Tải bản đầy đủ (.pdf) (121 trang)

So sánh pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân tại việt nam và một số quốc gia trên thế giới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.08 MB, 121 trang )


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT





CHUNG PHNG ANH



SO SáNH PHáP LUậT QUảN Lý THUế THU NHậP Cá NHÂN
TạI VIệT NAM Và MộT Số QUốC GIA TRÊN THế GIớI





LUN VN THC S LUT HC










H NI 2014



I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT




CHUNG PHNG ANH



SO SáNH PHáP LUậT QUảN Lý THUế THU NHậP Cá NHÂN
TạI VIệT NAM Và MộT Số QUốC GIA TRÊN THế GIớI


Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 50


LUN VN THC S LUT HC




Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NGUYN TH LAN HNG






H NI 2014

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, tƣ liệu sử dụng trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng. Những kết quả nghiên cứu của Luận văn này chƣa đƣợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào.


TÁC GIẢ LUẬN VĂN



Chung Phƣơng Anh
MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT
QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 5
1.1. Khái quát về thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế thu nhập
cá nhân 5
1.1.1. Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 5
1.1.2. Quản lý thuế thu nhập cá nhân 11
1.2. Pháp luật Quản lý thuế thu nhập cá nhân 18
1.2.1. Khái niệm pháp luật Quản lý thuế thu nhập cá nhân 18

1.2.2. Cấu trúc pháp luật quản lý thuế 25
1.2.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân 28
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 31
Chƣơng 2: PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI 32
2.1. Pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam hiện nay 32
2.1.1. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể theo pháp luật
về quản lý thuế thu nhập cá nhân 32
2.1.2. Thực trạng pháp luật về thủ tục hành chính trong quản lý thuế
thu nhập cá nhân 35
2.1.3. Thực trạng pháp luật về giám sát và bảo đảm sự tuân thủ pháp
luật trong quản lý thuế thu nhập cá nhân 56
2.1.4. Thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân của một số loại thu
nhập cụ thể 67
2.2. Kinh nghiệm một số nƣớc về quản lý thuế thu nhập cá nhân 71
2.2.1. Về pháp luật thuế thu nhập cá nhân 71
2.2.2. Về pháp luật quản lý thuế 76
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 92
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN
LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM VÀ MỘT
SỐ KIẾN NGHỊ 93
3.1. Định hƣớng hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở
Viê
̣
t Nam 93
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế thu
nhập cá nhân 97
3.2.1. Quy định về quản lý thuế 97
3.2.2. Quy định của pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân từ tiền
lƣơng, tiền công 105

3.2.3. Quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với những khoản thu không
thƣờng xuyên 107
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 111
KẾT LUẬN CHUNG 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113




1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một công cụ quan trọng của Nhà nƣớc, nó vừa đảm bảo nguồn thu
cho ngân sách Nhà nƣớc, vừa là công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Để sử dụng
hiệu quả công cụ thuế, về cơ bản hệ thống chính sách thuế gồm có thuế gián thu và
thuế trực thu. Thuế gián thu nhƣ thuế Giá trị gia tăng (GTGT), thuế Tiêu thụ đặc
biệt, thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu. Thuế trực thu nhƣ thuế Thu nhập cá nhân
(TNCN), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
Theo thông lệ của các quốc gia, thuế trực thu sẽ chiếm tỷ trọng lớn, ngƣợc lại
giảm dần thuế gián thu. Việt Nam đang bƣớc vào hội nhập sâu, rộng với nền kinh tế
quốc tế và tiến trình chuyển đổi dần cơ cấu tỷ trọng tăng dần của các sắc thuế trực
thu đang là xu hƣớng tất yếu. Thuế TNCN cũng đóng một vai trò đáng kể trong
nguồn thu ngân sách và là nghĩa vụ của tất cả những ngƣời lao động trên lãnh thổ
Việt Nam. Thuế TNCN điều tiết thu nhập cá nhân, thể hiện rõ nghĩa vụ của công
dân đối với đất nƣớc và đƣợc căn cƣ trên các nguyên tắc: lợi ích, công bằng và khả
năng nộp thuế.
Trong thời gian qua cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, thu
nhập của các tầng lớp dân cƣ cũng tăng lên đáng kể, thu nhập giữa nhóm ngƣời có
thu nhập cao và nhóm ngƣời có thu nhập thấp cũng có xu hƣớng ngày càng tăng.

Đối tƣợng nộp thuế TNCN và hình thức thu nhập của các bộ phận dân cƣ và ngƣời
lao động cũng đa dạng. Trong những năm gần đây, các thị trƣờng tài chính, tiền tệ,
vốn, lao động có sự phát triển mạnh mẽ. Nền kinh tế tăng trƣởng nhanh tạo điều
kiện cho các tổ chức, cá nhân có cơ hội đầu tƣ, sản xuất kinh doanh, có thêm nhiều
nguồn thu nhập. Bên cạnh đó, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, một số
ngƣời nƣớc ngoài làm ăn sinh sống tại Việt Nam và số ngƣời Việt Nam có thu nhập
từ nƣớc ngoài cũng tăng lên. Sự đa dạng và gia tăng thu nhập của các cá nhân trong
xã hội sẽ làm cho khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cƣ
ngày càng lớn. Với tình hình đó, có thể thấy thuế TNCN ngày càng có vai trò quan
trọng trong nền kinh tế.


2
Ở nƣớc ta hiện nay, quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập cá nhân
nói riêng còn nhiều hạn chế. Nếu chúng ta không sớm khắc phục những hạn chế này
thì sẽ gặp rất nhiều bất lợi trƣớc ngƣỡng cửa hội nhập kinh tế toàn cầu. Chính vì
thế, công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam cần phải đƣợc hoàn thiện để
đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn.
Mặc dù, thuế TNCN đã đƣợc đƣa vào áp dụng ở Việt Nam từ năm 1991 với
tên gọi “Thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao”, song từ khi Chính phủ công
bố dự thảo lần đầu cho đến khi công bố luật thuế TNCN đến nay thì vẫn còn những
tranh cãi vƣớng mắc xung quanh vấn đề này. Với đề tài: “SO SÁNH PHÁP LUẬT
QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA
TRÊN THẾ GIỚI”, cá nhân em mong muốn góp ý kiến đánh giá nhằm hoàn thiện hệ
thống pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân để chống lại nạn thất thu thuế thu
nhập cá nhân và tăng ngân sách Nhà nƣớc.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập cá nhân nói riêng đã
và đang nhận đƣợc sự quan tâm của nhiều cá nhân, cơ quan và tổ chức. Cho tới nay
đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể tên một số công trình

tiêu biểu sau:
- Vũ Văn Cƣơng (2012), Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ luật học, Trƣờng
Đại học Luật Hà Nội.
- Vƣơng Hoàng Long (2000), Hoàn thiện tổ chức bộ máy ngành thuế trong
điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trƣờng
Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội.
- Phạm Thị Phƣơng Mai (2008), Thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc
tế và việc thực thi ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ ngành Kinh tế chính trị, Trƣờng Đại
học Kinh tế.
- Trần Vũ Hải (2007), “Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt
Nam hiện nay và phƣơng hƣớng hoàn thiện”, Tạp chí Luật học.


