Tải bản đầy đủ (.doc) (62 trang)

2.Tác động của đồng EURO tới hệ thống thanh toán quốc tế trên thế giới và tại Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (327.46 KB, 62 trang )

chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
Lời mở đầu
Sự hợp tác và tham gia phân công lao động quốc tế tăng lên không ngừng không
những làm cho trao đổi hàng hoá trong nớc gia tăng mà còn làm cho sự trao đổi hàng
hoá và dịch vụ giữa các nớc phát triển. Các mối liên hệ kinh tế giữa các nớc ngày càng
phát triển và dần dần tạo thành một thị trờng thế giới thống nhất.
Trên cơ sở các mối quan hệ kinh tế giữa các nớc dẫn đến vấn đề xuất nhập khẩu
và hệ thống liên ngân hàng giữa các quốc gia đợc đẩy lên một tầm cao mới. Ngoại th-
ơng phát triển, lúc này thanh toán quốc tế rất cần thiết cho việc trao đổi và thanh toán
giữa các quốc gia, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đối ngoại và
ngoại thơng.
Hệ thống thanh toán ngày nay rất phát triển. Thiết nghĩ rằng, việc nghiên cứu vấn
đề này là rất cần thiết cho mỗi thành viên khi tham gia nghiên cứu kinh tế. Thời kỳ từ
1989 trở lại đây đã phản ánh rõ nét tính cấp thiết của thanh toán quốc tế. Mong rằng sự
tìm hiểu này sẽ tạo lập đợc một số thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu hệ thống
thanh toán quốc tế đi sâu sát hơn về tình hình quốc tế và Việt Nam trong lĩnh vực kinh
tế đối ngoại mà đặc biệt là trong ngoại thơng.
Qua thời gian thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng thơng mại Cổ phần Phơng Nam-
Hà Nội với sự hớng dẫn khoa học và có hệ thống của TS- Đào văn Hùng
Tôi đã chọn đề tài nghiên cứu về dịch vụ thanh toán quốc tế. Trong quá trình học và
nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu xót, Tôi rất mong đợc sự góp ý để có thể
hoàn thiện thêm kiến thức về vấn đề này. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ch ơng I : Các phơng thức thanh toán quốc tế
[1]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
I. Các phơng thức thanh toán quốc tế.
1.Khái niệm và các đặc trng về thanh toán quốc tế.
1.2Tính bức xứcvà cần thiết của hệ thống thanh toán quốc tế trong ngoại thơng.
1.3Các nhân tố ảnh hởng đến phơng thức thanh toán quốc tế trong ngoại thơng.
2. Các phơng tiện thanh toán quốc tế thông dụng trong ngoại thơng:
2.1 Hối phiếu.


2.2 Séc.
2.3Kỳ phiếu.
3. Các điều kiện thanh toán quốc tế quy định trong hợp đồng mua bán ngoại thơng:
3.1 Điều kiện tiền tệ:
3.2 Điều kiện địa điểm thanh toán
3.3 Điều kiện thời gian thanh toán
3.4 Điều kiện phơng thức thanh toán
4. Các nhân tố ảnh hởng đến thanh toán quốc tế.
4.1Tỷ giá hối đoái
4.2 Các chính sách và biện pháp tài chính
4.3 Vai trò của Ngân hàng trong thanh toán quốc tế.
II. ảnh hởng của một số đồng tiền tới hệ thống thanh toán quốc tế .
1. ảnh hởng của đồng USA
1.1 Đối với sự đầu t của nớc ngoài về vấn đề đôla hoá nền kinh tế.
1.2 Thanh toán quốc tế bị ảnh hởng nh thế nào?
2. Tác động của đồng EURO tới hệ thống thanh toán quốc tế trên thế giới và tại
Việt Nam.
Ch ơng II:
Thực trạng của hệ thống thanh toán quốc tế tại ngân hàng th-
ơng mại cổ phần phơng nam .
[2]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c

I . Hiện trạng chung về hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thơng mại.
1. Hoạt động kinh doanh đối ngoại của các ngân hàng thơng mại- Việt Nam.
2. Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thơng mại -Việt
Nam.
2.1 Vài nét về tình hình XNK của Việt Nam trong những năm gần đây.
2.2 Cơ cấu thị phần và một số tồn tại trong hoạt động thanh toán quốc tế ở
các Ngân hàng thơng mại.

2.3 Một số kiến nghị.
3. Sự phát triển thể thức th tín dụng trong thanh toán quốc tế (L/C) .
3.1 Một số vấn đề cần quan tâm khi sử dụng phơng thức thanh toán L/C.
3.2 Nghiệp vụ thanh toán chứng từ tín dụng.
II. Xu hớng phát triển hệ thống thanh toán quốc tế và các giải pháp để hoàn thiện các
phơng tiện thanh toán quốc tế trong thế giới hiện đại.
1.Xu hớng phát triển của phơng tiện thanh toán quốc tế trong thế giới hiện đại.
1.1 Tiền mặt.
1.2 Thanh toán không dùng tiền mặt.
1.3 Các chính sách cần thiết để phát triển các phơng tiện thanh toán quốc tế.
2. Giải pháp hoàn thiện hệ thống thanh toán quốc tế để hội nhập và phát triển
3. Một số ý kiến cần quan tâm trong thanh toán quốc tế.
3.1 Thành lập Ngân hàng chuyên doanh phục vụ xuất nhập khẩu.
3.2 Thực hiện u đãi tín dụng cho ngoại thơng.
III. Tình hình hoạt động các nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại NHTMCP Phơng Nam.
1. Chính sách tín dụng cho vay xuất nhập khẩu của Ngân hàng.
2. Tình hình hoạt động thanh toán quốc tế tại NHTMCP- Phơng Nam.
Ch ơng III:
[3]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
Một số giải pháp và kiến nghị dể phát triển hệ thống thanh
toán quốc tế thông qua các phơng thức thanh toán quốc tế
hiện nay.
I. Định hớng phát triển hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của NHTMCP- Phơng
Nam.
II. Giải pháp và kiến nghị.
Kết luận
[4]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
Chơng I: Các phơng thức thanh toán quốc tế

