Tải bản đầy đủ (.doc) (95 trang)

Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của SMEs Dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (609.3 KB, 95 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368

PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Bước vào thế kỷ XXI, Việt Nam đã có nhiều khởi sắc trên tất cả các lĩnh vực
từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội. Việt Nam- một quốc gia Á Châu có một xuất
phát điểm thấp do chịu hậu quả của sự thống trị lâu năm của chế độ phong kiến, cuộc
chiến tranh kéo dài hơn 80 năm của thực dân Pháp và gần 20 năm của đế quốc Mỹ,
nhưng đến nay Việt Nam đã có vị thế đáng kể trong khu vực và quốc tế. Những thành
tựu đạt được đó phải kể đến những nỗ lực xây dựng đất nước của toàn thể nhân dân
và sự lựa chọn đúng đắn trong con đường phát triển của Đảng và Nhà Nước. Đối với
kinh tế, Đảng và Nhà nước thực hiện những chính sách tập trung phát triển vào
những ngành mũi nhọn, trọng điểm cho q trình cơng nghiệp hóa và huy động phát
triển đa dạng hóa các loại hình,thành phần kinh tế. Ngành Dệt may là một trong số
những ngành đó- được xác định là một trong những ngành cơng nghiệp mũi nhọn,
trọng điểm cho mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020.
Trong bối cảnh hiện nay, khi kinh tế đã phát triển khơng chỉ bó hẹp trong một
quốc gia mà còn lan rộng ra khu vực và toàn cả thế giới do vậy xu thế hội nhập là
một điều tất yếu đối với các quốc gia. Việt Nam đang dần dần thực hiện việc hội
nhập với nền kinh tế thể hiện ở việc là thành viên của các tổ chức kinh tế của khu vực
và tham gia vào các diễn đàn kinh tế như ASEAN, APEC, AFTA,…Tuy nhiên, sự
kiện Việt Nam gia nhập vào WTO được đánh giá là một bước tiến mới của quá trình
hội nhập. Ngày 7/11/2006, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức
Thương mại thế giới (WTO)-dấu mốc quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Việc
gia nhập vào WTO đã tạo ra cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng khơng ít thử
thách, mà đối tựợng chịu tác động trực tiếp chính là các doanh nghiệp trong nước đặc
biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME).
Trong những năm gần đây, SME có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế
nứớc nhà. Theo con số của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện nay có trên

350 000 SME



chiếm 95% tổng số công ty đang hoạt động tại Việt Nam với tổng số vốn khoảng 85


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

tỷ USD, chiếm khoảng 28,92% trong tổng số vốn của tổng số các cơng ty đang hoạt
động. Các SME hàng năm đóng góp hơn 40% cho GDP, tạo ra 50% việc làm mới và
thu hút khoảng 50,13% tổng số lao động trong doanh nghiệp, tạo ra 78% mức bán lẻ.
Doanh thu của các SME chiếm 22,07%, lợi nhuận chiếm 11,78% và hàng năm nộp
vào ngân sách Nhà nuớc chiếm 17,46%. Có thể nhận thấy rằng các SME đóng góp
một phần khơng nhỏ vào tăng trưởng nền kinh tế cũng như giải quyết các vấn đề xã
hội.
Sự kiện Việt Nam gia nhập vào WTO đã có ảnh huởng trực tiếp đến nhiều
ngành kinh tế, dệt may là một trong những ngành được coi là mũi nhọn và chịu nhiều
tác động sau sự kiện này. Dệt may là một ngành kinh tế lớn của Việt Nam với trên
2000 doanh nghiệp, sử dụng khoảng 2 triệu lao động, kim ngạch xuất khẩu luôn đứng
thứ 2 sau dầu khí, chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Năm
2007, ngành dệt may đạt kim ngạch xuất khẩu 7,8 tỷ USD, tăng gấp 2,2 lần so với
năm 2004 và xếp thứ 9 trong các nước xuất khẩu ngành hàng may mặc trên thế giới.
Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu đạt 9,3 tỷ USD. Nếu như trong khoảng thời gian đầu
2008, ngành dệt may đã đạt được những bứớc tăng trưởng khá mạnh thì đến cuối
năm năm 2008 đầu năm 2009, Dệt may Việt Nam đang đứng trước rất nhiều khó
khăn, thách thức đặc biệt đối với các SME. Nếu những khó khăn của các SME Dệt
may khơng có những hướng giải quyết kịp thời thì sẽ không thể lường trước những
hậu quả đến tăng trưởng của ngành nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung.
Để có thể đạt đựợc mục tiêu “Phát triển ngành Dệt may trở thành một trong
những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; đáp ứng ngày càng
cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng
cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới” thì cần có những giải

pháp nào để hỗ trợ cho các SME Dệt may, nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều
kiện hội nhập. Bởi vì, có thể nhận thấy rằng chiếm tỷ lệ 78-80% trong số các doanh
nghiệp trong ngành DM, SMEs có một vị trí quan trọng dẫu vậy so với các doanh
nghiệp lớn trong nước và SMEs DM của các nước trong khu vực thì năng lực cạnh
tranh của SMEs DMVN cịn thấp hơn nhiều. Do vậy, cơng tác nâng cao năng lực


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

cạnh tranh cho SMEs DMVN là một bài tốn khó khơng những của riêng ngành Dệt
may mà cịn là của Chính phủ mà hiện tại vẫn chưa có lời giải phù hợp. Đặc biệt, sau
2 năm gia nhập WTO nhưng SMEs Dệt may Việt Nam vẫn chưa nhận thức hết được
những thách thức, áp lực cạnh tranh khi hội nhập, dẫn đến việc thiếu chuẩn bị, thiếu
phương án đối phó khi sản xuất kinh doanh khó khăn do phải cạnh tranh với hàng
ngoại và mức thuế nhập khẩu Dệt may đã giảm tới 2/3.
Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh của SMEs Dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO” làm đề tài cho chun
đề thực tập của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Với việc phân tích về thực trạng năng lực cạnh tranh của SMEs Dệt may Việt
Nam vào thời điểm trước và sau khi gia nhập WTO để từ đó đưa ra một số giải pháp
để góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các SME Dệt may trong điều kiện hội
nhập sâu. Bởi vì, việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các SMEs DMVN đồng
nghĩa với việc góp phần nâng cao khả năng đóng góp trong GDP của SMEs ngành
Dệt may nói riêng và đối với nền kinh tế nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tựơng nghiên cứu trong đề tài này là các Doanh nghiệp nhỏ và vừa
(SMEs) trong ngành Dệt may Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng năng lực cạnh
tranh của các SMEs Dệt May Việt Nam sau thời điểm Việt Nam là thành viên của Tổ

chức Thương mại thế giới (WTO).
4. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về SMEs nói chung và SMEs
DMVN nói riêng, các lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và các yếu tố
đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, các cam kết và hiệp định của ngành
DMVN khi gia nhập WTO.