3
- Nguyễn Thị Thƣơng Huyền (2008), “Luật Quản lý thuế và những vấn đề
cần bàn thêm”, Nghiên cứu lập pháp.
- Một số luận văn thạc sĩ luật học, khóa luận tốt nghiệp của Trƣờng Đại
học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở khác.
Các công trình nói trên đã nêu ra nhiều vấn đề cơ bản cả về lý luận và thực
tiễn liên quan đến pháp luật quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập cá nhân
nói riêng. Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình nêu
trên và các tài liệu khác có liên quan đến pháp luật về quản lý thuế và thuế thu nhập
cá nhân, luận án đã tiếp cận những quy định của pháp luật quản lý thuế thu nhập cá
nhân ở Việt Nam và pháp luật quản lý thuế ở một số quốc gia trên thế giới để từ đó
rút ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ những lý luận cơ bản và thực trạng pháp
luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật
quản lý thuế nói chung và pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với một số

loại thu nhập cụ thể để nhận thấy những ƣu nhƣợc điểm của pháp luật hiện hành
trong lĩnh vực này, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật quản lý
thuế thu nhập ở Việt Nam hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của một luận văn Thạc sĩ, đề tài tập trung nghiên cứu về
những hạn chế trong pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam, đƣa ra
mô hình quản lý thuế thu nhập cá nhân của một số quốc gia trên thế giới để từ đó
tìm ra những giải pháp, học hỏi kinh nghiệm quản lý thuế từ các quốc gia nhằm
hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý thuế thu nhập tại Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đã dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác –Lênin,
với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong mối tƣơng quan với tình hình
kinh tế, chính trị, xã hội của đất nƣớc. Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, luận
văn còn dựa trên cơ sở quan điểm, chủ trƣơng, chính sách, pháp luật của Đảng và


4
Nhà nƣớc Việt Nam. Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phƣơng pháp khác nhƣ
phƣơng pháp thống kê, phân tích tổng hợp, mô tả và so sánh, kết hợp nghiên cứu lý
luận với tổng kết thực tiễn.
6. Điểm mới của Luận văn
Pháp luật về quản lý thuế ở Việt Nam là một trong những đề tài đƣợc không
ít các tác giả trong giới nghiên cứu quan tâm, lựa chọn. Tuy nhiên, pháp luật quản
lý thuế thu nhập cá nhân lại chƣa đƣợc tìm hiểu một cách chuyên sâu và có hệ
thống. Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt đƣợc, luận văn cũng
mạnh dạn đóng góp những điểm mới của đề tài nhƣ sau:
- Thứ nhất, luận văn đã khái quát một cách hệ thống những vấn đề lý luận
cơ bản về quản lý thuế cũng nhƣ pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân ở
Việt Nam để làm nổi bật lên vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thuế thu nhập cá
nhân ở nƣớc ta.

- Thứ hai, luận văn đƣa ra những nhận xét cụ thể về ƣu, nhƣợc điểm của
pháp luật Việt Nam về quản lý thuế thu nhập cá nhân. Kế thừa các quy định quản lý
thuế thu nhập cá nhân ở một số quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở đó, luận văn mạnh
dạn đề xuất những giải pháp cụ thể để hoàn thiện hơn nữa pháp luật về quản lý thuế
thu nhập, cũng nhƣ giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản
lý thuế thu nhập cá nhân ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chƣơng:
Chương 1: Thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế thu nhập cá nhân
Chương 2: Thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và
pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở một số nƣớc trên thế giới
Chương 3: Định hƣớng hoàn thiện pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ở
Việt Nam và một số kiến nghị




5
Chƣơng 1
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1.1. Khái quát về thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.1.1. Khái quát về thuế thu nhập cá nhân
1.1.1.1. Khái niệm
Thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế xuất hiện tƣơng đối sớm. Thuế thu
nhập cá nhân là loại thuế phổ biến trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm nay. Đến
nay đã có hơn 180 nƣớc áp dụng thuế thu nhập cá nhân. Trong đó, quốc gia đầu tiên
áp dụng thuế thu nhập cá nhân là Hà Lan năm 1797, sau đó là ở nƣớc Anh vào năm

1799. Đầu tiên nó đã bị phản đối rất nhiều, bản thân Thủ tƣớng nƣớc Anh William
Pitt năm 1798 đã từng nói thật là nhục nhã và xấu hổ đối với cơ quan thuế và hình
ảnh của một quốc gia khi bắt một quý ông hay một quý cô phải nói với ai đó về thu
nhập của họ. Nhƣng chỉ một năm sau thì chính ông đã phải thay đổi quan điểm, và
thuế thu nhập cá nhân đã ra đời. “Ở Mỹ, thuế thu nhập cá nhân đã xuất hiện trong thời kỳ
chiến tranh 1812 và nó cũng dựa vào điều luật thuế của nước Anh năm 1798” [6]. Vậy
thuế thu nhập cá nhân là gì, nó có những đặc điểm và vai trò gì mà khiến các quốc gia
đặc biệt quan tâm và đƣa nó thành một sắc thuế trong hệ thống thuế?
Trƣớc tiên, để hiểu thế nào là thuế thu nhập cá nhân, chúng ta phải hiểu thế
nào là thu nhập.
Thu nhập là tổng các giá trị tài sản và của cải đƣợc biểu hiện dƣới
hình thức tiền tệ của một chủ thể nào đó trong nền kinh tế - xã hội tạo ra
và nhận đƣợc từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tƣ thông qua quá
trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một
khoảng thời hạn nhất định (thƣờng là 01 năm) [1].
Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận đƣợc thu
nhập dƣới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn nào (do lao
động, hay đầu tƣ …) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp cho Nhà nƣớc
dƣới dạng thuế thu nhập.


