Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

Tuyển tập 30 đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 (có đáp án chi tiết)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.82 MB, 86 trang )































PHÒNG GD&ĐT BÌNH GIANG ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ I NĂM HỌC 2013 - 2014


MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 9
Thời gian làm bài: 90 phút
(Đề bài gồm 01 trang)


Câu 1 (3 điểm). Cho đoạn trích sau:
“ … Nhưng sao lại nảy ra cái tin như vậy được? Mà thằng chánh Bệu thì
đích là người làng không sai rồi. Không có lửa làm sao có khói ? Ai người ta hơi
đâu bịa tạc ra những chuyện ấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt
gian! Rồi đây biết làm ăn, buôn bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn
bán mấy Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái
giống Việt gian bán nước Lại còn bao nhiêu người làng, tan tác mỗi người một
phương nữa, không biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa?.”
a. Đoạn trích trên thuộc văn bản nào? Do ai sáng tác? Hoàn cảnh sáng tác
tác phẩm?
b. Đoạn văn trên là suy nghĩ của nhân vật nào? Nhân vật đó đang ở trong
hoàn cảnh nào?
c. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong đoạn văn trên có gì đặc sắc?
Câu 2 (2 điểm).
Vận dụng hiểu biết về các phép tu từ trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ
sau bằng một đoạn văn:
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
(Bằng Việt - Bếp lửa)
Câu 3 (5 điểm).
Trong vai ông họa sĩ kể lại tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành
Long.


HẾT

Họ tên học sinh:……………………………………Số báo danh:……… ….……
Chữ kí giám thị 1: …………………… Chữ kí giám thị 2……………… ….……




ĐỀ CHÍNH THỨC
PHÒNG GD&ĐT BÌNH GIANG


HƯỚNG DẪN CHẤM KIỂM TRA HỌC KÌ I
NĂM HỌC 2013 – 2014
Môn Ngữ văn 9
(Hướng dẫn chấm gồm 03 trang)

A. YÊU CẦU CHUNG
- Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của học sinh để
đánh giá được một cách khái quát, tránh đếm ý cho điểm. Vận dụng linh hoạt đáp
án, nên sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lý; khuyến khích những bài viết có
cảm xúc và sáng tạo.
- Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách riêng nhưng đáp ứng được các yêu cầu
cơ bản của đề, diễn đạt tốt vẫn cho đủ điểm.
B. YÊU CẦU CỤ THỂ
Câu Mục đích – Yêu cầu Điểm

a. Mục đích: Kiểm tra kĩ năng đọc – hiểu văn bản, phát hiện giá
trị của chi tiết, nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm
truyện.

b. Yêu cầu:
* Về kĩ năng: học sinh biết bám sát văn bản ngôn từ, biết phát
hiện các giá trị nghệ thuật, dụng ý của tác giả trong việc xây dựng
nhân vật.
* Về nội dung kiến thức: Học sinh cần trình bày các ý sau:

1
a. - Đoạn trích trên thuộc văn bản "Làng" do Kim Lân sáng tác.
- Hoàn cảnh sáng tác tác phẩm: sáng tác năm 1948 thời kì
đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
b. – Suy nghĩ đó là của nhân vật ông Hai
Ông đang trong hoàn cảnh đau khổ, nhục nhã khi nghe tin làng
Chợ Dầu làm Việt gian theo Tây.
c. Nghệ thuật tự sự trong đoạn trích trên rất đặc sắc trong việc
khắc họa nhân vật của tác giả:
- Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm (sử dụng
nhiều câu hỏi tu từ) nhằm mục đích nói lên những suy nghĩ của
nhân vật.
- Làm nổi bật quá trình đấu tranh nội tâm của ông Hai sau khi
nghe tin làng mình theo giặc: băn khoăn không tin, rồi bắt buộc
phải tin vì có bằng chứng và rồi nhục nhã, lo lắng cho tương lai
của gia đình, của người làng
* Học sinh có thể không chỉ ra câu hỏi tu từ, vẫn cho điểm tối đa
ý độc thoại nội tâm.
0,5
0,5

0,5
0,5




0,5


0,5
2
a. Mục đích: Kiểm tra kiến thức về tiếng Việt: các phép tu từ và
cảm nhận được cái hay của các phép tu từ ấy trong việc thể hiện
nội dung đoạn trích thơ.
b. Yêu cầu:

- Về kĩ năng: học sinh biết viết thành đoạn văn. Diễn đạt mạch lạc,
trôi chảy, thuyết phục.
- Về nội dung kiến thức:
Học sinh cần trình bày các ý sau:
- Điệp từ "nhóm" tạo nhạc điệu cho thơ, nhấn mạnh ý.
- Phép ẩn dụ: từ "nhóm" có hai lớp nghĩa- nghĩa tả thực và ẩn dụ.
+ Nhóm là làm cho lửa bén vào nhiên liệu cháy lên.
+ Nhóm là nhen lên, khơi gợi trong lòng cháu những tình cảm tốt
đẹp: Hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, tình yêu
thương bà dành cho cháu từ những thứ giản dị đời thường nhất
(khoai sắn ngọt bùi), hòa trong tình làng nghĩa xóm (nồi xôi gạo
mới xẻ chung vui), nhen nhóm lên trong lòng cháu ước mơ, kỉ
niệm ấm lòng, niềm tin thiêng liêng, kì diệu, nâng bước cháu trên
mỗi chặng đường đời (nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ),
c. Biểu điểm:
* Điểm 2: Viết đúng đoạn văn, đủ ý, sáng tạo, diễn đạt lưu loát.
* Điểm 1: Đảm bảo 1/2 số ý, còn mắc lỗi diễn đạt.
* Điểm 0,5: Cảm nhận chưa đúng hướng, mắc nhiều lỗi diễn đạt,

* Điểm 0 : Bài làm lạc đề, sai cả nội dung và phương pháp.














a. Mục đích: Kiểm tra kĩ năng đọc – hiểu văn bản, phát hiện giá
trị của hình ảnh trong văn bản, đánh giá được ý nghĩa, vai trò của
nhân vật; khắc sâu chủ đề văn bản, rèn kĩ năng tự sự đan xen miêu
tả, biểu cảm, nghị luận, đối thoại, độc thoại nội tâm,
b. Yêu cầu:
* Về kĩ năng: học sinh biết bám sát văn bản ngôn từ, biết phát
hiện và phân tích giá trị nghệ thuật, biết cảm nhận về hình ảnh
những con người lao động mới XHCN, biết trình bày thành một
văn bản hoàn chỉnh theo hình thức tự sự đan xen miêu tả, biểu
cảm, nghị luận, đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm, thể hiện
được vai trò của người kể chuyện ngôi thứ nhất- vai ông họa sĩ.
* Về nội dung kiến thức: Học sinh cần bám sát văn bản để trình
bày các ý sau:

3

- Mở bài: Giới thiệu nhân vật và sự việc (người kể chuyện và cuộc
gặp gỡ ấn tượng)
-Thân bài:
+ Miêu tả hình ảnh thiên nhiên Sa Pa qua cảm nhận của người kể
chuyện.
+ Kể về cuộc gặp gỡ tình cờ với anh thanh niên. (Học sinh dựa
vào văn bản, có thể thay đổi trật tự, lược bớt một số đoạn không
quan trọng. Trong đó thể hiện được thái độ, tình cảm và những
bình luận, đánh giá của người kể với những suy nghĩ tích cực,
những việc làm và thái độ của nhân vật anh thanh niên)
+ Những suy nghĩ của người kể chuyện về chính mình, về công
việc và về nghệ thuật hội họa.

