Tải bản đầy đủ (.pdf) (67 trang)

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (537.4 KB, 67 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ NGỌC ANH

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA VIỆC
DẠY TRẺ NÓI ĐÚNG NGỮ PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

HÀ NỘI - 2015


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ NGỌC ANH

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA VIỆC
DẠY TRẺ NÓI ĐÚNG NGỮ PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS.GVC. PHAN THỊ THẠCH

HÀ NỘI - 2015



LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2,
các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học và các thầy cô giáo trong khoa Ngữ
văn đã giúp em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em
thực hiện khoá luận tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - Th.S. Phan
Thị Thạch, người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này.
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể các cô giáo trong trường mầm non
Tân Thành và trường mầm non Hoa Sen đã giúp đỡ em có được những tư liệu
tốt.
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ
động viên em trong quá trình học tập và thực hiện khoá luận.
Quá trình nghiên cứu và xử lí đề tài, em không thể tránh khỏi những
hạn chế, em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các
bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, Ngày

tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Ngọc Anh


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những số
liệu và kết quả trong khoá luận là hoàn toàn trung thực. Đề tài chưa được

công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào.

Hà Nội, Ngày

tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Ngọc Anh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề............................................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................... 3
4. Mục đích nghiên cứu .................................................................................... 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................... 4
6. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 4
7. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ................................................................. 6
1.1. Cơ sở tâm lí học ......................................................................................... 6
1.2. Cơ sở ngôn ngữ học. .................................................................................. 7
1.2.1. Chuẩn mực ngôn ngữ. ............................................................................ 7
1.2.2. Ngữ pháp. ............................................................................................... 8
1.2.3. Câu trong tiếng việt ................................................................................ 8
1.2.3.1. Khái niệm về câu ................................................................................. 8
1.2.3.2. Phân loại câu........................................................................................ 9
1.2.3.2.1. Những kiểu câu được phân chia theo đặc điểm cấu tạo
ngữ pháp ......................................................................................... 9

1.2.3.2.2. Những kiểu câu được phân chia theo mục đích phát ngôn............. 13
1.3. Cơ sở phương pháp dạy học tiếng việt. ................................................... 16
1.3.1. Dạy trẻ MGL nói đúng ngữ pháp là dạy theo mô hình câu. ................. 16
1.3.2. Dạy trẻ MGL nói đúng ngữ pháp là dạy theo các mô hình từ
dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. .................................................. 17
1.3.3. Để dạy trẻ nói đúng ngữ pháp ngoài việc giúp trẻ nắm được các
mô hình câu chúng ta cần giúp trẻ biết tạo lập câu theo mục đích nói......... 17
1.3.4. Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp là dạy trẻ thực hành. ................................. 17


CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP CỦA TRẺ MGL ................................... 18
2.1. Thực trạng dạy trẻ MGL nói đúng ngữ pháp ở trường mầm non
xét từ phía giáo viên ............................................................................... 18
2.1.1. Kết quả điều tra thực trạng của việc dạy trẻ MGL nói đúng
ngữ pháp bằng phiếu trả lời câu hỏi. .................................................... 18
2.1.2. Điều tra thực trạng dạy trẻ MGL nói đúng ngữ pháp thông qua
việc tham khảo giáo án và dự giờ giáo viên. ........................................ 21
2.1.3. Một vài nhận xét về thực trạng dạy trẻ MGL nói đúng ngữ pháp
từ phía giáo viên. ................................................................................. 27
2.2. Thực trạng năng lực ngữ pháp của trẻ MGL ........................................... 29
2.2.1. Cách thức điều tra ................................................................................. 29
2.2.2. Đặc điểm dùng câu của trẻ mẫu giáo lớn (rút ra từ kết quả điều tra) ... 29
CHƢƠNG 3: NỘI DUNG, BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ MGL THÔNG QUA VIỆC DẠY TRẺ NÓI ĐÚNG NGỮ
PHÁP ............................................................................................................. 35
3.1. Giúp trẻ biết vận dụng đa dạng mô hình kiểu câu vào hoạt động giao tiếp. .... 35
3.1.1. Giúp trẻ biết sử dụng đa dạng kiểu câu đơn hai thành phần................. 35
3.1.2. Giúp trẻ biết sử dụng đa dạng kiểu câu đơn hai thành phần
mở rộng bằng thành phần phụ .............................................................. 40

3.1.3. Giúp trẻ MGL biết sử dụng từ tình thái trong câu đơn rút gọn ............ 43
3.1.4. Giúp trẻ MGL biết sử dụng đa dạng câu ghép. .................................... 43
3.2. Giáo án thể nghiệm .................................................................................. 47
KẾT LUẬN....................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 60


KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Mẫu giáo lớn

: MGL

Mẫu giáo nhỡ

: MGN

Mẫu giáo bé

: MGB

Nhà xuất bản

: Nxb

Đại từ

: ĐT

Danh từ


: DT

Động từ

: ĐgT

Tính từ

: TT

Hô ngữ

: HN

Trạng ngữ

: TRN

Khởi ngữ

: KN

Chủ ngữ

:C

Vị Ngữ

:V


Ví dụ

: VD


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Tầm quan trọng của giáo dục Mầm non là ở chỗ, nó đặt nền móng ban đầu cho
việc giáo dục, hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ. Do đó bậc học giáo
dục Mầm non ngày nay luôn được Đảng nhà nước và xã hội quan tâm.
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, nhận thức rõ được điều này
nên trong thông tư số 17/2009/TT - BGDĐT ngày 25/7/ 2009 của Bộ trưởng
BGD&ĐT đã đưa ra mục tiêu dạy học ở trường Mầm non là: “Giúp trẻ em
phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu
tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1”
Phát triển ngôn ngữ ở trường Mầm non đóng vai trò quan trọng trong
việc thực hiện mục tiêu dạy học của nghành trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng đối với con người vì nó là công
cụ để con người giao tiếp và tư duy. Nhờ có ngôn ngữ, con người đã chiếm
lĩnh được kho tàng tri thức của nhân loại và vươn lên làm chủ thế giới. Bởi
vậy việc giáo dục và phát triển ngôn ngữ có vai trò rất là quan trọng, nhất là
đối với sự phát triển của trẻ em. Đối với trẻ ngôn ngữ không chỉ là công cụ
giao tiếp, công cụ để phát triển tư duy mà ngôn ngữ còn là phương tiện để trẻ
phát triển một cách toàn diện. Như U.Sinxki đã nhận định “Tiếng mẹ đẻ là cơ
sở của mọi sự phát triển, là vốn quý của mọi tri thức”.
Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp là một trong những nội dung phát triển
ngôn ngữ cho trẻ. Vì vậy việc tìm hiểu nội dung phương pháp dạy trẻ MGL
nói đúng ngữ pháp là một việc làm cần thiết. Tuy vậy, thực hiện công việc

này không dễ vì nhiều lí do.
Thứ nhất mặc dù năng lực dùng câu và giao tiếp của trẻ MGL đã phát
triển so với trẻ MGN, nhưng trẻ chủ yếu nói những câu đơn giản, ngắn gọn
theo các khuôn hình bắt chước từ người lớn. Do còn quá nhỏ, do năng lực

1


ngôn ngữ và năng lực nhận thức giữa các trẻ MGL không giống nhau nên có
trẻ dùng câu đúng, có trẻ dùng câu chưa đúng và đa số trẻ có thể chưa sử dụng
đa dạng các kiểu câu.
Thứ hai, việc “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua
việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp” trong chương trình giáo dục Mầm non lại
chủ yếu thực hiện trong tiết học tích hợp và lồng ghép với nội dung dạy học
khác. Phần lớn giáo viên khi dạy trẻ chỉ chú ý tới các dạng hoạt động chính và
nội dung của bài học, chưa thực sự chú ý đến việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp.
Ngoài ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn kể trên, việc thực hiện
khoá luận này còn có ý nghĩa thiết thực đối với một sinh viên năm cuối khoa
Giáo dục Tiểu học - ngành Giáo dục Mầm non - trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2. Bởi vì việc thực hiện đề tài định hướng cho tác giả khoá luận về một
trong những nội dung cần thực hiện có hiệu quả trong đợt thực tập sư phạm
cuối khoá. Bên cạnh đó việc thực hiện đề tài còn giúp tác giả khoá luận củng
cố những kiến thức đã học trong môn học: “Phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ em”.
Nhận thức rõ ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của nội dung
nghiên cứu, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Phát triển ngôn ngữ cho
trẻ MGL thông qua việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp”.
2. Lịch sử vấn đề
Nội dung phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non nói
chung, cho trẻ mẫu giáo nói riêng đã được một số nhà nghiên cứu đề cập đến

trong những công trình của họ. Có thể tổng thuật nội dung phương pháp
nghiên cứu về vấn đề này trong một số nguồn tài liệu sau đây:
2.1. Những giáo trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
1. Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”
Nguyễn Xuân Khoa, đã dành 12 chương sách đề cập khái quát đến những vấn
đề có liên quan đến nội dung phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu

2


giáo. Trong đó, tác giả đã dành chương III, với dung lượng là 9 trang sách để
trình bày sơ lược về phương pháp dạy trẻ đặt câu.
2. Trong giáo trình “Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em” Đinh
Hồng Thái, đã trình bày 3 vấn đề chính:
- Những vấn đề chung
- Dạy nói cho trẻ em ba năm đầu
- Dạy nói cho trẻ em tuổi mẫu giáo
Phần thứ 3 của giáo trình gồm 6 chương trong đó với 5 trang sách của
chương III, tác giả đã nêu ra những vấn đề chung nhất của việc “Dạy trẻ các
mẫu câu tiếng Việt”
2.2. Những tài liệu nghiên cứu về phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mầm non:
- 2014 Đinh Thị Hồng Nhung trong tài liệu của mình đã tóm tắt nội
dung một số tài liệu có liên qua đến việc nghiên cứu về phương pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non.
- Trong cuốn: “Các biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 - 6
tuổi”, tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh cũng đã đề cập đến vấn đề phát triển
ngôn ngữ cho trẻ MGL. Tuy nhiên trong tài liệu này, tác giả chỉ đề cập đến
khía cạnh phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
2.3. Khóa luận của sinh viên khoa giáo dục Tiểu học trường Đại học Sư