6
Nhƣ vậy, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi
cá nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thƣờng là một năm).
1.1.1.2. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
Thu nhập chịu điều tiết của thuế sẽ căn cứ vào cụ thể nguồn gốc phát sinh
của các khoản thu nhập và căn cứ vào đặc điểm cư trú hay một số đặc điểm khác
tùy theo luật của từng nước.
Thông thƣờng các nƣớc vẫn sử dụng nguyên tắc cƣ trú để đánh thuế thu nhập
cá nhân. Quan niệm về nơi cƣ trú của các quốc gia gần nhƣ là tƣơng đồng. Nó có

những nội dung cơ bản sau: có nơi ở chính tại quốc gia đó hoặc có thời gian sống ở
đó từ 183 ngày trở lên hoặc lâu hơn những nơi khác. Thời gian này có thể thay đổi
theo quy định của từng quốc gia; Hành nghề chính tại quốc gia đó, tức là phần lớn
thu nhập của đối tƣợng đƣợc tạo ra từ những hoạt động này; Có trung tâm lợi ích
kinh tế tại quốc gia đó, tức là có phần vốn đầu tƣ chủ yếu hoặc có trụ sở hoạt động
tại quốc gia đó. Thu nhập chịu thuế bao gồm tất cả các khoản thu nhập theo quy
định của Nhà nƣớc sau đó đƣợc khấu trừ đi các khoản chi phí khác đƣợc phép khấu
trừ theo quy định của Nhà nƣớc. Nhà nƣớc sẽ có một danh mục các khoản thu nhập
mà phải tính vào thu nhập chịu thuế, đồng thời sẽ có một danh mục khác liệt kê các
chi phí đƣợc phép khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế trƣớc khi tính thuế. Ví dụ ở
Pháp thì ngƣời ta chia ra làm 8 loại thu nhập (thu nhập từ cho thuê bất động sản, thu
nhập từ tiền lƣơng, thu nhập từ hoạt động sản xuất công nghiệp và thƣơng mại, thu
nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp …), còn ở Việt Nam, ngƣời ta chia thu
nhập chịu thuế ra làm 2 loại là thu nhập thƣờng xuyên và thu nhập không thƣờng
xuyên. Ta sẽ trình bày chi tiết hơn về nội dung thuế của Việt Nam ở các phần sau.
Ngoài ra, có những trƣờng hợp các cá nhân có thu nhập phát sinh ở nƣớc ngoài mà
đã nộp thuế một phần ở nƣớc ngoài, thì khi đó việc khấu trừ thuế nộp ở trong nƣớc
sẽ phụ thuộc vào hiệp định ký kết giữa quốc gia đó và bên nƣớc ngoài về việc tránh
đánh thuế hai lần. Các đối tƣợng không cƣ trú tại quốc gia đó thì sẽ chỉ có nghĩa vụ
nộp thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập phát sinh tại quốc gia đó.


7
Do đối tượng nộp thuế đồng thời cũng chính là đối tượng chịu thuế nên thuế
thu nhập cá nhân được xếp vào loại thuế trực thu.
Phạm vi điều chỉnh của luật thuế thu nhập cá nhân là rất rộng lớn và do đặc
điểm đối tƣợng chịu thuế trực tiếp phải nộp thuế nên sức ảnh hƣởng của nó đối với
nền kinh tế và thái độ của dân cƣ là hết sức to lớn. Không giống nhƣ các loại thuế
gián thu, ví dụ thuế tiêu dùng, khoản thuế đƣợc tính sẵn trong giá thanh toán nên nó
không ảnh hƣởng nhiều đến tâm lý của ngƣời mua về khoản thuế mình phải nộp,

thuế trực thu có thể hiểu bóng bẩy là Nhà nƣớc trực tiếp thò tay vào túi chúng ta và
lấy tiền của ta ra, điều đó chắc chắn sẽ có ảnh hƣởng mạnh về tâm lý của ngƣời nộp
thuế. Chính vì vậy, mỗi khi Chính phủ có những thay đổi trong chính sách thuế thu
nhập cá nhân nhƣ việc điều chỉnh thuế suất và thay đổi phạm vi các đối tƣợng đƣợc
miễn giảm thuế thì đều gây ra phản ứng mạnh mẽ trong dân cƣ.
Ngay khi Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân lần đầu tiên đi vào thực
hiện tại Việt Nam (01/4/1991), các cá nhân ngƣời nƣớc ngoài làm việc
và có thu nhập phát sinh tại Việt Nam phản ứng cũng khá quyết liệt khi
thấy rằng thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với họ là quá cao, do lúc
đó thu nhập trung bình của nƣớc ta vẫn còn thấp, trong khi đó lƣơng trả
cho các chuyên gia nƣớc ngoài thì cao hơn nhiều so với trong nƣớc. Ở
đây, ta muốn khẳng định lần nữa là thuế thu nhập cá nhân mang đặc
điểm là loại thuế trực thu và phạm vi điều tiết rất rộng nên nó có ảnh
hƣởng rất mạnh đến tâm lý của dân cƣ [2].
Thuế thu nhập cá nhân thông thường là loại thuế lũy tiến.
Các nƣớc thƣờng xây dựng một biểu thuế lũy tiến, các bậc ứng với mức thu
nhập càng cao thì có mức thuế suất càng cao. Do đó, những ngƣời có thu nhập càng
cao thì phải chịu mức thuế đóng góp cao hơn so với những ngƣời có mức thu nhập
thấp hơn. Nó góp phần đảm bảo tính chất công bằng trong phân phối xã hội, công
bằng ở đây là công bằng theo chiều dọc. Biểu thuế lũy tiến đƣợc xây dựng căn cứ
vào nguyên tắc đánh thuế dựa vào khả năng nộp thuế của các cá nhân khác nhau.
Những ngƣời có thu nhập cao thì có khả năng nộp thuế cao hơn những ngƣời có thu


8
nhập thấp và ngƣợc lại. Tƣ tƣởng đánh thuế dựa vào khả năng nộp thuế của nhà vua
Writ - vị vua nƣớc Anh vào thế kỷ 17 đã là cơ sở cho sự phát triển rất sớm của các
biểu thuế lũy tiến. Khoảng cách tƣơng đối giữa các bậc thuế suất sẽ quyết định tính
chất lũy tiến mạnh hay yếu của biểu thuế. Khoảng cách này mà càng lớn thì mức độ
lũy tiến của biểu thuế càng cao và ngƣợc lại.

Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế phức tạp và mang tính trung lập đối
với cơ cấu kinh tế.
Do đặc điểm là điều tiết lên thu nhập của dân cƣ, phạm vi điều tiết rất rộng
nên việc quản lý đối với loại thuế này là hết sức khó khăn. Nó dễ gây phản ứng của
ngƣời nộp thuế. Đồng thời do tính chất phân tán và động của đối tƣợng chịu thuế và
nguồn thuế nên công tác quản lý thu rất khó khăn. Chính vì đặc điểm này mà chi phí
hành thu của thuế thu nhập cá nhân rất cao. Ngoài ra, nó điều tiết lên thu nhập chứ
không phải là lên tiêu dùng nên nó không có tác động trực tiếp đối với một ngành
kinh tế cụ thể nào cả. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách sâu sắc thì thuế thu nhập cá
nhân vẫn có những tác động nhất định đối với cơ cấu nền kinh tế. “Thuế thu nhập
cá nhân được sử dụng như là một công cụ thuế đắc lực trong chính sách tài khóa
quốc gia, nó ảnh hưởng đến tổng cầu nền kinh tế, do đó nó cũng có những ảnh
hưởng nhất định đối với cơ cấu nền kinh tế” [39].
1.1.1.3 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân góp phần quan trọng bảo đảm nguồn thu ngân sách
Nhà nước.
Chúng ta biết rằng thuế thu nhập cá nhân đƣợc thu dựa vào mức thu nhập
của dân cƣ. Thu nhập của dân cƣ càng cao thì nó cũng đồng nghĩa với mức thu từ
thuế thu nhập cá nhân sẽ tăng. Thông thƣờng, ở những nƣớc càng phát triển thì tỷ
trọng đóng góp của thuế trực thu càng lớn, trong đó thuế thu nhập cá nhân chiếm tỷ
trọng khá cao. Hiện nay ở các nƣớc này, tỷ trọng thu ngân sách của thuế thu nhập cá
nhân chiếm rất cao từ 30 - 40%, có một số nƣớc trên 50% nhƣ: Hà Lan (52%); Đan
Mạch (55,4%); Thụy Điển (56,6%). Còn ở các nƣớc đang phát triển, đời sống ngƣời
dân chƣa cao, thu nhập trung bình mới chỉ đủ cho các hoạt động sinh hoạt cần thiết


