Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (878.97 KB, 91 trang )

Cần Thơ, 11/2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT









LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 2010 -2014

Đề Tài
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA THEO QUY ĐỊNH
CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM




Giảng viên hướng dẫn:
Trần Hồng Ca
Bộ môn: Luật Tư pháp
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
MSSV: 5105972
Lớp: Luật Thương mại 1


Khóa: 36
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý

LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế, không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ,
giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong suốt thời gian
từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự
quan tâm, giúp đỡ của Thầy, Cô, gia đình và bạn bè.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Trần Hồng Ca, khoa Luật,
bộ môn Luật Tư pháp, trường Đại học Cần Thơ. Trong suốt thời gian em thực hiện
luận văn, mặc dù rất bận rộn trong công việc nhưng cô vẫn dành rất nhiều thời gian và
tâm huyết trong việc hướng dẫn em. Cô đã cung cấp cho em rất nhiều hiểu biết về một
lĩnh vực mới khi em mới bắt đầu bước vào thực hiện luận văn. Trong quá trình thực
hiện luận văn cô luôn định hướng, góp ý và sửa chữa những chổ sai giúp em không bị
lạc lối trong biển kiến thức mênh mông. Cho đến hôm nay, luận văn tốt nghiệp của em
đã được hoàn thành, cũng chính là nhờ sự nhắc nhở, đôn đốc, sự chỉ dạy tận tình của
cô.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong khoa Luật, cũng như các Thầy,
Cô trong trường đã giảng dạy, giúp đỡ em trong thời gian qua. Các Thầy, Cô đã xây
dựng cho em những kiến thức nền tảng và những kiến thức chuyên môn để em có thể
hoàn thành luận văn này cũng như công việc sau này.
Sau cùng, em xin kính chúc Thầy, Cô thật dồi dào sức khỏe để tiếp tục thực hiện sứ
mệnh cao đẹp của mình - truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau.
Trân trọng.




Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam

GVHD: Trần Hồng Ca SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN




































Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN





































Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự
2. Quy chế số 07 Quy chế Công tác thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các
vụ án hình sự
3. TTLT số 05 Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT – VKSTC –
BCA – BQP ngày 07/9/2005 về Quan hệ phối hợp
giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc
thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết khi chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Phạm vi nghiên cứu 4
4. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Bố cục đề tài 4
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUYỀN CÔNG TỐ VÀ THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 6
1.1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CÔNG TỐ VÀ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 6
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam 6
1.1.1.1 Khái niệm quyền công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam 6
1.1.1.2 Đặc điểm của quyền công tố 12
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm thực hành quyền công tố 15
1.1.2.1 Khái niệm thực hành quyền công tố 15
1.1.2.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố 16
1.2 KHÁI QUÁT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN
ĐIỀU TRA VÀ Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA 18
1.2.1 Khái quát về giai đoạn điều tra vụ án hình sự 18
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
19
1.2.2.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra 19
1.2.2.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra 19
1.2.3 Ý nghĩa của công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra 21
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
1.3 LƯỢC SỬ VỀ QUY ĐỊNH HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 21
1.3.1 Hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra trong tố tụng

hình sự Việt Nam giai đoạn 1945-1959 21
1.3.2 Hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra trong tố tụng
hình sự Việt Nam giai đoạn 1960-1987 23
1.3.3 Hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra trong tố tụng
hình sự Việt Nam giai đoạn 1988 đến nay 23
CHƯƠNG 2. NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN
KIỂM SÁT KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA 27
2.1 HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN
ĐIỀU TRA 27
2.1.1 Khởi tố vụ án hình sự 27
2.1.2 Khởi tố bị can 30
2.1.3 Yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án
hình sự, khởi tố bị can 31
2.1.3.1 Yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án
hình sự 31
2.1.3.2 Yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can 32
2.2 HOẠT ĐỘNG DUY TRÌ QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA 33
2.2.1 Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực
tiếp tiến hành điều tra khi cần thiết 33
2.2.1.1 Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra 33
2.2.1.2 Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra khi cần thiết 35
2.2.2 Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên 37
2.2.3 Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm
giam và các biện pháp ngăn chặn khác 39
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
2.2.3.1 Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam
40

2.2.3.2 Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn khác 41
2.2.4 Yều cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can 42
2.2.5 Phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc hủy bỏ các quyết định của Cơ quan điều
tra 43
2.2.5.1 Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra 43
2.2.5.2 Hủy bỏ các quyết định của Cơ quan điều tra 47
2.2.6 Quyết định tạm đình chỉ vụ án 47
2.3 HOẠT ĐỘNG KẾT THÚC QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA 48
2.3.1 Quyết định truy tố bị can 48
2.3.2 Quyết định đình chỉ vụ án 49
CHƯƠNG 3. TÌNH HÌNH THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI
ĐOẠN ĐIỀU TRA, BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN NÀY 52
3.1 TÌNH HÌNH THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA 52
3.1.1 Những kết quả đạt được 52
3.1.2 Những hạn chế tồn tại 55
3.2 BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA 58
3.2.1 Những bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật 58
3.2.1.1 Bất cập trong một số quy định của BLTTHS năm 2003 và giải pháp hoàn
thiện 58
3.2.1.2 Bất cập trong một số quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi,
bổ sung năm 2009 và giải pháp hoàn thiện 67
3.2.1.3 Bất cập trong một số quy định của TTLT số 05 và Quy chế số 07và giải pháp
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
hoàn thiện
67