Phạm Hà Nội 2:
- Nguyễn Thị Dương (2013), cũng đã đề cập đến vấn đề dạy trẻ nói
đúng ngữ pháp trong khoá luận: “Các phương pháp, biện pháp dạy trẻ nói
đúng ngữ pháp”. Trong khoá luận này của mình, tác giả Nguyễn Thị Dương
kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả giáo trình Phương pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mầm non để trình bày nội dung dạy trẻ 3 - 4 tuổi và trẻ 5 - 6

3


tuổi nói đúng ngữ pháp. Ngoài ra, trong khoá luận, tác giả còn trình bày các
loại lỗi câu và cách sửa lỗi.
Thông qua việc tổng thuật nội dung nghiên cứu trong các tài liệu từ các
nguồn kể trên, có thể thấy: việc tìm hiểu vấn đề dạy trẻ đúng ngữ pháp không
phải là vấn đề mới, vì đã có nhiều người quan tâm xem xét. Tuy nhiên trong
những tài liệu đó chưa có một công trình chuyên biệt nào tìm hiểu về: “Phát
triển ngôn ngữ cho trẻ MGL thông qua việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp”.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ MGL thông qua việc dạy trẻ nói đúng
ngữ pháp.
4. Mục đích nghiên cứu
4.1. Việc thực hiện đề tài trước hết giúp tác giả khoá luận nắm chắc lí
luận của phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, đồng thời xác
định được những nội dung biện pháp dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
4.2. Góp phần cung cấp một tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên
khoa giáo dục tiểu học ngành mầm non và những người quan tâm đến vấn đề
phát triển ngôn ngữ cho trẻ MGL trên bình diện ngữ pháp câu
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Lựa chọn những lí thuyết thuộc các chuyên ngành ngôn ngữ học,
tâm lý học, giáo dục học,… để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.

5.2. Tìm hiểu thực trạng nói năng của trẻ MGL để đánh giá năng lực
ngữ pháp của trẻ.
5.3. Đề xuất nội dung, biện pháp dạy trẻ nói đúng ngữ pháp để phát
triển ngôn ngữ cho trẻ MGL.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Ở đề tài này chúng tôi tập trung tìm hiểu việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ MGL ở bình diện ngữ pháp câu, thông qua việc giúp trẻ vận dụng đa dạng
kiểu câu vào giao tiếp.

4


7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp này được chúng tôi sử dụng khi xây dựng cơ sở lí luận
cho đề tài khoá luận.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a. Phương pháp quan sát
- Phương pháp này được chúng tôi vận dụng khi dự giờ những tiết học
của trẻ ở trường mầm non Tân Thành, xã Tân Thành, huyện Lương Sơn, tỉnh
Hoà Bình, quan sát trẻ trong các hoạt động nói năng để đánh giá thực trạng
ngữ pháp của trẻ.
b. Phương pháp đàm thoại
- Vận dụng phương pháp này chúng tôi trao đổi với các cô giáo về
những nội dung cơ bản có liên quan đến đề tài. Phương pháp này còn được
chúng tôi vận dụng khi trò chuyện với trẻ để làm rõ khả năng dùng câu trong
diễn đạt của trẻ.
7.3. Phương pháp thực nghiệm
- Đây là phương pháp cơ bản được chúng tôi vận dụng để kiểm nghiệm
kết quả nghiên cứu của mình.

7.4. Ngoài ra trong quá trình xử lí đề tài chúng tôi còn sử dụng một số
phương pháp như: Thống kê, phân tích, tổng hợp.

5


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. CƠ SỞ TÂM LÍ HỌC
Trẻ MGL là trẻ có độ tuổi 5 - 6 tuổi, trong độ tuổi này, bước đầu trẻ đã
biết sử dụng ngôn ngữ trong sinh hoạt hằng ngày. Sự phát triển này về mặt
ngôn ngữ gắn liền với đặc điểm tâm lí của trẻ.
Về khả năng nhận thức của trẻ MGL: ở giai đoạn này khả năng nhận
thức của trẻ vẫn phát triển dựa trên cơ sở hình thành ở giai đoạn trước. Để
nhìn nhận và đánh giá về một sự vật hiện tượng nào đó, trẻ đã biết huy động
vốn kinh nghiệm của mình, phân tích, phán đoán, so sánh, khái quát hoá để
thu thập thông tin sâu sắc hơn về sự vật hiện tượng, biết tìm hiểu mối liên hệ
phụ thuộc giữa các sự vật hiện tượng với nhau.
Trẻ MGL nhận thức mọi thứ xung quanh chủ yếu dựa vào kết quả đã
thu nhận được trong quan sát trực tiếp sự vật để giải quyết những vấn đề đặt
ra trong hoàn cảnh tương tự. Phán đoán của trẻ còn đơn giản do vốn kinh
nghiệm của trẻ còn rất ít, nông cạn. Trẻ mới bắt đầu biết khái quát dựa vào
các hình ảnh đã trải qua.
Ở lứa tuổi này, tư duy trực quan hình tượng vẫn tiếp tục diễn ra. Bên
cạnh việc phát triển tư duy trực quan hình tượng còn xuất hiện thêm một
kiểu tư duy mới đó là tư duy trực quan - sơ đồ. Đây là một kiểu tư duy mới
của tư duy trực quan hình tượng, kiểu tư duy này vẫn giữ mãi tính chất
hình tượng song bản thân hình tượng cũng trở nên khác trước: hình tượng
đã bị mất đi những chi tiết rườm rà mà chỉ còn giữ lại những yếu tố chủ
yếu giúp trẻ phản ánh một cách khái quát sự vật chứ không phải là từng sự