9
của ngƣời dân và tiết kiệm ra một phần nhỏ. Số lƣợng những ngƣời có thu nhập cao,
giàu có trong xã hội thì chỉ chiếm một phần rất nhỏ, đại bộ phận dân cƣ là có thu
nhập và mức sống còn thấp so với dân cƣ các nƣớc phát triển. Chính vì vậy, khả

năng đóng góp thuế thu nhập cá nhân cho Nhà nƣớc ở các nƣớc đang phát triển vẫn
còn rất thấp, chỉ chiếm từ 15 - 30% tỷ trọng thu ngân sách.
Thuế thu nhập cá nhân góp phần đảm bảo tính công bằng và giảm bớt sự
phân hóa giàu nghèo trong xã hội.
Một chức năng quan trọng của thuế là nhằm đảm bảo tính công bằng và giảm
bớt sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Trong các loại thuế thì thuế thu nhập cá
nhân thể hiện rõ nét nhất vai trò này. Ngƣời có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều
hơn ngƣời có thu nhập trung bình, có thu nhập nhƣ nhau nhƣng ngƣời có hoàn cảnh
khó khăn hơn thì nộp thuế ít hơn. Tinh thần này luôn đƣợc quán triệt khi xây dựng
Luật thuế TNCN. Do đặc điểm là thuế đánh trên thu nhập của các cá nhân cùng với
tính chất lũy tiến của thuế thu nhập cá nhân đã thu hẹp đƣợc khoảng cách về thu
nhập giữa các cá nhân có mức thu nhập cao và các cá nhân có mức thu nhập thấp.
Đây là quan điểm công bằng theo chiều dọc, những ngƣời có khả năng nộp thuế
càng cao thì sẽ nộp nhiều thuế hơn và ngƣợc lại. Nó khác so với quan điểm công
bằng theo chiều ngang là tất cả mọi ngƣời sẽ nộp thuế cùng với một tỉ lệ nhƣ nhau.
Các khoản thuế thu đƣợc sau đó có thể đƣợc chính phủ sử dụng để trợ giúp lại
những ngƣời có thu nhập thấp. Trên lý thuyết đây là một loại thuế rất ƣu việt trong
việc điều hòa thu nhập giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo. Tuy nhiên thực tế nó vẫn
còn gây rất nhiều tranh cãi. Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội ngày càng mở
rộng hơn, ngƣời ta đặt ra câu hỏi liệu chính sách thuế thu nhập cá nhân có thực sự
đem lại sự phân phối công bằng hơn cho xã hội hay là nó không có tác dụng gì cả
hay nếu có thì là không đáng kể.
Vậy cách đánh thuế nhƣ thế nào là công bằng? Liệu chính sách thuế thu nhập
theo biểu thuế lũy tiến đã là công bằng với những ngƣời có thu nhập cao hay chƣa?
Và biểu thuế lũy tiến với các bậc thuế nhƣ vậy đã là công bằng hay chƣa? Các chính
phủ đều chấp nhận và coi một biểu thuế lũy tiến là công bằng hơn cho tất cả, tất


10
nhiên nó cũng phải hy sinh quyền lợi của một số ít để đảm bảo quyền lợi số đông.

Việc điều chỉnh mức thuế suất thuế thu nhập sẽ là công cụ để chính phủ điều chỉnh
mức công bằng lệch về phía nào, ngƣời có thu nhập cao hay ngƣời có thu nhập thấp.
Chúng ta cần phải hiểu ở đây ý nghĩa công bằng chỉ là mang tính tƣơng đối, nó
công bằng cho một bộ phận dân cƣ này nhƣng nó cũng là không công bằng cho một
bộ phận dân cƣ khác. Chính sách thuế thu nhập cá nhân đƣợc xây dựng nhằm mục
đích là đem lại sự công bằng cao nhất cho xã hội trong điều kiện có thể, tất nhiên nó
cũng cần phải đảm bảo các mục tiêu khác của xã hội.
Thuế thu nhập cá nhân làm cho mỗi người dân có ý thức hơn về nghĩa vụ và
quyền của mình đối với Nhà nước.
Điều này ta có thể thấy rõ nét khi đem so sánh về ý thức con ngƣời giữa các
nƣớc phát triển nhƣ Mỹ, Pháp, Đức … với các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt nam,
Lào, Indonesia … Do ở các nƣớc phát triển, hệ thống thuế trực thu đã phát triển và
hầu hết mọi ngƣời dân đều phải tự tính thuế và nộp thuế cho mình, do đó quan niệm
về thuế của họ rất rõ ràng, họ cảm thấy mình có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nƣớc. Họ
cảm thấy tự hào khi nộp thuế vì biết mình đã đóng góp cho Nhà nƣớc. Tất nhiên cũng
có nhiều trƣờng hợp trốn thuế nhƣng đây chỉ là những trƣờng hợp cá biệt. Còn ở
những nƣớc đang phát triển thì sao? Khái niệm nộp thuế cho Nhà nƣớc còn là điều
hết sức mới lạ với rất nhiều ngƣời. Họ không biết mình phải nộp thuế. Hàng ngày
chúng ta vẫn phải nộp thuế, nhƣng do là thuế gián thu nên chúng ta không biết. Khi
phải tính và nộp thuế trực thu thì nhiều ngƣời không hề thấy thoải mái chút nào.
Chính vì không phải tự tính thuế và nộp thuế cho mình nên ý thức về thuế của ngƣời
dân ở những nƣớc đang phát triển là rất thấp. Minh chứng đơn giản là việc dân cƣ đi
qua cầu phải nộp phí, lệ phí; có phải ai cũng nộp không, nếu trốn đƣợc thì họ cũng sẽ
sẵn sàng làm ngay cho dù đó chỉ là một khoản tiền rất nhỏ. Nhìn những nƣớc phát
triển, dù không có ngƣời thu tiền phí và lệ phí thì ngƣời đi qua những nơi phải nộp
phí và lệ phí vẫn tự giác bỏ tiền vào chỗ thu tiền rồi mới đi qua. Cũng chính vì sự
nhận thức về nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nƣớc của ngƣời dân những nƣớc đang
phát triển thấp hơn ngƣời dân những nƣớc phát triển cho nên ý thức về quyền con
ngƣời của họ cũng thấp hơn. Những ngƣời càng có ý thức về nghĩa vụ của mình đối