3.2.2 Những giải pháp khác 68
3.2.2.1 Viện kiểm sát các cấp cần tăng cường làm tốt hơn nhiệm vụ, trách nhiệm
trong hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra 68
3.2.2.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công
tố trong giai đoạn điều tra đủ về số lượng, có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cao,
tâm huyết với nghề 71
3.2.2.3 Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công tác thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra 72
3.2.2.4 Hoàn thiện cơ chế hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất trong
ngành Kiểm sát 73
3.2.2.5 Nâng cao chất lượng hoạt động tương trợ tư pháp trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự 74
KẾT LUẬN 7
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 1 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết khi chọn đề tài
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì
dân. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta không ngừng đổi mới, phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phấn đấu vì sự
nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để thực hiện mục
tiêu đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay của Nhà nước là phải đẩy
mạnh công cuộc cải cách tư pháp, chú trọng đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật, nhằm đảm bảo cho các cơ quan Nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp
nói riêng hoạt động hiệu quả. Trong đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra là rất quan trọng.
Quyền công tố là một trong hai chức năng quan trọng mà Nhà nước giao cho Viện
kiểm sát khi Viện kiểm sát tham gia vào giai đoạn điều tra trong tố tụng hình sự. Để
thực hiện được quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Nhà nước ban hành pháp luật
quy định những quyền năng pháp lý khác nhau để Viện kiểm sát áp dụng trong giai

đoạn điều tra của tố tụng hình sự - đó là thực hành quyền công tố. Thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra chiếm một vị trí khá quan trọng, nó đóng góp tích cực
vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nhằm truy cứu đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Nhận thấy được
tầm quan trọng của công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, vì thế
trong suốt quá trình đấu tranh và xây dựng đất nước, nền lập pháp nước ta khi ban hành
các văn bản pháp luật đều không quên xây dựng chế định thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam trở thành một
quốc gia độc lập. Nhận định được sự quan trọng của hệ thống pháp luật đối với việc
xây dựng đất nước, Quốc hội đã ban hành Hiến pháp năm 1946. Đây chính là tiền đề
và cơ sở để soạn thảo và ban hành các văn bản pháp luật tiếp theo để Nhà nước có thể
quản lý một cách chặt chẽ, thống nhất. Các Sắc lệnh số 13, 51, 131 thành lập cơ quan
công tố nằm trong Tòa án và do Bộ Tư pháp quản lý, có nhiệm vụ buộc tội nhân dân
Nhà nước trong phiên tòa giải quyết các vụ án hình sự. Đến ngày 29 tháng 04 năm
1958, Quốc hội ban hành Nghị quyết thiết lập Viện Công tố tách khỏi Tòa án và trực
thuộc Chính phủ. Hoạt động chủ yếu của Viện Công tố vẫn là hoạt động công tố trước
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 2 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
Tòa án, cơ quan công tố không chỉ điều khiển, giám sát hoạt động điều tra, mà còn trực
tiếp tiến hành điều tra và thực hiện cả sự giám sát đối với các hoạt động tư pháp. Hiến
pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 ra đời, Viện Công tố
được chuyển đổi thành Viện kiểm sát để phù hợp với nhu cầu thực tế. Song song với
nhiệm vụ thực hành quyền công tố, thì Viện kiểm sát còn có chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trên tất cả các lĩnh vực và cả hoạt động tư pháp. Sau Hiến pháp
năm 1959 là Hiến pháp năm 1980 và đến hiện nay là Hiến pháp năm 1992 được sửa
đổi, bổ sung năm 2001, cùng với Hiến pháp còn có Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2003,
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đều quy định Viện kiểm sát đảm nhiệm
chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự .
Ngày 02/01/2002, Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt

Nam đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
tư pháp thời gian tới”. Nghị quyết chỉ rõ: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức
năng thực hành quyền công tố trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải được
thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo
không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội…”
Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 49-NQ/TW về “Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020”, đặt ra nội dung: “Tăng cường trách nhiệm của công tố
trong hoạt động điều tra”.
Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: “Cải cách tư
pháp khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ
chế công tố gắn với hoạt động điều tra”.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định các chủ trương
trên một cách toàn diện hơn, đó là: “Bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát
nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố; tăng cường trách
nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”.
Cùng với chiều dài xây dựng nền lập pháp, sự phát triển của Viện kiểm sát cũng
như chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra ngày càng được hoàn
thiện và đã đạt được những thành quả thiết thực, nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại
nhiều thiếu sót, bất cập. Đối với cán bộ làm công tác thực hành quyền công tố trong
giai đoạn điều tra, nhận thức đúng đắn về vấn đề này chắc chắn sẽ là điều kiện tiên
quyết bảo đảm cho sự thống nhất hành động, nâng cao hiệu quả công tác. Đặc biệt,
trong giai đoạn hiện nay khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 3 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
2/01/2002 về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và
Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 2/06/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020” đề ra “Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện Công tố, tăng cường
trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra”. Đây đang là vấn đề thời sự hiện
nay, trong khi khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra chưa được
làm rõ thì việc tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra là một vấn