I. Khái niệm và sự cần thiết phải nghiên cứu TTQT
1.Khái niệm về thanh toán quốc tế.
Chúng ta đều hiểu rằng , ngày nay mỗi quốc gia đều có quan hệ không nhiều thì
ít với các quốc gia khác vì nhu cầu cuộc sống và phát triển kinh tế. Đòi hỏi của con ng-
ời đã làm cho trao đổi ngày càng mở rộng khắp thế giới.
1.1 Khái niệm về thanh toán quốc tế.
Chúng ta đều biiết rằng, ngày nay mỗi quốc gia đều có quan hệ không ít thì nhiều
với các quốc gia khác vì nhu cầu cuộc sống và phát triển thị trờng. Đòi của con ngời đã
làm cho trao đổingày càng mở rộng khắp thế giới . Quá trình trao đổi này kéo theo
hai loại quan hệ:1 quan hệ thanh toán trực tiếp giữa ngời mua và kẻ bán, 2 quan hệ
thanh toán gián tiếp giữacác quốc gia. Vì những quan hệ thanh toán này vợt qua biên
giới, ngời ta gọi đó là thanh toán quốc tế.
Vậy: Khi biên giới hữu hình giữa các quốc gia còn tồn tại thì mọi hoạt động thanh
toán, chuyển, nhợng tiền, tài sản giữa một nớc với các nớc khác trên thế giới đợc gọi là
thanh toán quốc tế (TTQT).
1.2 Tính bức xúc và cần thiết của hệ thống TTQT trong ngoại thơng.
Không phải đợi đến khi thế giới nhất thể hoá thành một cộng đồng, nhu cầu tồn
tại và phát triển tốt hơn cho con ngời đã thúc đẩy các nớc phải có quan hệ buôn bán,
đầu t và liên kết với nhau. Do vậy, TTQTgiữa các nớc là điều kiện tất yếu.
Suy cho cùng, mục tiêu phấn đấu thiết lập cơ sở chung cho các đòng tiền từ đầu
thế kỷ đến nay nh hệ thống tiền tệ thế giới và các thiết chế tài chính đa quốc gia là
nhằm hỗ trợ cho quá trình TTQT giữa các nớc trên thế giới.
Từ điều kiện khách quan cho đến chủ quan đều phản ánh rõ TTQT là rất cần thiết.
Thơng mại nói riêng và nền kinh tế nói chung đều liên quan đến TTQTđể hội nhập và
cùng phát triển với kinh tế các nớc trên thế giới. Đó là điều kiện để phát triển và hội
[5]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
nhập cùng kinh tế khu vực và thế giới, cùng với các tổ chức kinh tế tạo sức mạnh cho
kinh tế đối ngoại và ngoại thơng lên một bớc tiến mới.
1.3 Các nhân tố ảnh hởng đến phát triển TTQT trong ngoại thơng.

Giữa các quốc gia, ngoại tệ là tài sản dự trữ dùng để đối thoại với nớc ngoài. Cho
nên việc lu chuyển ra vào của loại tiền tài sản này đợc chính phủ theo dõi. Quá trình
theo dõi nói rtên làm cho việc buôn bán với nớc ngoài đợc thể hiện trên sổ sách quốc
gia. Loại sổ sách mà quốc gia dùng để thể hiện các luồng thanh toán và trả nợ giữa ng-
ời trong nớc và ngoài nớc đợc gọi là cán cân thanh toán.
Các nhân tố đợc phản ánh trên cán cân thanh toán đồng thời cho ta thấy sự ảnh h-
ởng và sự tác động đến sự biến động của TTQT.
Tài khoản vãng lai.
Tài khoản vốn.
Tài khoản dự trữ chính thức.
- Tài khoản vãng lai:bao gồm xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá dịch vụ.
- Tài khoản vốn: bao gồm mua, bán các tài sản nh cổphần, trái phiếu, tài khoản ngân
hàng, bất động sản và doanh nghiệp.
- Tài khoản dự trữ chính thức: bao gồm mua bán tài sản dự trữ quốc gia, ngoại tệ, vàng
và quyền rút vốn đặc biệt (SDRs).
Thơng mại quốc tế là sự xuất nhập khẩu hàng hoá hữu hình nh dầu mỏ, quần áo,
xe hơi... đều phản ánh hoạt động thanh toán thông qua các phơng tiện thanh toán quốc
tế. Dịch vụ cũng thuộc nhóm tài khoản vãng lai, bao gồm các khoản phải thanh toán và
các khoản đợc thanh toán về cố vấn, luật pháp, dịch vụ kỹ thuật, bản quyền, bằng phát
minh và tài sản tri thức, tiền đóng bảo hiểm, phí vận chuyển, chi tiêu du lịch. Các
khoản thơng mại mang hình thái dịch vụ này thờng đợc gọi là thơng mại vô hình. Đồng
thời, yếu tố thu nhập cũng bao quát những khoản thanh toán và khoản đợc trả từ tiền
lãi, cổ tức đến tất cả những thu nhập khác từ đầu t ở nớc ngoài.
Tài khoản vốn gồm 3 nhóm: đầu t trực tiếp, đầu t chứng khoán và vốn khác.
[6]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
Cán cân vốn đo lờng chênh lệchgiữa bán tài sản cho ngời nớc ngoài và mua tài sản từ
nớc ngoài. Không giống nh mua bán hàng hoá và dịch vụ, mua bán tài sản tài chính
ảnh hởng đến những khoản thanh toán và nhận đợc trong tơng lai do đầu cơ về vốn.
Tài sản dự trữ chính thức đó là những khoản mà một quốc gia phải chi trả để

thanh toán cho ngời nớc ngoài vì thâm hụt cán cân thanh toán, ngân hàng trung ơng
của quốc gia đó nên giảm bớt tài sản dự trữ chính thức nh vàng, ngoại tệ, SDRs, hoặc
vay ngân hàng trung ơng nớc khác. Ngợc lại, nếu quốc gia có thặng d trên cán cân
thanh toán, ngân hàng trung ơng nớc đó sẽ trả nợ nớc ngoài hoặc tăng thêm tài sản dự
trữ.
Tóm lại, mọi vấn đề đều tập trung để cân bằng cán cân thanh toán trong mỗi quốc
gia khi tham gia và hội nhập với kinh tế các nớc để có sự phát triển hài hoà và nhịp
nhàng. Tài khoản vốn và tài khoản vãng lai ảnh hởng trực tiếp đến hệ thống thanh toán
quốc tế trong ngoại thơng. Đồng thời hai tài khoản trên càng phát triển bao nhiêu thì
thanh toán quốc tế càng phát triển, tài khoản dự trữ chính thức dới tác động của chính
phủ ảnh hởng tới hệ thống thanh toán khi sự phát triển không cân đối của nền kinh tế
đặc biệt là kinh tế đối ngoại và ngoại thơng.
2. Các phơng tiện thanh toán thông dụng trong ngoại thơng.
Các phơng tiện lu thông tín dụng (hối phiếu, kỳ phiếu, séc) đợc dùng làm phơng
tiện thanh toán quốc tế hình thành trên cơ sở của sự phát triển tín dụng thơng mại và tín
dụng ngân hàng, có vai trò rất quan trọng trong thanh toán quốc tế. Trong thời đại hiện
nay, quy mô phát triển cực kỳ rộng lớn của các nghiệp vụ cho vay, các phơng tiện lu
thông tín dụng đã trở thành vật mang hình thái tiền tệ đặc thù. Khác với tiền kim loại
mang đầy đủ giá trị, các phơng tiện lu thông tín dụng không có giá trị nội tại mà nó chỉ
là dấu hiệu của tiền tệ mà thôi. Tiền thật là do Nhà nớc phát hành còn phơng tiện lu
thông tín dụng phần lớn là do kết quả của hợp đồng mua bán hàng hoá và các nghiệp
vụ của ngân hàng tạo ra.
2.1 Hối phiếu (Bill of exchange)
[7]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
Thơng phiếu là công cụ thanh toán quốc tế thông dụng. Thơng phiếu bao gồm hai
loại: hối phiếu và kỳ phiếu trong đó hối phiếu đợc sử dụng rộng rãi hơn.
a-Khái niệm và đặc trng của hối phiếu.
Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một ngời ký phát cho ngời
khác, yêu cầu của ngời này khi nhìn thấy phiếu, hoặc đến một ngày cụ thể nhất định,