11
với Nhà nƣớc càng cao thì họ càng có ý thức về quyền của mình đối với Nhà nƣớc
cao hơn, họ đòi hỏi Nhà nƣớc cũng phải thực hiện lại những nghĩa vụ đối với họ.
Chính vì vậy, ta có thể thấy rằng sự phát triển của thuế thu nhập cá nhân cũng là một
bƣớc đánh dấu sự phát triển về nhận thức và văn hóa của con ngƣời. Đi kèm với sự
phát triển về kinh tế bao giờ cũng là sự phát triển về con ngƣời.
1.1.2. Quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.1.2.1. Khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân
Trƣớc tiên, để hiểu rõ hơn về khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân nói
riêng, hãy tìm hiểu về khái niệm quản lý thuế nói chung.
Quản lý thuế đƣợc một số tác giả khái niệm hóa nhƣ sau:
Quản lý thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thực thi các
chính sách thuế hay là việc thực thi quyền hành pháp và tƣ pháp của Nhà
nƣớc trong lĩnh vực thuế [8].
Quản lý thuế là một quá trình tổ chức thực thi chính sách thuế,
thông qua quá trình tác động của cơ quan thuế lên các tổ chức và công
dân nhằm đảm bảo và tăng cƣờng sự tuân thủ nghĩa vụ thuế một cách
đầy đủ, tự nguyện và đúng thời hạn trong điều kiện môi trƣờng quản lý
thuế luôn biến động [34].
Điều 3 Luật Quản lý thuế Việt Nam liệt kê các nội dung quản lý thuế gồm:
“Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế,
giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra
thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm
pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế” [29, Điều 3]. Điều này cho
thấy nhà lập pháp Việt Nam xác định quản lý thuế theo nghĩa hẹp.
Thuế thu nhập cá nhân là một bộ phận trong hệ thống thuế, do đó, quản lý
thuế thu nhập cá nhân là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong
bộ máy Nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế thu nhập cá nhân để thay đổi
quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu Nhà

nước đặt ra.


12
Quản lý thuế thu nhập cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục tiêu cơ bản sau:
- Quản lý thuế thu nhập cá nhân có vai trò quyết định trong việc đảm bảo
nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân đƣợc tập trung chính xác, kịp thời, thƣờng
xuyên, ổn định vào NSNN. Thông qua việc lựa chọn áp dụng các biện pháp quản lý
thuế thu nhập cá nhân có hiệu quả, cũng nhƣ xây dựng và áp dụng quy trình, thủ tục
về thuế thu nhập cá nhân hợp lý, cơ quan thuế đảm bảo thu thuế đúng luật, đầy đủ
và kịp thời vào NSNN.
Bên cạnh đó, thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếp đến thu nhập của các
cá nhân, có thể làm giảm nỗ lực làm việc và gây nên các phản ứng ngay lập tức từ
phía chịu thuế nhƣ hành vi trốn thuế … Để tăng cƣờng và ổn định số thu NSNN
trong tƣơng lai, công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng cần đƣợc chú ý để duy
trì và phát triển cơ sở tạo nguồn thu thuế thu nhập các cá nhân.
- Thông qua hoạt động quản lý thuế thu nhập cá nhân góp phần hoàn thiện
chính sách, pháp luật cũng nhƣ các quy định về quản lý thuế thu nhập cá nhân.
Những điểm bất cập trong chính sách thuế thu nhập cá nhân và
khiếm khuyết trong luật thuế thu nhập cá nhân đƣợc phát hiện trong quá
trình áp dụng luật vào thực tiễn và qua các hoạt động quản lý thuế thu
nhập cá nhân. Trên cơ sở đó cơ quan điều hành thực hiện pháp luật đề
xuất bổ sung, sửa đổi luật thuế thu nhập cá nhân cho phù hợp [13].
- Thông qua quản lý thuế thu nhập cá nhân, Nhà nƣớc thực hiện kiểm soát và
điều tiết các hoạt động kinh tế của các cá nhân trong xã hội. Theo quy định của pháp
luật thuế, ngƣời nộp thuế có trách nhiệm phải kê khai thuế. Nội dung kê khai thuế là
kê khai các hoạt động kinh tế có liên quan đến việc tính toán nghĩa vụ thuế của ngƣời
nộp thuế, tức là phải kê khai các hoạt động kinh tế phát sinh, các giao dịch kinh
doanh của ngƣời nộp thuế. Mặt khác, để quản lý thuế, cơ quan thuế phải tổ chức thu
thập, nắm bắt, lƣu giữ thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngƣời nộp

thuế; phải tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh
của ngƣời nộp thuế. Nhƣ vậy, thông qua quản lý thuế, Nhà nƣớc đã thực hiện kiểm
soát các hoạt động kinh tế của các cá nhân trong xã hội. Từ việc kiểm soát các hoạt


13
động kinh tế này, Nhà nƣớc có thể có các chính sách quản lý phù hợp để điều tiết
hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế theo định hƣớng của Nhà nƣớc.
1.1.2.2. Nội dung quản lý thuế thu nhập cá nhân
Với khái niệm về quản lý thuế thu nhập cá nhân nhƣ đã nêu trên, nội dung
chủ yếu của quản lý thuế thu nhập cá nhân bao gồm: thiết kế chính sách thuế thu
nhập cá nhân và thể chế hóa thành pháp luật thuế thu nhập cá nhân; xây dựng tổ
chức bộ máy quản lý thuế thu nhập cá nhân và tổ chức thực hiện pháp luật thuế thu
nhập cá nhân.
a) Thiết kế chính sách thuế và thể chế hóa thành pháp luật thuế thu nhập cá nhân
Chính sách là hệ thống những quan điểm và đƣờng lối để đạt đƣợc những
mục tiêu nhất định trong quản lý một tổ chức hoặc quản lý Nhà nƣớc. Nhƣ vậy, nói
đến chính sách là nói đến việc cần làm gì và tại sao phải làm nhƣ vậy. “Có thể hiểu,
chính sách thuế thu nhập cá nhân là hệ thống những quan điểm, đường lối, phương
châm điều tiết thu nhập của các cá nhân trong xã hội thông qua thuế” [13].
Những nội dung cơ bản của chính sách thuế nói chung và chính sách thuế thu
nhập cá nhân nói riêng bao gồm: mục tiêu của chính sách thuế, phạm vi tác động
của chính sách thuế, thời gian hiệu lực của chính sách, trách nhiệm thực hiện chính
sách thuế, phƣơng châm chính sách. Ngoài ra, chính sách thuế có thể bao gồm các
nội dung khác nhƣ: bối cảnh kinh tế - xã hội, …
Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung. Nhƣ
vậy, trong khi pháp luật bắt buộc ngƣời ta phải làm gì trong những điều kiện, hoàn
cảnh nhất định và không đƣợc làm gì thì chính sách chỉ hƣớng ngƣời ta cần làm gì
để đạt đƣợc mục tiêu mong muốn. Do đó, “nhà nước muốn chính sách đi vào cuộc
sống thì cần thể chế hóa những chính sách ấy thành pháp luật thuế” [13].

Pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế thu nhập cá nhân nói riêng phải
quy định đầy đủ các yếu tố: ngƣời nộp thuế, cơ sở thuế, mức thu thuế, ƣu đãi thuế,
thủ tục thuế và xử lý vi phạm về thuế. Cũng nhƣ các quy định pháp luật khác, một
mặt, pháp luật thuế phải thể hiện rõ các mục tiêu, quan điểm, đƣờng lối, chính sách
thuế; mặt khác, pháp luật thuế phải minh bạch, phù hợp với điều kiện cụ thể của
mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.


14
b) Tổ chức bộ máy quản lý thuế thu nhập cá nhân
Nhà nƣớc xây dựng bộ máy quản lý thuế để quản lý thuế thu nhập cá nhân
cũng nhƣ các sắc thuế khác. Tùy vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng
nƣớc, bộ máy quản lý thuế cũng đƣợc xây dựng một cách tƣơng ứng. Nhìn tổng thể
trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, cơ quan thuế ở các nƣớc trên thế giới đều đƣợc
tổ chức thành một hệ thống bao gồm nhiều cấp.
Tại nhiều nƣớc, hệ thống đó không hoàn toàn phù hợp với hệ
thống chính quyền Nhà nƣớc và bao gồm: cơ quan thuế trung ƣơng, cơ
quan thuế cấp tỉnh, thành phố và cơ quan thuế cấp quận, huyện nhƣ Việt
Nam, Trung Quốc. Ngoài ra, ở một số quốc gia hệ thống ngành thuế còn
đƣợc tổ chức theo các dạng khác [13].
Hiện nay trên thế giới có các mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế nhƣ sau:
 Mô hình tổ chức theo sắc thuế
Các bộ phận trong cơ quan thuế đƣợc bố trí theo sắc thuế. Trong mô hình
này, ngoài những bộ phận quản lý nội bộ nhƣ: tổ chức, nhân sự, tài chính … thì các
bộ phận quản lý còn lại đƣợc bố trí thành các phòng/đội quản lý theo sắc thuế. Mô
hình này có ƣu điểm là phát huy sự am hiểu sâu của một cán bộ thuế đối với sắc
thuế để quản lý tốt. Nhƣợc điểm cơ bản của mô hình này là khó có sự kết hợp tốt
trong quản lý các sắc thuế của cùng một đối tƣợng.
 Mô hình tổ chức theo chức năng
Các bộ phận trong cơ quan thuế đƣợc bố trí theo chức năng quản lý. Trong

mô hình này, ngoài những bộ phận quản lý nội bộ nhƣ: tổ chức, nhân sự, tài chính
… thì các bộ phận quản lý còn lại đƣợc bố trí thành các phòng/đội quản lý theo
chức năng quản lý của cơ quan thuế nhƣ: phòng/đội quản lý kê khai thuế, phòng/đội
kế toán thuế, phòng/đội thanh tra thuế, phòng/đội kiểm tra thuế, phòng/đội tuyên
truyền và hỗ trợ ngƣời nộp thuế … Ƣu điểm của mô hình này là đảm bảo sự chuyên
môn hóa sâu theo chức năng. Mô hình này có hai nhƣợc điểm cơ bản là: Không xác
định rõ nhiệm vụ thực hiện dự toán thu và sự đóng góp của các bộ phận chức năng
vào kết quả thu thuế; Không phát huy đƣợc sự hiểu biết sâu sắc của cán bộ thuế về
ngƣời nộp thuế.


15
 Mô hình tổ chức theo đối tượng nộp thuế
Các bộ phận trong cơ quan thuế đƣợc bố trí theo loại hình đối tƣợng nộp
thuế. Trong mô hình này, ngoài những bộ phận quản lý nội bộ nhƣ tổ chức, nhân sự,
tài chính … thì các bộ phận quản lý còn lại đƣợc bố trí thành các phòng/đội quản lý
theo đối tƣợng nộp thuế. Đối tƣợng nộp thuế có thể phân nhóm theo thành phần
kinh tế nhƣ: doanh nghiệp Nhà nƣớc, doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài,
doanh nghiệp tƣ nhân, cá nhân … Đối tƣợng nộp thuế cũng có thể đƣợc phân nhóm
theo quy mô hoặc theo loại hình doanh nghiệp hoặc theo ngành nghề kinh doanh …
Do vậy, cơ quan thuế sẽ có các phòng/đội quản lý doanh nghiệp Nhà nƣớc,
phòng/đội quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, phòng/đội quản lý cá
nhân … Mô hình này có ƣu điểm là đảm bảo một bộ phận hoặc một cán bộ thuế am
hiểu sâu sắc đối tƣợng nên có thể quản lý tốt đối tƣợng đó, đồng thời xác định rõ
đƣợc đối tƣợng có trách nhiệm thực hiện dự toán thu thuế. Tuy nhiên, mô hình này
có nhƣợc điểm là: Tạo môi trƣờng gần gũi giữa cán bộ thuế với ngƣời nộp thuế và
không chuyên môn hóa sâu.
 Mô hình tổ chức bộ máy hỗn hợp
Mô hình hỗn hợp là mô hình vừa có những yếu tố của mô hình tổ chức theo
sắc thuế, vừa có yếu tố của mô hình tổ chức theo đối tƣợng và theo chức năng.