vật riêng lẻ. Điều này cho thấy khả năng giao tiếp của trẻ đang mở rộng,
giáo viên cần nắm bắt rõ đặc điểm tư duy của trẻ để thúc đẩy quá trình phát
triển ngôn ngữ của trẻ MGL.

6


Về mặt xúc cảm và tình cảm của trẻ MGL: Ở lứa tuổi này, trẻ đã xuất
hiện tình cảm bạn bè. Đời sống tình cảm ổn định hơn so với trẻ MGN, mức độ
phong phú, phức tạp tăng đần theo các mối quan hệ giao tiếp với những người
xung quanh. Các sắc thái xúc cảm con người trong quan hệ với các loại lứa
tuổi khác nhau, vị trí xã hội khác nhau, được hình thành như: tình cảm mẹ
con, ông bà, anh chị em, tình cảm với cô giáo, với người thân, với người lạ….
Bên cạnh đó ở độ tuổi này ở trẻ đã hình thành rõ nét các tình cảm bậc cao:
Về tình cảm trí tuệ: Thể hiện ở chỗ trẻ ham hiểu biết, thích khám phá,
tìm tòi những điều mới lạ, bí ẩn. Mỗi nhận thức mới đều kích thích niềm vui,
hứng thú say mê đối với trẻ.
Về tình cảm đạo đức: Thể hiện ở việc trẻ rất dễ xúc động và đồng cảm
với con người và cảnh vật xung quanh. Trẻ ý thức được nhiều hành vi tốt đẹp
cần thực hiện để làm vui lòng mọi người.
Về tình cảm thẩm mĩ: Cùng với sự phát triển nhận thức về cái đẹp, tình
cảm thẩm mĩ của trẻ càng phát triển. Trẻ biết yêu thích cái đẹp, mong muốn
làm ra cái đẹp để mang đến niềm vui cho chính mình và cho mọi người. Ở
tuổi này trẻ rất thích các loại hình nghệ thuật.
Những đặc điểm tâm lý kể trên đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ. Tư duy, nhận thức và tình cảm của trẻ phát triển đến một
chất lượng mới đòi hỏi ngôn ngữ của trẻ phải thành thạo hơn, mạch lạc hơn
để trẻ có thể dễ dàng giao tiếp với mọi người xung quanh.
1.2. CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC
1.2.1. Chuẩn mực ngôn ngữ

- Hoàng Tuệ trong bài “Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt” đã đưa
ra cách hiểu ngôn ngữ chuẩn mực như sau: “Chuẩn mực, nói một cách khái
quát là cái đúng. Đó là cái đúng có tính chất chung, tính chất bình thường
được mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận, ở một giai đoạn

7


nhất định trong một quá trình lịch sử phát triển ngôn ngữ. Cái đúng ấy được
xác định theo một tập hợp những quy tắc nhất định thuộc các phạm vi phát
âm, viết chữ, dùng từ, cấu tạo từ mới và đặt câu,…” (trích: Từ điển giải thích
thuật ngữ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nxb GD, 1996, tr56).
1.2.2. Ngữ pháp
- Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý (chủ biên),
nxb GD, tr184, đã đưa ra cách hiểu ngữ pháp như sau:
1. Toàn bộ các quy tắc biến đổi và kết hợp từ thành cụm từ, câu được
cấu thành đối với một ngôn ngữ.
2. Cơ cấu của từ, cụm từ và câu vốn có đối với một ngôn ngữ.
3. Ngữ pháp học (nói tắt).
- Theo Nguyễn Xuân Khoa, ngữ pháp có tính chất trừu tượng và khái
quát cao vì các quy luật ngữ pháp không thuộc về một từ hoặc một câu cụ thể
mà là chung cho các từ, các câu cùng loại. Các quy luật ngữ pháp vì vậy
thường biểu hiện dưới dạng mô hình của nhóm từ, mô hình của câu. Trẻ học
nói không học từng câu một mà qua lời nói của những người xung quanh trẻ
rút ra mô hình câu và dựa vào các mô hình đó để nói những câu cụ thể.
1.2.3. Câu trong tiếng Việt
1.2.3.1. Khái niệm về câu
- Trong cuốn: “Giáo trình lí thuyết tiếng Việt”, nxb Trường ĐHTHHN,
H., 1978, tr.170, Hoàng Trọng Phiến đã đưa ra khái niệm về câu như sau:
“Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói, được hình thành về ngữ pháp và ngữ

điệu theo các quy luật của một ngôn ngữ nào đó, là phương tiện chính diễn
đạt, biểu hiện và giao tế tư tưởng về thực tế và thái độ của người nói đối với
thực tại (theo giáo sư O.A.khmanôva)”, (Trích: Từ điển giải thích thuật ngữ
ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý (chủ biên), nxbGD, 1996, tr32).

