Tải bản đầy đủ (.pdf) (97 trang)

đặc điểm nghệ thuật thơ huy cận trước năm 1945

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 97 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN
-----

-----

ĐÀO KIM CHI
MSSV: 6116172

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ HUY CẬN
TRƯỚC NĂM 1945

Luận văn tốt nghiệp
Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: Ths LÊ THỊ NHIÊN

Cần Thơ, 2014



MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU ....................................................... Error! Bookmark not defined.
1. Lý do chọn đề tài ..............................................Error! Bookmark not defined.
2. Lịch sử vấn đề ..................................................Error! Bookmark not defined.
3. Mục đích nghiên cứu ........................................Error! Bookmark not defined.
4. Phạm vi nghiên cứu ..........................................Error! Bookmark not defined.
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................Error! Bookmark not defined.


PHẦN NỘI DUNG ................................................... Error! Bookmark not defined.

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƠ CA VÀ TÁC GIẢ
HUY CẬN ................................................................ Error! Bookmark not defined.
1.1. Thể loại thơ ...................................................Error! Bookmark not defined.
1.1.1. Khái niệm thơ..........................................Error! Bookmark not defined.
1.1.2. Đặc điểm thơ ...........................................Error! Bookmark not defined.
1.1.3. Một số đặc điểm thơ ca lãng mạn Việt Nam trước năm 1945.......... Error!
Bookmark not defined.
1.3. Tác giả Huy Cận............................................Error! Bookmark not defined.
1.3.1. Đôi nét về cuộc đời .................................Error! Bookmark not defined.
1.3.2. Sự nghiệp văn chương .............................Error! Bookmark not defined.
1.3.3 Phong cách nghệ thuật..............................Error! Bookmark not defined.

CHƯƠNG 2: THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG
THƠ HUY CẬN TRƯỚC NĂM 1945................. Error! Bookmark not defined.
2.1. Thời gian nghệ thuật mang đậm màu sắc cổ điển ......... Error! Bookmark not
defined.
2.1.1. Nhịp điệu thời gian êm đềm, đều đặn ......Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Thời gian nghệ thuật mang tính hoài niệm ............. Error! Bookmark not
defined.


2.1.2.1. Cách xây dựng mốc thời gian gợi nhiều tâm trạng, cảm xúc..... Error!
Bookmark not defined.
2.1.2.2. Quá khứ là chiều thời gian chủ đạo ...Error! Bookmark not defined.
2.2. Không gian nghệ thuật vừa mang màu sắc cổ điển vừa mang màu sắc hiện đại
.............................................................................Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Không gian vũ trụ bao la, xa thẳm ...........Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Không gian trần thế gần gũi ....................Error! Bookmark not defined.


CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT VỀ HÌNH ẢNH, NGÔN
NGỮ VÀ THỂ THƠ TRONG THƠ HUY CẬN TRƯỚC NĂM 1945......50
3.1. Hình ảnh thơ giàu tính tạo hình và giá trị biểu cảm ...... Error! Bookmark not
defined.
3.1.1. Hình ảnh mang vẻ đẹp của văn học dân gian ......... Error! Bookmark not
defined.
3.1.2. Hình ảnh gần gũi, giản dị ........................Error! Bookmark not defined.
3.2. Những đặc điểm nổi bật về ngôn ngữ thơ ......Error! Bookmark not defined.
3.2.1. Sử dụng hiệu quả từ láy ...........................Error! Bookmark not defined.
3.2.2. Cách sử dụng từ loại động từ và bổ ngữ của động từ ... Error! Bookmark
not defined.
3.2.3. Độc đáo trong việc sử dụng danh từ và định ngữ ... Error! Bookmark not
defined.
3.2.4. Nghệ thuật sử dụng từ Hán Việt ..............Error! Bookmark not defined.
3.3. Những đặc điểm nổi bật về thể thơ ................Error! Bookmark not defined.
3.3.1. Đặc sắc trong việc sử dụng thể thơ bảy chữ ........... Error! Bookmark not
defined.
3.3.2. Thể thơ lục bát được sử dụng thuần thục với những sáng tạo mới .. Error!
Bookmark not defined.
PHẦN KẾT LUẬN ................................................... Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................ Error! Bookmark not defined.



ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ HUY CẬN
TRƯỚC NĂM 1945
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƠ CA VÀ
TÁC GIẢ HUY CẬN
1.1 Thể loại thơ
1.1.1 Khái niệm về thơ
1.1.2 Đặc điểm thể loại thơ
1.1.3 Một số đặc điểm thơ ca lãng mạn Việt Nam trước năm 1945
1.2 Tác giả Huy Cận.
1.2.1 Đôi nét về cuộc đời
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác văn chương
1.2.3 Phong cách nghệ thuật của Huy Cận

CHƯƠNG 2: THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ HUY CẬN TRƯỚC NĂM 1945
2.1. Thời gian nghệ thuật mang đậm màu sắc cổ điển
2.1.1 Nhịp điệu thời gian êm đềm, đều đặn


2.1.2 Thời gian nghệ thuật mang tính hoài niệm
2.1.2.1 Xây dựng mốc thời gian gợi nhiều tâm trạng, cảm xúc
2.1.2.2 Quá khứ là điểm thời gian chủ đạo
2.2. Không gian nghệ thuật vừa mang màu sắc cổ điển vừa mang màu sắc
hiện đại
2.2.1 Không gian trần thế gần gũi
2.2.2. Không gian vũ trụ bao la, xa thẳm


CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT VỀ HÌNH ẢNH,
NGÔN NGỮ VÀ THỂ THƠ TRONG THƠ HUY CẬN
TRƯỚC NĂM 1945
3.1 Hình ảnh thơ giàu tính tạo hình và giá trị biểu cảm
3.1.1 Hình ảnh mang vẻ đẹp của văn học dân gian
3.1.2 Hình ảnh gần gũi, giản dị
3.2 Những đặc điểm nổi bật về ngôn ngữ thơ
3.2.1 Sử dụng hiệu quả từ láy
3.2.2 Cách sử dụng từ loại động từ và bổ ngữ của động từ
3.2.3 Độc đáo trong việc sử dụng danh từ và định ngữ
3.2.4 Nghệ thuật sử dụng từ Hán Việt
3.3 Những đặc điểm nổi bật về thể thơ
3.3.1 Đặc sắc trong việc sử dụng thể thơ bảy chữ
3.3.2 Thể thơ lục bát được sử dụng thuần thục với những sáng tạo mới

PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Có lẽ đối với các độc giả Việt Nam và một số bạn bè quốc tế cái tên Huy
Cận đã không còn xa lạ nữa. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong
trào Thơ mới và là một trong số ít những ngôi sao thơ của bầu trời văn học Việt
Nam hiện đại. Xuất hiện giữa phong trào Thơ mới như một ngôi sao mọc muộn
nhưng ông đã làm tỏa sáng một vùng trời. Tuy phải trải qua những năm tháng biến
động dữ dội của lịch sử dân tộc nhưng suốt cuộc đời lao động nghệ thuât ông luôn

cố gắng phấn đấu, không một phút giây ngừng nghỉ để đem tiếng thơ đến cho đời.
Thơ Huy Cận là suối nguồn của yêu thương, như một nguồn huyết mạch đang trôi
chảy trong lòng người thi sĩ. Dù sống một cuộc đời rất bình thường nhưng người thi
sĩ ấy luôn luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp lặng lẽ của thế giới bên
trong tâm hồn. Ông chính là sứ giả của không gian, vũ trụ, hồn thơ của ông là hồn
thơ say giữa thiên nhiên sông núi, giữa vũ trụ bao la và ở đó “nhà thơ đã toát ra
một mảng hương sắc sâu xa, cao đẹp nhất của âm hồn mình” [20, tr. 227]. “Huy
Cận đã lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo
não. Người đời sẽ ngạc nhiên vì một ít các bụi tầm thường thi nhân lại có thể đúc
thành bao nhiêu châu ngọc. Ai có ngờ những bước chân đã tan trên đường kia còn
ghi lại trong văn thơ những dấu tích hẳn không bao giờ quên được” [20, tr.153].
Sáng tác của Huy Cận không chỉ cuốn hút người đọc ở những giá trị nội
dung tư tưởng mà còn có những điểm độc đáo, tiêu biểu về phương diện nghệ thuật.
Những trang thơ mà Huy Cận để lại cho chúng ta ngày hôm nay là kết quả của quá
trình sàng lọc và sự kết hợp hài hòa, tinh tế giữa các thủ pháp nghệ thuật. Chính
những cống hiến to lớn ấy, Huy Cận đã từng bước khẳng định được vị trí và tên tuổi
của mình trên thi đàn. Trước những thành tựu rực rỡ và giá trị mà nhà thơ Huy Cận
đã để lại cho nền thơ ca Việt Nam ngày hôm nay cùng tấm lòng ngưỡng mộ và một
niềm đam mê những vần thơ sâu lắng của nhà thơ Huy Cận, người nghiên cứu chọn
đề tài Đặc điểm nghệ thuật thơ Huy Cận trước năm 1945 để làm luận văn tốt nghiệp
với hy vọng những gì trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu sẽ giúp chúng tôi

1


hiểu thêm những nét độc đáo, tiêu biểu về nghệ thuật trên từng trang thơ của Huy
Cận.