hoặc đến một ngày có thể xác định trong tơng lai phải trả một số tiền nhất định cho
một ngời nào đó hoặc theo lệnh của ngời này trả cho ngời khác hoặc trả cho ngời cầm
phiếu.
Qua khái niệm cho thấy, hối phiếu có ba đặc điểm quan trọng:
-Tính trừu tợng của hối phiếu : Trên hối phiếu không cần phải ghi nội dung quan hệ tín
dụng, tức là nguyên nhân sinh ra hối phiếu mà chỉ ghi số tiền phải trả với nội dung liên
quan tới việc trả tiền. Do đó nghĩa vụ trả tiền của hối phiếu là trừu tợng.
-Tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu : Ngời trả tiền hối phiếu phải trả tiền theo đúng
nội dung ghi trên hối phiếu.
-Tính lu thông của hối phiếu : hối phiếu có thể đợc chuyển nhợng một hay nhiều lần
trong thời hạn của nó.
b- Điều kiện thành lập hối phiếu :
-Về mặt hình thức quy định:
+ Hối phiếu làm thành văn bản (bắt buộc).
+Hình mẫu hối phiếu không quyết định giá trị pháp lý của hối phiếu .
+Ngôn ngữ tạo lập hối phiếu là ngôn ngữ viết hoặc in sẵn, đánh máy bằng một thứ
tiếng nhất định và thống nhất.
+Hối phiếu lập thành một hay nhiều bản, mỗi bản đều đánh số thứ tự, các bản đều
có giá trị nh nhau. Bản nào đến trớc thì thanh toán trớc, bản nào đến sau thì vô giá trị.
-Về nội dung:
+ Tiêu đề của hối phiếu: Hối phiếu.
+ Địa đIểm ký phát hối phiếu: địa điểm ký phát hoặc địa chỉ ngời ký.
[8]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
+ Ngày tháng ký phát: xác định thời gian trả tiền của hối phiếu.
2.2s éc (Cheque)
a. Khái niệm chung.
Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện của ngời chủ tài khoản, ra lệnh cho ngân hàng
trích từ tài khoản của mình để trả cho ngời có tên trong séc, hoặc trả cho ngời cầm séc
một số tiền nhất định, bằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản.

Đối với ngời có tiền mở tại ngân hàng một tài khoản, ngân hàng sẽ cấp cho ngời gửi
tiền một quyển séc. Mỗi lần muốn rút tiền thì viết một tờ séc đa đến ngân hàng để lĩnh
tiền.
b. Đặc điểm của séc
-Tính thời hạn: tức là tờ séc chỉ có giá trị tiền tệ hoặc thanh toán nếu thời hạn hiệu lực
của nó cha hết đối với séc thơng mại. Thời hạn hiệu lực của tờ séc đợc ghi rõ trên tờ
séc. Thời hạn đó tuỳ thuộc vào phạm vi không gian mà séc lu hành và luật pháp của
các nớc quy định. Nói chung séc lu hành trong nội địa thời gian ngắn hơn lu hành trong
TTQT.
Séc dùng để trả tiền ngay, thời hạn hiệu lực của séc là 8 ngày làm việc kể từ ngày
phát hành séc nếu là séc lu hành trong một nớc, là 20 ngày làm việc nếu lu thông ngoài
nớc trong cùng một châu lục, là 70 ngày nếu séc đợc trả ở một nớc ngoài châu lục.Quá
thời hạn trên nếu séc quay trở lại ngân hàng thì séc sẽ mất hiệu lực. Đối với séc du lịch
thì không kể thời gian.
c. Séc có giá trị thanh toán trực tiếp nh tiền tệ, do vậy séc phải có những quy
định về hình thức và nội dung theo luật định:
- Về nội dung:
[9]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
. Một lệnh trả tiền muốn đợc coi là séc thì trớc tiên phải có tiêu đề SEC ghi trên tờ
lệnh đó. Vì séc là lệnh nên khi nhận dợc séc thì phải chấp hành lệnh này vô điiêù kiện,
trừ trờng hợp tài khoản phát hành séc không có tiền hoặc tờ séc không đủ tính pháp lý.
. số tiền ghi trên séc phải rõ ràng, phải ghi bằng số và ghi bằng chữ phải khớp
đúng nhau, có ký hiệu tiền tệ. Trên séc phải ghi rõ địa điểm và ngày tháng lập séc, tên
địa chỉ của ngời yêu cầu trích tài khoản, tài khoản đợc trích trả, ngân hàng trả tiền, tên
địa chỉ ngời hởng số tiền trên séc, chữ ký của ngời phát hành séc (nếu là tổ chức thì
phải có chữ ký của ngời có tài khoản, kế toán trởng và dấu của tổ chức đó).
Tất cả các yếu tố trên cần phải ghi rõ ràng, không tẩy xoá, ghi cùng loại chữ, một
thứ mực, không ghi bằng mực đỏ. Điều cơ bản quan trọng là ngời phát hành séc phải có
tiền mở ở ngân hàng, số tiền trên tờ séc không vợt quá số d trên tài khoản ở ngân hàng.

d. Sơ đồ l u thông séc:
Lu thông séc qua một ngân hàng (NH)
(1): giao hàng.
(2): Phát hành séc thanh toán.
(3): Mang séc đến ngân hàng lĩnh tiền.
(4):Báo có cho ngời hởng lợi Séc.
(5):Quyết toán giữa NH với ngời mua.
- Lu thông Séc qua 02 NH
(1): Giao hàng.
[10]
NGÂN Hàng
ngời bán ngời mua
nh Bên bán
ngời mua
nh Bên mua
ngời bán
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
(2):Phát hành Séc thanh toán.
(3): Nhờ NH thu hộ tiền ghi trên Séc.
(4): Thu tiền.
(5): NH trả tiền cho ngời hởng Séc.
(6): Quyết toán giữa NH với ngời mua.
e. Các loại Séc:
- Séc tên là loại Séc ghi rõ tên ngời hởng lợi (không thể chuyển nhợng).
- Séc vô danh là loại Séc không ghi tên ngời hởng lợi (Séc có thể chuyển nhợng).
- Séc gạch chéo (Crossed cheque) là loại Séc trên mặt trớc của nó có hai gạch chéo
song song với nhau. Séc gạch chéo không thể dùng dể rút tiền mặt, thờng dùng để
chuyển khoản qua NH. Có hai loại Séc gạch chéo:
+ Séc gạch chéo thờng (Cheque crossed generaly) gạch chéo không tin tức là giữa hai
gạch song song không ghi tên NH lĩnh hộ tiền.