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Đề tài đi vào phân tích về thực trạng năng lực cạnh tranh của các SMEs
DMVN thời điểm trước và sau khi gia nhập WTO.
Từ những thực trạng về năng lực cạnh tranh của các SMEs DMVN đã phân
tích ở trên từ đó đưa ra một vài giải pháp nhằm nâng cao năng lực của các SMEs DM
trong giai đoạn nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu.
Phương pháp nghiên cứu: đề tài sử dụng các phương pháp thống kê mô tả,
phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp suy luận
logic.
5. Kết quả dự kiến
Đề tài hy vọng sẽ đưa ra được một vài giải pháp mang tính thực tiễn và tính
hiệu quả cao trong việc góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các SMEs
DMVN. Nâng cao năng lực cạnh tranh đồng thời với việc nâng cao chất lượng tăng
trưởng của ngành Dệt may nói riêng và của tồn bộ nền kinh tế nói chung.


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG.

I.

Khái niệm, đặc điểm và vai trò của SME.

1.

Khái niệm

Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được sử dụng ở các nước trên thế giới
từ những năm đầu của thế kỷ XX và đựợc phát triển vào giữa những năm 50 của thế
kỷ này. Tuy vậy, ở VN khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ mới được biết đến
vào đầu những năm 1990. Trong từng giai đoạn khác nhau có những khái niệm và
quan điểm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong thời kỳ bao cấp, các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước được phân
loại dựa vào tiêu chí số lao động trong biên chế và theo phân cấp Trung ương- địa
phương có doanh nghiệp loại 1, 2, 3. Theo cơ sở phân loại đó thì doanh nghiệp nhỏ
và vừa tương ứng với doanh nghiệp loại 2 và loại 3.
Theo cơng văn số 681/CP-KCN của Chính phủ ban hành ngày 20/6/1998 về
việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong
đó quy định “doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới
5 tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 200 người”. Đây có thể coi là văn bản đầu
tiên đưa ra tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa, là cơ sở để cho phép thực hiện
các biện pháp hỗ trợ cho khu vực này.
Theo nghị định số 90/2001/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 23/11/2001
về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong Điều 3 của Nghị định đã đưa
ra khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký khơng q 10 tỷ đồng hoặc số
lao động trung bình hằng năm khơng q 300 người”.
Đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên chính thức quy định về doanh

nghiệp nhỏ và vừa, là cơ sở để các chính sách và biện pháp hỗ trợ của các cơ quan
nhà nước, các tổ chức trong và ngoài nước thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho các
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khái niệm trên được áp dụng thống nhất trên phạm vi cả


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

nước. Trong đề tài này sử dụng khái niệm trên để nghiên cứu về doanh nghiệp nhỏ và
vừa.
2.

Đặc điểm của SME

2.1 Đặc điểm của SMEs Việt Nam
Đặc điểm về vốn: đối với các SMEs có quy mơ về vốn nhỏ, theo quy định thì
SMEs có quy mơ vốn dưới 10 tỷ đồng, bởi xuất phát của SMEs chủ yếu là từ các
doanh nghiệp tư nhân. Với quy mô vốn nhỏ nên các SMEs gặp khó khăn trong việc
đầu tư để thay đổi cơng nghệ, mở rộng sản xuất hơn nữa SMEs cũng rất ít có cơ hội
để tiếp cận với các nguồn vốn bên ngồi trừ các nguồn từ chính sách của nhà nước.
Đặc điểm về lao động: lao động ít và trình độ tay nghề thấp là đặc điểm nổi
bật nhất của SMEs VN.
Đặc điểm về công nghệ: công nghệ sử dụng trong các SMEs VN đều là các
công nghệ cũ kỹ đã lạc hậu từ rất lâu. Có những SMEs cơng nghệ đã lạc hậu từ
khoảng 10 năm thậm chí là 15 năm. Mức đổi mới công nghệ chỉ bằng 5% so với
SMEs trong nước cũng như khu vực. Tỷ lệ dành cho đổi mới công nghệ so với tổng
doanh thu hàng năm rất ít thậm chí là khơng có.
Đặc điểm về thị trường: với quy mô nhỏ năng lực tài chính hạn hẹp tuy nên
sản phẩm của SMEs chỉ đáp ứng với nhu cầu của một vài đối tượng nên phân đoạn
thị trường của SMEs cũng được coi là hẹp.
2.2 Đặc điểm của SMEs Dệt may Việt Nam.

Cũng giống như các SMEs Việt Nam thì SMEs DMVN cũng có những đặc
điểm chung giống với SMEs khác, tuy nhiên lại có những đặc điểm khác biệt đặc
trưng riêng cho ngành của mình đó là:
Đặc điểm về lao động: một đặc điểm nổi bật đặc trưng cho SMEs DM VN đó
là có số lượng lao động đơng, trong đó tỷ lệ nữ giới chiếm một tỷ trọng lớn. Về chất
lượng của người lao động trong SMEs DMVN đang còn non kém về trình độ tay
nghề, về kỹ thuật chun mơn. Chủ yếu lao động trong SMEs DM là lao động phổ
thông, chỉ có rất ít lao động phụ trách bộ phận kỹ thuật là có trình độ nghề cơ bản.


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Đặc điểm về vốn: nếu các doanh nghiệp lớn về DM là những doanh nghiệp đã
tồn tại từ lâu nên đồng nghĩa với việc họ có một nguồn vốn tương đối lớn thì ngược
lại các SMEs DM lại sở hữu nguồn vốn nhỏ hơn. Tuy nhiên do đặc điểm của ngành
thì vốn sở hữu trong SMEs DM được đánh giá là ở mức trung bình so với các SME
cơng nghiệp khác.
Đặc điểm về nguyên liệu: đối với ngành Dệt may một đặc điểm rất quan trọng
và khác biệt với các ngành khác đó là sử dụng khối lượng nguyên phụ liệu lớn tuy
nhiên phải đến 90% nguyên phụ liệu này lại phải nhập khẩu từ nước ngồi. SMEs
phải đối mặt với khó khăn đó là năng lực tài chính hạn chế nhưng hầu hết các nguyên
phụ liệu phục vụ cho quá trình sản xuất phải nhập khẩu từ nước ngoài. Đây là một
đặc điểm khác biệt, nổi bật và rất quan trọng của SMEs DMVN.
Đặc điểm về công nghệ: cũng giống như các SME trong các ngành cơng
nghiệp khác thiết bị máy móc của SME rất lạc hậu, công nghệ thị chậm cải tiến. Hầu
hết các công nghệ trong SMEs DM phải lạc hậu đến 20 năm các nhà máy phân xưởng
của nhiều SMEs được xây dựng từ thời chiến tranh và đang xuống cấp nghiêm trọng.
Theo đánh giá của các chuyên gia, nếu như cho mức thang điểm 10 về công nghệ của
ngành Dệt may thì cơng nghệ của SMEs chỉ đạt điểm 3-3,5 tức là nằm ở vị trí sau so
với SMEs DM của các nước trong khu vực. Một đặc điểm nổi bật của SMEs DMVN