- Kết bài: Kết thúc sự việc, lời khuyên dành cho thế hệ trẻ
* Đan xen trong lời văn tự sự các yếu tố miêu tả, độc thoại nội
tâm, nghị luận hợp lí.
*Học sinh có thể trình bày theo cách khác song vẫn đảm bảo vai
kể, những ý kể trên, đan xen các yếu tố khác hợp lí vẫn cho điểm
như biểu điểm chấm.
c. Biểu điểm chấm:
* Điểm 5 : Bài làm đảm bảo các yêu cầu trên. Có kỹ năng làm văn
t
ự sự đan xen miêu tả, biểu cảm, nghị luận, đối thoại, độc thoại, độc
tho
ại nội tâm Có được những đoạn hay, bài văn hay.
* Điểm 4 : Đạt những yêu cầu chính. Bố cục tương đối hợp lý.
Di
ễn đạt gọn, ít lỗi diễn đạt.
* Điểm 3 : Bài làm chưa sáng tạo, chưa biết đan xen hợp lí yếu tố
miêu t

ả, biểu cảm, nghị luận, đối thoại, độc thoại, độc thoại nội
tâm
Còn mắc lỗi diễn đạt.
* Điểm 2 : Kể còn sai lạc, chưa sâu, chưa biết đan xen yếu tố miêu
t
ả, biểu cảm, nghị luận, đối thoại, độc thoại, độc thoại nội
tâm
Chưa có bố cục hợp lí, còn mắc nhiều lỗi diễn đạt.
* Điểm 1 : Lạc sang văn nghị luận, mắc nhiều lỗi diễn đạt, chưa có
b
ố cục.
* Điểm 0 : Bài làm lạc đề hoặc chỉ viết vài dòng, sai cả nội dung

phương pháp.
Lưu ý : Giám khảo nghiên cứu kĩ Mục đích, Yêu cầu và Biểu điểm
để
cho các điểm lẻ còn lại.


ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI LỚP 9
(Vòng 2)
Năm học: 2014 – 2015
Môn: Ngữ văn
Thời gian: 150 phút (không kể thời gian giao đề)
(Đề thi gồm 1 trang).
Câu 1 (6 điểm)
Văn hào vĩ đại người Nga Macxim Gorki từng phát biểu: "Chi tiết nhỏ làm nên nhà
văn lớn". Hãy phân tích chi tiết "chiếc bóng" trong tác phẩm "Chuyện người con gái Nam
Xương" của Nguyễn Dữ để làm rõ điều đó.
Câu 2 (4 điểm)

Trong bài “Vì sao tôi viết tiểu thuyết”, Lỗ Tấn nói: “Mỗi khi tôi chọn đề tài, tôi đều chọn
những người bất hạnh trong xã hội bệnh tật, với mục đích lôi hết bệnh tật của họ ra, làm cho mọi
người chú ý và tìm cách chạy chữa”.
Em hiểu ý kiến của nhà văn như thế nào?
* Lưu ý: Bài viết không quá một trang giấy thi.
Câu 3 (10 điểm)
Viết về mẹ, Chế Lan Viên gửi gắm:
“Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con”.
(Con cò)
Nguyễn Duy tâm sự:
“Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”
(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa).
Nguyễn Khoa Điềm cũng đã từng tự bạch:
“Và chúng tôi một thứ quả trên đời.
Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh”.
(Mẹ và quả)
Nhưng B.Babbles lại nói: “Sứ mạng của người mẹ không phải là làm chỗ dựa cho con
cái mà là làm chỗ dựa ấy trở nên không cần thiết”.
Cảm nhận của anh (chị) về người mẹ qua các ý kiến trên? Từ đó, trình bày những suy
nghĩ của anh (chị) về vai trò của người mẹ.
HẾT.










PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THANH OAI

( ĐỀ CHÍNH THỨC)
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN THANH OAI
HƯỚNG DẪN CHẤM THI HỌC SINH GIỎI LỚP 9
(Vòng 2)
Năm học: 2014 – 2015.
Môn: Ngữ văn.
Câu 1 (6 điểm):
Yêu cầu chung:
* Hình thức (1 điểm):
- Học sinh biết vận dụng kiến thức và kĩ năng nghị luận để suy nghĩ trình bày về một vấn đề
trong tác phẩm văn học. Đó là vai trò của một chi tiết nghệ thuật trong một tác phẩm văn
học.
- Bài viết lập luận chặt chẽ. Văn viết mạch lạc, trong sáng; chuyển ý linh hoạt, không mắc
các lỗi.
* Về nội dung kiến thức (5 điểm):
a. Nêu được vai trò của chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn học (1 điểm):
- Chi tiết là một trong những yếu tố nhỏ nhất tạo nên tác phẩm ( ), để làm nên một
chi tiết nhỏ có giá trị đòi hỏi nhà văn phải có sự thăng hoa về cảm hứng và tài năng nghệ
thuật.
- Nghệ thuật là một lĩnh vực đặc thù: Tầm vóc của người nghệ sỹ có thể được làm nên
từ những yếu tố nhỏ nhất. Nhà văn lớn có khả năng sáng tạo được những chi tiết nhỏ nhưng
giàu giá trị biểu đạt, góp phần đắc lực trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Chi
tiết nghệ thuật không chỉ là yếu tố cấu thành tác phẩm mà còn là nơi gửi gắm những quan

niệm nghệ thuật về con người, về cuộc đời của nhà văn, nơi kí thác niềm ưu tư, trăn trở của
nhà văn trước cuộc đời. Nhà văn chỉ thực sự là “người thư kí trung thành của thời đại”
(H.Balzac) khi anh ta có khả năng làm sống dậy cuộc đời trên trang sách bắt đầu từ những
chi tiết nhỏ. Lựa chọn chi tiết để xây dựng nên tác phẩm nghệ thuật không chỉ thể hiện bản
chất sáng tạo của người nghệ sĩ mà còn bộc lộ tài năng, tầm vóc tư tưởng của người cầm bút.
b. Đánh giá giá trị của chi tiết "chiếc bóng" trong "Chuyện người con gái Nam Xương" (4
điểm):
* Giá trị nội dung (2 điểm):
- "Chiếc bóng" tô đậm thêm nét đẹp phẩm chất của Vũ Nương trong vai trò người vợ,
người mẹ. Đó là nỗi nhớ thương, sự thuỷ chung, ước muốn đồng nhất "xa mặt nhưng không cách
lòng" với người chồng nơi chiến trận; đó là tấm lòng người mẹ muốn khỏa lấp sự trống vắng,
thiếu hụt tình cảm người cha phải xa nhà đi chinh chiến trong lòng đứa thơ.
- "Chiếc bóng" là một ẩn dụ cho số phận mỏng manh của người phụ nữ trong chế độ
phong kiến coi trọng nam quyền. Họ có thể gặp bất hạnh dù nguyên nhân gây ra là vô lý.
Với chi tiết này, người phụ nữ hiện lên là nạn nhân của bi kịch xã hội.
- "Chiếc bóng" còn xuất hiện ở cuối tác phẩm "Rồi trong chốc lát, bóng nàng loang
loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất khắc hoạ sâu thêm giá trị hiện thực và nhân đạo của tác
phẩm.
- Chi tiết này còn là bài học về hạnh phúc muôn đời: Một khi đánh mất niềm tin, hạnh
phúc chỉ còn là chiếc bóng hư ảo.
* Giá trị nghệ thuật (2 điểm):
- Tạo kịch tính, tăng sức hấp dẫn cho tác phẩm: Chi tiết "chiếc bóng" tạo nên nghệ
thuật thắt nút, mở nút cho truyện, tạo lên mâu thuẫn bất ngờ, hợp lý:
+ Bất ngờ: Một lời nói của tình mẫu tử lại bị chính đứa con ngây thơ đẩy vào vòng
oan nghiệt; chiếc bóng của tình chồng nghĩa vợ, thể hiện nỗi khát khao đoàn tụ, sự thuỷ
chung son sắt lại bị chính người chồng nghi ngờ vợ "thất tiết"
+ Hợp lý: chế độ nam quyền cùng với cảnh ngộ chia ly bởi chiến tranh là nguyên
nhân sâu xa dẫn đến bất hạnh của Vũ Nương.
- Tạo sự hoàn chỉnh, chặt chẽ cho cốt truyện. Chi tiết này còn là sự sáng tạo của
Nguyễn Dữ (so với chuyện cổ tích, "Miếu vợ chàng Trương") tạo nên vẻ đẹp lung linh cho