đề nan giải.
Đúc kết từ những vấn đề nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu đề tài “Thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Việt Nam” là cấp thiết và mang tính thời sự. Đó cũng chính là lí do thúc đẩy người
viết lựa chọn và nghiên cứu đề tài luận văn này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam” nhằm làm sáng tỏ một số vấn
đề về lý luận, pháp lý và thực tiễn về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự ở nước ta. Về mặt lý luận, khái niệm thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự vẫn còn nhiều quan điểm không thống nhất. Đây là một
thiếu sót quan trọng, vì vậy trong thời gian tới các nhà nghiên cứu luật học và các nhà
làm luật cần thống nhất đưa ra khái niệm về quyền công tố và thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra một cách cụ thể, toàn diện và có hiệu lực pháp luật. Về mặt
pháp lý, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về khái niệm
quyền công tố và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra. Thêm vào đó, các
điều, khoản quy định về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra trong Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002…quy định
chưa cụ thể và rõ ràng chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra.
Điều này sẽ dẫn đến việc truy tố không đúng người, đúng tội, vì vậy đòi hỏi cần có quy
định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật. Giải pháp đề ra là cần hoàn thiện lại
các quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra. Đó sẽ
là tiền đề góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, không để lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội và đóng góp tích cực vào tiến trình cải cách tư pháp
trong thời gian tới.
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 4 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
3. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên người viết tập trung nghiên cứu về công tác
thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra vụ án

hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, cụ thể là các nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra được
quy định tại Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, những hạn chế tồn tại khi
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra và giải pháp khắc phục
hạn chế tồn tại, nâng cao chất lượng của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài luận văn này, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
như sau: phương pháp nghiên cứu trên tài liệu, sách vở; phương pháp nghiên cứu và
phân tích luật viết; phương pháp sưu tầm số liệu thực tế và phương pháp tổng hợp các
thông tin thông qua các bài viết, các văn bản pháp luật có liên quan, một số sách, các
công trình nghiên cứu có giá trị và tạp chí chuyên ngành.
5. Bố cục đề tài
Ngoài lời nói đầu và phần kết luận, đề tài nghiên cứu luận văn này gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố
trong tố tụng hình sự
Chương 2: Những quy định pháp luật về hoạt động của Viện kiểm sát khi thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra
Chương 3: Tình hình thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, bất cập và
giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn này
Đề tài nghiên cứu “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam” là một vấn đề khá phức tạp, nó đòi hỏi
người nghiên cứu đề tài cần có kiến thức sâu rộng cả về lý luận lẫn thực tiễn về thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Ngoài ra, nó còn đòi hỏi
người viết phải biết nắm bắt được những vấn đề cốt lõi, những tồn tại và vướng mắc
còn gặp phải, để từ đó đề xuất giải pháp giải quyết. Là một sinh viên năm cuối, lần đầu
tiên làm quen với một đề tài nghiên cứu khoa học mà thời gian nghiên cứu còn hạn chế
cũng như vốn kiến thức hiểu biết có giới hạn. Vì vậy, có những thiếu sót, khiếm khuyết
hay sai lầm trong đề tài nghiên cứu này là điều không thể tránh khỏi. Người viết rất
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam

GVHD: Trần Hồng Ca Trang 5 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
mong nhận được sự đóng góp ý kiến đánh giá, phê bình của thầy cô, các nhà nghiên
cứu pháp luật và các bạn sinh viên.























Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 6 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUYỀN CÔNG TỐ VÀ

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUYỀN CÔNG TỐ VÀ THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1.1 Khái niệm quyền công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam
Quyền công tố và thực hành quyền công tố là những khái niệm được nhắc đến
nhiều trong tố tụng hình sự nước ta khi đề cập chức năng của Viện kiểm sát các cấp.
Điều 138 Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên quy định:
“Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm
sát việc tuân theo pháp luật thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được
chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc
tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình”.
Quy định đó cũng được nhắc lại trong Hiến pháp năm 1992. Trên cơ sở quy định
của Hiến pháp, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân và các văn bản quy phạm pháp
luật tố tụng hình sự khác cũng có những quy định tương tự.
Trong khoa học luật tố tụng hình sự, việc xác định khái niệm quyền công tố và theo
đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất quan trọng. Giải quyết
tốt vấn đề đó giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hệ
thống cơ quan nhà nước nói chung và trong các cơ quan tư pháp nói riêng; xác định rõ
chức năng của Viện kiểm sát, đặc biệt là trong tố tụng hình sự.
Ở nước ta, quá trình xây dựng và tổ chức thực thi quyền công tố gắn liền với quá
trình xây dựng nền tư pháp và hệ thống tư pháp. Song nghiên cứu về quyền công tố và
thực hành quyền công tố mới chỉ được bắt đầu tiến hành vào những năm 90 của thế kỷ
XX. Trong sách báo pháp lý nước ta đang có rất nhiều quan điểm khác nhau về quyền
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 7 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
công tố được đưa ra, có thể tóm tắt các quan điểm khác nhau đó thành bốn nhóm chính
như sau:
Quan điểm thứ nhất: Công tố không phải là một chức năng độc lập của Viện kiểm

sát mà chỉ là hình thức để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
1
Quan
hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật là quan hệ giữa
cái riêng và cái chung.

