Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI LÊN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG NGẮN HẠN VÀ DÀI HẠN LUẬN VĂN THẠC SĨ.PDF

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (767.39 KB, 83 trang )

B GIÁO DC VÀ ÀO TO
TRNG I HC KINH T TP.HCM












NGUYN TH LINH




TÁC NG CA T GIÁ HI OÁI LÊN
CÁN CÂN THNG MI VIT NAM
TRONG NGN HN VÀ DÀI HN



Chuyên ngành : Kinh t tài chính - Ngân hàng
Mã s : 60.31.12





LUN VN THC S KINH T



NGI HNG DN KHOA HC
PGS.TS. TRN NGC TH







TP. H CHÍ MINH – NM 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn ‘‘Tác ñộng của tỷ giá hối ñoái lên cán cân thương mại
của Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn giai ñoạn 2000 – 2011’’ là công trình
nghiên cứu của chính tác giả, nội dung được đúc kết từ quá trình học tập và các kết quả
nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua, số liệu sử dụng là trung thực và có nguồn gốc
trích dẫn rõ ràng. Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS.
Trần Ngọc Thơ.

Tác giả luận văn


NGUYỄN THỊ LINH

















2


LỜI CẢM ƠN
Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu và Khoa Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học
Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên
cứu trong suốt thời gian qua.
Tôi chân thành cảm ơn các Thầy Cô Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
đã nhiệt tình giảng dạy cho tôi trong suốt quá trình tham gia học tập tại Trường.
Tôi chân thành cảm ơn Thầy –GS.TS. Trần Ngọc Thơ đã tận tình chỉ bảo, góp ý và
động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để
tôi hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn.

Tác giả luận văn



NGUYỄN THỊ LINH









3


MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
TÓM LƯỢC 6
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG I 9
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 9
1.1. Mối quan hệ của tỷ giá hối ñoái và cán cân thương mại 9
1.1.1.Tỷ giá hối ñoái 9
1.1.2. Cán cân thương mại 10
1.1.3. Mối quan hệ của tỷ giá hối ñoái và cán cân thương mại 11
1.2. Tổng quan nghiên cứu trước ñây 14
1.2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài 14
1.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường Việt Nam 17
CHƯƠNG II 20
MÔ HÌNH VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 20
2.2. Dữ liệu nghiên cứu 21
2.3. Phương pháp nghiên cứu 28

CHƯƠNG III 29
ƯỚC LƯỢNG TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI LÊN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM 29
3.1.Kiểm ñịnh nghiệm ñơn vị các biến cân bằng 29
3.3. Kiểm ñịnh ñồng liên kết theo phương pháp Johansen 31
3.4. Kiểm ñịnh mối quan hệ trong dài hạn 32
3.5. Tác ñộng của TGHĐ lên cán cân thương mại trong ngắn hạn – Mô hình hiệu chỉnh sai số
ECM 34
3.6. Những hạn chế trong kết quả nghiên cứu 36
KẾT LUẬN 38
4


TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Tài liệu tham khảo tiếng Việt 39
Tài liệu tham khảo tiếng Anh 40
PHỤ LỤC 42
PHỤ LỤC 1: Tóm tắt về kiểm ñịnh ADF, mô hình tự hồi quy vecto VAR, mô hình vecto hiệu
chỉnh sai số VECM và dữ liệu nghiên cứu 42
PHỤ LỤC 2: Kết quả kiểm ñịnh tính dừng ADF các biến 60
PHỤ LỤC 3: Kết quả kiểm ñịnh ñồng liên kết Johansen 70
PHỤ LỤC 4: Kết quả ước lượng mô hình ECM 72
PHỤ LỤC 5: Kết quả kiểm ñịnh ñồng liên kết của hàm cầu xuất khẩu (LnX) 74
PHỤ LỤC 6: Kết quả kiểm ñịnh ñồng liên kết của hàm cầu nhập khẩu (LnM) 75
PHỤ LỤC 7: Kết quả chạy mô hình VECM hàm cầu xuất khẩu (LnX) 77
PHỤ LỤC 8: Kết quả chạy mô hình VECM hàm cầu nhập khẩu (LnM) 79














5


DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
Hình 1.1: Hiệu ứng đường cong J
Bảng 2.1. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa, tỷ giá thực hiệu lực, cán cân thương mại
Bảng 3.1. Kết quả kiểm định ADF các biến ước lượng cân bằng
Bảng 3.2. Bảng độ trễ tối ưu
Bảng 3.3.Kết quả kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johansen
Bảng 3.4. Kết quả hồi ước lượng vecto sai số ngẫu nhiên VECM hàm cầu xuất khẩu và
hàm cầu nhập khẩu
Bảng 3.5. Kết quả ước lượng cán cân thương mại bằng mô hình ECM
Hình 3.1. Phản ứng của Cán cân thương mại khi có sự mất giá tiền tệ.



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

- ADB: Ngân hàng phát triển Châu Á - Asia Development Bank
- ADF: Kiểm đinh ADF - Augmented Dickey-Fuller
- CCTM: Cán cân thương mại – Trade balance

- CPI: Chỉ số giá tiêu dùng - Consumer Price Index
- ECM: Mô hình hiệu chỉnh sai số - Error correction model
- GSO: tổng cục thống kê Việt Nam - General Statistics Office
- GDP: thu nhập quốc dân – Gross Domestic Product
- IFS: thống kê tài chính - International Financial statistics
- IMF: quỹ tiền tệ quốc tế - International Monetary Fund
- NHNN: Ngân hàng nhà nước – The state Bank of Việt Nam
- USD: Đô la Mỹ - United State Dollars
- VAR : Mô hình tự hồi quy vecto – Vecto Autoregresstion Model
- VECM: Mô hình vecto hiệu chỉnh sai số - Vector Error Correction Model
- VND: Việt Nam đồng

6


TÓM LƯỢC
Nghiên cứu này thực hiện nhằm kiểm tra sự tác động của những thay đổi của tỷ
giá hối đoái lên cán cân thương mại của Việt Nam trong ngắn và dài hạn giai đoạn
2000 – 2011. Trong bài nghiên cứu này các yếu tố sau được coi là yếu tố chính tác
động lên cán cân thương mại: tỷ giá hối đoái thực, thu nhập trong nước và thu nhập từ
các đối tác thương mại chính. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu thực
nghiệm bằng cách sử dụng lý thuyết đồng liên kết và mô hình hiệu chỉnh sai số-ECM
để ước lượng các biến trong mô hình. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến nghiên cứu
đều có mối tương quan đồng liên kết. Trong ngắn hạn, ngay sau khi có cú sốc tỷ giá
làm cho cán cân thương mại xấu đi, thu nhập trong nước và nước ngoài không có tác
động rõ rệt lên cán cân thương mại. Tuy nhiên trong dài hạn thì cả tỷ giá hối đoái và
thu nhập quốc dân đều có ảnh hưởng lên cán cân thương mại, điều này phù hợp với
điều kiện Marshall-Lerner.