+ Séc gạch chéo đặc biệt (Cheque crossed specially) gạch chéo có ghi tin tức là giữa
hai gạch chéo có ghi tên một tên NH nào đó và chỉ có NH đó mới có quyền lĩnh tiền
mà thôi.
- Séc chuyển khoản ( cheque transferable) là loại Séc mà ngời ký phát Séc ra lệnh
cho NH rtích từ tài khoản của mình chuyển sang tài khoản khác của ngời khác trong
hoặc ngoài NH.
- Séc du lịch ( Traverllers cheque) là loại Séc do NH phát hành và đợc trả tiền tại
bất cứ một chi nhánh nào hoặc đại lý nào của NH đó.
- Séc xác nhận (Certified cheque) là loại Séc đợc NH chấp nhận việc trả tiền. Mục
đích xác nhận là nhằm đảm bảo khả năng chi trả cho tờ Séc, chống Séc khống.
2.3 Kỳ phiếu :( Promissory note)
[11]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
Ngợc lại với Hối phiếu, Kỳ phiếu là do con nợ viết ra để hứu cam kết trả tiền cho
ngời hởng lợi. Với tính thụ động trong thanh toán trên, trong thanh toán quốc tế Kỳ
phiếu ít đợc sử dụng hơn Hối phiếu.
a. Khái niệm.
Hối phiếu là một tờ giấy cam kết trả tiền vô điều kiện do ngời lập phiếu phát hành
ra hứa trả một số tiền nhất định cho ngời hởng lợi hoặc lệnh của ngời này trả cho ngời
khác theo quy định trong Kỳ phiếu đó.
b.Đặc điểm và điều kiện:
Nh Kỳ phiếu thơng mại, tuy nhiên nó có một số đặc thù sau:
- Kỳ hạn Kỳ phiếu đợc ghi rõ trên nó.
- Một Kỳ phiếu có thể do một hay nhiều ngời ký phát để cam kết thanh toán cho
một hay nhiều ngời hởng lợi.
- Kỳ phiếu cần có sự bảo lãnh của NH hoặc công ty Tài chính. Sự bảo lãnh nay
đảm bảo khả năng thanh toán của Kỳ phiếu.
- Kỳ phiếu khác với Hối phiếu làthờng có hai bản: bản 01 và bản 02, Kỳ phiếu chỉ
có một bản chính do con nợ phát ra để chuyển cho ngời hởng lợi Kỳ phiếu đó.
3. Các điều kiện thanh toán quốc tế quy định trong hợp đồng mua bán Ngoại th ơng

Trong quan hệ thanh toán giữa các nớc, các vấn đề có liên quan đến quyền lợi và
nghĩa vụ của đôi bên thì phải đề ra để giải quyết và thực đợc quy định lại thành những
điều kiện gọi là điều kiện thanh toán quốc tế. Cácđiều kiện đó là:
- Điều kiện về tiền tệ.
- Điều kiện về địa điểm.
- Điều kiện về thời gian.
- Điều kiện về phơng thức thanh toán.
Nghiệp vụ thanh toán quốc tế là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện TTQT.
Những điều kiện này đợc thể hiện ra trong các điều khoản thanh toán của các hiệp định
[12]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
thơng mại, các hiệp định trả tiền ký kết giữa các nớc, của các hợp đồng mua bán ngoại
thơng ký kết giữa ngời mua và ngời bán.
Trong nghiệp vụ mua bán với các nớc, chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ các điều
kiện thanh toán quốc tế để có thể vận dụng một cách tốt nhất trong việc ký kết và mua
bán ngoại thơng nhằm phục tùng các yêu cầu chính sách đối ngoại và đặt các yêu cầu
cụ thể sau:
Khi xuất khẩu:
- Bảo đảm chắc chắn thu đợc đúng, đủ, kịp thời tiền hàng, thu về càng nhanh càng
tốt.
- Bảo đảm giữ vững giá trị thực tế của ssó thu nhập ngoại tệ khi có những biến
động tiền tệ xảy ra.
- Góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, củng cố và mở rộng thị trờng, phát triển thêm thị
trờng mới.
Khi nhập khẩu:
- Bảo đảm chắc chắn nhập đợc hàng đúng số lợng, chất lợng và đúng thời hạn
- Trong các điều kiện không thay đổi thì trả tiền càng chậm càng tốt.
- Góp phần vào việc nhập khẩu của ta theo đúng yêu cầu phát triển của nền kinh tế
quốc dân một cách thuận lợi.
3.1 Điều kiện tiền tệ.

Căn cứ vào mục đích sử dụng, tiền tệ trong thanh toán chia làm hai loại:
- Tiền tệ tính toán là tiền tệ đợc dùng để thể hiện giá cả và tính toán tổng giá trị
hợp đồng.
- Tiền tệ thanh toán là tiền tệ đợc dùng để thanh toán nợ nần, thanh toán trong hợp
đồng mua bán ngoại thơng.
[13]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
Việc sử dụng đồng tiền nào là tiền thanh toán trong hợp đồng mua bán ngoại thơng,
trong hiệp định thơng mại, và trả tiền giữa các nớc nói chung phụ thuộc vào các yếu tố
sau đây:
+ So sánh lực lợng của hai bên mua và bán.
+ Vị trí của đồng tiền đó trên thị trờng quốc tế.
+Tập quán sử dụng đồng tiền đó trên thế giới.
+Đồng tiền thanh toán thống nhất trong các khu vực kinh tế trên thế giới.
Tuy nhiên khủng hoảng thu chi quốc tế của các nớc làm cho tiền tệ thờng xuyên
biến động. Vì vậy, các khoản ngoại hối có thể bị tổn thất do ngoại hối đó sụt giá hoặc
những khoản chi ngoại hối có thể bị tổn thất do tăng giá. Cho nên diều kiện đảm bảo
hối đoái rất cần thiết. Những điều kiện đảm bảo hối đoái thờng dùng trong TTQT về
ngoại thơng nh sau:
a. Điều kiện đảm bảo vàng:
Hình thức của điều kiện đảm bảo vàng là giá cả hàng hoá với tổng giá hợp đồng
đợc quy định bằng một số lợng vàng nhất định hoặc đều dùng một đồng tiền để tính
toán và thanh toán, đồng thời quy định giá vàng lúc đó trên thị trờng nhất định làm cơ
sở đảm bảo. Tuy vậy hình thức đảm bảo này chỉ là tơng đối nên ít đợc dùng.
b. Điều kiện đảm bảo ngoại hối:
Lựa chọn đồng tiền tơng đối ổn định, xác định mối quan hệ tỷ giá với đồng tiền
thanh toán để đảm bảo giá trị của tiền tệ thanh toán là điều kiện để đảm bảo ngoại hối.
Điều kiện đảm bảo ngoại hối có hai cách quy định sau đây:
-Trong hợp đồng quy định đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán là một loại
tiền, đồng thời xác định tỷ giá giữa đồng tiền đó với một đồng tiền khác. Đến khi trả