Quan niệm này phổ biến ở nước ta trước năm 1980 khi Hiến pháp chưa có quy định
về chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát và cũng xuất phát từ quan
niệm phổ biến của các nhà tố tụng hình sự học Xô-viết trước đây.
2
Những người theo
quan điểm này đã coi quyền công tố chỉ là một quyền năng, một hình thức để thực hiện
chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, và chỉ khi nào và ở đâu có việc thực hiện
tội phạm thì khi ấy và ở đó mới có thể nói đến sự buộc tội nhân danh Nhà nước. Quan
điểm người viết cho rằng: Chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật không phải là một, mà chúng hoàn toàn độc lập nhưng có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau. Tuy nhiên, không phải trong mọi công tác
thực hiện chức năng của Viện kiểm sát, trong mọi hoạt động của Kiểm sát viên đều bao
hàm cả hai chức năng ấy. Có hoạt động chỉ là thực hiện chức năng công tố và ngược
lại, có hoạt động chỉ nhằm chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát
truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án và thực hiện việc buộc tội đó tại phiên tòa.
3
Theo
quan điểm này, quyền công tố được Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước thực hiện
thông qua việc truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án và buộc tội tại phiên tòa. Quyền
công tố chỉ bó gọn trong giai đoạn truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát thay mặt Nhà nước
bảo vệ lợi ích công, do vậy quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự


1
Nguyễn Thị Thủy: Sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự nhằm thực hiện chủ trương của Đảng “Tăng cường
trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra”, Tạp chí
Kiểm sát, số 21, 2012, tr.16-22, tr.16.
2
M.P.Salamốp: Giáo trình Tố tụng hình sự Xô viết, Nxb. Sách pháp lí, Maxcơva, 1980, tr.92-95.
3
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội: Một số vần đề về quyền công tố,
html, [ngày truy cập
24/8/2013].
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 8 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
mà còn có trong lĩnh vực tố tụng dân sự, lao động, hành chính (thông qua việc Viện
kiểm sát thực hiện quyền khởi tố vụ án dân sự, lao động, hành chính).
4

Quan điểm này cho rằng quyền công tố được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực tố
tụng hình sự, về sau cùng với sự phát triển của xã hội và sự hoàn thiện hệ thống pháp
luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực tố tụng dân sự và ngày nay được mở
rộng sang các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác. Theo đó, quyền công tố là quyền của Nhà
nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện theo luật định, đó là: “Quyền đại diện
cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật”, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ
khi khởi tố vụ án và được tiến hành trong khi thực hiện các công tác kiểm sát điều tra,
kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, lao động, hành
chính, kiểm sát thi hành án, kiểm sát việc giam, giữ - cải tạo và công tác điều tra tội
phạm.
5

Những người không tán thành quan điểm này cho rằng: Quyền công tố chỉ được

thực hiện ở lĩnh vực tố tụng hình sự nên việc đồng nhất quyền công tố với thẩm quyền
của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, lao động, hành chính,
kinh tế đã là mở rộng quyền công tố một cách không có căn cứ nên đã xóa nhòa ranh
giới đặc thù của tố tụng hình sự với các lĩnh vực tố tụng khác. Đồng thời họ cho rằng,
quyền công tố là một khái niệm luôn luôn gắn liền với tội phạm và sự buộc tội nhân
danh Nhà nước đối với người phạm tội. Vì vậy, quyền này chỉ có thể thực hiện ở một
phạm vi, lĩnh vực duy nhất là lĩnh vực tố tụng hình sự. Điều này đã được quy định rõ
trong các văn bản pháp luật hiện hành của Nhà nước ta (Hiến pháp, Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân, Luật tố tụng hình sự…).
Quan điểm thứ tư: Công tố có nghĩa là “điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp
trước Tòa án”.
6

Theo quan điểm này thì quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự, bởi
vì quyền công tố như bất cứ quyền nào mà Viện kiểm sát thực hiện luôn luôn phải
được xem xét trong mối liên hệ với tính đặc thù ở một lĩnh vực pháp luật cụ thể, quyền