tác phẩm và một kết thúc tưởng như có hậu nhưng lại nhấn mạnh hơn bi kịch của người phụ
nữ.
Biểu điểm:
- Điểm 5, 6: Bài viết đáp ứng tốt các yêu cầu trên, có rõ khả năng hiểu đề, tư duy tốt, văn
viết giàu cảm xúc. Diễn đạt trong sáng, mạch lạc. Chữ viết sạch đẹp, không mắc các lỗi.
- Điểm 3, 4: Bài viết đáp ứng cơ bản các yêu cầu về nội dung song còn thiếu chặt chẽ trong
lập luận và chưa thật cảm xúc.
- Điểm 2: Hiểu đề nhưng vận dụng thao tác nghị luận chưa thuần thục. Diến đạt đôi chỗ
chưa thật trong sáng; còn mắc một vài lỗi chính tả hoặc dùng từ.
- Điểm 1: Chủ yếu là kể lại truyện; lập luận chưa chặt chẽ, thiếu rõ ràng. Mắc một số lỗi
dùng từ, viết câu, chính tả.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề.
Câu 2 (4 điểm):
1. Giải thích (2 điểm).
“Mỗi khi chọn đề tài” → Mục đích sáng tác văn chương.
“Chọn những người bất hạnh trong xã hội bệnh tật” → Tác phẩm phải thấm nhuần giá
trị hiện thực.
“Lôi hết bệnh tật của họ ra, làm cho mọi người chú ý và tìm cách chạy chữa) -> Dùng
văn chương làm vũ khí cải tạo xã hội.
=> Quan điểm sáng tác nghệ thuật tiến bộ của Lỗ Tấn: Nghệ thuật phải góp phần xây
dựng và cải tạo cuộc sống, làm cho cuộc sống trở lên tốt đẹp hơn.
2. Phân tích, chứng minh bằng các tác phẩm nghệ thuật mà HS biết (1 điểm).
3. Mở rộng vấn đề (1 điểm):
- Có được cái nhìn đúng đắn về sức mạnh của văn chương nói riêng và nghệ thuật nói
chung trong cải tạo và xây dựng xã hội.
- Có được khát vọng góp phần xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp.
Câu 3 (10 điểm)
1. Yêu cầu chung:
- Thấy được sự thể hiện phong phú về vai trò của người qua các ý thơ và nhận định.
- Thấy được vai trò quan trọng của người mẹ trong cuộc đời mỗi con người.

II. Yêu cầu cụ thể:
HS có thể có nhiều cách triển khai bài làm, nhưng cuối cùng hướng tới các ý cơ bản
sau:
1. Trình bày được cảm nhận về giá trị nội dung, nghệ thuật của các dẫn chứng đã nêu
trong đề bài (4 điểm).
- Câu thơ của Chế Lan Viên:
+ Điệp từ ngữ cặp hình ảnh ''mẹ, con'' ''vẫn'', lời thơ lục bát mang âm hưởng lời ru,
chất triết lý nhưng trữ tình thiết tha…
+ Hai câu thơ ngắn vừa thể hiện cảm xúc về tình mẹ của nhà thơ vừa thể hiện sự trải
nghiệm để rút ra quy luật tình cảm của muôn đời con luôn cần có mẹ, mẹ luôn dõi theo con,
mẹ là nguồn sức mạnh đỡ nâng tâm hồn con. Hai câu thơ không chỉ khái quát ý nghĩa của
tình mẫu tử giản dị gần gũi, cao cả thiêng liêng, bất diệt mà còn tô đậm tiếng lòng thiết tha
của mẹ đối với con, niềm xúc động dâng trào của con đối với mẹ. Sự cảm nhận trải nghiệm
của nhà thơ cũng là sự đồng vọng của muôn người trong cuộc đời khi thấu nhận tình yêu bao
la của mẹ đối với con bất chấp mọi biến thiên của cuộc đời…
- Câu thơ của Nguyễn Duy:
+ Câu thơ tài hoa, đặc biệt là ở thể lục bát phảng phất phong vị ca dao nhưng vẫn
mang đậm chất triết lý ở các cặp ý đối nhau “đi trọn kiếp” với “không đi hết”, “kiếp con
người” với “lời mẹ ru”…
+ Vẻ đẹp của hai câu thơ thể hiện ở cảm xúc vừa lắng đọng, vừa thiêng liêng nhưng
thật triết lý. “Mấy lời mẹ ru” là biểu tượng cho tình cảm yêu thương vô bờ mà mẹ dành cho
con. Cách nói “đi trọn kiếp…vẫn không đi hết…” khẳng định tình mẫu tử là vô cùng thiêng
liêng, cao cả; là vô cùng, vô tận, không gì có thể đền đáp hết được.
- Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm:
+ Sự sâu sắc của tứ thơ kết hợp với những cách thể hiện và ngôn từ độc đáo tạo nên
một chất suy tưởng riêng.
+ Hai câu thơ cuối đầy ẩn ý, vừa là sự băn khoăn về trách nhiệm của bản thân, vừa là sự lo
lắng về một điều tất yếu: “bàn tay mẹ mỏi” mang nhiều hàm ý. Có lẽ đó là điều đau xót nhất đối
với mỗi người con, và càng đau xót hơn khi con vẫn còn là một thứ quả non xanh thì mẹ đã đi xa
rồi. Những câu thơ là sự thức tỉnh trong tâm thức nhà thơ và người đọc.