Từ khóa: Tỷ giá hối ñoái, Cán cân thương mại, mô hình hồi quy hiệu chỉnh sai số
(ECM), mô hình ARDL







7


MỞ ĐẦU

Việt Nam là nền kinh tế mới nổi rất được chú ý đang trong quá trình công
nghiệp hóa, trong đó xuất khẩu được coi là động lực cho sự phát triển. Mặc dù sự
nghiệp công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu của Việt Nam đã thành công với sự tăng
trưởng ấn tượng của xuất khẩu ở mức 20% trung bình hàng năm trong mười năm qua,
tuy nhiên tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của nhập khẩu lại cao hơn 22%, dẫn
đến thâm hụt cán cân thương mại lâu dài. Trước năm 2005, thâm hụt thương mại là khá
nhỏ, khoảng 5.000 triệu USD. Thâm hụt thương mại trở nên nghiêm trọng từ năm 2007
đạt 9,5 triệu USD và đạt đỉnh cao năm 2008 là 18,020 triệu USD. Các chuyên gia kinh
tế lo ngại rằng đã đến lúc phải có cơ chế kiểm soát nhập siêu hiệu quả.
Có nhiều ý kiến cho rằng khi tỷ giá USD/VND tăng, tức VND giảm giá, có thể
cải thiện cán cân thương mại vì khi VND giảm giá thì giá cả hàng hoá xuất khẩu của
Việt Nam sẽ rẻ hơn tương đối so với các quốc gia bên ngoài nên hoạt động xuất khẩu
sẽ gia tăng. Tuy nhiên, theo nhiều quan điểm khác thì VND giảm chưa hẳn đã giải

quyết được vấn đề thâm hụt thương mại. Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu lý thuyết và
thực nghiệm, câu hỏi đặt ra là liệu thay đổi của tỷ giá ngoại tệ có phải là một chính
sách tốt để cải thiện cán cân thương mại và khả năng cạnh tranh quốc tế của một quốc
gia trong giai đoạn mở cửa này? Vẫn còn nhiều bất đồng ý kiến liên quan tới hiệu quả
của việc giảm giá tiền tệ. Do đó, việc đánh giá mối quan hệ và tác động của tỷ giá hối
đoái và cán cân thương mại bằng các phương pháp kinh tế sử dụng chuỗi thời gian có
thể cung cấp cái nhìn mới về vấn đề này. Theo nghiên cứu của Phạm Thị Tuyết Trinh
(2012) Đại học Ngân hàng thì sau sự mất giá của tỷ giá thực, cán cân thương mại ban
đầu sẽ đi vào suy thoái, được cải thiện sau 4 quý và cân bằng mới sẽ được thiết lập sau
12 quý. Trong đề tài nghiên cứu khoa học của Dương Văn Kháng (2009) cũng đưa ra
bằng chứng cho thấy: khi tỷ giá thực tăng lên (đồng nội tệ mất giá), hàng hoá xuất khẩu
trở nên rẻ hơn so với người tiêu dùng nước ngoài. Tuy nhiên, xuất khẩu không tăng lên
ngay được vì hoạt động xuất khẩu thường được thực hiện theo hợp đồng kỳ hạn. Còn
kim ngạch nhập khẩu thì tăng lên do giá cả hàng hoá và dịch vụ tăng. Do vậy cán cân
8


thương mại Việt Nam có xu hướng giảm xuống cho đến khi tỷ giá thực sự tác động đến
xuất khẩu làm cải thiện cán cân thương mại. Điều này phù hợp với “đường cong tuyến
J”. Irina Tochitskaya cũng đưa ra được kết luận rằng sự mất giá của đồng nội tệ có tác
động tích cực trong ngắn hạn và dài hạn lên cán cân thương mại (CCTM) của Belarus;
ngay khi có sự thay đổi của tỷ giá làm cho CCTM xấu đi do sự bất cân xứng giữa
những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu; tuy nhiên trong dài hạn thì lại có tác
động tích cực lên CCTM của Belarus. Vì vậy, có thể xem xét chính sách dựa trên sự
giảm giá của đồng nội tệ là giải pháp hợp lý để cân bằng CCTM của Belarus.
Bài viết này kế thừa các phương pháp nghiên cứu trên để tiếp tục nghiên cứu
“Tác ñộng của tỷ giá hối ñoái lên cán cân thương mại của Việt Nam trong ngắn hạn
và dài hạn giai ñoạn 2000 – 2011”, đánh giá những tác động của tỷ giá thực lên hoạt
động xuất nhập khẩu của Việt Nam, liệu sự tăng giảm giá đồng nội tệ có giúp cải thiện
được cán cân thương mại hay không? có giải quyết được vấn đề thâm hụt thương mại

hay không? Giả thiết được kiểm tra ở đây là việc giảm giá đồng tiền giúp cải thiện cán
cân thương mại của Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn. Bài viết sử dụng mô hình của
Bahmani-Oskooee (2001), mô hình này đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu
trước đó (Irina Tochitskaya, 2007; Drama, Bedi Guy herve, 2010; Onafowora, 2003).
Cấu trúc bài nghiên cứu gồm các phần sau: phần 1 tác giả tóm lược những lý thuyết
liên quan và các nghiên cứu trước đây; phần 2 thiết lập mô hình nghiên cứu và mô tả
dữ liệu nghiên cứu; phần 3 tác giả sử dụng các mô hình kinh tế để ước lượng tác động
của những biến động tỷ giá hối đoái (TGHĐ) lên CCTM và đưa ra kết quả nghiên cứu;
phần 4 kết luận chung về xu hướng tác động của 2 biến GDP và TGHĐ lên cán cân
thương mại của Việt nam trong ngắn hạn và dài hạn.