2. Lịch sử vấn đề
Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới trước

cách mạng tháng Tám. Bằng một tình yêu quê hương và một trái tim nhạy cảm với
cuộc sống, Huy Cận sớm được biết đến ngay từ lúc còn ngồi ở ghế nhà tường.
Không chỉ là một nhà thơ lớn, Huy Cận còn được biết đến một nhà chính trị, một
nhà văn hóa, đã có nhiều đóng góp to lớn sự nghiệp cho văn học, văn hóa và cách
mạng của dân tộc. Với những đóng góp ấy, thơ Huy Cận là một đề tài thu hút sự
quan tâm của nhiều thế hệ nghiên cứu phê bình văn học trong nước cũng như những
cây bút yêu thích thơ ca Huy Cận ngoài nước. Đã có hơn 100 công trình nghiên cứu
lớn nhỏ khác nhau về cuộc đời và thơ văn của Huy Cận. Đây là nguồn tư liệu quý
báo, cần thiết để người nghiên cứu phát triển thêm những đặc điểm nghệ thuật nổi
bật trong thơ Huy Cận những năm trước cách mạng tháng Tám.
Thứ nhất, thời gian và không gian nghệ thuật trong thơ Huy Cận là một vấn
đề quan trọng trong việc đi vào khám phá thế giới nội tâm và cách tổ chức lời thơ,
hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu... Chính vì thế, đã có không ít những công trình
nghiên cứu đánh giá vô cùng đặc sắc về không gian và thời gian trong thơ Huy Cận.
Người nghiên cứu xin giới thiệu một số công trình tiêu biểu sau:
Nhà nghiên cứu phê bình văn học Trần Khánh Thành có công trình nghiên
cứu Huy Cận sự cảm nhận về thời thời gian. Đây là một công trình nghiên cứu rất
ấn tượng về thơ Huy Cận của tác giả Trần Khánh Thành. Với dung lượng không
quá lớn (12 trang) nhưng tác giả đã có những nhận xét, đánh giá khá đầy đủ và sâu
sắc về sự cảm nhận thời gian trong cảm quan của nhà thơ Huy Cận. Tác giả cho
rằng “Thời gian nghệ thuật trong thơ Huy Cận trước cách mạng còn mang đậm dấu
ấn của thời gian vũ trụ trong thơ ca trung đại…Với Huy Cận, thời gian không tồn
tại ngoài dòng đời, sự vận động của dòng đời là sự vận động của thời gian. Mỗi
dòng đời trở thành một đơn vị của thời gian, góp vào dòng thời gian hóa sinh vô
tận. Thời gian nhân thế hay mạch đời bền bỉ đã tạo nên bản sắc riêng của thơ Huy

2


Cận, tiếng thơ của tình đời, tình người” [20, tr. 334]. Đây là cơ sở quan trọng cho

người nghiên cứu khi đi vào phân tích về thời gian nghệ thuật trong thơ Huy Cận.
Bên cạnh đó, Hà Minh Đức cũng góp thêm một tiếng nói mới vào việc đánh
giá về thời gian và không gian trong thơ Huy Cận với công trình nghiên cứu Một
thời đại trong thi ca (về phong trào thơ mới 1932 – 1945). Bằng khả năng quan sát
và năng lực nghiên cứu dày dặn của mình, Hà Minh Đức đã khám phá nỗi buồn bên
trong sâu thẳm của hồn thơ Huy Cận qua tập thơ Lửa thiêng. Từ cơ sở đó tác giả đã
khái quát lên rằng “Điều kì lạ là ở vào tuổi thanh niên nhưng cảm hứng sáng tạo
của Huy Cận đã tạo nên một không gian thoáng rộng dài để nói tới cái cô liêu, chơi
vơi của cuộc đời, và để cho tứ thơ đi về quá khứ và hiện tại, giữa cuộc đời thực và
chốn vời vợi cao xa” [5, tr. 73].
Không chỉ dừng lại ở đó, công trình nghiên cứu có tên Con mắt thơ của nhà
nghiên cứu phê bình văn học Đỗ Lai Thúy đã làm phong phú và sâu sắc thêm cho
kho tàng nghiên cứu thơ ca Huy Cận. Tác giả đã nhận xét rằng “Không gian trần
thế của Huy Cận nghiêng về không gian tự nhiên, mà ở đây tượng trưng là không
gian nông thôn và cảnh sông, hồ, đường làng, vườn tược. Ông viết ít về thành phố,
mà có viết thì thành phố thường gây cho nhà thơ cảm giác bối rối, lo âu, buồn nản
của cái chết (Chết, Nhạc sầu). Ngược lại phong cảnh ở đồng nội đã mang lại cho
nhà thơ một sự thư thái, trấn an được tâm hồn cô đơn của con người” [23, tr. 84].
Bên cạnh những nhận xét trên, công trình nghiên cứu này còn có nhiều đánh giá,
phân tích khác rất sâu sắc và có giá trị cho việc nghiên cứu thơ ca Huy Cận.
Thứ hai, về đặc điểm thể thơ trong thơ Huy Cận có thể kể đến một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Nhà phê bình nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngữ với công trình nghiên cứu
có tên Thơ Huy Cận đã đi vào nghiên cứu và so sánh về nội dung và hình thức nghệ
thuật thơ giữa hồn thơ Huy Cận và Xuân Diệu. Tác giả nhận xét “Về hình thức, Huy
Cận kế tiếp Xuân Diệu nhiều điểm. Nói về thể cách ông cũng không ưa lối phá thể
lộn xộn mà đi vào những điệu đều: ngũ ngôn, lục bát, bảy chữ, tám chữ. Điệu bảy
chữ phân đoạn bốn câu 3 hoặc 2 vần và điệu lục bát có thể coi là sở trường của

