Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

tên dề tài: quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (952.61 KB, 109 trang )

Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA: 37 (2011 – 2015)

Tên dề tài:
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ TÀI SẢN
THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Luận
văn

Giảng viên hướng dẫn:
Huỳnh Thị Trúc Giang

tốt
nghiệp

Sinh viên thực hiện: Trần Thị Ngọc Mai
Mã số sinh viên: 5117405
Lớp: Luật Tư pháp (HG1165A1)

Cần Thơ, tháng 11/2014

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang


SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

LỜI CẢM ƠN

Dân gian ta ln có câu: “Khơng Thầy đố mày
làm nên”. Chính vì như vậy mà trước tiên, tôi xin
phép được gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể
Giảng viên khoa Luật – trường Đại học Cần Thơ,
những người đã không ngại gian khổ để truyền đạt
kiến thức giảng dạy cho chúng tôi trên giảng đường
Đại học. Để ngày hơm nay, tơi đã dùng chính
những kiến thức quý báu ấy để vận dụng vào bài
luận văn tốt nghiệp của mình. Một lần nữa, tơi xin
trân trọng cảm ơn q thầy cơ!
Ngồi ra, tơi cịn đặc biệt gửi lời cảm ơn chân
thành và sâu sắc nhất đến Giảng viên hướng dẫn
Luận văn của tôi là cô: “Huỳnh Thị Trúc Giang” –
một trong những Giảng viên của khoa Luật, trường
Đại học Cần Thơ. Cơ chính là người đã hỗ trợ tơi
hết mình và người đã hướng dẫn nhiệt tình trong
suốt q trình làm Luận văn của tơi nhằm giúp tơi
hồn thành tốt bài Luận văn của mình một cách tốt
nhất. Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn cô và
gửi những lời chúc tốt đẹp nhất đến với cơ. Chúc cơ
có nhiều sức khỏe và ln thành cơng trên những
lĩnh vực mà mình đã chọn!
Cuối cùng, tơi xin gửi lời cảm ơn đến cha, mẹ

và những người thân u trong gia đình của tơi. Họ
ln là nguồn động lực to lớn của tơi trong suốt q
trình học tập của mình. Đặc biệt là dành lời cảm ơn
đến người em trai của mình: Cảm ơn em vì tất cả
những điều tốt đẹp mà em đã mang lại. Chúc những
người thân u của tơi ln có nhiều sức khỏe và
làm được những điều mà mình mơ ước!
Trân trọng cảm ơn tất cả mọi người!
Cần Thơ, ngày 20 tháng 11 năm 2014.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai



Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................. 1
1. Lý do nghiên cứu đề tài ......................................................................................... 2
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài.................................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu đề tài .................................................................................. 2
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài ..................................................................................... 2
5. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 2
6. Bố cục của đề tài..................................................................................................... 3
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI SẢN ................................................... 4
1.1 Một số khái niệm có liên quan ................................................................................ 4

1.1.1 Khái niệm tài sản ............................................................................................... 4
1.1.1.1 Khái niệm tài sản theo quy định của pháp luật dân sự Philippines ............ 5
1.1.1.2 Khái niệm tài sản theo quy định của pháp luật dân sự một số quốc gia
khác .......................................................................................................................... 8
1.1.2 Khái niệm tài sản hữu hình.............................................................................. 11
1.1.3 Khái niệm tài sản vơ hình................................................................................. 12
1.2 Đặc điểm của tài sản ............................................................................................... 12
1.3 Sự cần thiết quy định của pháp luật về tài sản .................................................... 13
1.4 Lược sử quy định của pháp luật Dân sự Việt Nam về tài sản ............................ 14
1.4.1 Trong luật cổ và tục lệ ở Việt Nam .................................................................. 14
1.4.1.1 Trong luật nhà Lê ....................................................................................... 16
1.4.1.2 Trong Bộ luật Gia Long.............................................................................. 17
1.4.2 Luật cận đại....................................................................................................... 18
1.4.3 Luật hiện đại ..................................................................................................... 19
1.4.3.1 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 ............................................................ 19
1.4.3.2 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 ............................................................ 21
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH
VỀ TÀI SẢN .................................................................................................................. 23
2.1 Quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về tài sản ......................... 23
2.1.1 Vật...................................................................................................................... 23
2.1.1.1 Vật chính và vật phụ ................................................................................... 26
2.1.1.2 Vật chia được và vật không chia được ....................................................... 27
2.1.1.3 Vật tiêu hao và vật không tiêu hao ............................................................. 28
2.1.1.4 Vật cùng loại và vật đặc định ..................................................................... 29
2.1.1.5 Vật đồng bộ và vật không đồng bộ ............................................................. 31

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai



Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

2.1.2 Tiền .................................................................................................................... 35
2.1.3 Giấy tờ có giá..................................................................................................... 28
2.1.4 Quyền tài sản..................................................................................................... 38
2.2 Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về phân loại tài sản.......................... 39
2.2.1 Bất động sản và động sản ................................................................................ 39
2.2.1.1 Bất động sản ............................................................................................... 39
2.2.1.2 Động sản ..................................................................................................... 41
2.2.2 Một số trường hợp đặc biệt............................................................................... 41
2.2.2.1 Bất động sản trở thành động sản do đặc điểm của công dụng tương lai... 42
2.2.2.2 Động sản trở thành bất động sản do công dụng......................................... 42
2.2.3 Một số cách phân loại tài sản khác.................................................................. 45
2.2.3.1 Tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức .................................................................... 45
2.2.3.2 Tài sản vơ hình và tài sản hữu hình............................................................ 48
2.2.3.3 Tài sản có đăng ký quyền sở hữu, tài sản khơng đăng ký quyền sở hữu .... 51
2.2.3.4 Tài sản cấm lưu thông, tài sản hạn chế lưu thông và tài sản tự do
lưu thơng ................................................................................................................. 58
2.2.3.5 Tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai ................................... 59
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ
HIỆN HÀNH VỀ TÀI SẢN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP............................................ 62
3.1 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản ........ 62
3.1.1 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về khái niệm
tài sản.......................................................................................................................... 62
3.1.1.1 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản
là vật được hình thành trong tương lai................................................................... 64
3.1.1.2 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản
là tiền ...................................................................................................................... 68
3.1.1.3 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản

là Giấy tờ có giá ..................................................................................................... 72
3.1.1.4 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản
là quyền tài sản ....................................................................................................... 75
3.1.2 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về phân loại
tài sản.......................................................................................................................... 78
3.2 Nguyên nhân của thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện
hành về tài sản và phân loại tài sản............................................................................. 84
3.2.1 Nguyên nhân của thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự
hiện hành về tài sản ................................................................................................... 84
3.2.1.1 Nguyên nhân của thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

hiện hành về tài sản là vật được hình thành trong tương lai ................................. 84
3.2.1.2 Nguyên nhân của thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự
hiện hành về tài sản là tiền ..................................................................................... 85
3.2.1.3 Nguyên nhân của thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự
hiện hành về tài sản là Giấy tờ có giá .................................................................... 87
3.2.1.4 Nguyên nhân của thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự về
tài sản là quyền tài sản ........................................................................................... 88
3.2.2 Nguyên nhân của thực trạng áp dụng quy định của pháp luật dân sự về
phân loại tài sản......................................................................................................... 89
3.2.2.1 Nguyên nhân khách quan............................................................................ 89
3.2.2.2 Nguyên nhân chủ quan ............................................................................... 89
3.3 Một số giải pháp về tài sản và phân loại tài sản................................................... 90
3.3.1 Một số giải pháp về tài sản ............................................................................... 90