9


CHƯƠNG I
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC ĐÂY
1.1. Mối quan hệ của tỷ giá hối ñoái và cán cân thương mại
1.1.1.Tỷ giá hối ñoái
Khái niệm về tỷ giá hối đoái (TGHĐ) rất phức tạp, có thể tiếp cận nó từ những
góc độ khác nhau. Cho đến nay, tỷ giá luôn là vấn đề gây nhiều tranh luận trên cả
phương diện lý thuyết lẫn thực tế. Tỷ giá hối đoái giữa hai nước là mức giá tại đó đồng
tiền của một nước có thể biểu hiện qua đồng tiền của nước khác. Có nhiều loại TGHĐ
khác nhau.
Tỷ giá hối đoái doanh nghĩa là tỷ giá được sử dụng hàng ngày trong giao dịch
trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá của một đồng tiền được biểu thị thông qua
đồng tiền khác mà chưa đề cập tới tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa
chúng.
Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi tương quan giá cả
trong nước và nước ngoài. Khi tỷ giá danh nghĩa tăng hay giảm không nhất thiết phải

đồng nghĩa với sự gia tăng hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế.
Tỷ giá thực song phương (RER) là tỷ giá doanh nghĩa đã được điều chỉnh theo
mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước, nó là chỉ số thể hiện sức mua của đồng nội tệ
so với đồng ngoại tệ. Vì thế có thể xem, tỷ giá thực song phương là thước đo sức cạnh
tranh trong mậu dịch quốc tế của một quốc gia so với quốc gia khác.
Tỷ giá thực song phương chỉ cho chúng ta biết sự lên xuống giá của đồng nội tệ
so với một đồng ngoại tệ. Còn tỷ giá thực đa phương hay tỷ giá thực hiệu lực (REER)
được tính toán nhằm định giá trị thực của đồng nội tệ so với một loại ngoại tệ khác, tuy
nhiên nó lại liên quan tới tỷ trọng thương mại và chỉ số lạm phát của Việt Nam so với
nhiều quốc gia khác. Tỷ giá thực hiệu lực cung cấp những thông tin quan trọng về sức
cạnh tranh hàng hóa của một nền kinh tế.
10


1.1.2. Cán cân thương mại
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh
toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu
của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức
chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng. Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0,
thì cán cân thương mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán
cân thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở
trạng thái cân bằng.
* Những nhân tố tác ñộng ñến cán cân thương mại
- Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân (GDP): Thu nhập thực tế (đã điều chỉnh theo
lạm phát) tăng làm gia tăng mức tiêu thụ hàng hóa. Một sự gia tăng trong chi tiêu hầu
như phản ánh một mức cầu gia tăng đối với hàng hóa nước ngoài. Vì vậy, GDP tăng đã
làm nhập khẩu có xu hướng tăng.
- Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng nhanh hơn. Sự
gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên (MPZ).
MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu. Ngoài ra, nhập

khẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa sản
xuất tại nước ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng tương đối so với giá thị trường quốc tế
thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại.
- Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác vì
xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó chủ yếu phụ
thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong các mô
hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định.
- Tỷ giá hối ñoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng đến
giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế.
Đồng nội tệ tăng giá làm cho giá cả hàng hóa trong nước trở nên tương đối đắt so với
hàng hóa nước ngoài, điều này gây bất lợi cho hoạt động xuất khẩu và thuận lợi cho
nhập khẩu, dẫn tới là xuất khẩu ròng giảm. Đồng nội tệ mất giá (tỷ giá tăng cao) có thể
giúp cải thiện cán cân thương mại. Đứng trên góc độ của nhà xuất khẩu, đồng nội tệ
11


mất giá làm hàng hóa nội tệ rẻ tương đối so với hàng ngoại. Ngược lại với nhà nhập
khẩu, nội tệ giảm giá làm giá cả hàng hóa nhập khẩu đắt tương đối so với hàng nội.
Điều này gây khó khăn cho hàng hóa nước ngoài trên thị trường nội địa và lợi thế cho
hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới, dẫn tới xuất khẩu ròng tăng. Như vậy, về mặt
lý thuyết, khi tỷ giá thực tăng, VND giảm giá thực và sức cạnh tranh thương mại quốc
tế được cải thiện. Ngược lại, khi tỷ giá thực giảm, VND tăng giá và sức cạnh tranh
thương mại quốc tế bị xói mòn.
1.1.3. Mối quan hệ của tỷ giá hối ñoái và cán cân thương mại
Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại là mối quan tâm nghiên cứu
của nhiều nhà kinh tế học từ trước đến nay. Nhiều nghiên cứu về vấn đề này đã chỉ ra
rằng: Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại thay đổi qua thời gian,
và có thể chia thành hai loại đó là quan hệ trong ngắn hạn và quan hệ trong dài hạn.
Trước tiên, một sự giảm giá của nội tệ so với ngoại tệ, tức tỷ giá tăng, sẽ có ảnh hưởng
trực tiếp ngay lên giá cả nhập khẩu. Trong khi đó, giá cả xuất khẩu chưa chịu sự tác

động này. Kết quả là cán cân thương mại, được đo bằng hiệu số giữa kim ngạch xuất
khẩu và nhập khẩu sẽ suy giảm. Tuy nhiên, qua thời gian, lượng nhập khẩu sẽ giảm do
giá cả nhập khẩu tăng. Đồng thời, giá cả hàng hoá xuất khẩu tính bằng ngoại tệ sẽ
giảm, làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế, dẫn đến lượng xuất khẩu tăng.
Như vậy, theo thời gian (trong dài hạn), cán cân thương mại sẽ chuyển biến theo chiều
hướng tích cực (thặng dư). Biểu diễn hiện tượng này trên đồ thị có thể thấy giống hình
chữ J.
* Lý thuyết ñường cong J
Đường cong J là một đường mô tả hiện tượng tài khoản vãng lai của một quốc
gia sụt giảm ngay sau khi quốc gia này phá giá tiền tệ của mình và phải một thời gian
sau tài khoản vãng lai mới bắt đầu được cải thiện. Quá trình này nếu biểu diễn bằng đồ
thị sẽ cho một hình giống chữ cái J.
Theo kết quả nghiên cứu của Krugman (1991), người đã tìm ra hiệu ứng đường
cong J khi phân tích cuộc phá giá đô la Mỹ trong thời gian 1985 –1987, ban đầu thì cán
cân vãng lai xấu đi, sau đó khoảng hai năm cán cân vãng lai đã được cải thiện.
12