4
Nguyễn Thị Thủy: Sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự nhằm thực hiện chủ trương của Đảng “ Tăng
cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra”, Tạp
chí Kiểm sát, số 21, 2012, tr.16-22, tr.16.
5
Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội: Giáo trình công tác kiểm sát phần chung, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội,
1996, tr.85-86.
6
Viện Ngôn ngữ học: Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển, Hà Nội – Đà Nẵng, 1998, tr. 204.
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 9 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
công tố chỉ được xem xét trong lĩnh vực pháp luật cụ thể mà cội nguồn lịch sử của nó
đã gắn liền và không thể tách rời với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công

quyền) chống lại hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất đó là tội phạm. Từ
những nội dung đó, đưa ra khái niệm về quyền công tố là “quyền của Nhà nước truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội”.
Nhiều người đã không tán thành quan điểm này vì hiểu phạm vi tác động của quyền
công tố như vậy là quá hẹp. Bởi vì, V.I.Lênin khi đề cập đến quyền của Ủy viên công
tố đã viết: “ Ủy viên công tố có quyền và bổn phận duy nhất để đưa vụ án ra Tòa”.
7

Điều đó đồng nghĩa với việc đưa các vụ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, xâm phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, liên quan đến lợi ích chung ra xét xử công
khai trước phiên tòa. Do đó, việc Viện kiểm sát đứng ra khởi tố các vụ án dân sự liên
quan đến lợi ích chung cũng là nhân danh quyền lực công đưa vụ việc vi phạm pháp
luật ra trước Tòa án để xét xử.
Ngoài ra, quan điểm của các luật gia ở miền Nam trước năm 1975 còn cho rằng
quyền công tố là hành vi của các Thẩm phán công tố đưa các phạm nhân ra trước Tòa
án để xét xử.
8

Do các quan niệm khác nhau như trên về quyền công tố cho nên dẫn đến cách lý
giải khác nhau về phạm vi thời gian cũng như không gian của quyền công tố.
Về không gian, đa số các quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực
duy nhất là tố tụng hình sự nhưng cũng có quan điểm cho rằng quyền công tố được
thực hiện trong cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp như tố tụng hình sự, tố tụng dân sự,
hành chính, lao động
Về thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền công tố cũng chưa được nhận thức
thống nhất. Ngay trong tố tụng hình sự cũng có quan điểm cho rằng quyền công tố có
trong cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; quan điểm khác lại cho rằng quyền công tố
chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm mà thôi
Nhìn chung, mỗi quan điểm nêu trên đều được lý giải trên cơ sở các quy định của
pháp luật và thực tiễn nước ta. Tuy nhiên, các quan điểm đó vẫn còn những điểm bất


7
Lê Nin: Toàn tập, tập 45, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr. 232.
8
Nguyễn Thị Thủy: Sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự nhằm thực hiện chủ trương của Đảng “ Tăng
cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra”, Tạp
chí Kiểm sát, số 21, 2012, tr.16-22, tr. 16-17.
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 10 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
cập nhất định nhìn từ khía cạnh quy định của pháp luật, khoa học cũng như thực tiễn.
Những bất cập này thể hiện ở chỗ:
+ Hoặc là thể hiện sự phụ thuộc của chức năng thực hành quyền công tố vào kiểm
sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát; coi thực hành quyền công tố chỉ là hình
thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Vì
vậy, dẫn đến xem nhẹ bản chất của quyền công tố;
+ Hoặc là đánh đồng thực hành quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Vì vậy, dẫn đến mở rộng phạm vi quyền công tố sang cả các lĩnh vực tư pháp khác như
dân sự, lao động, hành chính
+ Hoặc là thu hẹp phạm vi quyền công tố, chỉ bó gọn quyền công tố trong giai đoạn
truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Từ đó hạn chế quyền hạn cũng như trách nhiệm
của Viện kiểm sát như là cơ quan có trách nhiệm chính trong truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội.
Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về quyền công tố hầu như chưa xác định
được hoạt động nào của Viện kiểm sát là để thực hiện chức năng thực hành quyền công
tố; hoạt động nào là để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng hình sự. Đa số các tác giả cho rằng hai chức năng trên của Viện kiểm sát vừa có
tính độc lập tương đối vừa liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại, bổ sung cho nhau; giữa
chúng có một số nội dung xâm nhập, đan xen lẫn nhau không thể tách rời tạo nên sự
thống nhất trong chức năng của Viện kiểm sát.
Để xác định đúng đắn khái niệm quyền công tố, cần phải khẳng định một số vấn đề

sau đây:
+ Thứ nhất, quyền công tố là quyền của Nhà nước. Nhà nước uỷ quyền cho cơ quan
cụ thể thực hiện quyền này trong bộ máy cơ quan nhà nước phân quyền hoặc phân
công thực hiện chức năng;
+ Thứ hai, quyền công tố về thực chất là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều đó, cơ quan được giao nhiệm vụ
thực hành quyền công tố phải điều tra, xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở
đó truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa;
+ Thứ ba, quyền công tố mang tính cụ thể, tức chỉ xuất hiện trong trường hợp tội
phạm cụ thể đã được thực hiện và đối với những người phạm tội cụ thể. Không tồn tại
quyền công tố chung chung.
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 11 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
Như vậy có thể hiểu: “Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về Nhà nước,
được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát)
để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm
được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm
bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm
tội. Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó
trước phiên tòa”.
9
Quan niệm này đã cho thấy bản chất của quyền công tố, đó là quyền
năng đặc biệt của Nhà nước trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội. Quan điểm này cũng phù hợp với các quy định của pháp luật của Nhà nước
ta qua các thời kỳ khác nhau về quyền công tố. Cụ thể:
+ Khi nói về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân, kết luận của đồng chí Trường
Chinh – Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội về công tác của ngành Kiểm sát năm
1967 đã khẳng định: “Không có cơ quan nhà nước nào thay thế ngành Kiểm sát để sử
dụng quyền công tố. Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội,

đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước hay
không, điều đó chính là Viện kiểm sát phải trông nom, bảo đảm làm tốt”.
10

+ Tại Báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật của Quốc hội (số 729 ngày 14/3/2002)
về dự án Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân khẳng định: “Hoạt động công tố chỉ
trong lĩnh vực hình sự, bắt đầu từ việc phát hiện, khởi tố vụ án đến truy tố bị can và
tranh tụng tại phiên tòa”.
11

+ Điều 137 Hiến pháp 1992 đã sửa đổi, bổ sung năm 2001, Điều 1 và Điều 3 Luật
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 đều quy định “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự”.

9
Lê Hữu Thể: Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb. Tư pháp,
Hà Nội, 2005, tr. 37.
10
Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước với ngành Kiểm sát
nhân dân (phần thứ hai), [truy cập ngày 26/10/2013].
11
Viện nghiên cứu lập pháp: Toàn văn một số văn kiện kỳ họp 11, Quốc hội Khóa X,
/>ngTinKyHop/View_Detail.aspx&ListId=df23fb7d-b6b2-43ac-820a-21f835d1fa2d&SiteId=61e0af9c-c60b-48ee-
af52-27908a86acd8&ItemID=168&SiteRootID=ae93a5bf-4d4f-412c-ba6e-3dfdba90bf10, [truy cập ngày
30/10/2013].
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 12 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
+ Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương
Đảng nêu rõ: Viện kiểm sát giữ chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp và tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra.

Từ những phân tích như trên, rút ra khái niệm: Quyền công tố là quá trình nhân
danh Nhà nước (theo sự phân công, ủy quyền của Nhà nước) đi tìm chứng cứ buộc tội,
thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự đến cùng đối với người phạm tội ra trước cơ
quan xét xử, đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó trước Tòa án.
1.1.1.2 Đặc điểm của quyền công tố
Chủ thể của quyền công tố
Muốn hiểu đầy đủ về chủ thể quyền công tố, cần đề cập đến một vấn đề ít nhiều có
liên quan, đó là quyền tư tố.
Tư tố là một chế định pháp lý thuộc loại cổ xưa nhất mà pháp luật cổ đại cho phép
người bị hại hoặc người thân thích của họ sử dụng để khởi kiện, chống lại người đã
thực hiện những hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Quyền
này do người bị hại trực tiếp thực hiện, nhân danh cá nhân bảo vệ lợi ích của mình
trước Tòa án (hoặc có thể nhờ người khác thay mặt mình thực hiện quyền này). Dù
pháp luật dành cho người bị hại quyền tư tố nhưng họ rất ít khi sử dụng vì để tiến hành
một vụ án hình sự, họ mất rất nhiều thời gian, tiền của và công sức. Vì thế, không phải
ai cũng có điều kiện và khả năng để thực hiện quyền tư tố. Mặt khác, việc pháp luật
cho phép cá nhân bị hại thỏa thuận, hòa giải với người phạm tội đã dẫn đến những vụ
án nghiêm trọng không được xét xử và bị trừng trị. Điều này làm cho pháp luật không
được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh, công bằng xã hội không được bảo đảm.
Vì vậy, Nhà nước thấy cần thiết phải can thiệp vào quá trình giải quyết các vụ án
mà người bị hại không muốn thực hiện quyền tư tố. Từ việc vận hành chủ yếu dựa vào
quyền tư tố, tố tụng hình sự chuyển sang vận hành dựa vào quyền công tố. Chính điều
đó đã làm cho vai trò của Nhà nước trở nên hết sức quan trọng trong quá trình giải
quyết các vụ án hình sự. Như vậy, công tố là quyền của Nhà nước, Nhà nước nhân
danh quyền lực công quyết định đưa người phạm tội và hành vi phạm tội của họ ra xét
xử.
12
Nhà nước thay mặt xã hội đứng ra trừng trị kẻ phạm tội. Điều đó cũng có nghĩa:
Nhà nước chính là chủ thể của quyền công tố.