3.3.1.1 Một số giải pháp về tài sản là vật............................................................... 90
3.3.1.2 Một số giải pháp về tài sản là tiền.............................................................. 92
3.3.1.3 Một số giải pháp về tài sản là Giấy tờ có giá............................................. 93
3.3.1.4 Một số giải pháp về tài sản là quyền tài sản .............................................. 94
3.3.2 Giải pháp về phân loại tài sản .......................................................................... 94
KẾT LUẬN.................................................................................................................... 96

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu đề tài
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Bộ luật dân sự giữ một vai trị, vị trí đặc biệt
quan trọng. Nó là cơ sở pháp lý nhằm để điều chỉnh các mối quan hệ dân sự phát sinh
trong đời sống xã hội liên quan chủ yếu đến các vấn đề nhân thân và tài sản. Đặc biệt,
vấn đề về tài sản luôn là vấn đề trung tâm cốt lõi và là đối tượng chú ý đặc biệt của tồn
xã hội.
Có thể nói: tài sản ln là vấn đề “mn thuở”, là đề tài khi mang ra bàn luận thì chỉ
có thể xác định được thời điểm bắt đầu mà không thể xác định được thời điểm kết thúc.
Tài sản đã xuất hiện và được tồn tại cách đây một khoảng thời gian rất dài và có thể nói
nó bắt đầu xuất hiện và tồn tại song song với sự xuất hiện của loài người. Tuy nhiên, ở
nước ta, khái niệm tài sản mới chỉ thực sự được xuất hiện và được ghi nhận khi Bộ luật
dân sự đầu tiên của nước ta đã được ban hành. Đó chính là Bộ luật dân sự Việt Nam năm
1995, nó đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lập pháp của nước ta. Nó đã
góp phần quan trọng vào việc hồn thiện hệ thống pháp luật của nước ta. Nhưng, sẽ
khơng có vấn đề gì xảy ra nếu Bộ luật dân sự năm 1995 của nước ta không tồn tại những

hạn chế, vướng mắc và bất cập xung quanh những quy định có liên quan đến tài sản.
Chính vì như vậy, sau gần 10 năm áp dụng và đi sâu vào thực tiễn áp dụng thì Bộ luật
dân sự năm 1995 càng tỏ ra nhiều mặt hạn chế như: các quy định chưa rõ ràng, cụ thể,
quy định của pháp luật chưa phù hợp với thực tiễn,… Vì thế, ngày 14-6-2005 Quốc hội
khóa XI đã ban hành Bộ luật dân sự năm 2005, cũng chính là Bộ luật dân sự hiện hành
của nước ta, nó có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2006, với mục đích thay thế Bộ luật
dân sự năm 1995 đã có nhiều bất cập ấy thì Bộ luật dân sự hiện hành của nước ta đã khắc
phục không ít những nhược điểm, những hạn chế mà Bộ luật dân sự năm 1995 quy định
về tài sản đã để lại. Tuy nhiên, trong suốt gần 10 năm vận dụng và áp dụng các quy định
của pháp luật liên quan đến tài sản thì Bộ luật dân sự năm 2005 cũng lại tỏ ra khơng ít
những hạn chế tồn tại riêng của mình.
Với một số nhược điểm và bất cập về một số quy định của pháp luật hiện hành về tài
sản như hiện nay thì đã làm cho vấn đề tranh chấp về tài sản phát sinh ngày càng trở nên
phổ biến, với tính chất ngày càng phức tạp dẫn đến việc áp dụng pháp luật để giải quyết
các tranh chấp đó ngày càng trở nên khó khăn. Qua đó, nó khơng chỉ ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ về tài sản
mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc quản lý trật tự về kinh tế của các cơ quan có
thẩm quyền quản lý Nhà nước. Vì vậy, cần có một số biện pháp để khắc phục tình trạng
trên nhằm giảm thiểu tối đa những thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về tài sản
như hiện nay. Tuy nhiên, để làm được điều đó thì trước tiên phải tìm hiểu quy định của
pháp luật dân sự hiện hành về tài sản. Đồng thời, tìm hiểu được thực tiễn áp dụng các quy
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

định hiện hành về tài sản như thế nào, sau đó tìm ra ngun nhân và biện pháp khắc phục.
Chính vì như vậy, người viết đã chọn đề tài: Quy định của pháp luật dân sự hiện hành

về tài sản – thực tiễn áp dụng và một số giải pháp để làm đề tài nghiên cứu cho bài luận
văn của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài chủ yếu là nắm được một số quy định cơ bản của
pháp luật dân sự hiện hành về tài sản và cách phân loại tài sản. Tìm hiểu vấn đề thực tiễn
áp dụng các quy định của pháp luật về tài sản và phân loại tài sản, qua đó nêu lên một số
giải pháp nhằm khắc phục hoặc hạn chế một số thực trạng về việc áp dụng các quy định
của pháp luật về tài sản và phân loại tài sản để giải quyết vấn đề đang diễn ra.
3. Đối tượng nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chủ yếu là xoay quanh một số vấn đề về tài sản và
phân loại tài sản theo quy định hiện hành của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành và
một số thực tiễn áp dụng các quy định trên.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi nghiên cứu về đề tài của mình, người viết sẽ chỉ tập trung nghiên cứu
chủ yếu là một số vấn đề liên quan mật thiết đến tài sản theo quy định của pháp luật dân
sự Việt Nam hiện hành. Chẳng hạn như khái niệm về tài sản theo quy định của pháp luật
dân sự Việt Nam, một số cách phân loại tài sản, phân loại vật, ý nghĩa của việc phân loại
tài sản và phân loại vật, thực tiễn áp dụng và nêu lên một số giải pháp.... Một số vấn đề
khác có liên quan đến tài sản như: khái niệm tài sản theo quy định của pháp luật nước
ngoài, sự cần thiết của việc quy định về tài sản trong pháp luật dân sự, lược sử quy định
của pháp luật dân sự Việt Nam về tài sản,.... thì người viết sẽ phân tích, trình bày một
cách khái quát theo sự hiểu biết dựa trên kiến thức có được và tham khảo từ các nguồn tài
liệu của mình.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của người viết chủ yếu là phương pháp nghiên cứu lý luận
và thực tiễn dựa trên các nguồn tài liệu, sách vở, báo chí, tạp chí,.... Phân tích, so sánh,
đối chiếu xen kẽ giữa các quy định của pháp luật với thực tế áp dụng. Sau đó, người viết
sẽ dựa trên những gì đã trình bày, phân tích mà tổng hợp lại, đưa ra một số suy luận, quan
điểm cá nhân.
Trong quá trình giải quyết các vấn đề đã đặt ra thì người viết cố gắng liên hệ và gắn

kết với các quy định có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu bằng cách đưa một số quy
định của Bộ luật dân sự trước (Bộ luật dân sự năm 1995) để so sánh, đối chiếu với pháp
luật hiện hành và sau đó sẽ kết hợp với việc suy luận và rút ra kết luận.
6. Bố cục của đề tài