Hình 1.1: Hiệu ứng ñường cong J













Nguyên nhân xuất hiện đường cong J là do trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả có
tính trội hơn hiệu ứng số lượng nên làm xấu đi cán cân thương mại, ngược lại trong dài
hạn, hiệu ứng số lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả làm cán cân thương mại được
cải thiện.
Có nhiều nghiên cứu thực tiễn đã chứng minh được sự tồn tại của đường cong
J khi tiến hành phá giá tiền tệ như Anju Gupta-Kapoor and Uma Ramakrishnan (1999)
và Marcus Noland (1989), Bên cạnh đó cũng có một số nghiên cứu cho thấy không có
sự hiện diện của hiệu ứng đường cong J như: Andrew K. Rose and Janet L. Yellen
(1989) nghiên cứu mức độ tác động tới CCTM của Mỹ, họ cũng sử dụng dữ liệu theo
quý trong giai đoạn 1960 – 1985 và dữ liệu thương mại giữa Mỹ và 6 nước đối tác
khác, kết quả là họ không tìm thấy đường cong J trong mối quan hệ giữa TGHĐ và
CCTM. Một số nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tác động lên cán cân thương mại trong
lý thuyết hiệu ứng đường cong J:
+ Năng lực sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu (cung không co giãn)
+ Tỷ trọng hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu

Th
ặng dư (+)



0
Thời gian



Thâm h


t (
-
)

13


+ Tỷ trọng hàng nhập khẩu trong giá thành hàng sản xuất trong nước.
+ Mức độ linh hoạt của tiền lương.
+ Tâm lý người tiêu dùng và thương hiệu quốc gia của hàng hóa trong nước (cầu hàng
hóa trong ngắn hạn có độ co giãn thấp hơn dài hạn).
* Điều kiện Marshall – Lerner
Điều kiện Marshall-Lerner phát biểu rằng, để cho việc phá giá tiền tệ có tác động tích
cực tới cán cân thanh toán, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co giãn theo giá cả của
xuất khẩu và độ co giãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1. Điều kiện này đặt
theo tên của hai nhà học giả kinh tế đã phát hiện ra nó, đó là Alfred Marshall và Abba
Lerner.
Phá giá dẫn tới giảm giá hàng xuất khẩu định danh bằng ngoại tệ, do đó nhu cầu
đối với hàng xuất nhẩu tăng lên. Đồng thời giá hàng nhập khẩu định danh bằng nội tệ
trở nên cao hơn, làm giảm nhu cầu đối với hàng nhập khẩu.
Hiệu quả ròng của phá giá đối với cán cân thanh toán tùy thuộc vào các độ co
giãn theo giá. Nếu hàng xuất khẩu co giãn theo giá, thì tỷ lệ tăng lượng cầu về hàng
hóa sẽ lớn hơn tỷ lệ giảm giá; do đó, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng. Tương tự, nếu hàng
nhập khẩu co giãn theo giá, thì chi cho nhập khẩu hàng hóa sẽ giảm. Cả hai điều này
đều góp phần cải thiện cán cân thanh toán.
Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, hàng hóa thường không co dãn theo giá cả
trong ngắn hạn, bởi vì thói quen tiêu dùng của người ta không thể thay đổi dễ dàng. Do
đó, điều kiện Marshall-Lerner không được đáp ứng, dẫn tới việc phá giá tiền tệ chỉ làm
cho cán cân thanh toán trong ngắn hạn xấu đi. Trong dài hạn, khi người tiêu dùng đã
điều chỉnh thói quen tiêu dùng của mình theo giá mới, cán cân thanh toán mới được cải

thiện.
Có quan điểm cho rằng các nước đang phát triển thường phụ thuộc nhiều vào
hàng nhập khẩu nên độ co giãn giá của cầu hàng nhập khẩu là nhỏ (tức là trị giá nhập
khẩu sẽ không giảm bao nhiêu khi phá giá nội tệ). Các nước phát triển có thị trường
xuất khẩu tương đối có tính cạnh tranh nên độ co giãn cầu hàng xuất khẩu có thể lớn
hơn (tức là trị giá xuất khẩu tăng mạnh khi phá giá nội tệ). Điều này hàm ý rằng phá
14


giá ở các nước phát triển sẽ có tác động cải thiện cán cân thương mại mạnh hơn so với
các nước đang phát triển hay nói cách khác, việc phá giá là một giải pháp có thể cải
thiện thâm hụt thương mại ở các quốc gia này nhưng cũng có thể không có tác động ở
quốc gia khác. Nó cũng khuyến cáo các quốc gia đang phát triển nên thận trọng khi sử
dụng biện pháp phá giá mạnh đồng nội tệ của mình nhằm kích thích xuất khẩu.
1.2. Tổng quan nghiên cứu trước ñây
Đã có nhiều tranh luận về mối quan hệ của TGHĐ và CCTM trên thế giới, từ
việc nghiên cứu độc lập tác động của TGHĐ lên CCTM cho tới việc tổng hợp thêm các
yếu tố tác động khác lên CCTM. Kết quả chứng minh thực tiễn trên từng quốc gia,
từng giai đoạn khác nhau lại đưa ra rất nhiều kết quả khác nhau. Phương pháp tiếp cận
đa dạng của các nhà kinh tế đã cho chúng ta cái nhìn đa chiều về mối quan hệ này. Các
nhà kinh tế học đã sử dụng các mô hình kinh tế để chứng minh trong thực tiễn, tìm
nguyên nhân và giải pháp nhằm cải thiện CCTM phù hợp với điều kiện của từng quốc
gia. Hầu hết các nghiên cứu liên quan tới TGHĐ và CCTM đều tập trung trả lời câu hỏi
rằng: sự biến động của TGHĐ có tác động tới CCTM hay không? tác động đó theo
chiều hướng nào?
1.2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài
Bahmani Oskooee và Ratha (2004) cung cấp tổng quan lý thuyết về hiện tượng
đường cong J. Họ phân loại các nghiên cứu theo cách sử dụng dữ liệu tổng hợp và
những nghiên cứu sử dụng dữ liệu song phương. Mỗi nhóm lại sử dụng các mô hình
khác nhau và các định nghĩa khác nhau. Về mặt lý thuyết, họ lập luận rằng dù cho sự