8


1.2.3.2. Phân loại câu
Câu được phân loại dựa vào các tiêu chí sau:
- Dựa vào đặc điểm cấu tạo ngữ pháp: Dựa vào tiêu chí này, người ta
phân chia câu thành câu đơn và câu ghép. Vẫn dựa vào tiêu chí này người ta
chia câu đơn thành: câu đơn hai thành phần, câu đơn mở rộng, câu đơn rút
gọn và câu đơn đặc biệt. Câu ghép có thể phân chia thành câu ghép đẳng lập,
câu ghép chính phụ.
- Dựa vào mục đích nói (mục đích phát ngôn): Căn cứ vào tiêu chí này,
người ta phân chia câu tiếng việt thành: câu tường thuật, câu nghi vấn, câu
cảm thán và câu cầu khiến.
1.2.3.2.1. Những kiểu câu được phân chia theo đặc điểm cấu tạo ngữ pháp
a. Câu đơn hai thành phần
* Định nghĩa
- Hữu Quỳnh trong Ngữ pháp tiếng việt hiện đại, Nxb GD. H.1980.
Tr137, đã đưa ra định nghĩa về câu đơn hai thành phần như sau: “Câu đơn
hai thành phần là câu đơn gồm một đơn vị tính vị ngữ có quan hệ chủ - vị làm
nòng cốt tức là một đơn vị nòng cốt gồm hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ.
Đơn vị tính vị ngữ có quan hệ chủ - vị (gọi tắt là C - V) có thể có cấu tạo khác
nhau” (Trích Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý (chủ
biên), nxbGD, 1996, tr35).
* Các mô hình cấu tạo câu đơn hai thành phần
Câu đơn hai thành phần được cấu tạo theo hai mô hình cấu trúc cơ bản:

C-V
C là V
- Câu đơn hai thành phần có mô hình cấu trúc C - V khi:
+ Chủ ngữ (C) là danh từ, đại từ; vị ngữ (V) là động từ, tính từ.
VD 1: Lan khóc nhè.

9


VD 2: Chị ấy cười rất tươi.
VD 3: Bác gấu to lớn
- Câu đơn hai thành phần có mô hình cấu trúc C là V khi:
+ C và V đều là danh từ.
VD 4: Bố con là bác sĩ.
+ C và V đều là động từ.
VD 5: Khóc là bị mắng đấy.
VD 6: Thi đua là yêu nước.
+ C và V đều là tính từ.
VD 7: Cần cù là tốt.
+ C là động từ, V là danh từ.
VD 8: Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi chúng ta.
+ C là tính từ, V là danh từ.
VD 9: Cần mẫn là đức tính của loài ong.
+ C là động từ, V là tính từ.
VD 10: Khóc nhè là xấu lắm
b. Câu đơn mở rộng thành phần phụ trạng ngữ và khởi ngữ
b1. Câu đơn mở rộng thành phần trạng ngữ
* Định nghĩa:
- Trạng ngữ là một trong các thành phần phụ của câu. Nó thường được
cấu tạo bằng một từ hoặc cụm từ, có chức năng bổ sung ý nghĩa về thời gian

không gian, nguyên nhân, mục đích, phương tiện hoặc tình thái cho nòng cốt
câu.
* Một số mô hình câu đơn mở rộng thành phần trạng ngữ:
+ TRN, C - V.
VD 11: Ngoài hiên, cây thạch lựu trổ hoa đỏ thắm.
VD 12: Vì sốt, Lan phải nghỉ học ba ngày.

10


+ C - TRN - V.
VD 13: Tiếng chim trên cành me ríu rít.
VD 14: Chúng em, sáng hôm nay, tập trung ở trường.
+ C - V - TRN.
VD 15: Con vừa gặp bạn Lan ở ngoài phố.
VD 16: Sáng 8 - 3, các con mặc quần áo đẹp để biểu diễn văn nghệ.
b2. Câu đơn mở rộng thành phần khởi ngữ
* Định nghĩa:
- Khởi ngữ (còn được gọi là đề ngữ), đó là một trong các thành phần
phụ của câu. Nó thường được cấu tạo bằng một từ hoặc cụm từ, có chức năng
bổ sung ý nghĩa chủ đề cho câu.
* Mô hình câu đơn mở rộng thành phần khởi ngữ (KN)
+ KN, C - V
VD 17: Đàn bà, họ có cái cách tảng lờ giỏi lắm.
VD 18: Thƣ cho Lan, tôi đã viết xong rồi.
c. Câu đơn rút gọn
* Trong giao tiếp trực tiếp, chúng ta thường gặp các kiểu câu rút gọn.
Tuỳ vào hoàn cảnh cụ thể, người nói có thể rút gọn một trong hai thành phần
nòng cốt câu hoặc thậm chí là rút gọn cả hai thành phần chính của câu.
* Câu rút gọn chủ ngữ thường thấy trong các trường hợp sau đây:

+ Trong đối thoại thân mật, hai nhân vật giao tiếp với nhau.
VD 19: - Chào anh ạ!
VD 20: - Đi đâu đấy?
+ Khi yêu cầu, đề nghị, ra lệnh, chúc tụng, cầu may.
VD 21: - Đề nghị mọi người trật tự!
VD 22: - Chúc các đồng chí mạnh khoẻ.
* Câu rút gọn vị ngữ, thường thấy trong các trường hợp sau:

11


+ Khi trả lời câu hỏi
VD 23: - Ai làm việc này?
- Tôi.
+ Khi có ý so sánh
VD 24: - Báo cáo chỉ huy, chúng ta sẽ ăn cháo đường.
- Đường kia à?
* Câu rút gọn cả chủ ngữ và vị ngữ.
VD 25: - Cháu ăn bánh không?
- Không ạ.
d. Câu đơn đặc biệt
* Định nghĩa:
- Câu đơn đặc biệt là một kiểu câu đơn được cấu tạo bằng một từ hoặc
cụm từ, không phân định được chủ ngữ, vị ngữ, nhưng có khả năng diễn đạt
một nội dung thông báo trọn vẹn trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định.
* Ví dụ:
VD 26: Cháy! Cháy rồi!
VD 27: Chao ôi! Buồn!
e. Câu ghép đẳng lập
* Định nghĩa:

- Câu ghép đẳng lập là câu có từ hai kết cấu chủ - vị trở lên, mỗi kết
cấu C - V làm thành một vế câu, các vế không bao hàm lẫn nhau, chúng có
thể ghép với nhau bằng các quan hệ từ đẳng lập hoặc bằng dấu câu (dấu
chấm, dấu chấm phẩy).
* Các mô hình cấu tạo câu ghép đẳng lập:
+ C1 - V1 và C2 - V2…
VD 28: - Con đi chơi và con được ăn kem.
+ C1 - V1 rồi C2 - V2

12


VD 29: - Xe vào thành phố rồi xe đỗ.
+ C1 - V1 còn C2 - V2
VD 30: - Nam ngồi vẽ, còn Cường thì ngủ khì.
+ C1 - V1, C2 - V2, Cn - Vn
VD 31: - Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.
g. Câu ghép chính phụ
* Định nghĩa:
- Câu ghép chính phụ là một kiểu câu ghép được cấu tạo gồm hai vế.
Mỗi vế là một kết cấu C - V nòng cốt trong đó có một vế chính, một vế phụ.
Các vế thường quan hệ với nhau bằng cặp từ quan hệ chính - phụ.
* Một số mô hình câu ghép chính phụ:
+ Vì (bởi vì…) C1 - V1, nên (cho nên…) C2 - V2.
VD 32: - Vì trời mưa nên con đến muộn.
+ Nếu (giả sử, giá như) C1 - V1, thì C2 - V2.
VD 33: - Nếu con ngoan thì mẹ sẽ cho con ăn kem.
+ Tuy C1 - V1, nhưng C2 - V2.
VD 34: - Tuy con bị ốm, nhưng con vẫn đi học đều.
1.2.3.2.2. Những kiểu câu được phân chia theo mục đích phát ngôn

a. Câu tường thuật (còn được gọi là câu kể, câu trần thuật)
* Định Nghĩa:
- Câu tường thuật là loại câu dùng để kể, để thông báo về hoạt động,
trạng thái, tính chất của sự việc, hoặc thể hiện những nhận định của người nói
về một hiện tượng nào đó. Câu tường thuật có ngữ điệu hạ thấp ở cuối câu khi
nói và người ta thường dùng dấu chấm kết thúc câu khi viết.
- Câu tường thuật khẳng định:
Câu khẳng định nhìn chung không chứa đụng các phó từ phủ định như:
không, chưa, chẳng. Khi dùng hai phó từ phủ định câu sẽ là câu khẳng định ở
mức độ cao hơn: không thể không, không phải là không, không ai không,…