tiền, nếu tỷ giá thay đổi thì giá cả hàng hoá và tổng giá trị hợp đồng phải đợc điều
chỉnh một cách tơng ứng.
-Trong hợp đồng quy định đồng tiền tính toán là một đồng tiền(thờng là đồng tiền
tơng đối ổn định) và thanh toán bằng đồng tiền khác. Khi trả tiền căn cứ vào tỷ giá giữa
[14]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
đồng tiền tính toánvà đồng tiền thanh toán để tính ra số tiền phải trả là bao nhiêu. Đây là
cách dùng trong thanh toán quốc tế hiện nay.
c. Điều kiện đảm bảo theo rổ tiền tệ:
-Trong điều kiện hiện nay, khi mà hàm lợng vàng của tiền tệ không còn ý nghĩa
thiết thực đối với việc xác định tỷ giá hốiđoái, hệ thống tỷ giá cố định dới mọi hình
thức đã bị tan vỡ, tỷ giá hoạt động dữ dội và thả nổi tự do, sức mua của tiền tệ nhiều n-
ớc giảm sút nghiên trọng thì việc áp dụng các điều kiện đảm bảo hối đoái nói trên là
không còn ý nghĩa thiết thực nữa.
Để khắc phục tình hình trên, ngời ta dựa vào ngoại tệ của nhiều nớc để đảm bảo
giá trị thực tế của các khoản thu nhập bằng ngoại tệ trên hợp đồng. Cách đảm bảo đó
gọi là đảm bảo hối đoái theo rổ ngoại tệ đợc chọn.
d. Điều kiện đảm bảo căn cứ vào tiền tệ quốc tế: SDR ECU (UERO)
Tổng giá trịgiá hợp đồng đợc tính toán và thanh toán bằng một ngoại tệ nào đó,
đồng thời chọn SDR (hoặc UERO) làm tiền tệ đảm bảo đồng tiền của hợp đồng.
e. Điều kiện đảm bảo căn cứ vào biến động của giá cả:
Số tiền phải thanh toán căn cứ vào tìnhhình biền động của chế độ giá cả mà thay
đổi một cách tơng ứng. Tuy nhiên, trong Ngoại thơng thờng ít dùng cách này bởi vì chỉ
số giá không phản ánh đầy đủ và sự biến động tiền tệ, bởi vì có nhiều yếu tố tác động
đến biến động giá cả, trong đó nhân tố tiền tệ chỉ là một
Số tiền phải trả că cứ vào tình hình biến động giá cả hàng đó trên thị trờng hay giá
thành sản xuất loại hàng đó.
3.2 Điều kiện địa điểm thanh toán.
Trong thanh toán giữa các nớc, địa điểm thanh toán có thể ở nớc nhập khẩu, hoặc
ở nớc xuất khẩu, nớc thứ ba. Nhng thực tế, việc xác định địa điểm thanh toán là do sự

so sánh lực lợng giữa hai bên quyết định, đồng thời cũng còn cho thấy rằng dùng đồng
tiền thanh toán của nớc nào thì địa điểm thanh toán thờng ở nớc ấy.
3.3 Điều kiện thời gian thanh toán:
[15]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
Điều kiện thời gian thanh toán có liên quan chặt chẽ tới việc luân chuyển vốn, lợi
tức, khả năng có thể trách đợc những biến động về tiền tệ thanh toán, do đó nó là vần
đề quan trọng và thờng xảy ra tranh chấp các bên trong đàm phán ký kết hợp đồng.
Trong TTQT, điều kiện thời gian thanh toán trong các nghiệp vụ Ngoại thơng
phức tạp hơn cả , thờng có ba cách quy định:
- Thời gian trả tiền trớc.
- Thời gian trả ngay.
- Thời gian trả tiền sau.
3.4 Điều kiện phơng thức thanh toán:
Phơng thức thanh toán là điều quan trọng nhất trong các điều kiện TTQT. Các ph-
ơng thức thanh toán quốc tế dùng trong Ngoại thơng bao gồm có:
- Phơng thức chuyển tiền.
- Phơng thức ghi sổ.
- Phơng thức nhờ thu.
- Phơng thức tín dụng chứng từ.
4. Các yếu tố tác động đến TTQT.
TTQT là một hệ thống vô cùng phức tạp nhng là sự cần thiết của mỗi quốc gia khi
tham gia phát triển và hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Tuy nhiên hệ thống
thanh toán quốc tế cũng bị chi phối bởi các yếu tố về tỷ giá hối đoái, các chính sách và
biện pháp tài chính với vai trò của NH trong nền kinh tế đó để điều chỉnh cán cân
TTQT một cách hợp lý.
4.1 Tỷ giá hối đoái:
Thay đổi tỷ giá để điều chỉnh cán cân thanh toán là một biện pháp mà chính phủ
các nớc thờng sử dụng. Thông qua chính sách phá giá (Devaluation) hay giảm giá
(depreciation) tiền tệ để thúc đẩy nhanh xuất khẩu hàng hoá, khuyến khích đầu t nớc

ngoài vào trong nớc làm tăng thu ngoại hối và hạn chế nhập khẩu hàng hoá, đầu t ra n-
[16]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
ớc ngoài nhằm giảm nhu cầu ngoại hối, do đó đã góp phần điều chỉnh sự thiếu hụt của
cán cân thanh toán, Việc điều chỉnh cán cân thanh toán thờng xảy ra khi cán cân thanh
toán bị thiếu hụt hoặc d thừa. Tuy nhiên trên thực tế, ngời ta chỉ điều chỉnh cán cân
thanh toán khi nó bị thiếu hụt mà thôi. Chính vì vậy, khi phá giá hoặc giảm giá tiền tệ
đồng nghĩa với nhu cầu xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng nhanh đến khả năng TTQT
tăng toạ điều kiện để điều chỉnh cán cân thanh toán cân bằng.
4.2 Vai trò của Ngân hàng trong thanh toán quốc tế.
Trớc hết, thông qua nghiệp vụ qua lại đồng nghiệp với các đại lý NH ở nớc ngoài
để cho vay ngoại tệ nhằm bổ sung vào lợng ngoại hối cung cấp cho thị trờng. Trớc thời
kỳ chủ nghĩa t bản lũng đoạn, việc vay nợ các ngân hàng cần cân bằng cán cân thanh
toán chỉ diễn ra trong phạm vi nhỏ giữa NH nớc này với nớc kia. Trong giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa, với sự lũng đoạn trong phạm vi quốc tế, một nớc nào đó cần tín dụng
để cứu nguy cán cân TTQT của mình có thể sử dụng thẻ tín dụng của nhiều NH khác
hoặc của các tổ chức tiền tệ quốc tế trên cơ sở ký kết các hiệp định giữa họ.
Sau nữa, NHTW áp dụng các chính sách tiền tệ và tín dụng để thu hút vốn ngắn
hạn của nớc ngoài chạy vào nớc mình để tăng số thu nhập trong cán cân thanh toán, do
đó làm giảm bớt mức thiếu hụt của cán cân này. Chính sách chiết khấu thờng đợc sử
dụng nhiều nhất.
Cuối cùng, việc sử dụng hai cách trên của NH vẫn cha giải quyết hết tình trạng
thiếu hụt của cán cân TTQT thì các nớc phải xuất vàng để trả nợ. Cần phải phân biệt
việc xuất vàng để cân bằng cán cân TTQT thiếu hụt với việc xuất vàng với t cách là
hàng hoá thông thờng trong quan hệ mua bán.
Ngoài ra việc áp dụng tất cả các biện pháp trên mà không giải quyết đợc tình
trạng thiếu hụt cán cân TTQT thì phải dùng biện pháp phá sản tức là tuyên bố vỡ nợ,
đình chỉ trả nợ nớc ngoài.
[17]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c

