản đã tiến hành 3 cuộc CCGD lớn : lần 1 vào năm 1872,
lần 2 từ 1945 đến những năm 1980, lần 3 từ 1980 đến nay. Theo hướng ngày
càng hoàn thiện với một mô hình tổ chức QLGD khoa học hợp lý, trình độ
GD tiên tiến, thích ứng với sự phát triển KHCN, KT-XH và việc ứng dụng
khoa học CNTT ở mức độ phổ biến trong giáo dục và QLGD các cấp .
Hàn Quốc được thế giới biết đến ở cả hai mặt: tốc độ tăng trưởng kinh
tế và sự phát triển giáo dục, là nước đạt được sự tăng trưởng về nguồn lực con
người liên tục và bền vững trong hơn 4 thập kỉ qua bởi vì, nền giáo dục ở Hàn
Quốc đã được thiết lập và mở rộng một cách vững chắc. Singapore là một
11
quốc đảo nhỏ nhất ở Đông Nam Á với diện tich 710km
2
và dân số khoản 4, 8
triệu người, nhưng nền giáo dục của Singapore đã phát triển đến trình độ cao,
đã tác động đến sự phát triển, tăng trưởng kinh tế và là một trong những nước
có mức thu nhập bình quân trên đầu người cao nhất thế giới.
Ở Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và
Nhà nước ta đã quan tâm và tạo ra sự nhận thức đúng đắn về vai trò của giáo
dục về sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị Quyết TWII,
của đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam xác định “ Cùng với khoa học
và công nghệ Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu”. bước vào thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giáo dục và đào tạo trở thành một
trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định tới tốc độ và quy mô của sự phát
triển. Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã coi giáo dục là “Quốc sách hàng
đầu” toàn xã hội đều phải có ý thức chăm lo cho giáo dục, vì giáo dục đã tạo
ra nguồn lực con người phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Trong những năm qua nhiều nhà sư phạm ở Việt Nam đã đi sâu nghiên
cứu một cách toàn diện về vai trò, vị trí, nhiệm vụ, tổ chức quá trình dạy học,
thấy được việc nâng cao chất lượng dạy học trên lớp sẽ quyết định chất lượng
dạy học trên lớp sẽ nâng cao chất lượng dạy học. Những ưu điểm và nhược

điểm của quá trình dạy học trên lớp và nhận thức đúng về bản chất của quá
trình dạy học, mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, và vai trò
của người dạy và người học, sự đổi mới hiện nay về giáo dục, đổi mới nội
dung và những biện pháp tổ chức dạy học trên lớp, trang thiết bị, cơ sở vật
chất phục vụ cho dạy và học. Dạy học là hoạt động chủ yếu trong nhà trường,
là trung tâm của hoạt động QLGD. Vì vậy, việc kiểm tra hoạt động dạy học
có vị trí vô cùng quan trọng, có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với mục tiêu nâng
cao chất lượng giáo dục. Vấn đề kiểm tra hoạt động dạy học đã được nhiều
học giả trong nước nghiên cứu sâu sắc và đưa ra những thang đánh giá về tri
thức, về kỹ năng và về thái độ phù hợp. Các tác giả như Trần Kiểm, Trần
Quốc Thành, Bùi Minh Hiền, Bùi Văn Quân…
12
Ở nước ta, khoảng hơn mười năm trở lại đây, các nhà khoa học và các
nhà QLGD đã xác định vấn đề cải cách đánh giá chất lượng và hiệu quả giáo
dục là một trọng tâm cấp bách, cần được nghiên cứu thực hiện nghiêm túc,
phải được bắt đầu từ khâu lý luận, phương pháp luận.
Công việc kiểm tra - đánh giá không phải ai cũng làm được và không
phải cơ quan nào cũng làm tốt. Vì thế ở một số nước, người ta chỉ giao nó cho
đội ngũ có năng lực. Thí dụ ở Hoa kỳ, đó là hiện tượng “đấu thầu”, uỷ thác
đánh giá hay làm dịch vụ kiểm tra Test về giáo dục (Educational testing
Examination Board).
Ở nước ta, kiểm tra hoạt động dạy học ở trường THCS là một lĩnh vực
khá rộng , do điều kiện thời gian, tập trung vào việc kiểm tra kết quả hoạt
động dạy học của giáo viên.
Quản lý hoạt động của nhà trường là công việc chính của người Hiệu
trưởng, trong quản lý, trong quản lý có 4 chức năng cơ bản đó là: Kế hoạch ,
tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Trong quản lý thì chức năng kiểm tra được xếp
thứ tự cuối cùng, nhưng nó có mối liên hệ với các chức năng khác tạo thành
một chu trình quản lý để chủ thể quản lý sử dụng thông tin như một công cụ
quản lý. Vì vậy, Kiểm tra hoạt động dạy học có thể được xem là khâu đột phá