13


VD 35: - Hoa thơm quá.
VD 36: - Búp bê xinh quá.
VD 37: - Chúng tôi không phải là không biết điều đó.
VD 38: - Không ai không buồn vì sự việc đó.
- Câu tường thuật phủ định:
Câu phủ định có các từ phủ định như: không, chưa, chẳng, chả, không
hề, chưa hề, không phải là, chưa phải là, chẳng phải là, hoặc dùng các kết cấu
mang ý nghĩa phủ định như: có… đâu, có phải… đâu, đâu phải,…
Căn cứ vào phạm vi bị phủ định, câu tường thuật phủ định có hai dạng:
phủ định toàn bộ và phủ định bộ phận. Câu phủ định toàn bộ là khi ý phủ định
bao trùm lên toàn bộ nội dung của câu hoặc toàn bộ nòng cốt của câu.
VD 39: - Ở đây không có chuyện người bóc lột người.
Câu phủ định bộ phận thường là khi ý phủ định ở các thành phần thứ
yếu của câu, của nhóm từ.
VD 40: - Chúng tớ làm như vậy không phải vì cậu.
VD 41: - Tôi nói không to, anh chị em chú ý.

b. Câu hỏi (câu nghi vấn)
* Câu nghi vấn là câu dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài
nghi và chờ đợi sự trả lời hoặc giải thích của người tiếp nhận.
+ Câu mang ngữ điệu nghi vấn thuần tuý
VD 42: - Bài viết này của anh?
+ Câu nghi vấn dùng các đại từ nghi vấn: ai, gì, nào, đâu, mấy, sao, thế
nào, bao nhiêu, bao giờ, bao lâu,… đặt vào vị trí của thành phần nghi vấn.
VD 43: - Mẹ Hoa đi đâu rồi?
VD 44: - Bạn Minh đâu?
+ Câu nghi vấn dùng các tình thái từ: a, ạ, hả, hử, nhỉ, nhé, chứ,
chớ,…đặt ở cuối câu.

14


VD 45:- Bạn tên gì nhỉ?
VD 46: - Mẹ ơi! Hôm nay mẹ không đi làm ạ?
+ Câu nghi vấn lựa chọn: Câu nghi vấn lựa chọn có từ “hay” dùng để
hỏi về các khả năng mà người đáp phải chọn lấy một.
VD 47: - Con ăn bánh mì hay ăn xôi?
Có thể dùng các phó từ phối hợp với nhau tạo thành một khuôn nghi
vấn. trong đó “hay” bị tỉnh lược “có…(hay) không? Có phải…(hay) không?
Đã…(hay) chưa? Rồi…(hay) chưa?” Khuôn nghi vấn này có thể coi là một
dạng rút gọn của kết cấu khẳng định - phủ định.
VD 48: “Anh có hiểu hay không hiểu” rút gọn thành “Anh có hiểu
hay không”, “Anh có hiểu không”, “Anh hiểu không”.
Các khuôn: “có… không?”, “đã… chưa?”, “rồi… chưa?” dùng với vị
từ, các khuôn: “có phải (là)… không?”, “đã phải (là)… chưa?” dùng cho danh
từ kết cấu chủ - vị. Dạng dồn về cuối câu có tác dụng nhấn mạnh. Ví dụ: “Có
phải đã trông thấy không?” => “Anh đã trông thấy có phải không?”.

c. Câu cảm thán
* Câu cảm thán dùng để bộc lộ những tình cảm, thái độ của người nói
đối với sự vật, hiện tượng được nói đến trong câu. Câu cảm thán là một kiểu
câu đặc thù do nó có những dấu hiệu hình thức riêng: ngữ điệu bộc lộ rõ tình
cảm, thái độ của người nói và những từ chuyên dụng (thán từ).
* Các thán từ đóng vai trò rõ rệt trong việc bộc lộ tình cảm, thái độ. Đó
là các từ: ôi, chao ôi, ô, ô hay, than ôi, trời ơi, trời đất ơi, ủa, ôi, ái,…. Thán từ
có thể đứng độc lập để tạo ra câu đặc biệt cảm thán.
VD 49: - Trời ơi! Kì lạ quá. Chính tôi cũng không nhận ra tôi nữa.
(Tuyển tập văn)
VD 50: - Chết! Sao ta lại đi lẫn vào với anh em thợ về tầm thế này?
(Tuyển tập văn)

15


Câu cảm thán còn có thể sử dụng các từ biểu thị cảm xúc, mức độ đánh
giá: cực kì, ghê, quá, lắm, thật, thế, đường nào, biết bao, xiết bao, thay,…
VD 51: - Đau đớn thay phận đàn bà!
(Nguyễn Du)
d. Câu cầu khiến
* Câu cầu khiến nhằm mục đích nói lên điều mà người nói mong muốn
người nghe thực hiện. về nội dung câu cầu khiến có thể biểu đạt những ý sau:
+ Biểu đạt mệnh lệnh, điều ngăn cấm:
VD 52: - Nghiêm!
VD 53: - Không nói chuyện nữa!
+ Biểu đạt yêu cầu:
+ Biểu đạt lời, chúc tụng, điều mong mỏi:
VD 54: - Chúc anh thành công!
VD 55: - Mong các đồng chí hiểu cho!