đó là sự phát triển không cân đối giũa thiết bị công nghệ của ngành may và ngành
Dệt. Nếu như công nghệ may trong SMEs đạt tới tầm hiện đại của thế giới thì cơng
nghệ Dệt lại rất lạc hậu và cũ kỹ. Sự phát triển không cân đối này đã làm giảm năng
lực cạnh tranh của SMEs DM so với doanh nghiệp lớn trong nội bộ ngành cũng như
SMEs DM của các nước trong khu vực có quy mơ tương đương.
3.

Vai trị của SME.

3.1 Vai trị của SMEs Việt Nam
Đóng góp quan trọng vào GDP của nền kinh tế: các SME ngày càng có những
đóng góp quan trọng vào GDP của nền kinh tế. Nếu vào những năm 1990 những
đóng góp này cịn chưa đáng kể thì đến năm 2005, tỷ lệ đóng góp vào GDP của các
SME vào khoảng 24-25,5%, năm 2007 thì tỷ lệ này là xấp xỉ 40%.


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: các SME được thành lập tại khu vực nông thôn,
vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa làm giảm tỷ trọng nông nghiệp tăng tỷ trọng của
các ngành cơng nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp và dịch vụ góp phần chuyển dịch cơ cấu
của nền kinh tế.
Nâng cao năng lực cạnh tranh và tính hiệu quả của nền kinh tế: sự ra đời của
các SME trên cùng một ngành sẽ làm giảm bớt tính độc quyền buộc các doanh nghiệp
phải cạnh tranh và liên tục đổi mới thì mới có thể tồn tại và phát triển được. Chính
điều này đã nâng cao tính hiệu quả của nền kinh tế.
Đóng góp quan trọng vào ngân sách nhà nước: tỷ lệ đóng góp vào ngân sách
nhà nước (NSNN) của các SME đang có xu hướng tăng dần trong thờigian tới đây.
Tỷ lệ đóng góp vào NSNN theo các năm 2001,2002 và 2007 lần lượt là 6,4%, 7,2%
và 17,46%.

Góp phần tăng tốc độ áp dụng công nghệ: các SME linh hoạt trong việc áp
dụng các phát minh mới và sáng kiến kỹ thuật. Do phái đối mặt với cạnh tranh của
các doanh nghiệp lớn nên thường xuyên cải tiến công nghệ để tạo ra sự khác biệt.
Tăng thu hút vốn: tỷ lệ vốn của các SME trong tổng số các doanh nghiệp của
nền kinh tế tăng nhanh theo thời gian. Tỷ lệ này trong năm 2008 là 28,92%.
Tạo ra một khối lượng việc làm lớn, giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh
xã hội: theo thống kê của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, năm 2007 các SME tạo ra
50% việc làm mới và số lao động của các SME chiếm đến 50,13% tổng số lao động
trong các doanh nghiệp.
3.2 Vai trò của SMEs Dệt may Việt Nam
Cũng giống như các SMEs VN, SMEs DM cũng có những vai trị tương tự
như các SMEs. Tuy nhiên, với đặc điểm của ngành DM thì SMEs DM có những đóng
góp quan trọng và nổi bật sau đây
Tạo ra một khối lượng việc làm lớn: tính đến cuối năm 2008, có 2350 SMEs
DM thì có đến 706 657 lao động, số lao động này chiếm đến 13-17% lao động làm
việc trong các DN công nghiệp VN, sử dụng đến 13% lao động của cả nước. Các


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

SME DM đã tạo ra khối lượng việc làm lớn đặc biệt là lao động ở nơng thơn, giảm tỷ
lệ thất nghiệp.
Đóng góp cho kim ngạch xuất khẩu: mặc dù chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 78%
nhưng SMEs DM có những đóng góp đáng kể cho kim ngạch xuất khẩu. Hàng năm
mức đóng góp của SMEs DM vào kim ngạch xuất khẩu vào khoảng 6,1-6,5 tỷ USD
và có xu hướng tăng dần theo thời gian. Đặc biệt năm 2007, ngành DM được xếp vào
Top 10 nhà xuất khẩu Dệt may lớn nhất thế giới.
Đóng góp vào GDP của nền kinh tế: giá trị sản xuất của SMEs DM hàng năm
vào khoảng 40 nghìn tỷ VND, chiếm 6,24% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả
nước.

II.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

1.

Khái niệm về lý thuyết cạnh tranh doanh nghiệp:

Cạnh tranh là một hiện tượng phổ biến trong tự nhiên, xã hội và kinh tế. Trong
nền kinh tế thị trường theo xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập ngày càng sâu thì cạnh
tranh lại càng trở nên gay gắt. Trong điều kiện đó, năng lực cạnh tranh thể hiện khả
năng “chiến đấu” trong quá trình tồn tại và phát triển của các sản phẩm, các doanh
nghiệp và cả quốc gia. Cạnh tranh của doanh nghiệp là một loại hình cạnh tranh trong
kinh doanh. Hiện nay vẫn còn nhiều vẫn còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn dang
đặt và cần được làm rõ như: cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là
gì? Hệ thống chỉ tiêu để đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm
những hệ thống nào? Các yếu tố nào tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp? các yếu tố để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp?
Khái niệm năng lực cạnh tranh được sử dụng cả ở phạm vi vĩ mô và vi mô.
Năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế được chia làm ba cấp độ: năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản
phẩm.
Nếu như năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được thể hiện bằng năng lực
cạnh tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế của nền kinh tế
quốc gia, khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế. Còn năng lực cạnh tranh