giảm giá tiền tệ cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn, thì các phản ứng trong
ngắn hạn có thể là khác nhau. Hơn nữa, trong ngắn hạn sự giảm giá làm cho CCTM
xấu đi và chỉ cải thiện sau khi qua một vài giai đoạn. Nói chung, phản ứng trong ngắn
hạn của CCTM với việc giảm giá tiền tệ không theo bất kỳ mô hình cụ thể nào. Kết quả
là tùy thuộc từng quốc gia khác nhau.
Irina Tochitskaya (2007) đưa ra một nghiên cứu thực nghiệm tại Belarus bằng
cách sử dụng mô hình của Rose and Yellen (1989), Bahmani-Oskooee (2001) nghiên
cứu ảnh hưởng của sự thay đổi của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại Belarus
15


trong ngắn hạn và dài hạn. Tác giả sử dụng dữ liệu theo quý từ năm 1995 tới 2004 và
dữ liệu thương mại của Belarus với 10 nước là đối tác thương mại chính. Nghiên cứu
bắt đầu bằng cách kiểm định tính dừng của các biến, sau đó sử dụng phương pháp đồng
liên kết Johansen. Tác giả mô hình hóa các tác động ngắn hạn sử dụng phương trình
hồi quy OLS và sử dụng kỹ thuật đồng liên kết để ước lượng theo điều kiện Marshall-
Lerner để xác định sự giảm giá ảnh hưởng lên cán cân thương mại trong dài hạn như
thế nào. Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng sự mất giá đã ảnh hưởng lên CCTM trong
ngắn hạn. Ảnh hưởng ngay của sự giảm giá có thể được giải thích bởi sự tồn tại của độ
trễ. Đầu tiên, đó là độ trễ của các nhà nhập khẩu để nhận ra rằng giá cả tương đối đã
thay đổi do thông tin không hoàn hảo. Thứ hai, có độ trễ đối với các doanh nghiệp và
người tiêu dùng để đặt hàng nhập khẩu mới. Thứ ba, có độ trễ trong sản xuất và giao
dịch. Đồng thời cũng do sự bất cân xứng giữa những thay đổi trong xuất khẩu và nhập
khẩu. Tác giả cũng phân tích ảnh hưởng của sự thay đổi của REER lên cán cân thương
mại theo phương pháp tiếp cận VAR cho thấy kết quả là cú sốc tỷ giá làm cho cán cân
thương mại cải thiện sau 2 quý, ngay sau đó sự ảnh hưởng tiêu cực kéo dài trong quý
3,4, phù hợp với kết quả thu được từ mô hình ARDL. Tuy nhiên, tác động tiêu cực lên
CCTM là rất nhỏ. Trong dài hạn tác giả ước lượng điều kiện Marshall- Lerner và thu
được kết quả khá tích cực và cho thấy sự giảm giá đồng tiền có thể cải thiện CCTM
trong dài hạn và có ảnh hưởng đáng kể lên xuất khẩu của Belarus. Cụ thể đó là khi phá

giá đồng nội tệ 1% thì sẽ cải thiện mức cân bằng của CCTM khoảng 0.94% - 1.3% và
cần khoảng 2,5 năm để thiết lập lại trạng thái cân bằng .
Onafowora (2003) xem xét tác động ngắn hạn và dài hạn của tỷ giá thực tế về
cán cân thương mại của 3 nước ASEAN, cụ thể là Thái Lan, Malaysia và Indonexia
trong thương mại song phương với cả Mỹ và Nhật Bản. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu
hàng quý trong giai đoạn 1980-2001. Phương pháp đồng liên kết Johansen (1988) đã
được sử dụng để kiểm tra các mối quan hệ lâu dài của các biến trong mô hình. Kết quả
cho thấy rằng có một mối quan hệ dài hạn giữa CCTM, tỷ giá thực, thu nhập quốc dân
và thu nhập nước ngoài. Hơn nữa, nghiên cứu cũng ước lượng mô hình hàm số đẩy
(IRFs) để điều tra tác động của tỷ giá hối đoái thực trên cán cân thương mại theo thời
16


gian. Đối với Indonexia và Malaysia có thương mại song phương với cả Mỹ và Nhật
Bản, và Thái Lan có thương mại song phương Mỹ, kết quả cho thấy có hiện tượng
đường cong J. Sự giảm giá tiền tệ ban đầu sẽ dẫn đến CCTM xấu đi trong 4 quý trong
ngắn hạn và sau đó được cải thiện trong dài hạn. Tuy nhiên, Thái Lan lại đối diện với
chuyển dịch trong thương mại song phương với Nhật Bản, tức là sự phá giá của TGHĐ
thực được cải thiện một bước sau đó trở nên tồi tệ và sau đó cải thiện cán cân thương
mại. Mô hình này là phù hợp với hiện tượng đường cong S (Backus, Kehoe và
Kydland, 1994). Nhìn chung, kết quả ước lượng mô hình hàm số đẩy tổng quát cho
thấy rằng các điều kiện Marshall-Lerner nắm giữ trong thời gian dài với độ biến động
của hiện tượng đường cong J trong ngắn hạn. Tóm lại, theo kết quả nghiên cứu là neo
giữ đồng nội tệ trong dài hạn với mức độ biến đổi của hiệu ứng đường cong J trong
ngắn hạn. Những tìm kiếm này có nhiều ứng dụng cho cán cân của những quốc gia khu
vực Đông Á với Nhật và Mỹ. Điều căn bản đó là tiếp tục giảm giá tiền tệ của các quốc
gia Đông Á so với đồng USD và Yên Nhật để có thể dẫn đến một sự cải thiện trong cán
cân thương mại của họ với Nhật và Mỹ. Dù thế nào đi nữa thì sự cải thiện này cũng sẽ
xảy ra chỉ trong 3 hoặc 4 thời kỳ sau khi có sự giảm giá thực sự.
Hock-Tsen Wong và Hui-Ing Chong (2006) cũng xem xét các tác động dài hạn