- Câu nói của B.Babbles:
+ Cách nói ngắn gọn, hàm súc, mang tính triết lý cao.
+ Vai trò và cách dạy con đúng đắn của người mẹ để con tự lập trong cuộc sống.
2. Khẳng định cách nhìn về người mẹ không mâu thuẫn nhau (2 điểm):
- Những lời thơ về hình ảnh người mẹ là lời tự bạch của chủ thể trữ tình (người con),
là lời tự thú chân thành và cảm động của đứa con về sự lớn lao của tình mẫu tử trước bước đi
lặng lẽ mà cũng thật nghiệt ngã của thời gian. Đồng thời, đây cũng là tiếng lòng, tấm lòng
của con hướng về mẹ. Trong tình mẫu tử bao la vĩ đại kia, đứa con nào cũng chỉ là “một thứ
quả non xanh” được chở che, nâng niu trong bàn tay mẹ, đứa con nào dù lớn đến đâu cũng
“không đi hết mấy lời mẹ ru” “vẫn là con của mẹ”…
- Lời nói của B.Babbles lại nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục con cái biết
sống chủ động, tích cực, không dựa dẫm. Người mẹ luôn dang rộng vòng tay để che chở, yêu
thương nhưng cũng cần dạy con không ỷ lại, biết tự đứng và bước đi bằng chính đôi chân
của mình, tức là làm cho “chỗ dựa ấy trở nên không cần thiết”…
3. Nêu dẫn chứng chứng minh (2 điểm): Lúc bạn vừa lẫm chẫm tập đi, mẹ buông tay
không giữ bạn để mong bạn có thể đi vững hơn. Mẹ luôn là người giúp ta giải quyết khó
khăn nhưng một lúc nào đó chúng ta sẽ phải tự làm lấy. Nếu ta vấp ngã, mẹ sẽ chỉ cho ta
những chỗ sai để ta tự đứng lên trên đôi chân của mình. Sau mỗi lần như vậy, chúng ta có
thể rút ra nhiều bài học cho bản thân. Để rồi sau này, trên đường đời dài rộng, nhiều chông
gai sẽ có nhiều lần ta chùn bước bàn tay mẹ sẽ không chìa ra để kéo ta dậy mà đến lúc đó
chúng ta sẽ tự biết phải làm thế nào. Ngay trong cuộc sống hàng ngày cũng vậy, từ những
việc nhỏ nhặt mẹ cũng dạy cho ta làm từ nhỏ để chúng ta quen dần với việc tự lập…
4. Mở rộng (2 điểm):
- Việc làm để đền đáp công ơn cha mẹ: Muốn giúp mẹ, muốn học cách tự lập
- Phê phán những biểu hiện, những thái độ, hành vi chưa đúng với đạo lí làm con của
một số người trong cuộc sống hiện nay.
- Giá trị của vấn đề trong cuộc sống hiện tại…
- Liên hệ, mở rộng đến những tình cảm gia đình khác.
- Kết luận vấn đề: Nhưng dù sao thì tình yêu thương mà mẹ dành cho chúng ta sẽ
không bao giờ thay đổi. Một bài học quý giá học được ở Chế Lan Viên, Nguyễn Duy,

Nguyễn Khoa Điềm và B. Ba-let.
* Lưu ý: Chỉ đạt điểm tối đa khi bài viết có cảm xúc, bố cục chặt chẽ, diễn đạt tốt, không
mắc lỗi diễn đạt, đúng quy định về số trang.
THANG ĐIỂM
- Điểm 9-10: Đảm bảo ý cơ bản, bố cục hợp lí, luận điểm rõ ràng, văn phong trong sáng, chữ
viết rõ ràng, không mắc lỗi ngữ pháp, chính tả, diễn đạt, năng lực cảm thụ tốt, có khả năng
khái quát mở rộng sâu vấn đề, biết tổ chức bài văn nghị luận.
- Điểm 7-8: Đảm bảo ý cơ bản, bố cục hợp lí, luận điểm rõ ràng, văn phong trong sáng, chữ
viết rõ ràng, không mắc lỗi ngữ pháp, chính tả, diễn đạt, bộc lộ năng lực cảm thụ, biết tổ
chức bài văn nghị luận.
- Điểm 5-6: Đảm bảo ý cơ bản, bố cục hợp lí, luận điểm rõ ràng, biểu cảm, chữ viết rõ ràng,
không mắc lỗi ngữ pháp, chính tả, diễn đạt, biết tổ chức bài văn nghị luận.
- Điểm 3-4: Đảm bảo phần lớn ý cơ bản, ít mắc lỗi diễn đạt, chính tả…
- Điểm 1-2: Bài sơ sài, diễn đạt vụng, nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp, diễn đạt…
- Điểm 0: Bài quá sơ sài/lạc đề, cẩu thả, mắc nhiều lỗi về chính tả, ngữ pháp, không biết viết
bài văn nghị luận.
Lưu ý: Đây là bài thi phát hiện HS năng khiếu nên khuyến khích các em trên cơ sở ý cơ bản,
có những phát hiện riêng, độc đáo. Tuy nhiên sự sáng tạo phải có logic, có sức thuyết
phục…
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO KÌ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH LỚP 9 THCS
QUẢNG BÌNH NĂM HỌC 2012 - 2013
Môn thi: NGỮ VĂN
ĐỀ THI CHÍNH THỨC (Khóa thi ngày 27 tháng 3 năm 2013)
SỐ BÁO DANH:………. Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian giao đề)

Câu 1 (4,0 điểm)
Bài học giáo dục mà em nhận được từ câu chuyện dưới đây:

Ngọn gió và cây sồi
Một ngọn gió dữ dội băng qua khu rừng già. Nó ngạo nghễ thổi tung tất cả các sinh

vật trong rừng, cuốn phăng những đám lá, quật gẫy các cành cây. Nó muốn mọi cây cối
đều phải ngã rạp trước sức mạnh của mình. Riêng một cây sồi già vẫn đứng hiên ngang,
không bị khuất phục trước ngọn gió hung hăng. Như bị thách thức ngọn gió lồng lộn, điên
cuồng lật tung khu rừng một lần nữa. Cây sồi vẫn bám chặt đất, im lặng chịu đựng cơn
giận dữ của ngọn gió và không hề gục ngã. Ngọn gió mỏi mệt đành đầu hàng và hỏi:
- Cây sồi kia! Làm sao ngươi có thể đứng vững như thế?
Cây sồi từ tốn trả lời:
- Tôi biết sức mạnh của ông có thể bẻ gẫy hết các nhánh cây của tôi, cuốn sạch đám
lá của tôi và làm thân tôi lay động. Nhưng ông sẽ không bao giờ quật ngã được tôi. Bởi tôi
có những nhánh rễ vươn dài, bám sâu vào lòng đất. Đó chính là sức mạnh sâu thẳm nhất
của tôi. Nhưng tôi cũng phải cảm ơn ông ngọn gió ạ! Chính cơn điên cuồng của ông đã
giúp tôi chứng tỏ được khả năng chịu đựng và sức mạnh của mình.
(Theo: Hạt giống tâm hồn- Đừng bao giờ từ bỏ ước mơ, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2011)

Câu 2 (6,0 điểm)
Cảm nhận của em về vẻ đẹp hai đoạn thơ sau:
…Dù ở gần con,
Dù ở xa con,
Lên rừng xuống bể,
Cò sẽ tìm con,
Cò mãi yêu con.
Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con…
(Con cò- Chế Lan Viên, Ngữ văn 9, Tập hai)

Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát…
(Nói với con- Y Phương, Ngữ văn 9, Tập hai)

Hết
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO KÌ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH LỚP 9 THCS
QUẢNG BÌNH NĂM HỌC 2012 - 2013
Môn thi: NGỮ VĂN
(Khóa thi ngày 27 tháng 3 năm 2013)

HƯỚNG DẪN CHẤM
(Gồm 03 trang)
A. HƯỚNG DẪN CHUNG
- Giám khảo căn cứ vào nội dung triển khai và mức độ đáp ứng các yêu cầu
về kỹ năng để cho từng ý điểm tối đa hoặc thấp hơn.
- Điểm toàn bài là tổng số điểm của hai câu, không làm tròn số, có thể cho: 0;
0,25; 0,5; 0,75 đến tối đa là 10.
- Cần khuyến khích những bài viết có lập luận chặt chẽ, văn viết sáng tạo, giàu
cảm xúc, trình bày sạch đẹp, chuẩn chính tả.
B. HƯỚNG DẪN CỤ THỂ
Câu 1 (4,0 điểm)

Nội dung yêu cầu Điểm
I. Yêu cầu về kĩ năng
- Bài văn có bố cục và cách trình bày hợp lí.
- Hệ thống ý (luận điểm) rõ ràng và được triển khai tốt.
- Diễn đạt suôn sẻ; mắc ít lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp.