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

của doanh nghiệp thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc duy trì lợi thế cạnh

tranh, mở rộng thị phần để thu lợi nhuận. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là cơ
sở của năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới
và cũng có nhiều quan điểm cũng như nhiều hệ thống tiêu thức đo lường về năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Đến nay, khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vẫn còn chưa
được hiểu một cách thống nhất. Sau đây, đề tài đưa ra một vài khái niệm cơ bản và
đáng chú ý về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp do các tổ chức và các doanh
nghiệp đưa ra.
Khái niệm thứ nhất, “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy
trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp”. Đây là một khái niệm
được sử dụng khá phổ biến hiện nay trong các doanh nghiệp trên phạm vi tồn thế
giới. Theo khái niệm này thì năng lực cạnh tranh chính là khả năng tiêu thụ hàng hóa,
dịch vụ so với các đồi thủ và khả năng thu lợi của doanh nghiệp. Đây là cách tiếp cận
tương đồng với Lý thuyết thương mại truyền thống nghĩa là nghiên cứu năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp dựa trên cách tiếp cận của “kinh tế trọng cung”, chú trọng tới
mặt cung, chủ yếu quan tâm đến khâu bán hàng của người sản xuất kinh doanh. Do
vậy, hạn chế trong khái niệm này đó là chưa bao hàm được các phương thức, các yếu
tố duy trì năng lực cạnh tranh, chưa phản ánh một cách bao quát năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Khái niệm thứ hai, do Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế(OECD) có trích dẫn
khái niệm về năng lực cạnh tranh theo Từ điển Thuật ngữ chính sách thương
mại(1997). Theo đó “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực của một
doanh nghiệp không bị các doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Như
vậy, hiểu theo khái niệm này thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng
chống chịu trước sự tấn công của các doanh nghiệp khác. Hạn chế của khái niệm này
là khái niệm này mang tính định tính cao và rất khó đo lường bằng định lượng.


Website: Email : Tel (: 0918.775.368


Khái niệm thứ ba, là khái niệm do Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
(OECD) “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất tương đối cao trên
cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển
bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Theo Poter, năng suất lao động là
thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh.
Có thể nhận thấy rằng các khái niệm trên chưa gắn kết được việc thực hiện các
mục tiêu và các nhiệm vụ của các doanh nghiệp lại với nhau.
Đối với Việt Nam một nước có nền kinh tế cịn non kém nhưng hiện nay khi
đã gia nhập WTO phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gắt gao, thì việc đưa ra
một khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng và
không hề đơn giản.Ở đây qua việc tổng hợp các quan niệm và khái niệm khác nhau từ
đó đưa ra khái niệm cuối cùng về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau:
“Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi
thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và
sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt được lợi ích kinh tế cao và bền
vững”.
Tóm lại, có thể nhận thấy rằng năng lực cạnh tranh là một chỉ tiêu tổng hợp,
bao gồm nhiều chỉ tiêu tạo thành và có thể xác định cho một doanh nghiệp hay một
nhóm doanh nghiệp trong một nhóm ngành.
2.Các tiêu thức để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có nhiều hệ thống tiêu thức
đánh giá. Tuy nhiên, có 2 hệ thống tiêu thức hay được sử dụng hiện nay trên thế giới
là hệ thống 6 Ms của Philip Kolter và theo mơ hình “Kim cương” của Micheal Porter.
2.1 Mơ hình “ Kim cương”- Micheal Porter
Trong mơ hình “Kim cương” về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp do
Giáo sư Micheal Porter- Đại học Harvard đề xuất, mơ hình “Kim Cương” đưa ra
khung khổ phân tích để hiểu bản chất và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Theo mơ hình “Kim Cương”năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc
vào 4 nhóm yếu tố, mối nhóm yếu tố làm thảnh một đỉnh của cấu trúc “Kim Cương”.



Website: Email : Tel (: 0918.775.368

-

Các điều kiện yếu tố: bao gồm con người, các yếu tố vật chất, tri thức.

-

Các điều kiện nhu cầu: bao gồm quy mô, cơ cấu và sự tinh tế của thị

trường nội địa.
-

Các ngành cung cấp và các ngành có liên quan: là sự hiện diện hay

khơng có sự cạnh trạnh quốc tế đối với ngành kinh doanh hoặc các ngành có liên
quan.
-

Hiện trạng của doanh nghiệp: bao gồm chiến lược, cơ cấu, sự cạn tranh

trong nước.
Như vậy, theo mơ hình “Kim Cương”, việc đo lường năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp vừa dựa vào khả năng bên trong của doanh nghiệp vừa phụ thuộc
vào các yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp
Ngẫu nhiên

Ngữ cảnh của

doanh nghiệp

Các điều kiện
ngnnguwnnnyếu tố

Các điều kiện nhu
cầu

Các ngành cung ứng
liên quan

Nhà nước

Hình 1: Mơ hình Kim Cương của Porter, 1990(Nguồn: Porter, 1990)

2.2 Hệ thống tiêu thức 6 Ms- Phillip Kolter
Trong hệ thống của Phillip Kolter, có 6 tiêu thức để đánh giá năng lực cạnh
tranh.
- Vốn (Money).
- Nguyên vật liệu (Material).
- Thiết bị công nghệ (Machinery).


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

- Nhân lực (Manpower).
-

Quản lý (Manegement).


-Thị trường (Marketing)
Vốn: vốn chính là yếu tố đầu vào của doanh nghiệp và là một yếu tố sản xuất
cơ bản của doanh nghiệp. Vốn ở đây được hiều bao gồm: quy mô vốn, khả năng huy
động vốn, khả năng sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính,... Hơn thế
nữa, vốn là tiền đề đối với các yếu tố sản xuất khác, bởi vì việc huy động vốn kịp
thời sẽ đảm bảo cho việc đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về nguyên vật liệu, thuê nhân
công, mua thiết bị, tổ chức bán hàng, marketing sản phẩm,…Bên cạnh đó, sử dụng
vốn có hiệu quả như là quay vịng vốn nhanh có vai trị quan trọng giảm chi phí vốn,
giảm giá thành sản phẩm. Như vậy, có thể thấy rằng vốn có một yếu tố quan trọng
hàng đầu đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nguyên vật liệu: là một yếu tố đầu vào hết sức quan trọng đối với các doanh
nghiệp đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm. Đối với các doanh
nghiệp có thể nói, nguyên vật liệu chính là cơ sở cho việc sản xuất cho doanh nghiệp
mình. Nguyên vật liệu ở đây, bao gồm có khả năng tìm các nguồn cung cấp ngun
vật liệu, khă năng dự trữ nguyên vật liệu,.., Nguyên vật liệu ảnh hưởng đến quy trình
sản xuất, chất lượng sản phẩm cũng như sự khác biệt với các doanh nghiệp khác. Do
vậy, khi nói đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không thể bỏ qua nhân tố này.
Thiết bị công nghệ: đối với các doanh nghiệp thiết bị công nghệ tác động đến
việc giảm tiêu hao năng lượng, rút ngắn thời gian sản xuất, nâng cao chất lượng sản
phẩm nhờ việc tăng năng suất tạo ra những lợi thế cạnh tranh so với đối thủ. Do vậy,
yếu tố công nghệ sẽ là một yếu tố quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp. Trong đó vấn đề mà các doanh nghiệp cần phải chú ý hiện nay đó là
cần phải cập nhật các thơng tin về công nghệ, chuyển giao công nghệ, tăng cường cải
tiến công nghệ, tập trung vào R&D,…
Nhân lực: nhân lực ở đây là một khái niệm tổng hợp được nói đến bao gồm
lực lượng lao động của doanh nghiệp và năng lực tay nghề của lao động. Lao động là
lực lượng sản xuất trực tiếp sử dụng các phương tiện, thiết bị máy móc để tạo ra sản