và ngắn hạn của tỷ giá hối đoái thực lên cán cân thương mại song phương của
Malaysia với Mỹ, Nhật Bản và Singapore bằng cách sử dụng các dữ liệu hàng tháng
trong thời gian 1976-2004. Hơn nữa, nghiên cứu này xem xét các tác động của việc
thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái cố định tại Malaysia vào năm 1994 và cuộc khủng
hoảng tài chính châu Á (1997-1998) cũng như thực hiện các tỷ giá hối đoái cố định ở
Malaysia sau cuộc khủng hoảng trong cán cân thương mại song phương. Mô hình hàm
số đẩy được ước tính để điều tra sự linh hoạt của cán cân thương mại song phương
trước cú sốc về tỷ giá thực. Nghiên cứu này cho thấy rằng có một mối quan hệ dài hạn
giữa các cán cân thương mại song phương, tỷ giá thực tế, thu nhập trong nước và thu
nhập của nước ngoài. Mô hình hàm số đẩy tổng quát cho thấy rằng hiện tượng đường
cong J được tìm thấy trong ngắn hạn, đặc biệt cho toàn bộ chu kỳ lấy mẫu. Trong dài
17


hạn, sự giảm giá hay mất giá của tỷ giá hối đoái sẽ cải thiện cán cân thương mại song
phương. Vì vậy, điều kiện Marshall-Lerner nắm giữ trong trường hợp này.
Wilson (1999: 14) kiểm tra cán cân thương mại song phương của Malaysia với
Mỹ và Nhật Bản và công bố rằng tỷ giá hối đoái thực không có tác động đáng kể cán
cân thương mại thực và không tìm thấy bằng chứng của hiện tượng đường cong J. Hơn
nữa, nghiên cứu cũng cho thấy không có bằng chứng rằng giá sản xuất của hàng xuất
khẩu của Malaysia ra nước ngoài chứ không phải là đồng tiền trong nước. Điều này sẽ
tạo ra một sự gia tăng trong giá trị đồng tiền trong nước của xuất khẩu giống như là
mất giá tiền tệ. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng quý trong giai đoạn 1970-1996.
Nghiên cứu sử dụng mô hình thực nghiệm của Rose và Yellen (1989) có nguồn gốc từ
mô hình hai quốc gia thay thế không hoàn hảo. Trong một bài nghiên cứu khác, Wilson
(2001: 408-409) đã kiểm tra mối quan hệ giữa cán cân thương mại song phương thực
đối với hàng hóa trao đổi và tỷ giá hối đoái thực của Singapore, Hàn Quốc và
Malaysia, tương ứng với Mỹ và Nhật Bản. Nghiên cứu sử dụng cùng một mô hình thực
nghiệm và mẫu cùng kỳ như trước. Tuy nhiên, nghiên cứu này sử dụng phương pháp
ước lượng khác. Kết quả cho thấy rằng tỷ giá hối đoái thực không có tác động đáng kể

lên cân bằng thương mại song phương thực, ngoại trừ cán cân thương mại song
phương của Hàn Quốc với Mỹ. Hơn nữa, không có bằng chứng của hiện tượng đường
cong J.
1.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường Việt Nam
Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu thực nghiệm về tỷ giá hối đoái và
CCTM. Tác giả xin tóm tắt một số nghiên cứu điển hình như sau:
Nghiên cứu về tác động của tỷ giá thực lên xuất khẩu của Việt Nam, Lord
(2002) đã sử dụng mô hình ECM để tính hệ số co giãn xuất khẩu mặt hàng giày dép
của tỷ giá thực trong ngắn hạn và dài hạn. Kết quả hồi quy của nghiên cứu này cho
thấy tác động của tỷ giá thực lên xuất khẩu giày dép có ý nghĩa về mặt thống kê trên thị
trường toàn cầu và trên một số thị trường khu vực. Hệ số co giãn xuất khẩu giày dép
của tỷ giá thực trên thị trường toàn cầu là 1,8 trong ngắn hạn và 2,0 trong dài hạn.
Trong ngắn hạn hệ số này là 0,1 đối với thị trường ASEAN-5 và 0,3 đối với thị trường
18


Mỹ. Trong dài hạn hệ số này là 0,4 đối với thị trường Mỹ và 1,9 đối với thị trường
EU3. Lord còn cho rằng chỉ số đo lường mức cạnh tranh thích hợp hơn cho từng thị
trường là tỷ giá thực so sánh (cross-rates) giữa Việt Nam và các đối tác thương mại
quan trọng. Sử dụng chỉ số tỷ giá thực so sánh tác giả chỉ ra rằng tính cạnh tranh của
Việt Nam trong những năm gần đây tăng lên trên thị trường Trung Quốc, Mỹ, trong khi
lại giảm xuống trên những thị trường khác như ASEAN, Nhật Bản và EU. Việc giảm
tính cạnh tranh trên thị trường EU được giải thích là do đồng đô la lên giá so với đồng
euro và mối liên quan chặt chẽ giữa đồng Việt Nam và đô la.
Phan Thanh Hoàn, Nguyễn Đăng Hào,Trường Đại học Kinh tế,Đại học Huế đã
có bài viết về mối quan hệ giữa TGHĐ và CCTM Việt nam thời kỳ 1995 – 2004.
Trong bài viết này, tác giả sử dụng lý thuyết Đồng liên kết (Cointegration theory) và
Cơ chế hiệu chỉnh sai số (ECM – Error Correction Model) nhằm kiểm định các hiệu
ứng ngắn hạn và dài hạn của tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại nhằm xác
định mô hình của mối quan hệ giữa hai nhân tố này. Kết quả nghiên cứu này cho thấy,

trong thời kỳ 1995 – 2004, tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa đồng Việt Nam với các
đồng tiền của các bạn hàng chủ yếu thể hiện xu hướng tăng, đồng nghĩa với việc đồng
Việt Nam mất giá. Tuy nhiên, dựa trên kết quả tính toán được, tỷ giá hối đoái thực tế
đã bị giảm tới hơn 20%. Trong giai đoạn 1992-1997, việc duy trì tỷ giá hối đoái danh
nghĩa gần như cố định trong điều kiện lạm phát đã được kiềm chế song vẫn cao hơn
lạm phát của Mỹ (nước có đồng tiền chiếm tỷ trọng chủ yếu trong rổ tiền tệ để xác định
tỷ giá của Việt Nam) và các nước có quan hệ thương mại chủ yếu của Việt Nam, đồng
thời đồng USD có xu hướng tăng giá từ năm 1995 đã làm cho VNĐ có xu hướng ngày
càng bị đánh giá cao hơn thực tế. Điều này đã tạo ra và tích lũy những nhân tố gây mất
ổn định và kìm hãm sự phát triển kinh tế. Kết quả nghiên cứu cũng đã khẳng định được
sự tồn tại của quan hệ giữa hai biến số vĩ mô này trong ngắn hạn và dài hạn. Trong
ngắn hạn, sự tác động của tỷ giá có tính chất trễ, và trong dài hạn hai biến số này tiến
tới một quan hệ cân bằng (đồng liên kết), nghĩa là có tác động tích cực tới CCTM và cứ
1% mất giá TGHĐ thực làm cho CCTM cải thiện 0.7%
19