* Các phương thức biểu thị câu cầu khiến
+ Dùng ngữ điệu (dằn mạnh từ ngữ mang nội dung chính):
VD 56: - Im!
VD 57: - Nghe tôi nói đây!
+ Dùng các phó từ mệnh lệnh: hãy, đừng, chớ.
VD 58: - Hãy giữ vững chí khí chiến đấu!
+ Dùng các trợ từ ở cuối câu như: đi, thôi, đi thôi, nào, đi nào, nhé…
VD 59: Ta đi nhé!
VD 60: Đi đi!
1.3. CƠ SỞ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
1.3.1. Dạy trẻ MGL nói đúng ngữ pháp là dạy mô hình câu
Dạy trẻ MGL nói đúng ngữ pháp theo các mô hình câu là một đặc trưng
của việc dạy tiếng Việt để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Điều này xuất phát từ

16


đặc điểm loại hình ngôn ngữ của tiếng Việt. Thuộc loại hình ngôn ngữ đơn
lập, từ tiếng việt không biến đổi hình thức ngữ âm trong hoạt động sử dụng.
Vì vậy việc dạy ngữ pháp phải gắn với việc dạy người học biết sử dụng các
phương thức ngữ pháp để tạo câu. Mặt khác, việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
theo mô hình câu còn dựa vào đặc điểm tâm lí “hay bắt trước” của trẻ.
1.3.2. Dạy trẻ MGL nói đúng ngữ pháp là dạy theo các mô hình từ dễ đến
khó, từ đơn giản đến phức tạp
Dạy trẻ MGL nói đúng ngữ pháp theo các mô hình từ dễ đến khó, từ
đơn giản đến phức tạp là nội dung dạy học đảm bảo tính phát triển phù hợp
với năng lực tư duy, năng lực sử dụng ngôn ngữ vào giao tiếp của trẻ. Ở độ
tuổi MGL thông qua hoạt động có tổ chức ở trường mầm non, vôn ngữ pháp
của trẻ dần phát triển. Cùng với sự phát triển của tư duy, trẻ có thể vận dụng
đa dạng các kiểu câu, từ câu đơn hai thành phần, trẻ có thể biết dùng câu đơn

mở rộng thành phần phụ, câu đơn rút gọn, câu đơn đặc biệt hoặc những kiểu
câu ghép.
1.3.3. Để dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, ngoài việc giúp trẻ nắm đƣợc các
mô hình câu, chúng ta cần giúp trẻ biết tạo lập câu theo mục đích nói
Trong các kiểu câu được phân chia theo mục đích nói, ở độ tuổi MGL,
tỉ lệ câu kể và câu hỏi được trẻ dùng nhiều hơn cả. Để có thể giúp trẻ phát
triển ngôn ngữ ở bình diện ngữ pháp, chúng ta cần giúp trẻ biết sử dụng đa
dạng các kiểu câu theo mục đích nói.
1.3.4. Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp là dạy thực hành
Trong chương trình dạy trẻ ở trường mầm non, không có giờ riêng cho
ngữ pháp. Việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp là dạy thực hành. Có nghĩa là trong
các tiết dạy âm nhạc, kể chuyện, tìm hiểu môi trường xung quanh,… chúng ta
đưa ra các mô hình câu để trẻ bắt trước sử dụng. Thông qua hoạt động thực
hành như vậy,trẻ có kĩ năng dùng câu đúng.

17


CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP CỦA TRẺ MẪU GIÁO LỚN
Ở chương này, chúng tôi đánh giá thực trạng của việc phát triển ngôn ngữ
trên bình diện ngữ pháp của trẻ MGL thông qua kết quả khảo sát điều tra từ hai
phía: giáo viên và các bé thuộc hai trường mầm non ở hai địa bàn khác nhau. Đó
là trường mầm non Tân Thành, xã Tân Thành, huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình
và trường mầm non Hoa Sen, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
2.1. THỰC TRẠNG DẠY TRẺ MGL NÓI ĐÚNG NGỮ PHÁP Ở
TRƢỜNG MẦM NON XÉT TỪ PHÍA GIÁO VIÊN
Ở trường Mầm non do đặc thù tâm lí lứa tuổi, nên trong nội dung
chương trình dạy học cho trẻ mẫu giáo lớn không có giờ riêng biệt để dạy trẻ

nói đúng ngữ pháp, để đánh giá trong dạy học giáo viên có quan tâm đến việc
phát triển ngôn ngữ trên bình diện ngữ pháp cho trẻ hay không, chúng tôi tiến
hành điều tra bằng phiếu trả lời câu hỏi.
2.1.1.Kết quả điều tra thực trạng của việc dạy trẻ MGL nói đúng ngữ
pháp bằng phiếu trả lời câu hỏi
Để đạt được các mục đích điều tra thực trạng dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
cảu giáo viên, chúng tôi sử dụng hai loại phiếu trả lời câu hỏi (gọi tắt là phiếu
điều tra). Sự khác biệt của hai loại phiếu điều tra chính là mức độ khái quát
hoặc cụ thể của câu hỏi. Phiếu điều tra số 1 là phiếu điều tra bằng cách trả lời
những câu hỏi khái quát. Phiếu điều tra số 2 là phiếu điều tra bằng cách trả lời
những câu hỏi cụ thể.
2.1.1.1. Phiếu điều tra số 1 và kết quả điều tra

18


×