Trong mô hình này có cả các phòng/đội theo chức năng nhƣ phòng/đội thanh tra,
kiểm tra, phòng/đội quản lý nợ và cƣỡng chế thuế; lại vừa có phòng/đội quản lý thu
nhập; đồng thời, có thể có cả bộ phận quản lý theo đối tƣợng, chẳng hạn phòng/đội
quản lý doanh nghiệp lớn … Nếu tổ chức tốt thì mô hình này có thể phát huy đƣợc
những ƣu điểm và hạn chế đƣợc nhƣợc điểm của các mô hình trên. Tuy nhiên, mô
hình này có nhƣợc điểm là sự kết hợp thực hiện nhiệm vụ giữa các bộ phận trong cơ
quan thuế khá phức tạp.
c) Thực hiện quản lý thuế thu nhập cá nhân
Với mục tiêu tối thƣợng là thực hiện pháp luật thuế, nghĩa là phải đảm bảo
để ngƣời nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai nộp thuế cho Nhà nƣớc thì cơ quan
thuế cần tác động vào tất cả những yếu tố điều khiển hành vi tuân thủ thuế của


16
ngƣời nộp thuế. Tức là phải làm cho ngƣời nộp thuế hiểu nghĩa vụ thuế, hiểu cách
tính toán số thuế phải nộp, thấy đƣợc hậu quả của việc không tuân thủ, tạo những
điều kiện thuận lợi nhất để ngƣời nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế cho
Nhà nƣớc, kiểm soát sự tuân thủ và cƣỡng chế tuân thủ thuế. Để làm đƣợc điều này,
cần tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế thu nhập cá nhân.
 Tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế thu nhập cá nhân
Chuyển tải thông tin về pháp luật thuế thu nhập cá nhân đến mọi thành viên
trong xã hội bằng những phƣơng pháp cụ thể. Hoạt động này là nhiệm vụ của cán
bộ thuế, bao gồm các nội dung tuyên truyền từ bản chất của thuế thu nhập cá nhân,
lợi ích xã hội từ việc nộp thuế cho đến các biện pháp xử lý đối với các hành vi vi
phạm pháp luật thuế thu nhập cá nhân … nhằm tạo điều kiện cho ngƣời dân trong
việc hiểu và có ý thức chấp hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân. Các biện pháp
tuyên truyền kịp thời còn giúp ngƣời nộp thuế có thể cập nhật thƣờng xuyên thông
tin về thuế thu nhập cá nhân khi có những sự sửa đổi, bổ sung về chính sách để có
những điều chỉnh cho thích hợp thực hiện nghĩa vụ của mình.
Các hình thức chủ yếu đƣợc thực hiện trong công tác tuyên truyền pháp luật

thuế nói chung và pháp luật thuế thu nhập cá nhân nói riêng bao gồm: xuất bản
các ấn phẩm về thuế thu nhập cá nhân, tuyên truyền qua các phƣơng tiện truyền
thông đại chúng, xây dựng các chƣơng trình tăng cƣờng hiểu biết về thuế thuế thu
nhập cá nhân …
 Hỗ trợ người nộp thuế
Hỗ trợ ngƣời nộp thuế là việc hƣớng dẫn, giải thích, tƣ vấn cho ngƣời nộp thuế
hiểu các vấn đề liên quan đến chính sách, chế độ thuế đã đƣợc quy định, tạo những
điều kiện tốt nhất để ngƣời nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế của mình. Hoạt động
này thƣờng đƣợc thực hiện theo nguyện vọng và yêu cầu từ phía ngƣời nộp thuế. Khi
ngƣời nộp thuế có những vƣớng mắc trong quá trình kê khai, tính thuế, quyết toán
thuế hoặc các vấn đề có liên quan khác, họ có thể đề nghị cán bộ thuế tƣ vấn hoặc đến
các trung tâm cung cấp dịch vụ hỗ trợ ngƣời nộp thuế để đƣợc giải đáp.


17
 Quản lý thu thuế thu nhập cá nhân
* Quản lý đối tượng nộp thuế
Đây là khâu đặc biệt trong quản lý thuế thu nhập cá nhân. Quản lý nhằm xác
định thu nhập của tất cả các chủ thể. Hàng năm, cơ quan thuế phải tiến hành đăng
ký đối tƣợng nộp thuế. Phƣơng thức thủ công và đăng ký qua internet là hai phƣơng
thức đăng ký đối tƣợng nộp thuế thƣờng đƣợc áp dụng. Vì đối tƣợng nộp thuế thu
nhập cá nhân ở đây nhiều và không tập trung nên phƣơng thức quản lý bằng mạng
vi tính thích hợp với công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân. Theo phƣơng thức này
thì cơ quan quản lý thuế cần phải tiến hành cấp mã số thuế cho các đối tƣợng nộp
thuế và cơ quan chi trả thu nhập thống nhất trong phạm vi cả nƣớc. Mỗi ngƣời nộp
thuế có mã số thuế này. Mọi thông tin cần thiết về đối tƣợng nộp thuế đƣợc nạp vào
máy vi tính với một file riêng mà tên file là mã số của đối tƣợng nộp thuế. Khi cần
kiểm tra một đối tƣợng nộp thuế, cơ quan quản lý chỉ cần mở file theo mã số của
đối tƣợng đó, nhờ đó mà tránh đƣợc tình trạng bỏ sót các đối tƣợng nộp thuế đồng
thời cũng đảm bảo sự nhanh gọn cho cơ quan thuế trong công tác quản lý thu thuế.

* Các cách tính thuế và nộp thuế:
Thông qua cơ quan ủy nhiệm thu hay cơ quan chi trả thu nhập tính thuế cho
các đối tƣợng nộp thuế làm việc trong đơn vị mình và có thu nhập do đơn vị mình
chi trả. Sau khi tính thuế và khấu trừ thuế của đối tƣợng nộp thuế, cơ quan chi trả
thu nhập sẽ tiến hành khấu trừ phần thuế phải nộp ra khỏi thu nhập trƣớc thuế của
đối tƣợng nộp thuế để đem nộp cho cơ quan thuế. Cơ quan chi trả thu nhập sẽ đƣợc
hƣởng một khoản tiền theo tỉ lệ trên số thuế thu đƣợc và nộp cho cơ quan thuế.
Đối tƣợng nộp thuế sẽ trực tiếp kê khai thu nhập của mình và tự tính mức
thuế mình phải nộp. Sau đó, các đối tƣợng nộp thuế sẽ đến nộp tờ khai cho cơ quan
thuế và tiến hành nộp khoản thuế cho cơ quan thuế hay cơ quan có chức năng thu
thuế. Cơ quan thuế sẽ có nhiệm vụ ghi lại tất cả các khoản thuế mà các đối tƣợng
nộp thuế phải nộp, để từ đó có thể giám sát và kiểm tra khi cần thiết. Đồng thời đó
cũng là cơ sở để đảm bảo sự minh bạch trong công tác thu nộp thuế, cho cả đối
tƣợng nộp thuế và cơ quan thuế cũng nhƣ cơ quan ủy nhiệm thu.


18
 Thanh tra thuế thu nhập cá nhân
“Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác
kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn
và xử lý những hành vi trái pháp luật” [13, tr.54].
Thanh tra thuế đƣợc thực hiện bởi cơ quan thanh tra chuyên ngành thuế. Đối
tƣợng thanh tra thuế là cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân cho Nhà
nƣớc và bao gồm cả các đơn vị thuộc ngành thuế. Mục tiêu thanh tra thuế là phát
hiện và xử lý các trƣờng hợp sai phạm nhằm giảm bớt tổn thất cho Nhà nƣớc và
đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời thông qua đó, cơ quan thuế có
thể phát hiện những thiếu sót, bất cập trong văn bản pháp luật thuế và quá trình tổ
chức thực hiện, từ đó tìm ra những hƣớng giải quyết nhằm hoàn thiện công tác quản
lý thuế Thu nhập cá nhân. Thanh tra thuế đƣợc thực hiện dƣới các hình thức và
phƣơng pháp khác nhau.