Như vậy, mỗi điều kiện kinh tế khác nhau sẽ cho ra kết quả nghiên cứu thực
nghiệm khác nhau. Nhưng có một điểm chung nhất là việc tăng tỷ giá HĐ hay là làm
giảm giá đồng nội tệ phần nào cải thiện CCTM trong dài hạn, còn trong ngắn hạn thì
tác động tiêu cực lên CCTM. Tuy nhiên vẫn còn nhiều yếu tố khác tác động lên CCTM
nên việc CCTM có thực sự được cải thiện hay không còn phụ thuộc vào các yếu tố đó.
























20


CHƯƠNG II
MÔ HÌNH VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1. Mô hình nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu về quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại đã chỉ
ra rằng: mối quan hệ giữa TGHĐ và cán cân thương mại thay đổi qua thời gian. Trước
tiên, một sự giảm giá của nội tệ so với ngoại tệ, tức là tỷ giá tăng, sẽ ảnh hưởng trực
tiếp lên giá cả nhập khẩu. Trong khi đó, giá cả xuất khẩu chưa chịu sự tác động này.
Kết quả là cán cân thương mại, được đo bằng hiệu số giữa kim ngạch xuất khẩu và
nhập khẩu sẽ suy giảm. Tuy nhiên, qua thời gian, lượng nhập khẩu sẽ giảm do giá cả
nhập khẩu tăng. Đồng thời giá cả hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệ sẽ giảm, làm
tăng tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế, dẫn tới lượng xuất khẩu tăng. Như vậy,

theo thời gian, cán cân thương mại sẽ chuyển biến theo nhiều hướng tích cực (thặng
dư).
Trong thương mại quốc tế thì tỷ giá thực đa phương (REER) thường được xem
như một thước đo hữu hiệu cho khả năng cạnh tranh của một quốc gia đối với thế giới
chứ ko phải đối với một quốc gia riêng lẻ. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy của
Mohsen Bahmani – Oskooee và Tatchawan Kantipong (2001) để đánh giá tác động của
tỷ giá thực đa phương lên cán cân thương mại như sau:
Ln(EXM)
t
= α
0
+
α
αα
α
1
Ln(GDPvn)
t
+
α
αα
α
2
Ln(GDPw)
t
+
α
αα
α
3

Ln(REER) +ε
t
(1)
Trong đó:
EXM là tỷ số xuất khẩu trên nhập khẩu theo quý từ quý 1 năm 2000 cho tới quý
4 năm 2011. Cán cân thương mại được định nghĩa như một chỉ số xuất khẩu trên nhập
khẩu để thể hiện sự ngang bằng giữa CCTM thực tế và CCTM danh nghĩa.
GDPvn
t,
GDPw
t
lần lượt là chỉ số GDP của Việt nam và chỉ số GDP trung bình
có trọng số là tỷ trọng thương mại của các đối tác với Việt Nam. GDPvn và GDPw
được chọn bởi vì chúng là sự lựa chọn tốt nhất trong đo lường thu nhập của một quốc
gia.
21


REER là chỉ số tỷ giá thực đa phương. Khi REER tăng lên nghĩa là đồng nội tệ
mất giá so với đồng tiền khác
α
0
,
α
1,

α
2
,
α

3
là các hệ số hồi quy.
ε : sai số ngẫu nhiên
Tất cả các biến trong mô hình được lấy logarithm. Theo Khan and Hossain,
2010, tính hấp dẫn của mô hình log tuyến tính là hệ số độ dốc đo được độ co giãn của
các biến phụ thuộc lên các biến độc lập. Khái niệm lý thuyết cho thấy xuất khẩu và
nhập khẩu tăng là thu nhập thực tế của các đối tác thương mại và thu nhập trong nước
tăng lên tương ứng, và ngược lại. Trong trường hợp đó, chúng ta có thể mong đợi α
1
<0
và α
2
> 0. Tuy nhiên, nhập khẩu có thể giảm do tăng thu nhập nếu thu nhập thực tế tăng
lên do sự gia tăng trong sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu, và trong trường hợp
đó, chúng tôi mong chờ α
1
> 0 và α
2
<0. Các tác động của GDP lên EXM là mơ hồ bởi
vì sự gia tăng sản lượng trong nước làm tăng nhập khẩu nhưng cũng có thể đẩy mạnh
xuất khẩu, và ảnh hưởng thực sự lên CCTM hoặc có thể là một sự cải tiến hoặc xấu đi.
Nói chung, nếu sự giảm giá hay phá giá tiền tệ thực diễn ra, điều này gây ra tỷ giá hối
đoái thực hiệu lực tăng, xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm như một hệ quả và cải thiện
cán cân thương mại.
Mô hình nghiên cứu trên sẽ được chạy trên phần mềm Eview để phân tích.
2.2. Dữ liệu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng dữ liệu hàng quý, từ quý 1 năm 2000 đến
quý 2 năm 2011. Nguồn dữ liệu và cách xử lý số liệu ban đầu như sau:
* Năm cơ sở: Việc lựa chọn năm cở sở rất quan trọng vì tương ứng với mỗi
mốc thời gian khác nhau sẽ cho ra kết quả tính tỷ giá thực khác nhau. Nghiên cứu sử

dụng năm cơ sở (năm gốc) là năm 2000 vì đây là năm có tỷ lệ thâm hụt cán cân mậu
dịch là rất thấp và ổn định chỉ số giá tiêu dùng của năm này cũng được đánh giá là ổn
định. Ngoài ra, gần đây các tổ chức tài chính quốc tế khi công bố số liệu thường chọn
năm cơ sở là năm 2000.
22