Website: Email : Tel (: 0918.775.368


phẩm và lao động cũng là yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Trình độ của lao động là
yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và tính đặc trưng riêng của sản phẩm, dẫn
đến ảnh hưởng tới chi phí và giá thành của sản phẩm. Như vậy, có thể nhận thấy rằng
nhân lực chính là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Quản lý: Trong một doanh nghiệp, năng lực tổ chức và quản lý của daonh
nghiệp chính là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp hay
nói rộng ra chính là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Quản lý
của doanh nghiệp ở đây được hiểu là trình độ của đội ngũ quản lý bao gồm trình độ
tổ chức, quản lý và điều hành doanh nghiệp. Tất cả các nhiệm vụ trên của đội ngũ
quản lý đều tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, do vậy quản lý chính
là một yếu tố khôn thể thiếu để đo lường năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp.
Thị trường: được hiểu ở đây có thể là đầu ra của doanh nghiệp khả năng nắm
nhu cầu của thị trường, khả năng trong việc thực hiện các hoạt động marketing. Khả
năng Marketing tác động trực tiếp đến việc tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách
hàng, góp phần tăng doanh thu, tăng thị phần của sản phẩm, nâng cao vị thế của
doanh nghiệp. Chính vì vậy, đây là một nhân tố quan trọng tác động tới năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp.
Hệ thống tiêu thức này được sử dụng ở cả 3 cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và
sản phẩm.
Hiện nay, hệ thống tiêu thức 6 Ms của Philip Kolter vẫn được sử dụng khá
phổ biến trên thế giới và các doanh nghiệp trong nước. Trong đề tài này, sử dụng hệ
thống 6 Ms làm tiêu thức đánh giá năng lực cạnh tranh của các SMEs DMVN.
III.Các cam kết khi gia nhập WTO có ảnh hường tới SMEs DMVN.
1.
Giới thiệu chung về WTO
WTO có tên đầy đủ là

Tổ chức thương mại thế giới- World Trade


Organization. Tổ chức này được thành lập và đi vào hoạt động từ 1/1/1995 với mục
tiêu thiết lập và duy trì một nền thương mại tự do thuận lợi và minh bạch.


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

WTO là tổ chức này kế thừa và phát triển các quy định và thực tiễn thực thi
hiệp định chung về thương mại và thuế quan-GATT 1947(chỉ giới hạn về thương
mại hàng hóa) và là kết quả trực tiếp của “Vòng đàm phán URugoay”(bao trùm các
lĩnh vực thương mại hàng hóa, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư). Tính đến ngày
11/1/2007, thời điểm Việt Nam chính thức là thành viên của WTO tổ chức này đã có
150 thành viên. Thành viên của WTO là các quốc gia ví dụ như Việt Nam, Hoa kỳ…
hoặc các vùng lãnh thổ tự trị về quan hệ ngoại thương ví dụ EU, Đài Loan, Hồng
Kơng…
1.1

Nhiệm vụ của WTO:

WTO được thành lập với 4 nhiệm vụ chủ yếu:


Thúc đẩy việc thực hiện các hiệp định và cam kết đã đạt được trong

khổi WTO và cả những cam kết trong tương lai nếu có


Tạo diễn đàn để các thành viên tiếp tục đàm phán, ký kết các hiệp

định, cam kết mới về tự do hóa và tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại.



Giải quyết các tranh chấp thương mại phát sinh giữa các thành viên

của WTO


Rà sốt định kỳ các chính sách thương mại của các thành viên

1.2

Các quy định của WTO.

WTO là một tập rất nhiều quy định, được sắp xếp theo một hệ thống nhất
định. Cụ thể, hệ thống các quy định tronmg WTO được chia thành 3 nhóm, bao gồm:
-

Nhóm các hiệp định chung(Hiệp định đa biên)

-

Nhóm các biểu cam kết riêng

-

Nhóm các hiệp định nhiều bên



Nhóm các hiệp đinh chung: cho đến nay, WTO có tổng cộng 16 hiệp


định chung là tập hợp các nguyên tắc thương mại có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối
với tất cả các thành viên WTO, tập trung vào 3 lĩnh vực:
-

Thương mại hàng hóa (Hiệp định GATT và các hiệp định bổ sung)

-

Thương mại dịch vụ(hiệp định GATS và các phụ lục)


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

-

Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp

định TRIPS)


Nhóm các bảng cam kết về mở cửa thị trường của từng thành viên

Các bảng cam kết vê mở cửa thị trường là tập hợp các cam kết giảm thuế quan
và lộ trình mở cửa đồi với từng loại dịch vụ của từng thành viên
Mỗi thành viên WTO có bảng cam kết riêng với mức cam kết và lộ trình thực
hiện riêng (là kết quả của đàm phán được với các thành viên khác trong WTO)


Nhóm các hiệp định nhiều bên


Trong WTO có một số hiệp định mà chỉ một số thành viên WTO ký kết và chỉ
có hiệu lực với các thành viên này. Người ta gọi các hiệp định này là hiệp định
thương mại nhiều bên(để phân biệt với 16 hiệp định chung mà tất cả các thành viên
WTO đều có nghĩa vụ thực hiện). Hiện nay, chỉ cịn 02 hiệp định trong số này có hiệu
lực.
1.3

Các nguyên tắc cơ bản của WTO

Mặc dù khá dài và phức tạp, các hiệp định trong WTO tuân thủ theo một số
nguyên tắc chủ đạo, trong đó có những nguyên tắc trực tiếp tác động đến quyền và
lợi ích của các doanh nghiệp.


Nguyên tắc tối huệ quốc(MFN) theo nguyên tắc này mỗi nước thành

viên, phải dành sự đối xử khơng phân biệt cho hàng hóa và dịch vụ đến từ các nước
thành viên WTO khác nhau.
Như vậy, đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vào một thị trường theo nguyên
tắc này sẽ được cạnh tranh công bằng với các doanh nghiệp xuất khẩu đến từ nước
khác.