 Cưỡng chế thuế thu nhập cá nhân
Đây là hoạt động sử dụng các cách thức, biện pháp để buộc ngƣời nộp thuế
thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân, thực hiện quyết định hành chính thuế thu
nhập cá nhân. Để đảm bảo mục tiêu buộc ngƣời nộp thuế tuân thủ quyết định hành
chính thuế, công tác cƣỡng chế thuế có nội dung cơ bản là thông báo cho ngƣời nộp
thuế biết trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ thuế và những hậu quả có thể phải
chịu nếu không thực hiện nghĩa vụ. Đồng thời, bằng các biện pháp cƣỡng chế nhƣ
khấu trừ một phần tiền lƣơng hoặc thu nhập; trích tiền từ tài khoản của đối tƣợng bị
cƣỡng chế … để thực hiện nghĩa vụ thuế của ngƣời nộp thuế.
1.2. Pháp luật Quản lý thuế thu nhập cá nhân
1.2.1. Khái niệm pháp luật Quản lý thuế thu nhập cá nhân
Trên thế giới hiện nay, hệ thống pháp luật thuế ở các quốc gia đƣợc thiết kế
có cấu trúc khác nhau. Có những nƣớc quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ
luật chung về thuế, gọi là Bộ luật thuế vụ. Trong Bộ luật này, nhà làm luật vừa quy
định về nội dung cụ thể của các sắc thuế trong hệ thống thuế, vừa quy định về trình
tự, thủ tục hành thu và cơ chế quản lý thuế và cả xử lý vi phạm, giải quyết các tranh


19
chấp về thuế. Ngƣợc lại, có những nƣớc lựa chọn giải pháp thiết kế mỗi sắc thuế
đƣợc ban hành bằng một đạo luật riêng, độc lập với nhau nhƣng vẫn đảm bảo tính
tƣơng thích với nhau và đồng thời tách bạch các quy định về quản lý thuế bằng một
đạo luật riêng với các đạo luật quy định sắc thuế, cách làm này đang là xu hƣớng
chung của nhiều nƣớc. “Giải pháp này được đánh giá là thích hợp hơn với điều kiện
hội nhập kinh tế toàn cầu vì nó cho phép nhà làm luật có thể sửa đổi, bổ sung và điều
chỉnh các quy định trong các đạo luật thuế một cách dễ dàng hơn so với việc đưa tất cả
các quy định về thuế trong một Bộ luật chung về thuế” [40].
Theo TS. Nguyễn Văn Tuyến:
Xét về cấu trúc tổng quát, hệ thống pháp luật thuế nói chung của các nước
đều được cấu thành bởi hai bộ phận chính bao gồm:

- Các quy định về nội dung của các sắc thuế trong hệ thống thuế;
- Các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện (quy
trình hành thu) hệ thống thuế. Các quy định này thường được quan niệm
như là những quy định về hình thức của pháp luật thuế, bởi nó có nhiệm
vụ xác định trình tự, thủ tục hành thu thuế và quản lý thuế cũng như xử
lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp về thuế. Hiểu theo nghĩa rộng
nhất, tất cả các quy định liên quan đến hoạt động này đều có thể gói gọn
trong một thuật ngữ là “pháp luật quản lý thuế” và tùy thuộc vào quan
điểm của từng nước mà chúng có thể được quy định chung trong Bộ luật
thuế hay các đạo luật thuế, hoặc được tách bạch riêng rẽ thành một đạo
luật về quản lý thuế [40].
Theo TS. Nguyễn Thị Thƣơng Huyền:
“Xét về lý thuyết, pháp luật thuế bao gồm: pháp luật vật chất hay còn gọi là
pháp luật nội dung và pháp luật thủ tục hay còn gọi là pháp luật hình thức. Trong
đó pháp luật nội dung ghi nhận, phản ánh chính sách thuế, còn pháp luật thủ tục
quy định các vấn đề về quản lý thuế” [15].
Các quan hệ mà pháp luật quản lý thuế điều chỉnh khá đa dạng. Nếu căn
cứ vào chủ thể tham gia quan hệ thì pháp luật quản lý thuế điều chỉnh các nhóm
quan hệ sau:


20
- Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với ngƣời nộp thuế phát sinh trong quá
trình quản lý thu, nộp các loại thuế, đây là nhóm quan hệ chủ đạo, chiếm tỷ lệ lớn
trong các quan hệ mà pháp luật quản lý thuế điều chỉnh.
- Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan đến quản lý thuế. Nhóm quan hệ này chủ yếu liên quan đến việc cung cấp
thông tin về ngƣời nộp thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong việc tuyên
truyền, hỗ trợ và trong cƣỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế.
- Quan hệ phát sinh trong nội bộ cơ quan quản lý thuế, nhóm quan hệ này

liên quan đến việc tổ chức bộ máy quản lý thuế và phân định chức năng, nhiệm vụ,
thẩm quyền giữa các cơ quan, bộ phận trong hệ thống cơ quan quản lý thuế.
- Quan hệ giữa ngƣời nộp thuế với chủ thể khác có liên quan đến việc thực
hiện các quyền và nghĩa vụ của ngƣời nộp thuế nhƣ: quan hệ giữa ngƣời nộp thuế
với tổ chức tín dụng trong việc bảo lãnh số tiền thuế hoặc thực hiện dịch vụ thanh
toán tiền thuế cho ngƣời nộp thuế
Căn cứ vào nội dung hoạt động quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế điều
chỉnh các quan hệ về đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; hoàn thuế,
miễn thuế, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về ngƣời nộp
thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Dƣới góc độ luật thực định, để xác định quy định nào thuộc pháp luật quản lý
thuế, quy định nào thuộc pháp luật về nội dung các sắc thuế trong pháp luật thuế thì
không chỉ căn cứ hình thức thể hiện ở tên của văn bản pháp luật mà cần căn cứ vào
nội dung điều chỉnh để xác định.
Thực tiễn lập pháp các nƣớc cho thấy, xây dựng pháp luật quản lý thuế có
hai xu hƣớng:
Một là, các vấn đề về quản lý thuế đƣợc ghi nhận trong các Luật thuế. Ở
nƣớc ta trƣớc khi có Luật Quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế đƣợc xây dựng theo
xu hƣớng này. Bởi vậy, các quy định về quản lý thuế nằm rải rác trong rất nhiều các
văn bản pháp luật khác nhau, trong các văn bản pháp luật quy định từng sắc thuế
đều có quy định về quản lý thuế để áp dụng cho sắc thuế đó. Ngoài ra, các văn bản

×