Ch ơng II :
Thực trạng của hệ thống thanh toán quốc tế ở nhcp- ph-
ơng nam
I. Hiện trạng chung về hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân
hàng thơng mại Việt Nam (1989-2001).
Trên bớc đờng hội nhập và phát triển kinh tế ở Việt Nam trong mọi phơng diện,
hệ thống TTQT đã góp phần quan trọng đẩy mạnh quan hệ giao lu giữa các nớc kinh tế
phát triển. TTQT dần khẳng định sự lớn mạnh thông qua các giai đoạn phát triển kinh
tế, đa các hoạt động kinh tế đối ngoại và buôn bán ngoại thơng lên
một bớc tiến dài. TTQT đóng vai trò rất lớn trong việc ổn định lại cơ cấu tổ chức và
quản lý kinh tế ở nớc ta, đặc biệt là sự hoạy động hiện nay của các NH Việt Nam.
[18]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
1. Hoạt động kinh doanh đối ngoại của các ngân hàng thơng mại (NHTM) Việt
Nam.
Căn cứ vào luật pháp hiện hành về ngân hàng và quản lý ngoại hối ở nớc ta, thì
hoạt động kinh doanh đối ngoại của các Ngân hàng trung ơng Việt Nam đợc hiểu là
hoạt động kinh doanh ngoại hối. Còn các Ngân hàng thơng mại hoặc các Ngân hàng
nào khác đợc tiến hành kinh doanh ngoại hối, thì luật pháp có chế định gọi là các
Ngân hàng đợc phép. Hoạt động kinh doanh ngoại hối là các hoạt động đầu t, vay, cho
vay, bảo lãnh, mua, bán và các dao dịch khác về ngoại hối.
Tại các nớc có nền kinh tế thị trờng (KTTT) phát triển, trong số rất nhiều loại
hình Ngân hàng hoạt động kinh doanh trên thơng trờng, trong nớc cũng nh thị trờng
quốc tế, loại hình Ngân hàng thơng mại chiếm số lợng đông đảo nhất. Tình hình đó
cũng diễn ra ở nớc ta. Mặt khác, hoạt dộng kinh doanh của Ngân hàng thơng mại có
phạm vi rộng mở, đa năng hơn bất kỳ loại hình Ngân hàng nào, không những trên thị
trờng nội địa mà trên cả thị trờng quốc tế. Vì vậy, khi nghiên cứu về hoạt động kinh
doanh đối ngoại của Ngân hàng thơng mại Việt Nam cũng có nghĩa là nghiên cứu một
cách bao quát đến toàn cảnh hoạt động kinh doanh đối ngoại của tất cả các loại hình
Ngân hàng ở nớc ta.

Về hoạt động kinh tế đối ngoại của các Ngân hàng thpng mại Việt Nam hơn 10
năm đổi mới, cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, trong đó có kinh tế đối
ngoại, hoạt động kinh tế đối ngoại của các Ngân hàng thơng mại dần dần có những
khởi sắc. Cũng nh các hoạt động tiền tệ Ngân hàng trong nớc, chuyển từ cơ chế độc
quyền của Ngân hàng nhà nớc sang cơ chế thị trờng, đa dạng hoá các loại hình tổ chức
kinh doanh tiền tệ- tín dung-ngoại hối, trong đó vai trò chủ đạo và chủ lực vẫn thuộc
các tổ chức tín dụng nhà nớc, hoạt động kinh doanh đối ngoại của các Ngân hàng th-
ơng mại Việt Nam từng bớc xác lập vị thế trên thơng trờng. Trong giai đoạn đầu đổi
mới (1989-1995) với chính sách cấm vận của Mỹ đối với nớc ta là thời kỳ khó khăn lớn
nhất trong hoạt động đối ngoại của nghành Ngân hàng nói chung và hoạt động đối
[19]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
ngoại của các Ngân hàng thơng mại nói riêng, sự cấm vận về tiền tệ, tín dụng TTQT
liên qquan đến đồng Đôla Mỹ là rõ nhất.
Ngoài ra, hậu qủa nợ nần nớc ngoài của thời kỳ tập trung bao cấp để lại cha xử lý
thoả đáng trong quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nớc, uy tín quốc tế của nghành Ngân
hàng, đặc biệt là đối với Ngân hàng ngoại thơng Việt Nam (Vietcombank) bị giảm sút
nghiêm trọng.
Nhng nhờ bám sát đờng lối đổi mới trong quan hệ đối ngoại nói chung và quan hệ
kinh tế đối ngoaị nói riêng của Đảng và Chính phủ; đặc biệt là sự thành tựu về kinh tế
của đất nớc đem lại (lạm phát bị đẩy lùi; đồng Việt Nam dần dần ổn định, Việt Nam là
nớc xuất khẩu gạo thứ ba trên thế giới...), cộng với sự quết tâm không ngừng đổi mới
hoạt động của Ngân hàng nớc ta, nên hoạt động kinh doanh đối ngoại của các Ngân
hàng thơng mại đặc biệt là Vietcombank dần có chỗ đứng trên thơng trờng bắt đầu
mang lại hiệu quả.
Hoạt động kinh doanh đối ngoại không còn là độc quyền của Nhà nớc do
Vietcombank đảm trách nh thời kỳ bao cấp, mà bây giờ Vietcombank trở thành một
Ngân hàng thơng mại thực thụ của Nhà nớc. Vietcombank là một Ngân hàng quốc
doanh chủ đạo và chủ lực của nớc ta trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối. Cùng với đó,
một số Ngân hàng thơng mại cổ phần và quốc doanh mới cũng ra đời và đã từng bớc

khẳng định vị thế của mình trên thơng trờng tiền tệ nớc ta. Đồng thời Ngân hàng Nhà
nớc lần lợt cho phép thực hiện thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại hối nh: Ngân
hàng kỹ thơng, Sacombank, Sai Gon công thơng Ngân hàng...
Hệ thống các tổ chức Ngân hàng thơng mại Việt Nam bớc ra thơng trờng quốc tế,
trong điều kiện công cuộc đổi mới nói chung và phát triển kinh tế của đất nớc nói riêng
đạt nhiều thành tựu đáng kể, đã có sắc thái tự tin và bớc đầu đã đợc các bạn hàng quốc
tế chú ý. Thành tựu rõ nhất trong hoạt động kinh doanh đối ngoại của Vietcombank-
ngân hàng mà đầu những năm 90, IMF có lần khuyến nghị xoá bỏ và của các Ngân
hàng thơng mại khác nói trên, là đã nắm bắt xu thế chung của hoạt động kinh doanh
Ngân hàng trên thị trờng tiền tệ quốc tế, luôn luôn gữ đúng chữ tín, thơng trờng hoá
[20]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
các hoạt động của mình vào khuôn khổ t pháp quốc tế cũng nh các tập quán, thông lệ
Ngân hàng trên thế giới, bằng nguồn vốn tích luỹ đã tự đổi mới công nghệ kỹ thuật,
trau dồi kiến thức, quản trị điều hành- kinh doanh tác nghiệp để đảm bảo hoạt động
kinh doanh an toàn và hiệu quả. Điều đó đợc thể hiện trong các giải pháp kỹ thuật
nghiệp vụ thông qua việc xây dựng các cơ sở Ngân hàng đại lý tin cậy ở các nớc, đã vô
hiệu hoá cơ chế cấm vận thanh toán bằng Đola Mỹ của Mỹ, trong điều kiện đồng tiền
này chiếm vị trí độc tôn, trên 70% kim nghạch chu chuyển tiền tệ toần cầu, phục vụ tốt
các quan hệ giao lu thơng mại, đầu t và các hoạt động đối ngoại khác của đất nớc với
kim nghạch thanh toán quốc tế hàng chục tỷ đô la Mỹ.
Nếu xét trên giác độ hạch toán kinh doanh, thì điều đáng khích lệ là các giao dịch
kinh doanh trên thị trờng tiền tệ quốc tế của nhiều Ngân hàng thơng mại nớc ta đều có
lãi, cha để xảy ra những thất thoát gì đáng kể về vốn ngoại tệ.
Một số Ngân hàng thơng mại nớc ta, phải nói đi đầu là Vietcombank, cũng đã
sớm tiếp cận với phơng thức kinh doanh quốc tế hiện đại để vận hành tại Việt Nam, nh
thẻ tín dụng (card); phòng buôn tiền quốc tế (Dealing room); dịch vụ chuyển tiền điện
tử quốc tế... với phơng châm tiến chắc, thắng chấc, đã thu lợi hàng chục triệu đôla
Mỹ mỗi năm cho Nhà nớc.
Tiếp đến là giai đoạn sau khi Mỹ bỏ cấm vận, hoạt động kinh tế đối ngoại của các