* Rổ tiền tệ sử dụng nghiên cứu: Căn cứ vào tỷ trọng thương mại của Việt
Nam với các đối tác thương mại, tác giả chọn ra các đồng tiền tham giá “rổ tiền tệ” để
tính tỷ giá thực đa phương theo nguyên tắc ưu tiên chọn đồng tiền của các đối tác có tỷ
trọng thương mại lớn, các đối tác có sự cạnh tranh trong xuất khẩu với Việt Nam, các
đồng tiền mạnh, các đối tác tiềm năng. Bao gồm các đồng tiền sau:
Đô la Mỹ (USD) là đồng tiền đầu tiên có mặt trong rổ tiền vì đây là đồng tiền
mạnh nhất và có ảnh hưởng lớn nhất hiện nay. Mức độ đô la hóa của Việt nam cũng
khá cao, rất nhiều mặt hàng được định giá bằng USD.
Đồng Euro (EUR) là đồng tiền đại diện cho khu vực châu Âu, đây là khu vực có
giao thương lớn với Việt Nam, chúng ta sẽ chọn Đức là quốc gia đại diện khu vực châu
Âu.
Đồng Đô la Úc (AUD) cũng được đưa vào rổ tiền tệ do AUD là đồng tiền có thể
chuyển đổi được và cũng thuộc nhóm các đồng tiền mạnh, kim ngạch xuất nhập khẩu
những năm gần đây giữa Úc và Việt Nam đang tăng cao.
Đồng nhân dân tệ của Trung Quốc (CNY) không thể thiếu trong rổ tiền tệ,
Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh trực tiếp, trao đổi thương mại song phương của Việt
Nam và Trung Quốc có tỷ trọng lớn. Đây là nước đông dân nhất thế giới, đồng Nhân
dân tệ đang dần trở thành một trong các đồng tiền mạnh nhất.
Đồng Yên Nhật (JPY) cũng là một lựa chọn hợp lý, do đây là đồng tiền có nền
kinh tế đứng thứ 2 thế giới, đồng thời cũng là đối tác thương mại lớn của Việt Nam.
Đồng tiền các nước ASEAN như Thái Lan (THB), Singapore (SGD), Malaysia
(MYR) được chọn vì đây là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam trong
thương mại quốc tế.

Và đồng tiền của hai quốc gia Hongkong và Hàn Quốc là đại diện cho các quốc
giá phát triển châu Á do có kim ngạch xuất nhập khẩu tương đối lớn.
* GDPvn và GDPw : GDPvn là chỉ số GDP của Việt Nam ; GDPw là GDP
trung bình của các đối tác thương mại chính, được tính bằng cách dựa trên chỉ số GDP
của các nước này và tỷ trọng thương mại của nước đó với Việt Nam.

23


Chỉ số GDPw được tính bởi công thức sau :
n

GDPw
t
=

Σ
GDP
j
t
* w
j
t
.
j=1

* Giá trị kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu: Số liệu được lấy từ Tổng cục
thống kê, Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) và ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) từ quý 1
năm 2000 tới quý 4 năm 2011 của 10 nước, dữ liệu được thiết kế theo quý để phục vụ
công việc nghiên cứu và phân tích. Có tất cả 48 quý và giá trị kim ngạch xuất nhập

khẩu được tính bằng triệu USD (xem chi tiết phụ lục). Các đối tác thương mại chính sử
dụng trong nghiên cứu gồm Mỹ, Úc, Đức, Singapore, Thailand, Nhật bản, Hàn Quốc,
Honkong, Trung Quốc, Malaysia.
* Tỷ trọng thương mại (W
j
): được tính bằng cách cộng tất cả các giá trị xuất
nhập khẩu của Việt Nam và các đối tác ở từng thời kỳ. Lấy giá trị xuất nhập khẩu của
từng đối tác chia cho tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của tất cả các đối tác ta
được tỷ trọng thương mại của từng đối tác. Tổng các tỷ trọng thương mại này bằng 1.
Gọi I
t
j
là kim ngạch nhập khẩu của nước có đồng tiền được tính tỷ giá thực đa
phương với đối tác thương mại thứ j.
E
t
j
là kim ngạch xuất khẩu của nước có đồng tiền được tính tỷ giá thực đa
phương với đối tác thương mại thứ j.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu các nước trong rổ tiền tệ (W
t
)

w
1,
w
2
…w
n
là tỷ trọng thương mại của các đối tác.

Tỷ trọng thương mại của đối tác thứ n:
I
j
t
+ E
j
t

W
t
j
=



௝ୀଵ
(I
j
t
+ E
j
t
)

* Chỉ số CPI: Số liệu CPI của các nước trong rổ tiền tệ được thu thập trên cơ sở
CPI của quý này so với cùng kỳ năm trước. Được quy về kỳ gốc là Quý I năm 2000.
24


Chỉ số CPI của từng quốc gia được điều chỉnh về năm gốc: chọn kỳ gốc là quý 1

năm 2000 thì chỉ số CPI kỳ gốc là 100. CPI điều chỉnh thời điểm t được tính theo công
thức:
CPI
t

CPI
t
0
= x 100
CPI
0

với CPI
t
0
là chỉ số CPI điều chỉnh thời điểm t
CPI
t
là chỉ số CPI thực tế thời điểm t
CPI
0
là chỉ số CPI thực tế thời kỳ gốc

* Chỉ số tỷ giá hối ñoái của từng quốc gia ñược ñiều chỉnh về năm gốc:
tương tự như cách điều chỉnh CPI, tính theo công thức sau:
E
t

e
t

0
= x100
E
0

với e
t
0
là chỉ số tỷ giá danh nghĩa điều chỉnh thời điểm t
E
t
là tỷ giá danh nghĩa thời điểm t
E
0
là tỷ giá danh nghĩa thời kỳ gốc
* Tỷ giá thực ña phương (tỷ giá thực hiệu lực – REER). Tỷ giá hối đoái danh
nghĩa để tính tỷ giá thực được lấy từ ngân hàng nhà nước. REER được tính với 10 đối
tác thương mại chính được lựa chọn ở trên.
Chỉ số tỷ giá thực đa phương được tính theo công thức sau:
n
CPI
i
j

REER =
Σ
e
i
j
.w

j
.
j=1
CPI
i

Dựa trên các nguồn dữ liệu từ IMF, GSO, ADB tác giả đã tính toán chỉ số tỷ giá
thực như bảng tóm tắt sau:





×