Nguyên tắc đối xử quốc gia(NT): nguyên tắc này đòi hỏi mỗi nước

thành viên phải đối xử hàng hóa, dịch vụ đến từ các nước thành viên khác(sau khi đã
hoàn tất các thủ tục thuế quan) khơng kém thuận lợi hơn hàng hóa dịch vụ nội địa của
mình.
Với nguyên tắc này, doanh nghiệp xuất khẩu vào một thị trường nhập khẩu về

cơ bản sẽ được cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp nội địa nước nhập khẩu đó


Website: Email : Tel (: 0918.775.368



Nguyên tắc cắt giảm thuế quan và không sử dụng các biện pháp phi

thuế quan.
Theo nguyên tắc này, các thành viên WTO phải cam kết cắt giảm dần thuế
quan và chỉ sử dụng hệ thống thuế quan này để bảo vệ sản xuất trong nước, phải bãi
bỏ các biện pháp bảo hộ phi thuế quan(hạn ngạch, cấp phép nhập khẩu)..trừ một số
trường hợp hạn hữu được phép.
Với nguyên tắc này, việc nhập khẩu hàng hóa sẽ trở nên rõ ràng và dễ dự đoán
hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu.


Nguyên tắc minh bạch: nguyên tắc này địi hỏi các thành viên trong

WTO phải cơng khai, rõ ràng, dễ dự đốn trong các thủ tục, quy trình hay quy định
liên quan đến thương mại.
Với nguyên tắc này, doanh nghiệp sẽ dễ dàng tìm kiếm thơng tin cần thiết cho
hoạt động kinh doanh của mình mà khơng phải mất q nhiều chi phí. Ngồi ra, minh
bạch hóa cũng giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc nhận biết và bảo vệ lợi ích
hợp pháp của mình.
2.Các cam kết của ngành Dệt may
2.1 Cam kết đa phương:
Về dệt may, các thành viên WTO sẽ không đựơc áp dụng hạn ngạch dệt may
đối với Việt Nam khi vào WTO (riêng trường hợp ta vi phạm quy định WTO về trợ

cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì một số nước có thể biện pháp trả đũa nhất định).
Ngồi ra thành viên WTO cũng sẽ không đựơc áp dụng tự vệ đặc biệt đối với hàng
dệt may của nước ta.
2.2 Cam kết về cắt giảm thuế suất theo lộ trình
Gia nhập WTO, Việt Nam phải cam kết mở cửa thị trường trong nước cho hàng hóa
nước ngồi, chủ yếu thơng qua cắt giảm thuế nhập khẩu.
Cam kết về thuế nhập khẩu đối với hàng dệt may(từng nhóm sản phẩm và trong so
sánh với cam kết cắt giảm thuế quan đối với tất cả các mặt hàng) được tóm tắt trong
bảng sau:


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Bảng 1: Cam kết về cắt giảm thuế nhập khẩu trong WTO đối với hàng DMVN
STT Chỉ tiêu

Thuế suất
MFN trước gia
nhập(%)

Thuế suất cam kết trong gia nhập WTO

1

Thuế suất bình quân

17,4%

Khi gia
nhập

17,2%

2

Thuế suất bình qn
sản phẩm cơng
nghiệp
Thuế suất bình qn
ngành dệt may
Vải

16,7%

16,2%

12,4%

37,3 %

13,7%

13,7%

40%

12%

12%

Quần áo


50%

20%

20%

Sợi

20%

5%

5%

3

Thuế suất
cuối cùng
13,4%

Thời hạn thực
hiện
Cơ bản sau 3-5
năm
Cơ bản sau 3-5
năm
Ngay khi gia
nhập WTO
Ngay khi gia

nhập WTO
Ngay khi gia
nhập WTO
Ngay khi gia
nhập WTO

Nhìn vào biểu cam kết thuế quan đối với sản phẩm dệt may, có thể thấy một số điểm
quan trọng như sau:
Khơng có lộ trình cho việc cắt giảm: Việt Nam phải cắt giảm thuế quan đối với hàng
dệt may xuống mức cuối cùng ngay khi Việt Nam gia nhập WTO(ngày 11/1/2007)
trong khi lộ trình cắt giảm thuế quan đối với các hàng hóa khác thường là từ 5-7 năm;
do đó ngành dệt may sẽ khơng có thời gian chuẩn bị mà phải lập tức cạnh tranh nay
với hàng nhập khẩu được cắt giảm thuế quan kể từ ngày 11/1/2007.
Mức cắt giảm thuế cao: hàng dệt may có mức cắt giảm thuế nhập khẩu cao nhất
trong toàn bộ Biểu cam kết về cắt giảm thuế quan đối với tất cả các loại hàng hóa,
trong đó có nhóm hàng giảm thuế nhiều nhất là xơ, sợi, vải, quần áo, đồ may sẵn.
Tuy nhiên mức cam kết này vẫn là thấp so với các cam kết cắt giảm thuế quan đối
với hàng dệt may trong các cam kết tự do hóa thương mại mà Việt Nam đã ký kết và
đã thực hiện theo lộ trình( khu vực mậu dịch tự do ASEAN- AFTA; khu vực mậu
dịch tự do ASEAN- Trung Quốc ACFTA; khu vực mậu dịch tự do ASEAN- HÀn
Quốc AKFTA). Ngoài ra, Việt Nam cũng đang đàm phán các hiệp định về khu vực
mậu dịch tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản, Úc, Ấn Độ và New Zealand. Như vậy,
doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt nhiều hơn với hàng Dệt may từ các nước có
cam kết tự do hóa thương mại với Việt Nam so với hàng dệt may đến từ các nước
thành viên WTO khác.


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Bảng 2: Cam kết cắt giảm thuế quan đối với hàng DMVN trong các hiệp định

thương mại khu vực
Năm

Thuế suất theo
AFTA
5%
0%

2006
2015
2.3

Thuế suất theo
ACFTA
27,8%
1,97%

Thuế suất theo
AKFTA
33,4%
9,3%

Hiệp định tự do hóa thương mại theo ngành: Hiệp định dệt may

Theo cam kết của WTO, các nước mới tham gia vào WTO th́ phải tham gia
hiệp định tự do một số ngành. Dệt may là một trong số 3 ngành đầu tiêm tham gia
vào hiệp định thương mại tự do ngành.
Việc tham gia Hiệp định dệt may, thực hiện đa phương hóa mức thuế đã cam
kết theo các Hiệp định thương mại dệt may với EU, Hoa Kỳ đã dẫn đến giảm thuế
đáng kể đối với các mặt hàng này: vải từ 40% xuống còn 12%, quần áo từ 50%