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

Bố cục của đề tài nghiên cứu có kết cấu gồm ba phần, tương ứng với ba chương. Đó
là:
Chương 1: Khái quát chung về tài sản. Trong phần này chủ yếu tìm hiểu chung về
khái niệm của tài sản theo pháp luật dân sự của Việt Nam và theo pháp luật dân sự của
một số quốc gia khác. Qua đó, rút ra đặc điểm chung của tài sản, sự cần thiết quy định về
tài sản. Ngồi ra, cịn tìm hiểu về lược sử ra đời của tài sản theo pháp luật dân sự Việt
Nam.
Chương 2: Một số quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản. Trong phần
này đề cập đến vấn đề quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản, phân loại tài
sản và phân loại vật.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản
và một số giải pháp. Trong phần này sẽ đề cập chủ yếu đến vấn đề thực trạng áp dụng
một số quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản ở Việt Nam hiện nay. Qua đó
sẽ nêu lên nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết hoặc hạn chế tình
trạng này.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang


SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI SẢN
1.1 Một số khái niệm có liên quan
1.1.1 Khái niệm tài sản
Tài sản được coi là một điều kiện vật chất nhằm duy trì các hoạt động trong lĩnh vực
kinh tế và đời sống xã hội. Khái niệm về tài sản đã được hình thành từ rất lâu, gần như
song song với lịch sử hình thành lồi người. Tài sản là một cơng cụ của đời sống xã hội
nên khái niệm về tài sản khơng phải là một khái niệm thuần túy có tính học thuật mà là
một khái niệm có tính định hướng cao. Bởi vì: khái niệm này địi hỏi phải đáp ứng được
các nhu cầu cần thiết và thiết thực của xã hội. Tài sản không thể được xem xét khi nó
tách rời các giá trị của đời sống xã hội.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nói về khái niệm tài sản. Nhưng “tài sản” (biens
– property) có thể được hiểu theo hai cách sau:
Thứ nhất, theo ngôn ngữ thơng dụng hằng ngày của con người thì “tài sản chính là
những gì được con người sử dụng, nó là một vật thể cụ thể, có thể nhận biết được bằng
các giác quan của con người và con người có thể thực hiện được các hành động như cầm,
nắm, sờ,...”. Chẳng hạn: bàn ghế, xe máy, tivi, tủ lạnh, bàn ủi1,... Trên thực tế thì chỉ cần
là những thứ mà mang lại lợi ích cho con người thì họ sẽ xem nó là tài sản. Chính vì như
vậy mà “tài sản” theo nghĩa này chỉ được hiểu theo ngôn ngữ thông dụng hằng ngày của
con người.
Thứ hai, theo phương diện pháp lý thì “tài sản chính là của cải được con người sử
dụng”. Trong đó, “của cải” là một khái niệm ln ln có xu hướng biến đổi và tự hoàn
thiện cùng với sự phát triển của quan niệm về giá trị vật chất. Chẳng hạn, ở xã hội La Mã
cổ xưa, khi nhắc đến tài sản là người ta sẽ liên tưởng đến ngay những của cải trong gia
đình như ruộng đất, nhà cửa, gia súc,…. Cịn ở trong xã hội hiện đại như ngày nay, ngoài

những của cải trong gia đình như trên, thì cịn có một số loại tài sản khác như: năng
lượng mặt trời, thủy năng, sóng vơ tuyến, phần mềm máy tính, khơng khí, và một số tài
sản khác2. Tuy nhiên, khác với tài sản theo nghĩa thông dụng, tài sản theo nghĩa pháp lý
là những thứ mà khi đó nó đáp ứng được một số điều kiện nhất định thì nó mới được xem
là tài sản, cũng như là chịu sự chi phối và điều chỉnh theo cơ chế của pháp luật. Để xem
xét cụ thể hơn về khái niệm tài sản thì trước hết nên khảo sát lần lượt quy định của pháp
luật một số quốc gia trên thế giới để đưa ra nhận xét. Chẳng hạn, khái niệm tài sản theo

1

Nguyễn Ngọc Điện, Nghiên cứu về tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr.
5.
2
Nguyễn Ngọc Điện, Nghiên cứu về tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr.
5.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

quy định của Bộ luật dân sự Philippines, khái niệm tài sản theo quy định của Bộ luật dân
sự Việt Nam và khái niệm tài sản theo quy định của một số quốc gia khác.
1.1.1.1 Khái niệm tài sản theo quy định của pháp luật dân sự Philippines
Vấn đề về tài sản ở Philippines được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự Philippines, nó
được ban hành vào năm 1949 và có hiệu lực năm 1950. Trong đó, bao gồm 5 phần lớn
với 2270 điều luật. Trong Bộ luật dân sự này thì chế định tài sản, quyền sở hữu và các
quyền khác đối với tài sản được quy định tại quyển 2 từ Điều 414 đến Điều 711 của Bộ

luật. Tuy vậy, nhưng xét về mặt tổng quan thì pháp luật Philippines cũng khơng định
nghĩa tài sản là gì, cũng như nêu lên khái niệm thế nào là tài sản3. Tuy nhiên, để tìm hiểu
được khái niệm về tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự Philippines thì phải tìm hiểu
về cách phân loại tài sản.
Theo quy định của pháp luật dân sự Philippines thì những nhà lập pháp của họ
khơng nêu lên được một cách chính thức khái niệm về tài sản mà phải thông qua việc
phân loại tài sản để nêu lên khái niệm thế nào là tài sản.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự Philippines thì tài sản được chia làm hai loại. Đó
là động sản và bất động sản.
Căn cứ theo quy định tại Điều 415 của Bộ luật dân sự Philippines thì bất động sản
bao gồm các tài sản sau:
“1) Đất đai, nhà, đường sá, cơng trình xây dựng gắn liền với đất đai;
2) Cây cối, hoa lợi gắn liền với đất đai hoặc các bất động sản khác;
3) Những tài sản gắn liền với bất động sản không thể tách rời, nếu tách rời thì sẽ
làm hư hỏng hoặc xấu đi tình trạng của tài sản;
4) Những bức tượng, những tác phẩm điêu khắc, tranh hoặc những vật phẩm
trang trí khác được đặt ở trong các toà nhà hoặc trên đất của các chủ sở hữu bất động
sản với ý định gắn liền một cách vĩnh viễn với bất động sản đó;
5) Máy móc, dụng cụ chứa, cơng cụ hoặc những vật dụng khác mà chủ sở hữu bất
động sản sử dụng trong toà nhà hoặc đất và để đáp ứng nhu cầu sử dụng đó;
6) Chuồng ni gia súc, gia cầm, nuôi ong, bể cá hoặc những nơi nuôi động vật
khác tương tự trong trường hợp chủ sở hữu đặt chúng hoặc giữ chúng với ý định gắn kết
chúng với đất hoặc là một phần vĩnh viễn của đất thì những động vật được ni trong đó
cũng là bất động sản;
7) Phân bón được sử dụng trên một phần đất đai;
8) Mỏ khoáng, đá, kim loại, những vật chất khác dưới mặt đất, mặt nước và
nguồn nước chảy, nước ngầm;
3

Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,

/>[truy cập ngày 24-6-2014].