Ngân hàng thơng mại có nhiều thuận lợi hơn trớc. Từ đó đến nay, số lợng các Ngân
hàng thơng mại đợc phép kinh doanh trên thị trờng tiền tệ quốc tế, đợc mở rộng về số l-
ợng và đa dạng về các loại hình Ngân hàng thơng mại; quốc doanh, cổ phần, liên doanh
và chi nhánh Ngân hàng nớc ngoài; đều có đủ mặt tham gia. Ngoài những mặt đợc
nh trên đã đề cập, sự đông đảo và đa dạng các tổ chức Ngân hàng thơng mại Việt Nam
trên thơng trờng cũng đã và đang phát sinh các khiếm khuyết tồn tại cần khắc phục.
Những vấn đề sau đây cần đợc quan tâm lu ý hơn:
a- Việc thiết lập đại lý với các Ngân hàng nớc ngoài là không thể thiếu đối với bất
kỳ Ngân hàng thơng mại nớc nào, khi đợc phép thực hiện các dịch vụ TTQT và các
hoạt động kinh doanh trên thị trờng tiền tệ quôcs tế. Nhng có tình trạng đặt quan hệ đại
[21]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
lý dàn đều, số lợng quá yêu cầu cần thiết; thiếu sự chỉ đạo chung của Ngân hàng Nhà
nớc về chính sách quan hệ Ngân hàng đại lý; và giữa các Ngân hàng thơng mại nớc ta,
thiếu hẳn sự phối hợp với nhau để trao đổi thông tin kịp thời trong đánh giá tín nhiệm
Ngân hàng đại lý, nhằm ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra, đồng thời tạo sự tự tin
cho mỗi Ngân hàng đại lý trong kinh doanh đối ngoại.
b-Thực trạng nêu trên đã phát sinh ra vấn đề thứ hai mà d luận quan tâm, đó là
việc toàn nghành Ngân hàng điều hành tác nghiệp vốn ngoại tệ thuộc nguồn lu động
của Nhà nớc trong thanh toán vãng lai với nớc ngoài ra sao để đảm bảo nguồn vốn và
sinh lời. Ngoại tệ gửi ở nớc ngoài đến mức nào là đợc; còn bao nhiêu thì đa về đầu t
trong nớc, dù cho là vay ngắn hạn hay trung hạn hoặc đến vài ba năm cũng tốt. Vì sao
có vốn gửi nớc ngoài, lại còn bảo lãnh nhập hàng trả chậm ngắn hạn, chịu phí và lãi
xuất cao hơn lãi tiền gửi ngoại tệ ta thu của nớc ngoài? Đó là cha kể, có tờ báo đa tin,
có một số Ngân hàng thơng mạiViệt Nam tìm vay của Ngân hàng nớc ngoài để cho vay
lại khách hàng trong nớc, trong khi các Ngân hàng thơng mại khác có hàng trăm triệu
đô la Mỹ đang gửi ở nớc ngoài. Ngay trong Tạp chí Ngân hàng (số 10-5/1999 trang 16)
có tác giả cũng đã đề cập: Hiện tợng gửi ngoại tệ ở nớc ngoài cũng là một vấn đề cần
xem xét. Theo Ngân hàng Nhà nớc, hiện tại chỉ riêng 4 Ngân hàng thơng mại quốc
doanh đã có số tiền gửi ngoại tệ ở nớc ngoài lên tới 4-5 tỷ đô la Mỹ (USD) trong khi đó

nhu cầu vốn đầu t là rất lớn....
Tất nhiên, sự phản ánh của tác giả trên không chính xác về số liệu, nhng ý kiến
đó phản ánh một hiện trạng đòi hỏi Ngân hàng Nhà nớc có giải pháp quản lý điều
hành vĩ mô đối với nguồn ngoại tệ thuộc dự trữ quốc tế nói chung và nguồn vốn ngoại
tệ lu động của các Ngân hàng thơng mại đợc phép nói riêng theo phơng sách kinh tế tối
u nhất. Theo hớng đó, đợc biết Ngân hàng Nhà nớc vừa qua đã ban hành quy chế quản
lý ngoại tệ thuộc dự trữ quốc tế của đất nớc, chắc chắn sẽ giải đáp đợc những vấn đề
mà d luận quan tâm đã nêu trên.
b-Trong việc thực hiện triển khai loại hình dịch vụ thể tín dụng quốc tế tại nớc ta
nh: visa, master card... cũng phát sinh một tình hình không thể tiếp tục duy trì đợc, mà
[22]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
nguyên nhân là do thiếu một cơ chế hiệp tác liên doanh giữa các Ngân hàng thơng mại
nớc ta trong lĩnh vực này. Điều này cho thấy phần thua thiệt thì trong nớc gánh chịu,
còn lợi ích thì thuộc phần nớc ngoài. Do sự phát triển đơn lẻ, hoạt động riêng lẻ đã gây
ra các tổn thất lớn, không những cho nghành Ngân hàng nói riêng mà còn ảnh hởng tới
cả hệ thống TTQT nói chung.
* Định hớng cho những năm sắp tới.
Cùng theo đà phát triển và tăng trởng hàng năm của nền kinh tế và sự phát triển
các quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nớc, mà trọng tâm là xuất khẩu hàng hoá và dịch
vụ, tất yếu các hoạt động kinh doanh đối ngoại của các Ngân hàng thơng mại nớc ta
cũng sẽ có bớc phát triển mạnh mẽ cả về quy mô khối lợng nghiệp vụ giao dịch, lẫn về
kim nghạch kinh doanh.
Về mặt định hớng, thiết nghĩ rằng các Ngân hàng thơng mại Việt Nam là các
Ngân hàng của Nhà nớc xã hội chủ nghĩa hoạt động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý
của Nhà nớc, nên hoạt động kinh doanh đối ngoại của nghành Ngân hàng là một bộ
phận không thể tách rời của toàn bộ các hoạt động kinh tế đối ngoại của nhà nớc ta.
Kinh doanh đòi hỏi phải đạt hiệu quả kinh tế, tạo lợi nhuận cao. Tuy nhiên, hoạt động
kinh doanh đối ngoại của Ngân hàng thơng mại cũng nh hoạt động kinh doanh của các
Ngân hàng nội địa, không thể chỉ hớng vào lợi nhuận của bản thân từng Ngân hàng làm