II. Yêu cầu về nội dung và cách cho điểm
(Học sinh có thể sắp xếp, trình bày theo nhiều cách, nhưng cần đảm

bảo một số ý cơ bản mang tính định hướng dưới đây)

* Hiểu nội dung, ý nghĩa câu chuyện.
- Ngọn gió: Hình ảnh tượng trưng cho những khó khăn, thử thách,
những nghịch cảnh trong cuộc sống.
- Cây sồi: Hình ảnh tượng trưng cho lòng dũng cảm, dám đối đầu,
không gục ngã trước hoàn cảnh
-Ý nghĩa câu chuyện: Trong cuộc sống con người cần có lòng dũng
cảm, tự tin, nghị lực và bản lĩnh vững vàng trước những khó khăn, trở ngại
của cuộc sống.
1,0
* Bài học giáo dục từ câu chuyện.
- Cuộc sống luôn ẩn chứa muôn vàn trở ngại, khó khăn và thách thức
nếu con người không có lòng dũng cảm, sự tự tin để đối mặt sẽ dễ đi đến
thất bại (Một ngọn gió dữ dội băng qua khu rừng già. Nó ngạo nghễ thổi tung
tất cả các sinh vật trong rừng, cuốn phăng những đám lá, quật gẫy các cành
cây)
- Muốn thành công trong cuộc sống, con người phải có niềm tin vào
bản thân, phải tôi luyện cho mình ý chí và khát vọng vươn lên để chiến
thắng nghịch cảnh. (Tôi có những nhánh rễ vươn dài, bám sâu vào lòng đất.
Đó chính là sức mạnh sâu thẳm nhất của tôi)
Lưu ý: Trong quá trình lập luận học sinh nên có dẫn chứng về những tấm gương
dũng cảm, không gục ngã trước hoàn cảnh để cách lập luận thuyết phục hơn.
1,0


1,0
* Bàn luận về bài học giáo dục của câu chuyện:

+ Không nên tuyệt vọng, bi quan, chán nản trước hoàn cảnh mà

phải luôn tự tin, bình tĩnh để tìm ra các giải pháp cần thiết nhằm vượt qua
các khó khăn, thử thách của cuộc sống.
0,5
+ Biết tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân để luôn có một bản lĩnh
kiên cường trước hoàn cảnh và cũng phải biết lên án, phê phán những
người có hành động và thái độ buông xuôi, thiếu nghị lực.
0,5

Câu 2 (6,0 điểm)

Nội dung yêu cầu Điểm
I. Yêu cầu về kĩ năng
- Bài văn có bố cục và cách trình bày hợp lí.
- Hệ thống ý (luận điểm) rõ ràng và được triển khai tốt.
- Diễn đạt suôn sẻ; mắc ít lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp.

II. Yêu cầu về nội dung và cách cho điểm
(Học sinh có thể sắp xếp, trình bày theo nhiều cách, nhưng cần đảm
bảo một số ý cơ bản mang tính định hướng dưới đây)

1. Có những hiểu biết cơ bản về 2 tác giả và 2 tác phẩm.
1,0
2. Học sinh bằng cái nhìn so sánh để phát hiện ra vẻ đẹp của hai đoạn
thơ.

a. Hai đoạn thơ là sự cảm nhận sâu sắc, chân thực và xúc động về
vẻ đẹp của tình cảm gia đình:

- Ca ngợi tình mẹ, tình cha bao la, sâu rộng, bất tử. Cha mẹ là người
luôn che chở, dìu dắt, yêu thương và chăm lo cho con cái từ thuở lọt lòng

cho đến lúc trưởng thành.
0,5
- Từ những cảm xúc gần gũi, chân thực hai đoạn thơ đã khái quát
thành những triết lí sâu xa về tình cảm gia đình, ru những đứa con vào bài
học làm người ý nghĩa .
0,5
b. Mỗi đoạn thơ thể hiện một cách cảm nhận riêng về tình cảm gia
đình:

- Về nội dung:

+ Ở đoạn thơ Con cò là lời ru thấm đượm tình mẫu tử. Người mẹ
được hình tượng hóa trong hình ảnh con cò quen thuộc của ca dao để nói
lên quy luật muôn đời của tình cảm mẫu tử, đó là sự quan tâm, dìu dắt và
yêu thương đến suốt đời của mẹ đối với con…( lấy dẫn chứng phân tích)
1,0
+ Ở đoạn thơ Nói với con là lời tâm sự chân thành, gần gũi của người
cha đối với người con. Lời tâm sự vừa nói với con về tình yêu thương, sự
nâng đỡ của cha mẹ đối với con cái vừa khắc sâu vào tâm trí con vẻ đẹp
của truyền thống quê hương…(lấy dẫn chứng phân tích)
1,0
- Về nghệ thuật:

+ Đoạn thơ Con cò hấp dẫn người đọc bởi hình tượng nghệ thuật
(con cò) vừa gần gũi vừa độc đáo, giọng thơ vừa mượt mà, ngọt ngào vừa
0,5
sâu sắc, triết lí, mang giai điệu của lời ru thiết tha, êm đềm…
+ Đoạn thơ Nói với con cuốn hút người đọc bởi hình ảnh thơ giàu sức
biểu cảm, đăng đối, hài hòa, trìu mến phù hợp với một lời dặn dò, giọng
thơ chân thành, gần gũi và ấm áp…

0,5
c. Lí giải sự “đồng điệu” và “khác nhịp”trong cách bộc lộ tình cảm
gia đình của 2 tác giả:

+ Hai nhà thơ đều là những người cha, trải nghiệm cảm xúc gia đình,
thấu hiểu sâu sắc tình cảm cha-con (mẹ- con) nên đã có sự đồng điệu khi
viết về vẻ đẹp của tình cảm thiêng liêng này…
0,5
+Tuy vậy, hai tác giả có sự khác biệt về dân tộc, khác biệt về tư
tưởng thẩm mỹ và lối sống nên trong khi bộc lộ tình cảm chung vẫn thấp
thoáng những nét riêng…
0,5

Hết

PHÒNG GD&ĐT BÌNH GIANG

ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI VÒNG I

NĂM HỌC 2012-2013
MÔN : NGỮ VĂN – LỚP 9
(Thời gian làm bài: 150 phút)

Câu 1 (2 điểm).
Cho đoạn trích sau:
“ … Nước hết chuông rền, số cùng khí kiệt. Một tấm thân tàn, nguy trong
sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con. Chồng con nơi xa xôi chưa
biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng lành,
ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết
chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.