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

9) Thực vật và cơng trình xây dựng trên mặt nước mà bản chất tự nhiên và mục
đích tồn tại là phải được đặt trên sông, hồ hoặc đại dương;
10) Những hợp đồng về việc công, quyền địa dịch và các quyền thực tế khác trên
các bất động sản4”.
Sở dĩ, Bộ luật Dân sự Philippines quy định tài sản là bất động sản như trên chủ
yếu là do các nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, do đặc tính về vật lý của tài sản. Đó là những tài sản về bản chất là
khơng thể di dời hoặc khó có thể di dời được5. Theo đó thì cứ những gì là đất đai và các
thứ gắn liền với đất đai như: nhà, cơng trình xây dựng gắn liền với đất đai; cây cối, hoa
lợi; tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất (mỏ khoáng, đá, kim loại, những vật chất khác
dưới mặt đất, mặt nước và nguồn chảy nước ngầm), thực vật gắn liền với đất đều được
xem là bất động sản.
Thứ hai, do đặc tính về cơng dụng của tài sản6. Đó là: ngay cả những cơng cụ,
máy móc hay một số vật dụng khác mà có liên quan đến việc chủ sở hữu của bất động
sản sử dụng trong tịa nhà hoặc đất và nhằm mục đích để đáp ứng nhu cầu sử dụng đó;
hoặc quy định rằng phân bón mà được sử dụng trên một phần đất đai cũng được xem là
bất động sản theo cách xác định của Bộ luật dân sự Philippines.
Thứ ba, do mục đích sử dụng về tài sản của chủ sở hữu7. Đó là các tài sản như:
tranh, tượng, tác phẩm điêu khắc hoặc những vật phẩm trang trí khác được đặt ở trong
các toà nhà hoặc trên đất của các chủ sở hữu bất động sản với ý định gắn liền một cách
vĩnh viễn với bất động sản đó; động vật ni trong chuồng mà chủ sở hữu đặt hoặc giữ

chúng với ý định gắn kết chúng với đất hoặc là một phần vĩnh viễn của đất.
Căn cứ theo Điều 416 Bộ luật dân sự Philippines thì động sản bao gồm:
“1) Những tài sản có thể dịch chuyển được mà khơng bao gồm những tài sản
được quy định là bất động sản ở Điều 415;
2) Những bất động sản mà theo quy định riêng của pháp luật được coi là động
sản;
3) Năng lượng tự nhiên được mang lại theo sự điều khiển của khoa học.

4

Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,
/>[truy cập ngày 24-6-2014].
5
Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,
/>[truy cập ngày 24-6-2014].
6
Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,
/>[truy cập ngày 24-6-2014].
7
Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,
/>[truy cập ngày 24-6-2014].

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

4) Nhìn chung, tất cả những vật mà khi được dịch chuyển được từ nơi này đến nơi

khác không làm hư hỏng bất động sản nơi chúng được đặt.
Ngoài quy định ở Điều 416 thì theo quy định tại Điều 417 Bộ luật dân sự
Philippines những tài sản sau cũng được xem là động sản:
Nghĩa vụ và sử xự có đối tượng là động sản hoặc một khoản tiền theo yêu cầu;
Cổ phần của các công ti công nghiệp, nơng nghiệp và thương mại mặc dù cơng ti
đó có thể có bất động sản8”.
Như vậy, Bộ luật Dân sự của Philippines lại tiếp tục định nghĩa động sản theo
hướng liệt kê tương tự như việc định nghĩa ở bất động sản. Theo đó thì những tài sản
được coi là động sản dựa trên hai tiêu chí chủ yếu. Đó là:
Thứ nhất, theo đặc tính vật lí. Đó là các tài sản về bản chất cơ bản có thể di dời
được. Chẳng hạn như: những tài sản có thể dịch chuyển được nhưng không bao gồm
những tài sản đã được quy định ở Điều 415 của Bộ luật dân sự Philippines, năng lượng tự
nhiên được mang lại theo sự điều khiển của khoa học hoặc tất cả những vật mà khi được
dịch chuyển được từ nơi này đến nơi khác không làm hư hỏng bất động sản nơi chúng
được đặt.
Thứ hai, theo quy định riêng của pháp luật. Đó là những bất động sản mà theo
quy định riêng của pháp luật Philippines được coi là động sản.
Ngoài ra, Bộ luật dân sự của Philippines cũng thừa nhận cả nghĩa vụ và xử sự có đối
tượng là động sản hoặc một khoản tiền theo yêu cầu cũng đều được coi là động sản.
Thực chất, “theo quy định tại Điều 414 Bộ luật dân sự Philippines thì tất cả những
gì đang hoặc có thể là đối tượng của sự chiếm giữ đều được công nhận là một trong hai
loại: Bất động sản hoặc động sản9”. Và ngay sau khi quy định về động sản, theo quy
định tại Điều 418 của Bộ luật dân sự Philippines, động sản lại có thể được phân thành hai
loại là tài sản tiêu hao hoặc không tiêu hao. Tài sản tiêu hao là tài sản mà khi được sử
dụng sẽ làm cho tài sản bị tiêu hao theo bản chất tự nhiên của nó. Tài sản khơng tiêu hao
là tất cả các loại động sản còn lại khác. Ngoài ra, bên cạnh chương quy định về các loại
tài sản nói chung, Bộ luật dân sự Philippines cịn có một phần quy định về các loại tài sản
đặc biệt tại mục IV bao gồm có 3 chương quy định về quy chế pháp lý của 3 loại tài sản
đặc biệt là nước, khoáng sản, nhãn hiệu hàng hoá và tên thương mại. Đối với tài sản đặc
biệt là nước, pháp luật Philippines chủ yếu quy định về tư cách chủ sở hữu, cách thức sử

dụng và quản lí loại tài sản này. Đối với khoáng sản, nhãn hiệu hàng hoá và tên thương
8

Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,
/>[truy cập ngày 24-6-2014].
9
Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,
/>[truy cập ngày 24-6-2014].

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

mại, Bộ luật dân sự Philippines dẫn chiếu đến văn bản quy phạm pháp luật khác sẽ quy
định và điều chỉnh10.
Như vậy, xét một cách tổng quan thì pháp luật Philippines không đưa ra được định
nghĩa về tài sản, cũng như khái niệm thế nào là tài sản mà chỉ đưa ra định nghĩa về tài sản
là động sản và bất động sản. Theo đó thì tất cả những gì đang là đối tượng hoặc có thể là
đối tượng của sự chiếm giữ đều được công nhận hoặc là động sản, hoặc là bất động sản.
1.1.1.2 Khái niệm tài sản theo quy định của pháp luật dân sự một số quốc gia khác
Cũng như Bộ luật dân sự của Philippines, Bộ luật dân sự một số quốc gia khác như:
Bộ luật dân sự Liên Bang Nga, Bộ luật dân sự của Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ), Bộ
luật dân sự Québec (Canada), Bộ luật dân sự Pháp,… cũng không định nghĩa một cách
dứt khoát được như thế nào là tài sản, cũng như nêu lên khái niệm tài sản là gì? mà các
nhà luật gia của họ cũng chỉ nêu khái niệm tài sản qua việc phân loại tài sản. Nghĩa là, họ
cũng thông qua cách phân loại tài sản để khái niệm tài sản. Chẳng hạn, Bộ luật dân sự
Liên Bang Nga quy định tài sản thông qua các loại đối tượng của các quyền dân sự:

“Thuộc về đối tượng của các quyền dân sự phải được nhắc đến là vật, trong số đó
bao gồm tiền và giấy tờ có giá và cũng bao gồm các loại tài sản khác, như các quyền tài
sản; công việc và dịch vụ; thơng tin; kết quả của hoạt động trí tuệ, bao gồm quyền loại
trừ đối với chúng (quyền sở hữu trí tuệ); những giá trị phi vật chất11” - Điều 128 Bộ luật
dân sự Liên Bang Nga. Theo như quy định tại Điều 128 của Bộ luật dân sự Liên Bang
Nga thì những nhà lập pháp của nước họ đã khái niệm tài sản dựa trên đối tượng của các
quyền dân sự. Nhìn chung, qua cách quy định trên thì có thể hiểu tài sản theo quy định
của pháp luật dân sự Liên Bang Nga là bao gồm: tài sản hữu và tài sản vơ hình. Tuy
nhiên, Bộ luật này lại khơng quy định một cách dứt khốc rằng: tài sản hữu hình và tài
sản vơ hình mà chỉ quy định chung chung bằng cách liệt kê hàng loạt những thứ được
xem là đối tượng của quyền dân sự. Theo đó: tài sản hữu hình sẽ bao gồm vật. Trong đó,
tiền và giấy tờ có giá cũng được Bộ luật dân sự xem như là vật. Cịn quyền sở hữu trí tuệ
và những giá trị phi vật chất có thể được xem là tài sản vơ hình. Ngồi ra, cũng theo quy
định trên đã cho thấy pháp luật Liên Bang Nga cũng thừa nhận rằng: quyền dân sự và
nghĩa vụ dân sự cũng được xem là tài sản chẳng hạn như: các loại tài sản khác bao gồm
các quyền tài sản, cơng việc và dịch vụ, thơng tin.
Có thể hiểu tài sản là một khái niệm động và phụ thuộc vào giá trị kinh tế của nó,
bởi vì tài sản là một công cụ phục vụ cho nhu cầu của đời sống con người. Trong mỗi
giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội lồi người, tài sản có một phạm vi khác nhau,
10

Tranh tụng, Pháp luật về tài sản của Philippines so sánh với pháp luật Việt Nam, Nguyễn Minh Oanh,
/>[truy cập ngày 24-6-2014].
11
Ngô Huy Cương, Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của Bộ luật Dân sự 2005 và định hướng
cải cách, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, NXB chính trị Quốc gia Hà Nội, số 03 (212), năm 2012.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai



Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

nhưng đều là công cụ đáp ứng các nhu cầu cuộc sống của con người. Vì vậy, nó được
nhận thức không mấy khác nhau ở các hệ thống pháp luật, bởi con người rất nhạy bén với
sự đáp ứng nhu cầu của mình. Tuy nhiên, người ta chỉ có thể nhận thức đầy đủ về nó qua
phân loại12. Chính vì thế, có thể nói các định nghĩa về tài sản đều sử dụng cách thức liệt
kê các phân loại tài sản để nêu lên định nghĩa mà không đưa ra một phạm vi cụ thể của
tài sản. Có thể nói cách phân loại tài sản theo quy định của pháp luật dân sự của mỗi quốc
gia khác nhau thì cơ bản là không giống nhau. Chẳng hạn, Bộ luật dân sự của Tiểu bang
Louisiana (Hoa Kỳ) và Bộ luật dân sự Québec (Canada) phân loại tài sản như sau:
“Tài sản được phân chia thành tài sản chung, tài sản cơng và tài sản tư; tài sản hữu
hình và tài sản vơ hình; và động sản và bất động sản13” - Điều 448 Bộ luật dân sự của
Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ).
Có thể nói: cách phân loại tài sản này chủ yếu dựa trên 3 căn cứ khác nhau. Đó là:
Thứ nhất, nếu căn cứ vào chủ sở hữu thì tài sản sẽ được chia thành tài sản chung,
tài sản cơng và tài sản tư. Trong đó, các loại tài sản này sẽ được pháp luật dân sự của
Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ) quy định bằng những chế độ pháp lý riêng.
Thứ hai, nếu căn cứ vào việc có hay khơng có đặc tính vật lý thì tài sản sẽ được
chia thành tài sản hữu hình và tài sản vơ hình. Chẳng hạn như những tài sản mà con
người có thể nhìn thấy được, cầm nắm được, đo lường được,… thì những tài sản đó sẽ
được xem là tài sản hữu hình. Ngược lại, những tài sản mà khơng thể dùng các giác quan
của con người để nhận biết được, đo lường được nhưng thỏa mãn một số điều kiện nhất
định do pháp luật của Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ) quy định thì những tài sản đó được
xem là tài sản vơ hình.
Thứ ba, nếu căn cứ vào đặc tính có di dời được hay khơng di dời được của tài sản
thì tài sản sẽ được chia thành động sản và bất động sản. Mỗi phân loại tài sản như vậy sẽ
có các quy chế pháp lý tương ứng theo quy định của Bộ luật dân sự.
Nhìn chung, cách phân loại tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự Québec

(Canada) đơn giản hơn so với cách phân loại tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự tiểu
bang Louisiana (Hoa Kỳ):
“Tài sản, dù hữu hình hay vơ hình, được phân chia thành bất động sản và động
14
sản ” - Điều 899 Bộ luật dân sự Québec (Canada).
Như vậy, khác với Bộ luật dân sự của Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ), Bộ luật dân sự
Québec (Canada) chỉ phân loại tài sản thành động sản và bất động sản. Trong đó, tài sản
12

Ngơ Huy Cương, Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của Bộ luật Dân sự 2005 và định hướng
cải cách, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, NXB chính trị Quốc gia Hà Nội, số 03 (212), năm 2012.
13
Ngô Huy Cương, Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của Bộ luật Dân sự 2005 và định hướng
cải cách, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, NXB chính trị Quốc gia Hà Nội, số 03 (212), năm 2012.
14
Ngô Huy Cương, Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của Bộ luật Dân sự 2005 và định hướng
cải cách, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, NXB chính trị Quốc gia Hà Nội, số 03 (212), năm 2012.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

hữu hình hay tài sản vơ hình cũng được xếp vào tài sản là động sản hoặc là bất động sản.
Nghĩa là, tài sản:
Thứ nhất, có lẽ tài sản là bất động sản có thể chỉ bao gồm tài sản hữu hình hay chỉ
bao gồm tài sản vơ hình; hoặc tài sản là bất động sản bao gồm cả tài sản hữu hình và tài
sản vơ hình tùy theo quy định của Bộ luật dân sự Québec (Canada).

Thứ hai, có lẽ tài sản là động sản có thể chỉ bao gồm tài sản hữu hình hay chỉ bao
gồm tài sản vơ hình; hoặc tài sản là động sản bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vơ
hình tùy theo quy định của Bộ luật dân sự Québec (Canada).
Ngoài ra, “Luật La Mã phân chia tài sản thành vật chất liệu và tài sản phi chất liệu –
đó là các quyền. Và bản thân các quyền này được phân chia thành hai loại là các quyền
thiết lập trên vật chất liệu (rights in rem) và các quyền có giá trị kinh tế đối với người
khác (rights in personam). Bản thân vật chất liệu cũng được phân chia thành hai loại là
bất động sản và động sản. Việc phân chia vật thành bất động sản và động sản dẫn tới
nhiều hệ quả pháp lý khác nhau. Chẳng hạn, các vật quyền được phân biệt thành hai loại:
có loại chỉ thiết lập trên bất động sản và có loại thiết lập trên cả bất động sản và động sản.
Các quyền thiết lập trên bất động sản và các quyền được thiết lập trên động sản có sự
khác nhau về chi tiết, ví dụ: chủ nợ dễ dàng sai áp và bán động sản để lấy nợ hơn đối với
bất động sản; hệ thống đăng ký bất động sản dễ dàng được thiết lập hơn so với đăng ký
động sản, đặc biệt đối với các quyền mà không bao gồm việc chiếm hữu tài sản15”.
Khác với Bộ luật dân sự của Philippines và Bộ luật dân sự của một số quốc gia khác,
Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 đã có một quy định ngắn gọn, cụ thể nhằm định nghĩa
về tài sản. Đó là: “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Trong
đó, khơng phải tất cả mọi thứ tồn tại như trên đều được xem là tài sản mà nó phải được
xem xét trên một số phương diện, một số khía cạnh nhất định để được xem là tài sản theo
ý nghĩa pháp lý riêng theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam.
Chính vì như vậy, có thể khẳng định cách phân loại tài sản theo quy định của các
quốc gia khác nhau là hồn tồn khơng giống nhau. Phân loại tài sản là một nhu cầu
khách quan, là cách nêu lên khái niệm về tài sản và nó thể hiện một trong những kỹ thuật
pháp lý quan trọng trong pháp luật dân sự nói chung và cũng như luật tài sản nói riêng.
Qua cách phân loại tài sản thì những nhà lập pháp của các quốc gia đã định nghĩa một
cách gián tiếp về khái niệm của tài sản theo quy định của quốc gia họ. Nghĩa là, thông
qua việc quy định phân loại tài sản kèm theo một số quy định nhất định thì họ sẽ đưa ra
định nghĩa về tài sản theo quan điểm của quốc gia mình.
Nói tóm lại, qua một số phân tích trên thì ta có thể rút ra kết luận là tài sản dù được
hiểu ở cách thứ nhất hay cách thứ hai. Nghĩa là, dù nó được hiểu theo ý nghĩa thông dụng