xuống 20%,sợi từ 20% xuống 5%. Theo Hiệp định Dệt may, số dòng thuế tham gia
Hiệp định là 1.170, với mức thuế suất hiện hành là 37,2% thì thuế suất cam kết cuối
cùng sẽ giảm còn 13,2%.
Theo các cam kết của WTO, khi việt Nam là thành viên của WTO, các nước thành
viên khác có nghĩa vụ đối xử binh đẳng theo nguyên tăc tối huệ quốc và đối xử quốc
gia. Khi Việt Nam thực hiện hiệp định Dệt may sẽ có những tác động chủ yếu sau đối
với ngành Dệt may, xét theo khía cạnh xuất khẩu và sản xuất trong nước:
Đối với xuất khẩu:
Về số lượng xuất khẩu: hạn ngạch vào các thị trường được dỡ bỏ, doanh nghiệp dệt
may có thể tự do xuất khẩu theo nhu cầu thị trường.
Về thuế quan: theo nguyên tắc Tối huệ quốc(MFN), hàng Dệt may Việt Nam nhập
khẩu vào các nước thành viên WTO sẽ được áp dụng các mức thuế tương tự như thuế
đối với hàng Dệt may nhập khẩu từ các nước khác vào nước đó.
Về việc mua bán trên thị trường: theo nguyên tắc Đối xử quốc gia(NT), hàng dệt
may Việt Nam khi nhập khẩu vòa một nước thành viên WTO sẽ được đối xử bình
đẳng với hàng Dệt may nội địa của họ(về thuế, lệ phí, phí, các quy định liên quan đến
việc bán hàng, cạnh tranh…)
Đối với sản xuất trong nước


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Những thuận lợi từ việc xuất khẩu của hàng dệt may khi Việt Nam gia nhập WTO
được dự báo kéo theo dòng đầu tư nước ngoài(trực tiếp và gián tiếp) lớn hơn vào
ngành dệt may và hạ tầng phục vụ sản xuất dệt may. Điều này mang lại cho ngành
nhiều lợi thế như:
Khả năng cạnh tranh có thể được tăng cường: với việc bổ sung vốn cho các doanh
nghiệp đang tồn tại và sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới.
Cơ hội tiếp cận với công nghệ: tăng thêm cơ hội tiếp cận với khả năng quản lý và
công nghệ kỹ thuật mới.

Tuy nhiên, những lợi lợi ích và cơ hội nói trên lớn chỉ ở dạng tiềm năng. Việc biến
các tiềm năng này thành lợi ích kinh tế thực sự phụ thuộc vào năng lực và sự chủ
động của từng doanh nghiệp.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
SMEs DỆT MAY VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO.
I.

THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH

DOANH CỦA CÁC SMEs DỆT MAY VIỆT NAM.
1.

Thực trạng về quy mô và số lượng

Ngành Dệt may được xem là một trong những ngành mũi nhọn trọng điểm của
nền kinh tế nước ta trong giai đoạn cơng nghiệp hóa hiện đại hóa. Trong những năm
vừa qua các doanh nghiệp của ngành Dệt may Việt Nam đã có những đóng góp đáng
kể đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Trong đó phải kể đến sự đóng góp về
vấn đề giải quyết một khối lượng việc làm lớn và đóng góp lớn cho kim nghạch xuất
khẩu. Đặc biệt trong những năm gần đây đã chứng kiến sự ra đời và phát triển lớn
mạnh của các loại hình doanh nghiệp Dệt may.
Theo thống kê của Tổng cục Thống kê, tính đến hết tháng 8 năm 2008 cả nước
có trên 357 000 doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh với tổng số vốn lên tới 1415
nghìn tỷ đồng, tương đương với 86 tỷ USD. Trong số đó các doanh nghiệp vừa và
nhỏ(SMEs) chiếm đến 95%, nghĩa là có khoảng 339 150 doanh nghiệp, tổng số vốn
của SMEs lên đến 1 344,25 tỷ đồng tương đương với 81,7 tỷ USD. Nếu năm 2001,


Website: Email : Tel (: 0918.775.368


trung bình cứ 916 người dân thì có một SME, thì đến năm 2008 con số này là cứ
231 người dân thì có 1 doanh nghiệp. Mặc dù đây là một con số đáng lưu ý tuy nhiên
nếu so với mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và mục tiêu mà các nền
kinh tế APEC phấn đấu đạt chỉ tiêu là 20 người dân/1 SME thì tỷ lệ trên vẫn còn rất
thấp.
Trong quan điểm phát triển của Đảng và Nhà nước, ngành Dệt may được xác
định là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn quan trọng của nền kinh tế và
vẫn là một ngành có vai trị chủ đạo trong vịng 10 năm tới. Sự phát triển nhanh
chóng của ngành trong những năm vừa qua đã thể hiện phần nào vị trí của ngành
trong tồn bộ nền kinh tế.
Thực trạng về số lượng của SMEs DMVN: Tính đến thời điểm tháng 12/2008,
trên tồn quốc có khoảng 2500 doanh nghiệp DM, trong đó có xấp xỉ 1500 doanh
nghiệp nằm ở khu vực phía Bắc, số cịn lại nằm ở khu vực phía Bắc và miền Trung.
Ngành DM thu hút khoảng 2,2 triệu lao động dự kiến số lao động sẽ tăng 3,5-4 triệu
lao động vào năm 2010, chiếm 5% tổng số việc làm cả nước và chiếm đến 40% số
việc làm trong ngành công nghiệp sản xuất và chế biến. Trong ngành DMVN, số
lượng SMEs chiếm một tỷ lệ tương đối là 77%, SMEs DM chủ yếu là thuộc thành
phần kinh tế nhân. Số lượng SMEs DM xấp xỉ khoảng 1950 doanh nghiệp, số lượng
lao động của SMEs vào khoảng 1,7 triệu lao động, số lao động này chiếm 3,9% tổng
số việc làm của cả nước và chiếm đến 30,91% số việc làm trong ngành sản xuất công
nghiệp và chế biến.
Bảng3: Số lượng và tỷ lệ % so với tổng số doanh nghiệp DM theo qui mô LĐ
Tổng số DN
Dưới 10 người

2000
978
62


2001
1352
6%

2002
1612

265 20% 185

2003
1909
11% 229

2004
2398
12% 332

14%

10 – 299 người 624 64% 762 56% 1006 62% 1175 62% 1506 63%
(Tổng hợp từ Nguồn của Tổng cục Thống kê)
Nhận xét: Từ bảng số liệu trên có thể nhận thấy rằng số lượng SMEs trong
ngành Dệt may tăng dần theo thời gian, tỷ lệ của SMEs so với tổng số các doanh


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

nghiệp trong ngành thay đổi trong khoảng 70-77% và trong thời kỳ 2000-2004 số
lượng SMEs Dệt may tăng gấp 2,41 lần. Từ đó có thể thấy vị trí của SMEs đối với sự
phát triển của toàn bộ nghành Dệt may.