Bà cụ nói xong thì mất. Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo
liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.”
(Nguyễn Dữ – Chuyện người con gái Nam
Xương)
So với truyện cổ tích “Vợ chàng Trương” thì “Chuyện người con gái Nam
Xương” có thêm nhân vật bà mẹ Trương Sinh. Qua chi tiết trên, em hãy trình
bày ý nghĩa của việc sáng tạo thêm nhân vật này.
Câu 2 (3 điểm).
Bảo vệ môi trường là bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta.
Hãy trình bày những hiểu biết của em về vấn đề trên.
Câu 3 (5 điểm).
“Lặng lẽ Sa Pa”- Một bài ca ca ngợi những con người có lẽ sống cao đẹp
đang lặng lẽ quên mình, cống hiến cho Tổ quốc.
Bằng hiểu biết của em về tác phẩm “ Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành
Long, hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
HẾT















ĐỀ CHÍNH THỨC
HƯỚNG DẪN CHẤM THI HỌC SINH GIỎI
Năm học 2012-2013
Môn: Ngữ văn - Lớp 9
A. YÊU CẦU CHUNG
- Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của học sinh để
đánh giá được một cách khái quát, tránh đếm ý cho điểm. Vận dụng linh hoạt
đáp án, nên sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lý; khuyến khích những bài
viết có cảm xúc và sáng tạo.
- Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách riêng nhưng đáp ứng được các yêu
cầu cơ bản của đề, diễn đạt tốt vẫn cho đủ điểm.
Lưu ý: Điểm bài thi có thể để lẻ đến 0,25 điểm và không làm tròn số.
B. YÊU CẦU CỤ THỂ
Câu Mục đích – Yêu cầu Điểm

a. Mục đích: Kiểm tra kĩ năng đọc – hiểu văn bản, phát hiện giá
trị của chi tiết trong văn bản, đánh giá được ý nghĩa, vai trò của
nhân vật; hình thành kĩ năng nghị luận về tác phẩm truyện.
b. Yêu cầu:
* Về kĩ năng: học sinh biết bám sát văn bản ngôn từ, biết phát
hiện và thẩm bình giá trị nghệ thuật, dụng ý của tác giả trong việc
xây dựng nhân vật, biết lập luận và trình bày thành một văn bản
hoàn chỉnh, diễn đạt trôi chảy, mạch lạc; lập luận chặt chẽ, thuyết
phục.
* Về nội dung kiến thức: Học sinh cần trình bày các ý sau:
1
- Nêu vai trò của nhân vật trong tác phẩm tự sự: Nhân vật phụ,
giúp cho nhân vật chính hành động và làm nổi bật đặc điểm của
nhân vật chính cũng như chủ đề của tác phẩm.
- Nhân vật bà mẹ Trương Sinh đã góp phần hoàn thiện vẻ đẹp và

phẩm chất đáng quý của nhân vật Vũ Nương: hiếu thảo, đảm
đang
- Lời bà mẹ là sự chiêm nghiệm, đánh giá công bằng, chính xác về
Vũ Nương, thể hiện rõ sự yêu thương, trân trọng của người mẹ
chồng với con dâu.
- Sáng tạo thêm nhân vật bà mẹ Trương Sinh, tác giả đã bày tỏ thái
độ cảm thông, trân trọng vẻ đẹp nhân phẩm của người phụ nữ, qua
đó góp phần tạo nên thành công cho tác phẩm.
0,5


0,5


0,5


0,5
2
a. Mục đích: Kiểm tra kĩ năng nghị luận về một vấn đề xã hội,
hiểu và cảm nhận về vai trò của môi trường đối với cuộc sống của
con người, từ đó xác định trách nhiệm của bản thân về vấn đề bảo
vệ môi trường.
b. Yêu cầu:
- Về kĩ năng: học sinh biết cách làm một bài văn nghị luận xã hội,

có đầy đủ bố cục ba phần, biết sử dụng dẫn chứng để bàn luận vấn
đề. Diễn đạt mạch lạc, trôi chảy, thuyết phục.
- Về nội dung kiến thức:
Học sinh cần trình bày các ý sau:

1. Giải thích
Môi trường sống là toàn bộ thế giới tự nhiên xung quanh gồm:
Đất, nước, không khí, … các yếu tố tác động đến sự tồn tại, phát
triển của con người và giới tự nhiên.
1,0
2. Bàn luận

- Bảo vệ môi trường là bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta. Vì
c
uộc sống của chúng ta phụ thuộc vào môi trường: đất ở, đất canh

c, nước uống, không khí để thở…

- Môi trường sống của chúng ta hiện nay đang bị ô nhiễm nặng nề

đang đe dọa cuộc sống của chúng ta (chứng minh)
-
Vì vậy, nhiệm vụ bảo vệ môi trường là vấn đề được đặt lên hàng
đ
ầu, là vấn đề cấp thiết và lâu dài đối với nhân loại.
1,5
3. Giải pháp
- Học sinh có thể nêu một số giải pháp bảo vệ môi trường, như
trồng cây xanh, bảo vệ và trồng rừng, vệ sinh nơi ở, vệ sinh trường
lớp, xử lý rác thải , hoặc tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng
bảo vệ môi trường, hoặc các biện pháp xử phạt vi phạm
0,5
a. Mục đích: Kiểm tra kĩ năng đọc – hiểu văn bản, phát hiện giá
trị của hình ảnh trong văn bản, đánh giá được ý nghĩa, vai trò của
nhân vật; khắc sâu chủ đề văn bản, hình thành kĩ năng nghị luận về

tác phẩm truyện.
b. Yêu cầu:
* Về kĩ năng: học sinh biết bám sát văn bản ngôn từ, biết phát
hiện và phân tích giá trị nghệ thuật, biết cảm nhận về hình ảnh
những con người lao động mới XHCN, biết lập luận và trình bày
thành một văn bản hoàn chỉnh.
* Về nội dung kiến thức: Học sinh cần bám sát lời nhận định trên
và văn bản để trình bày các ý sau:

- Giới thiệu chung:
+ Tình hình đất nước ta thời kì năm 1970: Miền Bắc đi lên xây
dựng XHCN…
+ Mục đích sáng tác tác phẩm của tác giả: ngợi ca những con
người lao động và cống hiến âm thầm cho quê hương đất nước.

3
- Tác phẩm ngợi ca những con người có lẽ sống cao đẹp:
+ Họ đều là những người có lí tưởng sống cao đẹp: hết lòng
cống hiến cho Tổ quốc, cho quê hương (phân tích lí tưởng sống
của anh thanh niên, ông kĩ sư ở vườn rau Sa Pa, anh cán bộ lập bản
đồ sét, ông họa sĩ, cô kĩ sư…) và luôn mơ ước được làm việc,

được cống hiến nhiều
+ Họ đều có tình yêu đối với công việc, trách nhiệm cao với
công việc: Họ hăng say làm việc, miệt mài không quản ngày đêm,
không quản khó khăn vất vả, thậm chí còn hi sinh cả hạnh phúc
riêng tư của mình vì công việc; họ gắn bó với công việc của mình
và luôn coi công việc là bạn, họ tìm thấy niềm vui và hạnh phúc
trong công việc ( lấy dẫn chứng và phân tích ở các nhân vật trong
truyện)