15

Ngô Huy Cương, Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của Bộ luật Dân sự 2005 và định hướng
cải cách, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, NXB chính trị Quốc gia Hà Nội, số 03 (212), năm 2012.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

hay được hiểu theo ý nghĩa pháp lý thì tài sản cũng chỉ tồn tại dưới một trong hai hình
thức cơ bản. Đó là, tài sản có thể hoặc là tồn tại dưới dạng hữu hình hoặc là tồn tại dưới
dạng hữu hình hóa - hữu hình hóa thơng qua các quyền vơ hình và quyền vơ hình đó
chính là quyền gắn với tài sản (tài sản vơ hình). Chẳng hạn như quyền đòi nợ, quyền sử
dụng đất16.... Trong đó, “tài sản” theo ý nghĩa pháp lý có thể được hiểu là những của cải
vật chất được pháp luật điều chỉnh. Chúng tồn tại rất đa dạng, có thể được tồn tại dưới
dạng là những vật chất hữu hình và cũng có thể chúng được tồn tại dưới dạng hữu hình
hóa (tài sản vơ hình). Những của cải vật chất ấy có thể được sử dụng nhằm phục vụ nhu
cầu của con người hoặc cũng có thể được con người đưa vào trong giao lưu dân sự để
hướng đến lợi ích và mục tiêu của mình.
1.1.2 Khái niệm tài sản hữu hình
Khi nhắc đến “hữu hình” thì chắc chắn một điều rằng có thể hình dung là nó sẽ được
thể hiện ra bên ngoài dưới một dạng vật chất cụ thể. Chẳng hạn như nhìn thấy được, cảm
nhận được, sờ được, cầm nắm được, cân, đo, đong, đếm được như tiền, tivi, máy tính, tủ
lạnh, … Trong đó, tiền, tivi, máy tính, tủ lạnh chính là những vật chất hữu hình mà khi đó
chúng được tồn tại và con người có thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình như
cầm được, nắm được, sờ được, dùng các đại lượng cụ thể để tính. Ví dụ như: tiền có thể
được đo bằng chính giá trị của đồng tiền đó (VNĐ - nếu là tiền Việt Nam), nó có thể đếm

được; cịn tivi, tủ lạnh hoặc máy tính có thể được cân bằng khối lượng (gam, kilogam,…)
hoặc đo được kích thước (mét, milimét, centimét, decimét,…) của chúng hoặc có thể đếm
được thơng qua số lượng của chúng,...
Có thể nói rằng, hiện nay hầu hết các Bộ luật dân sự của các quốc gia trên thế giới,
trong đó có Bộ luật dân sự Việt Nam thì vẫn chưa có điều luật nào định nghĩa thế nào là
“tài sản hữu hình”, cũng như là khái niệm của nó. Tuy nhiên, qua việc phân tích thế nào
là “hữu hình” như trên thì ta có thể rút ra kết luận rằng: “Tài sản hữu hình” (tangible
property - thuật ngữ tiếng anh) là những tài sản được tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể
mà khi đó con người có thể nhìn thấy được, sờ được, cầm nắm được. Nó bao gồm tất cả
những tài sản mà con người có thể cảm nhận được bằng một hoặc tất cả các giác quan
của mình và có thể dùng một trong các đơn vị đại lượng để tính.
1.1.3 Khái niệm tài sản vơ hình
“Vơ hình” là những gì được tồn tại dưới dạng phi vật chất mà khi đó con người khơng
thể nhìn thấy được, khơng thể sờ được không thể cầm nắm và không thể dùng các đơn vị
đại lượng để tính được. Tuy nhiên, thơng qua một số cách nào đó có thể xác định được sự
tồn tại của nó.

16

Nguyễn Ngọc Điện, Nghiên cứu về tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1999,
tr. 5.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

Như vậy, tài sản vơ hình có thể hiểu là những tài sản phi vật thể mà con người không

thể dùng giác quan để thấy được và không thể dùng các đơn vị đại lượng để tính được.
Thơng thường, nếu xét theo nghĩa rộng thì tài sản vơ hình có thể được hiểu thơng qua các
quyền tài sản và thông thường là sẽ liên tưởng ngay đến tài sản trí tuệ như quyền tác giả
và các quyền liên quan đến quyền tác giả chẳng hạn.
Đối với Bộ luật dân sự Việt Nam thì hiện tại chưa có điều luật nào định nghĩa về tài
sản vơ hình. Tuy nhiên, nếu căn cứ theo quy định tại “tiêu chuẩn thẩm định giá số 13
thẩm định giá tài sản vơ hình (được ban hành kèm theo Thông tư số 06/2014/TT-BTC
ngày 07/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) thì: “Tài sản vơ hình là tài sản khơng có
hình thái vật chất và có khả năng tạo ra các quyền, lợi ích kinh tế”.
1.2 Đặc điểm của tài sản
Qua một số phân tích về tài sản trong pháp luật dân sự của một số quốc gia, trong đó
có Việt Nam thì tài sản có một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tài sản theo ý nghĩa pháp lý có đơi chút khác biệt so với tài sản theo ý
nghĩa thông thường. Bởi lẽ, pháp luật là công cụ thực hiện quyền lực, ý chí của một nhà
nước với các quan hệ xã hội cụ thể. Bởi vậy, nếu như pháp luật quy định những thứ được
xem là tài sản thì nó là tài sản; ngược lại, nếu pháp luật không công nhận một thứ là tài
sản thì nó sẽ khơng được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật và không được xem là
tài sản. Như vậy, sự quy định như thế nào là tài sản dựa vào ý chí của nhà nước và được
quy định trong Bộ luật dân sự. Hay nói cách khác, tài sản theo ý nghĩa pháp lý là những
đối tượng được các quy phạm pháp luật điều chỉnh và được quy định trong bộ luật dân sự
là tài sản. Chẳng hạn, Điều 163 của bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành có quy định “tài
sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Hoặc một trường hợp khác ở
thời kì nhà nước phong kiến thì nơ lệ được coi là một loại tài sản, có thể được mua bán,
trao đổi qua lại giữa các chủ nô, quan lại, nhà vua và nô lệ được xem như là một công cụ
hái ra tiền của chúng. Đến khi nhà nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện cùng với chính sách
tơn trọng và đảm bảo nhân quyền cho con người thì con người khơng bao giờ bị coi là tài
sản cả mà họ đã trở thành chủ của tài sản.
Thứ hai, tài sản là đối tượng trong lưu thơng dân sự. Chính bởi như thế, khái niệm
về tài sản được mở rộng hay thu hẹp hơn là tùy theo từng thời kì do pháp luật quy định để
phù hợp với điều kiện giao lưu dân sự trong xã hội ở thời kỳ đó. Chẳng hạn, Điều 172