để nâng cao chất lượng dạy học của giáo viên cũng như chất lượng học tập
của học sinh, đây là vấn đề cấp thiết đã được quan tâm nghiên cứu nhằm
nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường hiện nay.
Kiểm tra là một trong những chức năng cơ bản của quản lý. Đó là công
việc hoạt động nghiệp vụ mà người quản lý ở bất kỳ cấp nào cũng phải thực
hiện để biết rõ những kế hoạch, mục tiêu đề ra trên thực tế đã đạt được đến
đâu và như thế nào. Kiểm tra chẳng những giúp nhà quản lý thu thập thông tin
về hoạt động của đối tượng quản lý mà còn giúp nhận rõ kết quả triển khai
thực hiện kế hoạch, đánh giá kết quả cụ thể các hoạt động của mỗi cá nhân,
từng đơn vị, từ đó có các biện pháp chỉ đạo, điều hành, điều chỉnh nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý.
13
Kiểm tra nội bộ trường học là hoạt động xem xét và đánh giá các hoạt
động giáo dục, điều kiện dạy - học, giáo dục trong phạm vi nội bộ nhà trường
nhằm mục đích phát triển sự nghiệp giáo dục nói chung, phát triển nhà
trường, phát triển người giáo viên và học sinh nói riêng. Kiểm tra nội bộ
trường học gồm hai hoạt động:
* Hiệu trưởng tiến hành kiểm tra hoạt động chuyên môn của cán bộ,
giáo viên, nhân viên theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo; kiểm tra
các điều kiện đảm bảo hoạt động, việc sử dụng phương tiện phục vụ dạy học
và giáo dục trong nhà trường.
* Tự kiểm tra các hoạt động quản lý của nhà trường; kiểm tra, tự đánh
giá chất lượng hiệu quả hoạt động trường học.
Kiểm tra nội bộ trường học là khâu đặc biệt quan trọng đảm bảo tạo
lập mối liên hệ ngược thường xuyên, kịp thời giúp hiệu trưởng hình thành cơ
chế điều chỉnh hướng đích trong quá trình quản lý nhà trường; là công cụ sắc
bén góp phần tăng cường hiệu lực quản lý trường học nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục - đào tạo trong nhà trường. Lãnh đạo mà không kiểm tra thì
coi như không quản lý.
Kiểm tra nội bộ trường học ngoài việc xem xét và đánh giá ưu điểm,

nhược điểm, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các thành viên, bộ phận trong
nhà trường còn phải phân tích nguyên nhân, đề xuất các biện pháp phát huy
ưu điểm, khắc phục những hạn chế, thiếu sót. Do đó nhằm tư vấn, thúc đẩy
đối tượng điều chỉnh kịp thời, nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ;
giúp cho việc động viên, khen thưởng các cá nhân- đơn vị chính xác, thực sự
tiêu biểu.
Như vậy, kiểm tra vừa là tiền đề, vừa là điều kiện để đảm bảo thực hiện
các mục tiêu giao dục. Thực tế cho thấy, nếu kiểm tra đánh giá chính xác,
chân thực sẽ giúp hiệu trưởng có thông tin chính xác về thực trạng của đơn vị
mình cũng như xác định các mức độ, giá trị, các yếu tố ảnh hưởng, từ đó tìm
ra nguyên nhân và đề ra các giải pháp điều chỉnh, uốn nắn có hiệu quả. Kiểm
14
tra còn có tác dụng đôn đốc, thúc đẩy, hỗ trợ và giúp đỡ các đối tượng kiểm
tra làm việc tốt hơn, có hiệu quả hơn.
Trong những năm qua, những luận văn nghiên cứu về đề tài kiểm tra
hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THCS còn rất ít. Trường Đại học
sư phạm Hà Nội I các luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục hầu hết
các đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu về Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của
hiệu trưởng các trường THCS như: “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học
của hiệu trưởng các trường THCS thành phố Hải Dương” của tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hương[19]. Đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động của hiệu
trưởng các trường THCS trên địa bàn huyện Từ Liêm – Thành phố Hà Nội”
của tác giả Nguyễn Văn Sinh[23]…Các công trình nghiên cứu về đề tài Kiểm
tra hoạt động dạy học của Hiệu trưởng ở các trường THCS còn rất ít, nếu có
thì những đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu ở những vùng có điều kiên dân
cư thuận lợi như ở thành phố, còn ở các trường THCS ở vùng sâu, vùng xa thì
hầu như chưa đề cập đến.
1.2.Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý và các chức năng quản lý
* Quản lí:

Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động khi xã
hội phát triển, quản lí đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển các hoạt
động xã hội, xã hội loài người trải quan nhiều chế độ chính trị xã hội khác
nhau, mỗi chế độ khác nhau, có một một phương thức sản xuất khác nhau,
phương thức sản xuất sau phát triển hơn phương thức sản xuất trước, con
người thế hệ sau tiến bộ và văn minh hơn thế hệ trước, nó kéo theo trình độ
quản lý ngày càng cao làm cho năng suất lao động ngày càng tăng, làm cho xã
hội ngày càng phát triển tiến bộ. Vậy quản lý là một dạng lao động xã hội gắn
liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển loài người. Quản lý là một dạng
lao động đặc biệt điều khiển các hoạt động lao động, ó có tính khoa học và
15
nghệ thuật cao nhưng đồng thời nó là sản phẩm có tính lịch sử, tính đặc thù
của xã hội.
- Theo yếu tố chính trị xã hội: Quản lý còn là sự kết hợp giữa tri thức
với lao động, quản lý còn được xem là tổ hợp các cách thức, phương pháp tác
động vào đối tượng để phát huy khả năng của đối tượng nhằm thúc đẩy sự
phát triển của xã hội.
- Theo yếu tố hành động: Quản lý là quá trình điều khiển, chủ thể quản
lý điều khiển đối tượng quản lý để đạt tới mục tiêu đặt ra.
- Thuật ngữ quản lý ( từ hán việt) nêu rõ bản chất của hoạt động này
trong thực tiễn, nó gồm hai mặt tích hợp vào khâu từ “Quản” và từ “Lý”.
- “Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trong thái ổn định.
“Lý” là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Như vậy “Quản lý” là sự
trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển.
- Có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nội dung,
thuật ngữ “quản lý” có thể nêu một số định nghĩa như sau:
Theo lý luận về chủ nghĩa Mác về quản lý “ Quản lý xã hội một cách
khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay
những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận
dụng đúng đắn những quy luật khác quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho

nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”. [18]
Theo Harold Koontz – Cyric Odonnell – Heinz Weihrich trong cuốn “
những vấn đề cốt yếu của quản lý” cho rằng “ Quản lý là một hoạt động đảm
bảo sự nổ lực của cá nhân để đạt được mục tiêu quan trọng điều kiện chi phí
thời gian, công sức, tài liệu, vật liệu, ít nhất đạt được kết quả cao nhất”.
Theo tác giả Nguyển Ngọc Quang trường quản lý cán bộ giáo dục và
đào tạo “ Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể
quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt
mục địch nhất định”. [ 24]
16
Theo Trần Kiểm “ Quản lý nhằm phối hợp nổ lực của nhiều người sao
cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”. [20]
- Quản lý là sự tác động cúa cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý, tạo
ra sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống hướng vào mục tiêu nhất định.
- Quản lý sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành
vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới
mục đích đề ra và đúng ý trí người quản lý.
Như vậy có thể xem quản lý là một quá trình tác động có mục đích có
kế hoạch nhằm gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý,
thông qua cơ chế quản lý nhằm đạt được mục đích quản lý.
Tuy có nhiều cách diễn đạt khái niệm về quản lý khác nhau nhưng
chúng đều có một điểm chun thống nhất như sau: “Quản lý là một quá trình
tác động có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của thể quản lý đến
đối tượng quản lý nhằm khai thác và tận dụng hiệu quả những tiềm năng và
cơ hội của đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu quản lý trong một môi
trường luôn biến động, chủ thể quản lý tác động bằng các chế định xã hội, tổ
chức về nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất và uy tín, chế độ chính sách
dường lối chủ chương trong các phương pháp quản lý và công vụ quản lý để
đạt mục tiêu quản lý[18].
* Chức năng quản lý:

Quản lý là một dạng lao động đặc biệt điều khiển các hoạt động lao
động. Lao động quản lý có các chức năng cơ bản được quy định một cách
khách quan bởi chức năng hoạt động của khách thể quản lý. Từ chức năng
quản lý chủ thể quản lý xây dựng nên nội dung quản lý để tác động vào khách
thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Trong tiến trình phát triển của
lịch sử nền sản xuất xã hội luôn luôn vận động và phát triển không ngừng nên
các chứ năng quản lý cũng không ngừng được cải tiến phù hợp theo.
Từ những quan niệm chung về quản lý, chúng ta thấy quản lý là một
thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó, khi xã hội
17
phát triển đến một trình độ nhất định thì QL được tách ra thành một chức
năng riêng của lao động xã hội, từ đó xuất hiện những bộ phận người, những
tổ chức và cơ quan chuyên hoạt động quản lý đó là những chủ thể quản lý, số
còn lại là đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý.
Cho đến nay đa số các nhà quản lý đều cho rằng quản lý có bốn chức
năng cơ bản, bốn chức năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành
một chu trình quản lý như sơ đồ sau:
Sơ đồ1.1. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý

Bốn chức năng đó quan hệ với nhau tạo thành một chu trình quản lý
chủ thể quản lý sử dụng thông tin như một công cụ quản lý.
- Chức năng kế hoạch:
Kế hoạch hóa là chức năng hoạch định cơ bản nhất trong số các chức
năng quản lý là xác định mục đích, mục tiêu của tổ chức, là biện pháp chương
trình hành động, các bước đi để đạt dược mục tiêu, mục đích quản lý đó.
Xây dựng được mục tiêu là khâu đầu tiên của kế hoạch hóa, mục đích
của kế hoạch hóa là hướng mọi hoạt động của hệ thống vào các mục tiêu để
tạo ra khả năng đạt mục tiêu một cách tốt nhất, việc xác định chắc chắn sát
thực về nguồn lực, tài lực, vật lực, giúp nhà quản lý tìm ra các phương pháp,
phương tiện thời gian để tổ chức thực hiện đạt được mục tiêu đó, kiểm tra

đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu đó.
18
Kế hoạch hoá
Quản lý
Kiểm tra
Tổ chức Chỉ đạo
Khi thực hiện chức năng nàu cần chú ý đến nguyên tắc tính mục đích
và hệ thống các văn bản chỉ đạo của ngành, chính sách pháp luật của nhà
nước.
- Chức năng tổ chức:
Tổ chức là nhân tố sinh ra toàn vẹn, biến một tập hợp các thành tố rời
rạc thành một thể thống nhất, tổ chức quá trình hình thành cấu trúc các quan
hệ giữa các thành viên giữa các bộ phận trọng một tổ chức nhằm làm cho họ
thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu, mục địch của tổ
chức.
Công tác tổ chức có hiệu quả la nhờ ở người quản lý biết sắp xếp bố trí
điều phối một cách khoa học phù hợp với những nguồn lực, nhân lực, vật lực,
tài lực của hệ thống.
Quá trình tổ chức lôi cuốn việc hình thành xây dựng nên các bộ phận
cùng các công việc của chúng, sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ giúp nhà quản
lý điều hành để đạt được mục tiêu của hệ thống một cách tốt nhất, hiệu quả
nhất.
Đặc trưng của tổ chức bao gồm các tiêu chí cơ bản như mục tiêu của tổ
chức, cơ cấu, thiết chế, quy mô của tổ chức nội dung công việc, điều kiện tồn
tại và phát triển của tổ chức.
Công việc của tổ chứ là những vấn đề về nhân sự, cán bộ, xây dựng các
tổ chức, các hoạt động, giao phó quyền hành cho người quản lý tạo sự liên
hợp thực hiện mục tiêu một cách thuận lợi, tự giác để đạt được kết quả cao
nhất.
- Chức năng chỉ đạo:

Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu tổ chức bộ máy đã hình thành,
nhân lực, vật lực, tài lực đã chuản bị đầy đủ thì phải có người lãnh đạo, vận
hành tác nghiệp, điều chỉnh, điều hành các hoạt động của tổ chức thực hiện
đúng kế hoạch đa lập ra để mục tiêu trong dự kiến tỏ thành hiện thực.
19
Trong quá trình chỉ đạo phải đi sâu, đi sát hoạt động của hệ thống, kịp
thời uốn nắn đi đúng tiên trình đúng kế hoạch đã định, đúng hướng vận hành
của hệ thống giúp hệ thống đạt đến mục tiêu nhanh nhất, kết quả cao nhất
đúng kế hoạch đac đề ra.
Trong quá trình lãnh đạo phải luôn luôn liên kết, liên hệ với mọi thành
viên trong hệ thống và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để
đạt tới mục tiêu của kế hoạch, đồng thời đúc kết lại những thành công thất bại
giúp nhà quản lý rút ra bài học kinh nghiệm để thực hiện quá trình quản lý sau
này.
- Chức năng kiểm tra:
Trong quá trình quản lý cần chú ý đến công tác kiểm tra bao gồm kiểm
tra đột xuất, kiểm tra định kỳ và kiểm tra thường xuyên. Kiểm tra để phát hiện
cái đúng, cái sai trong quá trình thực hiện và kịp thời điều chỉnh hoặc có biện
pháp để thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch.
Khi kiểm tra nhà quản lý thông qua 4 bước sau:
Bước 1: Xác định chuẩn để đánh giá đối với công việc cần kiểm tra.
Bước 2: Đánh giá theo chuẩn đã định.
Bước 3: Khẳng định điều làm được hoặc chưa được theo kế hoạch dựa
trên chuẩn để đánh giá.
Bước 4: Xử lý kết quả để quyết định chỉ đạo tiếp hoặc điều chỉnh một
phần kế hoạch.
Kiểm tra là chức năng của người quản lý nhằm mục đích kiểm tra thực
hiện tốt nhất ba công việc phát hiện điều chỉnh và khuyến khích. Kiểm tra
nhằm xác định kết quả thực hiện kế hoạch kịp thời, kiểm tra không những là
giai đoạn cuối kỳ khi công viêc đã hoàn thành có kết quả mà nó diển ra trong

suốt quá trình thực hiện kế hoạch. Vậy kiểm tra là chức năng thực sự quan
trọng của nhà quản lý (lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh
đạo) nó là khâu đặc biệt quan trọng của chu trình quản lý, giúp người quản lý
điều chỉnh theo hướng đích.
20
Vậy muốn cho hệ thống quản lý vận hành có kết quả thì quá trình quản
lý thường diễn ra theo một chi kỳ gọi là chu trình quản lý. Quá trình quản lý
là một thể thống nhất chọn vẹn, nhiều tác giả thống nhất chia quá trình quản
lý thành 5 giai đoạn: Chuẩn bị kế hoạch – kế hoạch hóa – tổ chức –chỉ đạo –
kiểm tra. Tổng hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá
trình quản lý là cơ sở để phân công lao động là nền tảng hình thành cấu trúc
tổ chức của sự quản lý, trong quá trình quản lý phải thực hiện một dạng chức
năng kế tiếp nhau một cách logic, nó bắt đầu từ thực hiện việc xác định mục
tiêu quản lý cho đến kết quả đạt được và tổng kết quá tình quản lý.
Tuy nhiên trong chu kỳ quản lý cũng có khi một số chức năng có thể
diễn ra đồng thời hoặc kết hợp với các chức năng khác để quá trình quản lý
thực hiện đạt kết quả tối ưu nhất.
1.2.2. Dạy học và hoạt động dạy học
* Dạy học:
Các nhà khoa học giáo dục quan niệm rằng: “Dạy học – một bộ phận
tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn – là quá trình tác động qua lại giữa các
giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ
năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sơ đó hình thành
thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng những phẩm chất của
nhân cách người học” [17].
Trong dạy học, hoạt động dạy của người dạy hướng vào hoạt động học
của người học. Hoạt động dạy là hoạt động truyền thụ vơi nghĩa là tổ chức
hoạt động học, mà kết quả là học sinh lĩnh hội được nội dung giáo dưỡng và
giáo dục.
Khái niệm “Dạy học” cũng còn được xem xét dưới một góc độ khác.