12
Đỗ Văn Thắng: Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra, nâng cao trách nhiệm
công tố trong hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Kiểm sát, số 19, 2012, tr.15-20, tr.15.
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 13 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
Phạm vi của quyền công tố
Đến nay, khi đề cập đến phạm vi quyền công tố trong tố tụng hình sự, có nhiều
quan điểm khác nhau nhưng nổi bật có hai quan điểm, đó là:
Quan điểm thứ nhất: Phạm vi quyền công tố chỉ bao gồm hai giai đoạn của hoạt
động tố tụng hình sự là truy tố bị can ra trước Tòa án, buộc tội bị cáo tại phiên tòa và
chấm dứt khi bản án có hiệu lực pháp luật.
13
Nói cách khác, quyền công tố chỉ tồn tại
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Họ cho rằng, quyền công tố không có trong giai đoạn điều tra, vì giai đoạn điều tra
chỉ là giai đoạn thu thập tài liệu, chứng cứ phục vụ cho việc thực hiện đưa vụ án ra
Tòa. Cơ sở lý luận mà họ dựa vào là quan điểm của V.I. Lênin, rằng “Quyền và bổn
phận duy nhất của Công tố viên là đưa vụ án ra Tòa”. Với quan điểm trên, khó mà cắt
nghĩa được các hoạt động tố tụng khác, ví dụ: quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can
thuộc quyền gì? Hoặc việc kháng nghị các quyết định hay các bản án có sai lầm hoặc
vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng là thuộc nội dung của hoạt động kiểm sát việc
tuân theo pháp luật hay thuộc nội dung quyền công tố? Phạm vi quyền công tố như đã
nêu trên là chưa có cơ sở thuyết phục, còn nhiều điểm bất hợp lý.
Quan điểm thứ hai: “Quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc
khi người phạm tội chấp hành xong bản án”.
14

Những người theo quan điểm này đã mở rộng phạm vi của quyền công tố trong tố
tụng hình sự coi quyền công tố là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đến cùng người
phạm tội. Hình phạt trong bản án có hiệu lực pháp luật là nghĩa vụ mà người bị kết án

phải thi hành. Khi người phạm tội chưa thực hiện xong nghĩa vụ này đối với Nhà nước
thì điều đó cũng có nghĩa là họ chưa chấp hành xong trách nhiệm hình sự. Theo đó,
quyền công tố vẫn phải tiếp tục tác động để đảm bảo hiệu quả của cả quá trình tố tụng,
bảo đảm mục đích của quyền công tố là truy cứu trách nhiệm hình sự đến cùng đối với
người phạm tội. Theo quan điểm của người viết, việc mở rộng phạm vi quyền công tố
nêu trên đã đồng nhất việc truy cứu trách nhiệm hình sự với việc thực hiện trách nhiệm
hình sự của người đã thực hiện tội phạm. Về bản chất, giai đoạn thi hành án là không
có việc tiến hành tố tụng, không có việc chứng minh và buộc tội nữa, ở đây chỉ là sự

13
Trường Đại Học Luật Hà Nội: Bàn về quyền công tố, Thư viện, Hà Nội, 2003, tr.28.
14
Đỗ Văn Đương: Khái niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung quyền công tố, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ Những
vấn đề lí luận về quyền công tố và tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, 1999, tr.134
– 144, tr.142.
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 14 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
thi hành bản án hoặc quyết định của Tòa án. Quyền công tố, quyền bào chữa cũng như
quyền tài phán của Tòa án đã chấm dứt. Do vậy, không thể coi quyền công tố có ở giai
đoạn thi hành án mà nó chấm dứt khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng
nghị. Quyền công tố trong tố tụng hình sự là quyền trừng phạt người phạm tội một
cách công khai bằng con đường Tòa án, do đó khi bản án kết tội đã có hiệu lực pháp
luật, không bị kháng nghị, tức là quyền tài phán chấm dứt thì quyền công tố cũng chấm
dứt.
Những quan điểm trên đây tuy khác về phạm vi quyền công tố trong tố tụng hình sự
nhưng có một điểm chung duy nhất là bao gồm quyền truy tố bị can ra tước Tòa án và
buộc tội bị cáo tại phiên tòa. Để xác định đúng phạm vi quyền công tố cần phải hiểu
rằng: Quyền công tố của Nhà nước là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm
tội. Quyền công tố thể hiện rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội do chính
hành vi phạm tội làm phát sinh ra. C.Mác đã viết: “Sự trừng phạt là quyền của Nhà

nước không thể chuyển giao cho tư nhân. Mọi quyền của Nhà nước đối với người phạm
tội, đồng thời cũng là nghĩa vụ của người đó đối với Nhà nước”.
15

Từ những vấn đề vừa trình bày trên, có thể kết luận rằng: Phạm vi quyền công tố
trong tố tụng hình sự bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu
lực pháp luật, không bị kháng nghị.
Đối tượng của quyền công tố
Đối tượng của quyền công tố được hiểu là cái mà quyền công tố tác động vào,
nhằm mục đích buộc tội và trừng trị đối với người đã thực hiện những hành vi nguy
hiểm cho xã hội (tội phạm). Do xuất phát từ các quan điểm khác nhau về quyền công tố
nên nhận thức về đối tượng của quyền công tố cũng khác nhau. Có quan điểm coi sự
tuân thủ pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người
tham gia tố tụng là đối tượng của quyền công tố.
16

Theo quan điểm của người viết, quyền công tố là quyền của Nhà nước thực hiện sự
buộc tội (thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự) đối với người phạm tội nên đối
tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội.
Vậy, tội phạm và người phạm tội chính là đối tượng của quyền công tố.