của bộ luật dân sự năm 1995 quy định “tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá
được bằng tiền và các quyền tài sản”; trong khi đó, Bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành
tại Điều 163 quy định “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
Như vậy, bộ luật dân sự hiện hành của nước ta quy định các đối tượng trong lưu thông
dân sự đã được mở rộng và khái quát hơn so với quy định của bộ luật dân sự trước kia.
Cụ thể, tại Điều 172 của bộ luật dân sự năm 1995 quy định chỉ có vật có thực mới được
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

xem là tài sản. Điều này có nghĩa là những vật được hình thành trong tương lai như: ngơi
nhà, cơng trình đang được xây dựng và những thứ khác như: hoa lợi hoặc lợi tức thì
khơng được xem là tài sản và không được đưa vào lưu thông trong giao dịch dân sự.
Chính vì vậy, tại Điều 163 của bộ luật dân sự hiện hành đã mở rộng đối tượng, u cầu là
vật thì có thể sẽ được đưa vào lưu thơng trong giao dịch dân sự, hay nói cách khác là đối
tượng của giao dịch dân sự.
Thứ ba, tiền là thước đo giá trị của các loại tài sản khác. Vì vậy, tài sản có giá trị thể
hiện ở việc chúng được trị giá thành tiền, các loại tài sản khác như vật, quyền tài sản,…
đều có thể quy đổi ra thành tiền.
Thứ tư, tài sản tồn tại rất đa dạng. Tuy nhiên, mặc dù như thế nào đi nữa thì tài sản
cũng chỉ có thể là tài sản hữu hình hoặc có thể là tài sản hữu hình hóa (tài sản vơ hình).
Thứ năm, tài sản mang lại lợi ích cho con người. Lợi ích đó có thể là lợi ích về vật
chất hoặc lợi ích về tinh thần cho chủ thể.
1.3 Sự cần thiết quy định của pháp luật về tài sản
Để hiểu được tại sao quy định của pháp luật về tài sản lại cần thiết đối với mọi người
và đối với toàn xã hội thì cần phải tìm hiểu tại sao pháp luật lại quan trọng đối với con
người và xã hội.

Trước tiên, pháp luật thể hiện vai trò to lớn và giá trị xã hội của pháp luật. Pháp luật
được đặt ra nhằm hướng tới sự hoàn thiện của việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Sự
điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện chủ yếu theo hai hướng.
Đó là, một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội và mặt khác
pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội. Như vậy, pháp luật đã thiết
lập “trật tự” đối với các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển
theo chiều hướng nhất định phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, phù hợp với quy luật
vận động khách quan của các quan hệ xã hội.
Thứ hai, pháp luật là công cụ hữu hiệu để bảo vệ các quan hệ xã hội mà nó điều
chỉnh. Chẳng hạn, một khi có các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, xâm phạm đến các
quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến
hành áp dụng các biện pháp cưỡng chế đã được quy định trong bộ phận chế tài của các
quy phạm pháp luật tương ứng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Chẳng
hạn: hành vi xâm phạm tính mạng sức khoẻ của con người thì bị xử lý theo Luật hình sự,
cịn hành vi gây thiệt hại tài sản thì buộc phải bồi thường thiệt hại theo pháp luật dân
sự,....
Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc chung, do
nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, nó thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống
trị trong xã hội, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

xã hội. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực Nhà nước và là cơ sở pháp lý quan
trọng để điều chỉnh cho đời sống xã hội có Nhà nước.
Qua một số phân tích trên cho thấy, việc quy định của pháp luật nói chung và quy định

của pháp luật dân sự về tài sản nói riêng thì chúng đều là cơng cụ pháp lý quan trọng để
điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội. Đặc biệt là đối với quy định của pháp luật dân
sự về tài sản thì nó điều chỉnh mối quan hệ về mặt tài sản giữa con người với tài sản hoặc
giữa con người với con người thông qua tài sản. Việc hiểu biết và nhận thức đúng về tài
sản và cách phân loại tài sản sẽ có vai trị rất quan trọng trong việc quản lý và giải quyết
các tranh chấp pháp lý về tài sản phát sinh trong đời sống xã hội. Ngoài ra, khi xác định
đúng về tài sản thì sẽ có căn cứ pháp lý chính xác để xác định các quyền và nghĩa vụ về
tài sản của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Từ việc xác định đó là loại tài sản
gì thì sẽ xác định được phương thức khởi kiện yêu cầu chủ thể có hành vi vi phạm chấm
dứt các hành vi xâm phạm đến các tài sản của chủ thể khác, còn chủ thể bị xâm phạm đến
tài sản đó có thể kiện chủ thể có hành vi xâm phạm để đòi lại tài sản hoặc bồi thường
thiệt hại về tài sản nếu tài sản bị hư hại hoặc bị mất.
Nói tóm lại, những quy định của pháp luật về tài sản như hiện nay là nhằm giúp cho
người dân hiểu biết thế nào là tài sản, nhận thức đúng đắn về tài sản nhằm tránh cho
người dân nhằm lẫn về tài sản chỉ vì dựa theo ý nghĩa thơng dụng hằng ngày. Ngồi ra,
những quy định của pháp luật về tài sản còn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
các chủ thể là chủ sở hữu tài sản một khi bị các chủ thể khác tác động tiêu cực vào tài sản
và ngược lại, nó cũng là căn cứ để truy cứu trách nhiệm dân sự liên quan đến bồi thường
thiệt hại về tài sản hoặc buộc phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu khi chủ sở hữu kiện đòi
lại tài sản của mình.
1.4 Lược sử quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về tài sản
1.4.1 Trong luật cổ và tục lệ ở Việt Nam
Trong thời kỳ luật cổ và tục lệ ở Việt Nam, họ không biết đến sản nghiệp như là một
tập hợp các tài sản có và tài sản nợ thuộc về một chủ thể hoặc nó tồn tại với mục đích nào
đó. Trong đó “sản nghiệp” trong tiếng La tinh được gọi là “patrimonium”, nó là một
phạm trù kỹ thuật của khoa học luật, được hiểu là một tập hợp bao gồm tất cả các tài sản
có và một tài sản nợ17:
Tài sản có thuộc sản nghiệp có thể được hiểu là tập hợp tất cả những tài sản thuộc về
một chủ sở hữu nào đó hoặc nói cách khác, tài sản có thuộc sản nghiệp chính là tập hợp
tất cả những quyền về tài sản có cùng một chủ thể. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng: sản nghiệp