Theo tiếp cận điều khiển học thì “dạy học là quá trình cộng tác giữa thầy với
trò nhằm điều khiển, truyền đạt và tự điều khiển-lĩnh hội tri thức nhân loại
nhằm thực hiện mục đích giáo dục”.
* Hoạt động dạy học:
21
Giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường trong đó con đường
quan trọng nhất là tổ chức hoạt động dạy học. Vậy, hoạt động dạy học là con
đường cơ bản nhất để đạt tới mục đích của giáo dục. Trong mỗi hoàn cảnh xã
hội khác nhau có các phương thức dạy học khác nhau. Các nhà khoa học đã
xem xét hoạt động dạy học như một chuyên ngành nghiên cứu khoa học.
Trong khoa hoa học giáo dục: “ Hoạt động dạy học là hoạt động đặc
trưng cho bất kỳ loại hình nhà trường và xét theo quan điểm tổng thể dạy học
chính là con đường giáo dục tiêu biểu nhất”. “Với nội dung và tính chất của
nó, dạy học luôn luôn được xem là con đường hợp lý nhất, giúp cho học sinh
với tư cách là chủ thể nhận thức, có thể lĩnh hội được một hệ thống tri thức
và hãy nâng cao hành động chuên môn thành phẩm chất, năng lực, trí tuệ
của bản thân…cá nhân người học vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng
cua quá trình đó” [17].
Hoạt động học: là hoạt động nhằm tạo ra sự thay đổi kinh nghiệm cơ
bản của người học một cách bền vững và quan sát được.
Hoạt động dạy: là hoạt động tác động đến người học và quá trình học
tập hình thành và phát triển quá trình học tập trong suốt quá trình.
Dạy học có tính hai mặt vì nó tồn tại đồng thời hai hoạt động chủ thể
tiến hành, sự tương tác giữa dạy và học tạo thành quy luật cơ bản chi phối quá
trình dạy học gọi là quy luật thống nhất biện chứng giữa dạy và học.
Chúng càng hướng tới mục đích chung của quá trình dạy nhằm thay đổi
nhân cách của người học.
Điều 2 trong luật Giáo dục nêu: “Mục tiêu Giáo dục là đào tạo con
người Việt Nam, phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ
và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,

hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. [9]
Mục tiêu cấp THCS nhấn mạnh có tính toàn vẹn việc dạy chữ - dạy
người – dạy nghề.
22
Nhiệm vụ dạy học: đối với giáo dục phổ thông có 3 nhiệm vụ
Tổ chức, điều khiển học sinh nắm vững tri thức phổ thông cơ bản, hiện
đại, phù hợp với thực tiễn đất nước về tự nhiên, xã hội, con người Việt Nam,
đồng thời rèn luyện cho học sinh hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.
Phát triển ở học sinh năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực tư duy
sáng tạo.
Tổ chức điều khiển học sinh qua hoạt động học tập hình thành cơ sở thế
giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức nói riêng và phát triển nhân
cách nói chung.
Nội dung dạy hoc: “Là một hệ thống tri thức, những cách thức hoạt
động, những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và thái độ cảm xúc – đánh giá
vói thế giới phù hợp về mặt sư phạm và được định hướng về mặt chính trị”
[18] được thể hiện ở nội dung chương trình sách giáo khoa – giáo án.
Phương pháp dạy học: “phương pháp là cách thức tiến hành một cách
tự giác tuần tự nhằm đạt được kết quả phù hợp với mục đích đã định”[2].
Phương pháp dạy học bao gồm các phương pháp dạy học truyền thống
và các phương pháp dạy học tích cực.
Phương pháp giáo dục ở trường THCS: “Phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa
tuổi, phù hợp từng môn học, từng lớp học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống, tác động đến tình
cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [2].
Như vậy, chúng ta thấy rằng hệ thống các phương pháp dạy học rất
phong phú, lựa chọn phương pháp dạy học đạt kết quả cao là yêu cầu căn bản và
to lớn của đổi mới dạy học trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đổi mới phương pháp dạy học phổ thông là đổi đổi mới dạy học một
chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực”.
Phương tiện dạy học: là cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học
phong phú, phù hợp sẽ tăng hiệu quả hoạt động dạy học.
23
Hình thức tổ chức dạy học:Phong phú, phù hợp sẽ tăng hiệu quả dạy học.
Kết quả dạy học: là khả năng phát triển trí tuệ và hình thành các phẩm
chất đạo đức cho học sinh, theo mục tiêu giáo dục.
Vậy, nếu quá trình dạy học được tổ chức một cách khoa học, các thành
tố cấu trúc của hoạt động dạy học được thực hiện và phối hợp một cách hợp
lý thí sẽ đạt được mục tiêu đào tạo.
1.2.3. Kiểm tra
* Kiểm tra: Là quá trình thiết lập tiêu chuẩn đo lường kết quả thực hiện
mục, phân tích và diều khiển chỉnh các sai lệch nếu có nhằm đạt tới những kết
quả mong muốn.
Hay, kiểm tra là quá trình xem xét kết quả đã đạt được đối với yêu cầu
để đánh giá hiện trạng của đối tượng. Từ đó điều chỉnh kịp thời hoạt động của
bộ máy và các quyết định quản lý khi cần thiết. Bên cạnh đó, kiểm tra con có
chức năng khuyến khích, động viên người làm tốt, ngăn chặn những sai sót có
thể xảy ra.
Xác định các sai