15
C.Mác: Những cuộc tranh luận về luật cấm trộm củi rừng, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1978, tr. 218-219.
16
Lê Hữu thể: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư
pháp, Hà Nội, 2005, tr. 143.
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 15 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
Nội dung của quyền công tố
Về nội dung quyền công tố cũng có những ý kiến còn nhầm lẫn với nội dung thực

hành quyền công tố, đó là: Nội dung của quyền công tố được hiểu là tổng hợp các
quyền năng pháp lý do luật định nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được
phát hiện và xử lý theo pháp luật, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người vô
tội.
17
Người viết cho rằng nội dung của quyền công tố là sự buộc tội còn việc tiến hành
những biện pháp gì do luật định và cơ quan nhà nước nào được giao nhiệm vụ thực
hiện các biện pháp pháp lý ấy để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
lại là thực hành quyền công tố.
Vì vậy, xuất phát từ bản chất của quyền công tố và đối tượng tác động của quyền
công tố như đã nêu trên, có thể hiểu rằng: Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội
(sự cáo buộc của Nhà nước) đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
là tội phạm.
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm thực hành quyền công tố
1.1.2.1 Khái niệm thực hành quyền công tố
Như đã phân tích, quyền công tố là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người có hành vi phạm tội; quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình
sự; phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra, tiếp diễn suốt từ khởi tố,
điều tra đến truy tố bị can ra Tòa án, buộc tội tại phiên tòa và kết thúc bằng một bản án
có hiệu lực pháp luật (hoặc quyết định của Tòa án – trong trường hợp vụ án bị đình
chỉ). Để thực hiện được quyền công tố, Nhà nước ban hành pháp luật quy định những
quyền năng pháp lý khác nhau để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng trong
từng giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự (hay nói cách khác là các phương pháp
khác nhau để tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong những giai đoạn tố tụng
khác nhau) - đó là thực hành quyền công tố.
Ở nước ta, căn cứ vào quy định của Hiến pháp, pháp luật và thực tiễn thì từ trước
đến nay thì quyền này được giao cho Viện kiểm sát. Pháp luật quy định một loạt những
nhiệm vụ, quyền hạn nhằm xác lập cho Viện kiểm sát các quyền năng pháp lý cần thiết
để thực hiện chức năng của mình trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử kẻ phạm tội
như: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can; yêu cầu điều tra, trực tiếp điều tra; áp dụng, thay

đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra; quyết

17
Trường Cao Đẳng Kiểm sát Hà Nội: Giáo trình công tác kiểm sát phần chung, Nxb. Công an nhân dân, Hà
Nội, 1996, tr. 85-87.
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS Việt Nam
GVHD: Trần Hồng Ca Trang 16 SVTH: Nguyễn Thị Kiều Mai Lý
định truy tố bị can; đọc cáo trạng; luận tội đối với bị cáo; tranh luận với người bào
chữa và những người tham gia tố tụng khác; kiểm sát xét xử; kháng nghị…(Điều 13-19
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002). Việc sử dụng tổng hợp các quyền
năng pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân như trên nhằm truy cứu trách nhiệm đối với
người phạm tội gọi là thực hành quyền công tố.
Lĩnh vực thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân cũng được nhắc đến
trong Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 khóa VII là: “Viện kiểm sát
nhân dân phải làm tốt quyền công tố, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được
phát hiện, xử lí nghiêm minh, kịp thời. Đối với việc bắt giữ, giam, xét xử oan, sai cần
truy cứu trách nhiệm đối với người ra lệnh và người thực hành, đồng thời minh oan
công khai, thỏa đáng đối với người bị bắt giữ, xét xử sai, bảo đảm quyền công dân,
đúng pháp luật…”.
Vậy, có thể hiểu rằng: Thực hành quyền công tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm
quyền tiến hành các hoạt động do Nhà nước quy định nhằm truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm.
1.1.2.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố
Chủ thể thực hành quyền công tố
Quyền công tố là quyền của Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một
cơ quan thực hiện. Ở nước ta, theo quy định của pháp luật hiện hành, Viện kiểm sát là
cơ quan được Nhà nước giao chức năng thực hành quyền công tố.
Trong Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược Cải
cách tư pháp đến năm 2020 có đề cập đến việc nghiên cứu chuyển Viện kiểm sát thành

Viện công tố. Do vậy, nếu Viện kiểm sát chuyển thành Viện công tố thì chủ thể thực
hành quyền công tố khi đó sẽ là Viện công tố.
Phạm vi thực hành quyền công tố
Phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản
án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. Khác với phạm vi
quyền công tố, phạm vi thực hành quyền công tố chỉ bắt đầu khi khởi tố vụ án. Trên
thực tế, không phải bất kì hành vi phạm tội nào cũng được phát hiện và đưa ra xét xử.
Chỉ khi Viện kiểm sát áp dụng các biện pháp luật định xác định được các dấu hiệu của
tội phạm thì thực hành quyền công tố mới bắt đầu xuất hiện, đó chính là giai đoạn khởi

×