17

Nguyễn Ngọc Điện, Nghiên cứu về tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1999,
tr. 6-8, tr. 6.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

khơng chỉ bao gồm các tài sản hiện có mà chúng cịn có thể bao gồm cả tài sản sẽ có của
chủ sở hữu18.
Tài sản nợ thuộc sản nghiệp có thể được hiểu là tập hợp tất cả các nghĩa vụ tài sản
của một người nào đó (một chủ thể nào đó) hoặc được xác lập nhằm đạt tới một mục đích
nào đó. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng: sản nghiệp chỉ là một khối tài sản còn lại sau khi
được chủ sở hữu thanh toán các nghĩa vụ tài sản của mình đối với chủ thể khác. Như vậy,
khối tài sản cịn lại đó ta có thể coi là tài sản có rịng (actif net)19 của sản nghiệp. Vì vậy,
giá trị tài sản có rịng của sản nghiệp có thể được thể hiện là một con số dương thì khi đó
ta nói rằng sản nghiệp ban đầu có khả năng thanh tốn nghĩa vụ tài sản. Ngược lại, nếu tài
sản có rịng được thể hiện là một con số âm thì khi đó ta nói rằng sản nghiệp đó khơng có
đủ khả năng thanh tốn nghĩa vụ tài sản. Nhưng, dù có khả năng thanh tốn hay khơng thì
sản nghiệp vẫn ln ln tồn tại20.
Chính vì như vậy, ta có thể nói: giữa tài sản có và tài sản nợ có một mối liên hệ tương
hỗ với nhau. Nghĩa là, bất kỳ một yếu tố nào của tài sản nợ cũng đều được bảo đảm bằng
toàn bộ số tài sản có và ngược lại, bất kỳ yếu tố nào của tài sản có cũng đều có thể được
dùng để thanh tốn tồn bộ nghĩa vụ tài sản của chủ sở hữu (tài sản nợ)21.
Ngoài ra, các tài sản tư trong luật cổ và tục lệ ngày xưa thuộc về gia đình. Trong đó,

các quyền đối với tài sản tư của gia đình sẽ do người chủ gia đình thực hiện và các nghĩa
vụ tài sản cũng chỉ có thể do người chủ của gia đình xác lập, thực hiện một cách trực tiếp
hoặc thông qua các thành viên trong gia đình. Điển hình trong luật cổ và tục lệ Việt Nam
là không thể không nhắc đến luật nhà Lê và trong Bộ luật Gia Long.
1.4.1.1 Trong luật nhà Lê
Luật Hồng Đức là tên gọi thông dụng của bộ Quốc triều hình luật thời Lê sơ hiện
cịn được lưu giữ đầy đủ. Nó có thể coi là bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều quy phạm
pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau: Luật hình sự, Luật dân sự, Luật tố tụng, Luật
hơn nhân - gia đình, Luật hành chính,… Văn bản của Bộ luật này là một trong những thư
tịch cổ nhất hiện còn được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán-Nơm (Hà Nội). Tại đây có
hai bản in ván khắc đều có tên là Quốc triều hình luật. Ngồi ra cịn có một bộ sách chép
tay tuy có tên gọi là Lê triều hình luật, nhưng nội dung của nó lại là bản sao lại của Quốc
triều hình luật (nhà Hậu Lê) và chép vào thời gian sau này. Trong đó, bản Quốc triều hình
luật mang ký hiệu A.341 là bản in ván khắc hoàn chỉnh hơn cả và được coi là văn bản có
18

Nguyễn Ngọc
tr. 6-8, tr. 7.
19
Nguyễn Ngọc
tr. 6-8, tr. 8.
20
Nguyễn Ngọc
tr. 6-8, tr. 8.
21
Nguyễn Ngọc
tr. 6-8, tr. 8.

Điện, Nghiên cứu về tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1999,
Điện, Nghiên cứu về tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1999,

Điện, Nghiên cứu về tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1999,
Điện, Nghiên cứu về tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1999,

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


Quy định của pháp luật dân sự hiện hành về tài sản – Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp

giá trị nhất. Bộ luật trong sách này gồm 6 quyển, in ván khắc trên giấy bản, tổng cộng
gồm 129 tờ đóng chung thành một cuốn. Sách khơng ghi tên tác giả, khơng có dấu hiệu
niên đại soạn thảo hay niên đại in ấn và cũng khơng có lời tựa hoặc các chú dẫn khác. Bìa
nguyên bản cuốn sách đã mất, được thay thế bằng một tờ bìa viết 4 chữ Hán là Quốc triều
hình luật bằng bút lơng. Nội dung của bộ luật này đã được Phan Huy Chú ghi chép lại
trong phần Hình luật chí của Lịch triều hiến chương loại chí, nhưng thiếu so với cuốn
sách này 143 điều trong tổng số 722 điều. Quốc triều hình luật trong cuốn sách A.341 có
13 chương, ghi chép trong 6 quyển (5 quyển có 2 chương/quyển và 1 quyển có 3
chương), gồm 722 điều. Trong Bộ luật này chưa đề cập đến thế nào là tài sản mà chủ yếu
đề cập đến các vấn đề liên quan đến sở hữu ruộng đất trong thời kỳ phong kiến quy định
trong chương Điền sản: 59 điều, trong đó 32 điều ban đầu và 27 điều bổ sung sau (14
điều về điền sản mới tăng thêm, 4 điều về luật hương hỏa, 9 điều về châm chước bổ sung
luật hương hỏa) quy định về ruộng đất, thừa kế, hương hỏa và các tội phạm trong lĩnh
vực này22.
Trong luật nhà Lê, gia đình được hiểu như là tập hợp những người có quan hệ thân
thuộc về trực hệ hoặc quan hệ hôn nhân. Dưới góc độ tài sản thì tài sản thuộc về tất cả
những người trong gia đình. Tuy nhiên, việc quản lý tài sản thì được giao cho cha, mẹ,
ơng, bà hay nói cách khác, việc quản lý tài sản được giao cho những người đứng đầu
trong gia đình. Nếu như những người đứng đầu trong gia đình này chết thì tài sản sẽ được
giao lại cho con, cháu của họ. Ngồi ra, họ cũng có khi quyết định chia tài sản của gia

đình cho con, cháu của họ để đặt các cơ sở kinh tế cho việc thành lập các hộ gia đình mới
và tài sản mà con, cháu của họ nhận được sau khi được chia tài sản sẽ trở thành tài sản
mới và thuộc về con, cháu của họ. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng: Khi nào cịn sống thì cha,
mẹ, ơng, bà vẫn ln có quyền lấy lại tài sản mà họ đã chia. Tuy nhiên, một khi mà con
đã ra riêng và có tài sản do bản thân mình tạo lập thì cha, mẹ, ơng, bà khơng có quyền lấy
lại tài sản đó. Cịn các tài sản do con tạo lập cũng như các tài sản mà được cha, mẹ
chuyển giao mà không lấy lại thì tất cả đều thuộc về gia đình của con chứ khơng phải là
của riêng con. Cịn nếu cha, mẹ, ông, bà không lấy lại tài sản, nếu như con chết thì tài sản
sẽ được chuyển giao cho cháu và cũng vẫn ở trong tình trạng là ơng, bà có thể được lấy
lại tài sản cho đến khi ông, bà đều chết.
Nếu như chồng hoặc vợ chết mà không để lại tài sản cho con cái thì tài sản của gia
đình sẽ được phân thành nhiều khối:
Khối thứ nhất, ruộng đất của cha, mẹ giao cho vợ, chồng;
Khối thứ hai, ruộng đất do vợ, chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và các bất
động sản khác (kể cả nhà ở), nói chung là các điền sản mới được tạo lập;
22

Tài liệu học tập, Quốc triều hình luật chi tiết, [truy cập ngày 19-11-2014].

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

SVTH: Trần Thị Ngọc Mai


×