lệch
So sánh

với các
Đo lường

kết quả thực
Phân tích các


nguyên nhân sai
Chương
trình hoạt
Thực hiện

các điều
* Trong quá trình kiểm tra chúng ta phải thực hiện đúng mục đích của
kiểm tra đó là: Tìm hiểu việc thực hiện kế hoạch và các quyết định quản lý,
phát hiện các sai lệch và nguyên nhân của nó, giúp cấp dưới khắc phục các sai
sót, thực hiện tốt các kế hoạch và các quyết định quản lý đạt được đạt được
kết quả như mong muốn (kiểm tra làm cho bộ máy tốt hơn).
Phát hiện các mối liên hệ ngược về bản thân các quyết định quản lý có
phù hợp không để điều chỉnh, nâng cao tính khả thi của các quyết định.
24
* Ý nghĩa của kiểm tra: tác động đến hành vi của con người, nâng cao
tinh thần trách nhiệm của người thừa hành, kịp thời khuyến khích, động viên
nhắc nhở người sai sót. Khuyến khích những người tốt, việc tốt. Đồng thời
ngăn chặn những sai sót có thể xảy ra làm cho bộ máy có thể hoạt động tốt
hơn. Bác Hồ dạy: Kiểm tra khéo bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, lần sau
khuyết điểm nhất định sẽ bớt đi.
* Yêu cầu của kiểm tra: Việc kiểm tra phải được thiết kế theo các kế
hoạch hoạt động của bộ máy. Tùy theo kế hoạch hoạt động của bộ máy mà
xây dựng kế hoạch kiểm tra, nội dung kiểm tra cho phù hợp.
Kiểm tra phải dựa vào các tiêu chuẩn, chế độ, nội quy, các chỉ tiêu kế
hoạch. Nếu các chỉ tiêu, kế hoạch đã lạc hậu cần có sự thay đổi cho phù hợp.
Tôn trọng người được kiểm tra, chú ý đến đặc điểm riêng của người đi
kiểm tra và người được kiểm tra.
Người kiểm tra phải thông thạo chuyên môn nghiệp vụ và phải khách
quan, tránh tình trạng người không biết đi kiểm tra người biết.

Kịp thời tìm ra các nguyên nhân sai lệch và có thiện chí giúp người có
sai sót sửa chữa, kiểm tra phải linh hoạt không máy móc. Có thể kiểm tra để
ngăn chặn những sai sót có thể xảy ra, không nhất thiết để sai sót xảy ra mới
kiểm tra. Kiểm tra phải phù hợp với bầu không khí tâm lý của bộ máy, nên
chọn thời điểm kiểm tra phù hợp. phải động viên khuyến khích kịp thời để tạo
bầu không khí thuận lợi cho hoạt động của bộ máy. Kiểm tra phải tiết kiệm
không lãng phí, phải ghi chép đầy đủ, chính xác. Cần phân biệt kiểm tra một
công việc với việc đánh giá một con người.
* Kiểm tra được thực hiện theo các hệ thống sau:
Hệ thống độc lập nằm ngoài bộ máy, giám sát hoạt động của bộ máy.
Hệ thống kiểm tra nằm ngay trong bộ máy giúp lãnh đạo điều hành bộ
máy.
Nhà chức trách thực hiện các chức năng kiểm tra bên cạnh bộ máy
chuyên trách.
25

×