đầu, mà phải nhằm vào mục tiêu lớn hơn là đảm bảo an toàn tài sản vốn ngoại tệ của
quốc gia, góp phần thúc đẩy quan hệ kinh doanh đối ngoại của nhà nớc ta với chất lợng
hiệu quả kinh tế xã hội, đặc biệt là các hoạt động xuất khẩu.
Mặt khác, tiềm lực tài chính của các Ngân hàng thơng mại nớc ta, kể cả các Ngân
hàng thơng mại quốc doanh còn rất nhỏ bé so với các nớc phát triển, thậm chí là so với
các nớc đang phát triển. Do đó, khuynh hớng chung là nên khuyến khích mở rộng các
loại hình kinh doanh dịch vụ; còn các hoạt động kinh doanh ngoại hối trên thơng trờng
theo phơng châm là hết sức thận trọng, không thực hiện các giải pháp kinh doanh theo
ý đồ đầu cơ phiêu lu .
[23]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
Trên thơng trờng quốc tế , các Ngân hàng thơng mại Việt Nam phải đề cao phơng
thức hợp tác, liên kết, lấy lợi ích quốc gia làm đầu để chi phối quá trình tổ chức và điều
hành kinh doanh tác nghiệp ở từng Ngân hàng riêng lẻ. Từng Ngân hàng thơng mại
phải hoạt động kinh doanh trên thị trờng tiền tệ trong nớc làm nền tảng, đảm bảo phát
triển bền vững, tạo dựng đợc vị thế và tín nhiệm trên thị trờng nội địa, làm phát triển
kinh doanh đối ngoại...
Để thực hiện các định hớng đã nêu trên, giải pháp triển khai trong thời gian tới
cần:

-Ngân hàng Nhà nớc không nên mở rộng thêm diện các Ngân hàng thơng mại đợc
phép kinh doanh trên thị trờng tiền tệ quốc tế nữa, cần tổng kết lại việc tổ chức kinh
doanh đối ngoại của từng Ngân hàng thơng mại giai đoạn từ 1989-1999. Cụ thể hoá
chính xác, đầy đủ hơn những cái đợc và cha đợc ở từng Ngân hàng; phân tích rút
kinh nghiệm, nguyên nhân chủ quan, khách quan, giải pháp thực hiện phát triển.
- Triển khai chặt chẽ quy chế quản lý ngoại tệ thuộc tất cả các nguồn dự trữ
của nớc ta thờng xuyên gửi ở nớc ngoài; đặt biệt là nguồn ngoại tệ dự trữ tác nghiệp
của các Ngân hàng thơng mại đợc phép.
- Trong điều kiện nớc ta còn duy trì cơ chế đa sở hữu ngoại tệ đối với ng-
ời c trú; nền kinh tế- xã hội còn tình trạng Đô la hoá nặng nề và cơ chế cho vay, tiền

gửi ngoại tệ còn duy trì trong nền kinh tế, thì cần có phân biệt quy định về trạng thái
ngoại tệ trong giao dịch ngoại hối nội địa ( không liên quan đến cán cân thanh toán
quốc tế vãng lai) và quy định về trạng thái ngoại tệ trong giao dịch quốc tế( liên quan
đến cán cân thanh toán vãng lai).
- Trong lĩnh vực thanh toán quốc tế về xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ đối
ngoại thu ngoại tệ, cần sớm hình thành dịch vụ bao thanh toán nhằm hỗ trợ luân
chuyển vốn nhanh cho các hoạt động xuất khẩu ở nớc ta; đối tợng nhằm vào các mặt
hàng có thị trờng và bạn hàng nớc ngoài truyền thống tin cậy.
- Đánh giá lại hoạt động kinh doanh của hai phòng buôn tiền thuộc hội sở
VIETCOMBANK tại Hà nội vàchi nhánh TPHCM, để hoàn thiện thêm về tổ chức rtang
[24]
chuyên đề thực tập nguyễn nam hà- nh41c
bị kỹ thuật, đào tạo Dealer và cơ chế hoạt động kinh doanh. Tiến tới, thị trờng ngoại tệ
liên Ngân hàng trong nớc cũng nên hoạt động hàng ngày, thông qua nô9í mạng giữa
các Dealing room ...cho phép chế độ thuê Dealer quốc tế đến làm việc tại một số
Dealing room có giao dịch lớn.
- Sớm hình thành tổ chức Ngân hàng thơng mại Việt nam hoạt động kinh
doanh ở một số nớc; thành phố của các vùng nh Đông Nam á, Tokyo, Đông Âu ... với
phơng châm: hợp tác, liên kết giữa các Ngân hàng thơng mại trong nớc để phân công
thi trờng. Mỗi nớc chỉ nên mở một Ngân hàng thơng mại hoạt động kinh doanh. Dành -
u tiên việc giữ vốn và dịch vụ thanh toán trong quan hệ với thị trờng hữu quan cho chi
nhánh đó, không kể chi nhánh này thuộc Ngân hàng thơng mại nào ở trong nớc. Đồng
thời hiệp hội Ngân hàng thơng mại Việt nam nên thành lập bộ phận điều phối việc hợp
tác, liên kết các Ngân hàng thơng mại Việt nam trong lĩnh vực kinh doanh đối ngoại
trên thị trờng tiền tệ thế giới; tạo cơ hội cho cácNgân hàng hội viên gặp nhau trao đổi
thông tin,. học hỏi kinh nghiệm t vấn nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại lẫn nhau.
Sự phát triển lâu dài là cái mà tất cả mọi doanh nghiệp nói chung và nghành Ngân
hàng nói riêng rất quan tâm. Trong đó, hoạt động kinh doanh đối ngoại đợc u tiên hàng
đầu, nên cần thiết phải tạo điều kiện cho các Ngân hàng thơng mại hoàn thiện cơ cấu tổ
chức, quản lý , mở rộng hệ thống hoạt động liên Ngân hàng trong nớc và quốc tế; toạ

uy tín và độ tin cậy để thu hút nguồn ngoại tệ. Nh vậy là các Ngân hàng thơng mại đã
trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy hệ thống thanh toán quốc tế phát triển thông qua giao
dịch quốc tế và vấn đề thanh toán trong xuất nhập khẩu hàng hoá dịch vụ. TTQT cũng
tác động đến các hoạt động kinh doanh đối ngoại ; tạo ra việc chu chuyển vốn nhanh
chóng, lu thông ngoại tệ dễ dàng làm cho sự giao dịch đối ngoại tăng lên, là điều kiện
tốt cho phát triển cả hai mặt về thanh toán quốc tế và kinh doanh đối ngoại.
2. Thực trạng thanh toán quốc tế của Ngân hàng thơng mại Việt nam.
Hoạt động kinh tế quốc tế nói chung, hoạt động ngoại thơng nói riêng ngày càng
có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế đất nớc. Chỉ có thông qua
hoạt động kinh tế quốc tế, chúng ta mới thu đợc nguồn ngoại tệ để nhập khẩu máy móc
[25]

×