+ Họ có tình yêu con người, yêu cuộc sống: biết quan tâm đến
mọi người xung quanh, trân trọng sự đóng góp và thành công của
mọi người, luôn coi sự đóng góp của mình là bé nhỏ và cần phải
cố gắng nhiều hơn (phân tích lời tâm sự của anh thanh niên); họ
biết tạo dựng cho mình một cuộc sống có ý nghĩa, phong phú…
- Một số nghệ thuật đặc sắc:
+ Tên các nhân vật: Các nhân vật không có tên riêng, được gọi
theo l
ứa tuổi, nghề nghiệp… có tác dụng thể hiện tập trung, nổi bật
ch
ủ đề ngợi ca những con người lao động, cống hiến âm thầm cho
đ
ất nước…
+ Chất thơ của tác phẩm: Giọng điệu, ngôn ngữ nhịp nhàng,
ngân nga gi
ống như một bài ca để ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên,
v
ẻ đẹp tâm hồn con người lao động ở Sa Pa “ Sa Pa mà nghe tên
ngư
ời ta đã nghĩ ngay đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người
làm vi
ệc và lo nghĩ như vậy cho đất nước”

c. Biểu điểm chấm:
* Điểm 5 : Bài làm đảm bảo các yêu cầu trên. Thể hiện được năng
l
ực cảm thụ văn học. Có kỹ năng phân tích, tổng hợp vấn đề và biết
cách bình
luận, hệ thống luận điểm rõ ràng. Có được những đoạn
hay

.
* Điểm 4 : Đạt những yêu cầu chính. Văn viết có cảm xúc. Bố cục
tương đ
ối hợp lý. Diễn đạt gọn, ít lỗi diễn đạt.
* Điểm 3 : Bài làm chưa sáng tạo, chỉ phân tích tác phẩm, chưa
bi
ết chia luận điểm. Cảm nhận chung chung, không sâu, chưa biết
s
ử dụng dẫn chứng để chứng minh. Còn mắc lỗi diễn đạt.
* Điểm 2 : Kể lại nội dung của truyện. Cảm nhận không xuất phát
t
ừ tác phẩm. Chưa có bố cục hợp lí, chưa biết xây dựng hệ thống
lu
ận điểm bám sát vào lời nhận định, còn mắc nhiều lỗi diễn đạt.
* Điểm 1 : Cảm nhận và phân tích chưa đúng hướng, mắc nhiều
l
ỗi diễn đạt, chưa có bố cục, chưa biết tổ chức luận điểm.
* Điểm 0 : Bài làm lạc đề hoặc chỉ viết vài dòng, sai cả nội dung

phương pháp.
Lưu ý : Giám khảo nghiên cứu kĩ Mục đích, Yêu cầu và Biểu điểm
để
cho các điểm lẻ còn lại.



PHÒNG GD&ĐT
VĨNH TƯỜNG
ĐỀ THI CHỌN HSG LỚP 9 CẤP HUYỆN
NĂM HỌC 2013 - 2014

Môn: Ngữ văn
Thời gian làm bài: 150 phút

Câu 1: (2,0 điểm)
Viết về cảnh đất trời mùa xuân ở đoạn trích Cảnh ngày xuân (Truyện Kiều –
Nguyễn Du), có ý kiến cho rằng: Từ cặp lục bát thứ nhất sang cặp lục bát thứ hai
có sự biến đổi của mạch thơ; riêng cặp lục bát thứ hai đã thể hiện tài tình nghệ
thuật “thi trung hữu họa”.
Em hãy viết đoạn văn trình bày ý kiến của mình về nhận xét trên?
Câu 2: (2,0 điểm)
Khi nói về quê hương, Đỗ Trung Quân cho rằng:
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi.
(Quê hương)
Em hiểu thế nào về quan niệm của nhà thơ? Từ đó hãy bày tỏ suy nghĩ của
em về quê hương?
Câu 3: (6,0 điểm)
Nhận xét về truyện “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, có ý kiến cho
rằng:
“Tác phẩm như một bài thơ về vẻ đẹp trong cách sống và suy nghĩ của con
người lao động bình thường mà cao cả, những mẫu người của một giai đoạn lịch sử
có nhiều gian khổ và hi sinh nhưng cũng thật trong sáng, đẹp đẽ. Từ hình ảnh
những con người ấy gợi lên cho ta những suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống, của
lao động tự giác, về con người và về nghệ thuật”.
Qua truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”, em hãy làm sáng tỏ nhận xét trên.


Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
Họ và tên thí sinh: SBD:







ĐỀ CHÍNH THỨC

PHÒNG GD&ĐT VĨNH TƯỜNG HD CHẤM HSG LỚP 9 NĂM HỌC 2013-2014

MÔN: NGỮ VĂN


Câu 1:
* Bài viết trình bày dưới hình thức một đoạn văn.
* Nội dung cần đạt được như sau:
Đồng ý với nhận xét trên
+ Sự biến đổi của mạch thơ
Hai câu đầu gợi dòng chảy thời gian bất tận, nhịp thơ êm xuôi:“Ngày xuân
con én…ngoài sáu mươi”. Hình ảnh “chim én đưa thoi” vừa gợi không gian, vừa
ngụ ý mùa xuân qua nhanh.
Hai câu tiếp theo, mạch thơ dừng lại, mở ra một không gian mênh mông,
không còn ranh giới giữa trời và đất: “ Cỏ non xanh tận chân trời…một vài bông
hoa” .
+ Nghệ thuật “Thi trung hữu họa” ở cặp thơ thứ hai:
Trời đất một màu xanh non tươi tốt của cỏ mùa xuân. Trên nền màu xanh
non ấy điểm xuyết sắc trắng của hoa lê. Hai màu: xanh, trắng là những gam màu
sáng tươi dịu mát, tôn nhau lên, màu trắng hoa lê làm cỏ như xanh hơn và sắc trắng
của hoa càng trở nên thanh khiết trên nền cỏ xanh mịn.
Cách dùng từ “trắng điểm” (chứ không phải là điểm trắng) giúp ta nhận ra
tín hiệu của mùa xuân ở vẻ đẹp ẩn chìm mà sống động của tạo vật vốn vô tri vô

giác.
Có thể liên hệ đến câu thơ cổ của Trung Quốc: “ Phương thảo liên thiên bích/
Lê chi sổ điểm hoa”.
+ Khả năng rung động tinh tế của thi nhân trước cái đẹp của mùa xuân .
( Không cho điểm tối đa những bài viết không trình bày đúng hình thức của một
đoạn văn).
Câu 2:
* Yêu cầu chung:
HS hiểu đề, viết sát chủ đề đã nêu.
Biết cách làm một bài văn nghị luận có bố cục hợp lí, lập luận chặt chẽ.
Trình bày ý mạch lạc, rõ ràng. Văn viết trong sáng, có cảm xúc.
* Yêu cầu cụ thể:
+ Quan niệm về quê hương của nhà thơ Đỗ Trung Quân :
- Câu thơ nằm trong thi phẩm viết về quê hương. Trong thi phẩm ấy, nhà thơ gợi ra
những cách hiểu về quê hương.
- Cách so sánh độc đáo, thú vị : quê hương và mẹ.Ý ngĩa của cách so sánh ấy là để
khẳng định quê hương chính là nguồn cội, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi gắn bó, nuôi
dưỡng sự sống, đặc biệt là sự sống tinh thần, tâm hốn.
Qua lối so sánh khẳng định để nêu bật tình cảm với quê hương. Quê hương là điều
quý giá vô ngần mà mỗi con người không thể thiếu. Hình bóng quê hương đi theo
con người suốt cả cuộc đời, trở thành điểm tựa về tinh thần của con người trong
cuộc sống. Nếu thiếu đi điểm tựa này, cuộc sống của con người trở nên chông
chênh, lệch lạc. Đồng thời, qua cách so sánh, tác giả cũng khơi dậy, nuôi dưỡng
tình cảm với quê hương : tình cảm với mẹ là tình cảm tự nhiên như một bản năng,
tình cảm với quê hương là tình cảm tự nhiên, thuần khiết trong tâm hồn mỗi con
người.
- Gợi mở một cách sống, cách làm người : Phải biết coi trọng gốc rễ, hướng về cội
nguồn, biết yêu quê hương. Thiếu đi tình cảm này là một khiếm khuyết trong đời
sống tâm hồn, tình cảm khiến con người không được làm người một cách trọn vẹn.
+ Suy nghĩ của bản thân:

- Quê hương là bến đỗ bình yên cho mỗi con người
- Mỗi người không được quên đi nguồn cội, gốc gác, quê hương. Dù ai đi đâu, ở
đâu cũng sẽ luôn tự nhắc nhở hãy nhớ về cội nguồn yêu thương.
Nuôi dưỡng tình cảm với quê hương có nghĩa là nuôi dưỡng tâm hồn, để con
người được làm người theo nghĩa đầy đủ nhất.
- Đặt tình cảm với quê hương trong quan hệ với tình yêu đất nước, cần hướng về
quê hương song không có nghĩa là chỉ hướng về mảnh đất nơi mình sinh ra mà phải
biết tôn trọng và yêu quý tất cả những gì thuộc về Tổ quốc.
- Có thái độ phê phán trước những hành vi, suy nghĩ chưa tích cực về quê hương :
chê quê hương nghèo khó, lạc hậu ; làm thay đổi một cách tiêu cực dáng vẻ quê
hương mình
- Trách nhiệm xây dựng quê hương.
* Mở bài, kết bài viết tốt mỗi phần được điểm.
Câu 3:
* Về kỹ năng: Hiểu đúng yêu cầu của đề bài. Biết cách làm bài văn nghị luận bố
cục rõ ràng, kết cấu hợp lí. Diễn đạt tốt, không mắc các lỗi chính tả , dùng từ , ngữ
pháp.
* Về nội dung :
Học sinh có thể sắp xếp trình bày theo nhiều cách khác nhau, có thể có những ý
kiến riêng miễn sao phải phù hợp với yêu cầu của đề bài. Dù triển khai theo trình tự
nào cũng cần đạt được những ý chính sau đây.
A/ Tác phẩm như một bài thơ về vẻ đẹp trong cách sống và suy nghĩ của con
người lao động bình thường mà cao cả, những mẫu người của một giai đoạn
lịch sử có nhiều gian khổ và hi sinh nhưng cũng thật trong sáng, đẹp đẽ.
Qua các nhân vật với những công việc và lứa tuổi khác nhau, nhà văn muốn
khái quát những phẩm chất cao đẹp của con người mới trong thời kì xây dựng Chủ
nghĩa xã hội và chống Mĩ cứu nước. Họ có những suy nghĩ đúng đắn, lặng lẽ cống
hiến cho tổ quốc, tâm hồn trong sáng và giàu lòng nhân ái.
1/ Vẻ đẹp cao cả chung của các nhân vật.
+ Ý thức trách nhiệm trước công việc : anh thanh niên, đồng chí cán bộ khoa

học.
+ Sống có lý tưởng, sẵn sàng cống hiến : anh thanh niên, cô kỹ sư trẻ (cô kĩ
sư trẻ mới ra trường lần đầu tiên xa Hà Nội, dũng cảm lên nhận công tác tại Lai
Châu. Cô là lớp thanh niên thề ra trường đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì…)
+ Nhận thức sâu sắc ý nghĩa công việc: anh thanh niên, ông kỹ sư vườn rau,
người cán bộ nghiên cứu khoa học…
+ Yêu thích, say mê công việc, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, dám chấp
nhận cuộc sống cô độc để làm việc, làm việc một cách kiên trì, tự giác bất chấp
hoản cảnh : anh thanh niên, ông kỹ sư vườn rau, người cán bộ nghiên cứu khoa
học.
2/ Vẻ đẹp trong cuộc sống bình thường.
Tiêu biểu là nhân vật anh thanh niên.
+ Đó là con người sống, làm việc một mình trên đỉnh núi cao mà không cô
đơn. Anh tổ chức sắp xếp cuộc sống của mình trên trạm khí tượng thật ngăn nắp,
chủ động, giản dị (căn nhà nhỏ, giường cá nhân…). Anh sống lạc quan yêu đời-
trồng hoa, nuôi gà, đọc sách.
+ Đó là một người khiêm tốn: lặng lẽ hoàn thành công việc, không tự nhận
thành tích về mình, luôn nhận thức được công việc của mình làm là những đóng
góp nhỏ bé cho đất nước; ham mê học hỏi, phấn đấu bởi xung quanh anh có biết
bao con người, bao tấm gương, bao điều đáng học ( những ông kĩ sư vườn rau, anh
cán bộ nghiên cứu sét )
+ Một con người sống cởi mở, tốt bụng, luôn quan tâm đến mọi người một
cách chân thành, chu đáo: việc đi tìm củ tam thất cho vợ bác lái xe, đón ông hoạ sĩ
già và cô kỹ sư trẻ thân tình, nồng hậu; hồn nhiên, yêu cuộc sống: thèm người,
thèm chuyện trò
Khẳng định, khái quát: Tác phẩm thật sự là một bài thơ về vẻ đẹp trong cách
sống và suy nghĩ của người lao động bình thường mà cao cả. Họ chính là những thế
hệ tiêu biểu cho lớp người mới, cho thanh niên Việt Nam thời chống Mĩ cứu nước.
Tuy không trực tiếp chiến đấu, song họ đã góp phần không nhỏ để xây dựng cuộc
sống mới và góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến của dân tộc. Họ nối tiếp

nhau xứng đáng là chủ nhân của đất nước này.
( Học sinh có thể trình bày trên cơ sở phân tích từng nhân vật để làm nổi bật
ý tưởng chung, tuy nhiên , cần tập trung vào nhân vật trung tâm là anh thanh niên)
B/ Tác phẩm gợi lên những suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống, của lao động tự
giác về con người và về nghệ thuật”.

- Cuộc sống của mỗi người chỉ thực sự ý nghĩa khi mọi việc làm , hành động
của họ đều xuất phát từ tình yêu cuộc sống, yêu con người, yêu và tự hào về mảnh
đất mình đang sống.
- Con người biết sống có lý tưởng, say mê với công việc, hiểu được ý nghĩa
của công việc mình làm . Con người cần tự nhìn vào chính bản thân để sống tốt
đẹp hơn.
- Thông qua suy nghĩ của người hoạ sĩ : vẻ đẹp của con người và của cuộc
sống chính là nguồn cảm hứng vô tận để người nghệ sĩ sáng tạo những tác phẩm
nghệ thuật có giá trị .
* Thang điểm :
- Mở bài, kết bài đạt yêu cầu mỗi phần được điểm.
- Thân bài…… điểm : Ý thứ nhất (A) - .
Ý thứ hai (B) - điểm.
Lưu ý chung:
Trên đây chỉ là những gợi ý cơ bản về cách chấm. Giám khảo linh hoạt khi
chấm bài của học sinh. Khuyến khích những bài viết có chất văn, có tính sáng tạo.



×