Thực trạng về quy mô của SMEs DMVN: So với các doanh nghiệp lớn trong
ngành thì quy mơ về lao động của các SMEs có một khoảng cách tương đối xa.
Trong các doanh nghiệp lớn của ngành Dệt may số lao động thường lên đến hàng
nghìn cơng nhân thì các SMEs chỉ có số lao động tối đa xấp xỉ khoảng 300 công
nhân. Bảng sau đây thể hiện khá rõ nét sự chênh lệch đó:

BẢNG 4: SỐ LĐ CĨ HỢP ĐỒNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DM
Đơn vị: Người
Tình trạng hợp đồng

Tổng số Loại hình doanh nghiệp

DN Lớn
SMEs
Số lao động có hợp đồng
565.228 500.167
65.061
Trong đó nữ
444.755 398.805
45.950
Số LĐ không được trả công, trả lương 2.003
1.334
669
Trong đó nữ
1.314
1.024
290
(Nguồn: Tổng cục Thống kê-tổng hợp từ điều tra doanh nghiệp năm 2002-2007)
Nhận xét: Như vậy, từ bảng trên có thể nhận thấy sự chênh lệch rõ rệt về số
lao động giữa các doanh nghiệp lớn và các SMEs trong ngành DM, số lao động trong

các doanh nghiệp lớn nhiều gấp 7,7 lần số lao động trong SMEs. Cũng từ kết quả của
Bảng 2, thấy rằng quy mô về lao động trong SMEs đang có xu hướng tăng lên theo
thời gian. Số lượng các SMEs có số lao động dưới 10 người đang có xu hướng giảm,
trong khi đó quy mơ của các SMEs có số lao động 10-300 có xu hướng tăng lên đáng
kể. Một đặc điểm mang tính đặc thù dễ dàng nhận ra trong các doanh nghiệp DM đó
là tỷ lệ lao động nữ chiếm một tỷ lệ khá lớn. Trong các doanh nghiệp DM lớn tỷ lệ
lao động nữ chiếm đến 79,67% thì tỷ lệ này trong SMEs là 70,63%.


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

2.Thực trạng về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của SMEs DMVN
Về tốc độ tăng trưởng: trong những năm qua, ngành Dệt may có tốc độ tăng
trưởng khá, với tốc độ tăng trưởng của năm trước cao hơn năm sau, với mức đóng
góp chiếm 9,55% so với GDP. Nếu trong thời kỳ 2000-2004, tốc độ tăng trưởng bình
qn của tồn ngành Dệt may là vào khoảng 14% thì đến thời kỳ 2005-2008, tốc độ
tăng trưởng bình qn của tồn ngành đã là 19-20%. Kể từ năm 2002 trở đi ngành
Dệt may ln có tốc độ tăng trưởng là 2 con số và có tốc độ cao hơn tốc độ tăng
trưởng chung của tồn bộ ngành chế biến cơng nghiệp. Đồ thị dưới đây biểu diễn tốc
độ tăng trưởng của toàn ngành Dệt may trong giai đoạn 2002-2007.

Biểu1: Tốc độ tăng trưởng ngành Dệt may 2002-2007

(Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam)
Trong sự tăng trưởng của tồn ngành Dệt may có đóng góp khơng nhỏ của
SMEs Dệt may, bộ phận chủ đạo trong toàn bộ ngành. Giá trị sản xuất của SMEs Dệt
may năm 2007 là 38,844 nghìn tỷ VND, chiếm đến 6,24% tổng giá trị sản xuất công
nghiệp cả nước, trong đó giá trị sản xuất sản phẩm của SMEs trong ngành Dệt



Website: Email : Tel (: 0918.775.368

chiếm đến 42,12%. Không những vậy, hầu hết các sản phẩm của SMEs DMVN đều
có vai trị quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước.
Theo tính toán của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, trong thị trường nội địa tổng doanh
thu của SMEs DMVN đạt xấp xỉ 156 triệu USD, mặc dầu vậy con số này của SMEs
chỉ mới đáp ứng được gần 3,9% nhu cầu trong nước. Đây là một tỷ lệ đáng khích lệ
đối với SMEs DMVN, tuy nhiên so với những tiếm năng hiện có thì vẫn chưa phải là
một tỷ lệ xứng đáng.
Về kim ngạch xuất khẩu:ngành Dệt may được đánh giá là “Á quân” của xuất
khẩu VN, chỉ đứng sau dầu mỏ, kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt may chiếm 15%
kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tốc độ tăng giá trị xuất khẩu Dệt may trung bình
giai đoạn 2000-2006 là 21% cao hơn so với tốc độ xuất khẩu chung của cả nước là
18%. Đặc biệt, trong những năm gần đây ngành DMVN đã thể hiện được vị trí “Á
quân” của mình. Năm 2007, ngành DMVN được đứng vào Top 10 nước có kim
ngạch xuất khẩu dệt may lớn nhất của thế giới chỉ đứng sau Trung Quốc, EU, Thổ
Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Mehyco, Hồng Kong, Bawngladet xấp xỉ Indonesia và Mỹ.
Trong những thành tích mà ngành DMVN về xuất khẩu thì tỷ lệ đóng góp của
SMEs chiếm đến 76-82% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành. Năm 2007, tổng kim
ngạch xuất khẩu của toàn ngành DMVN đạt được là 7,785 tỷ USD thì SMEs đóng
góp tới 6,0723 tỷ USD chiếm đến 78% so với tổng KNXK của toàn ngành. Bảng sau
đây thể hiện doanh thu xuất khẩu theo USD của toàn bộ ngành DMVN và của SMEs
DMVN.
Biểu 2:Doanh thu xuất khẩu của các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam
Nhận xét: Từ biều đồ thấy rằng, SMEs DMVN chiếm đến 78-80% trong tổng

số các DN của ngành DM và mức đóng góp 76-82% trong KNXK của ngành từ đó
thấy được vai trị quan trọng của SMEs. Đóng góp vào KNXK của SMEs DMVN
tăng theo thời gian về cả số lượng và về tỷ lệ. Tuy nhiên, để có thể nâng cao hơn nữa
chất và lượng đóng góp của SMEs DMVN thì cần có những giải pháp thiết thực để
có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của SMEs DMVN.
Về tình hình lỗ, lãi của SMEs DMVN: cũng giống như các SMEs Việt Nam
khác thì SMEs DMVN cũng mang đặc điểm có năng lực tài chính, năng lực về công
nghệ và các yếu tố khác hạn chế nên phải đối mặt với cạnh tranh và khả năng phá
sản khi khơng cịn cạnh tranh được là điều tất yếu. Bảng dưới đây tổng kết về tình
hình các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ của các SMEs và các DN lớn của ngành
DMVN, giai đoạn 2002-2007.
Bảng 5: Số lượng doanh nghiệp DMVN làm ăn thua lỗ
Tổng ngành
Số
Số
lượng
lượng
doanh
doanh

%

Số
lượng
doanh

SMEs
Số
lượng
doanh


%

Doanh nghiệp lớn
Số
Số
lượng
lượng
doanh
doanh
%


×