3



Huy Cận” [20, tr. 305]. Công trình nghiên cứu với những đánh giá sâu sắc đã chúng
ta thấy được nét đặc trưng độc đáo về nghệ thuật thể thơ trong sáng tác của nhà thơ
Huy Cận bên cạnh Xuân Diệu.
Ngoài ra còn phải kể đến công trình nghiên cứu có tên Huy Cận và Lửa
thiêng của nhà phê bình nghiên cứu văn học Trinh Đường. Trong công trình nghiên
cứu này, tác giả đã khẳng định sức sống của tập thơ Lửa thiêng mãi cho đến ngày
hôm nay là do nó nói đến số phận con người và kiếp người trong muôn thuở. Bên
cạnh nội dung, tác giả còn khai thác và khẳng định những độc đáo về nghệ thuật
trong thơ Huy Cận: “Gần như không một hình thức thơ quen thuộc nào, Huy Cận
không sử dụng thành thạo, lại không ngừng cách tân một cách vững chắc…Như một
ông tướng biết thập bát võ nghệ, Huy Cận vận dụng một cách rất chắc tay, rõ nhất
ở thể thơ trường thiên và đặc biệt là lục bát” [20, tr. 79].
Với ngòi bút phân tích sâu sắc và năng lực quan sát tinh tế nhà phê bình
nghiên cứu văn học Chu Văn Sơn với công trình nghiên cứu Huy Cận, quá trình
sáng tác và phong cách nghệ thuật đã góp thêm một tiếng nói có giá trị vào việc
nghiên cứu thơ ca Huy Cận. Qua quá trình nghiên cứu và khám phá, tác giả đã đi
đến khẳng định sự độc đáo trong bút pháp nghệ thuật thơ ca Huy Cận.“Là một thi sĩ
mang đậm hồn thơ cổ điển truyền thống, Huy Cận đã tìm đến thất ngôn và lục bát
như những thể chủ đạo để biểu hiện mình là điều không khó hiểu. Những bài thơ
hay nhất của Huy cận chủ yếu thuộc về hai thể này” [20, tr. 473].
Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu Những hàng châu ngọc trong thi ca hiện
đại của nhà nghiên cứu phê bình văn học Huy Trâm đã đi vào phân tích một số bài
thơ lục bát tiêu biểu của Huy Cận trong tập thơ Lửa thiêng: Buồn đêm mưa, Đẹp
xưa, Chiều xưa. Trên cơ sở đã phân tích tác giả khẳng định “Với ông, thơ lục bát đã
thoát khỏi những cái tệ trạng của những câu về nôm na, dứt bỏ cái giọng lục bát
đến độ buồn chán. Trái với những bài lục bát của những người làm thơ bây giờ, cấu
tạo cho một bài thơ vẽ hoa mĩ, kênh kiệu, nặng về chữ hơn về nghĩa khiến bài thơ
rời rạc, tối tăm, thơ của Huy Cận đơn giản mà điêu luyện, ý sâu mà vẫn sáng sủa”

[20, tr. 480].

4


Sẽ thật thiếu sót nếu không đề nhắc đến công trình nghiên cứu Thi pháp thơ
Huy Cận của nhà nghiên cứu phê bình văn học Trần Khánh Thành. Có thể nói đây
là công trình nghiên cứu toàn diện và đầy đủ nhất về đặc điểm nghệ thuật trong thơ
Huy Cận với những khía cạnh như thời gian, không gian, thể loại, ngôn ngữ, giọng
điệu và kết cấu. Trong công trình nghiên cứ này, tác giả có những nhận xét sau
“Thơ Huy Cận kết hợp hài hòa giữa hai nền văn hóa Đông - Tây, vừa có sức sống
mạnh mẽ của truyền thống vừa mang hơi thở và dấu ấn của mọi thời đại. Sự kết hợp
hài hòa ấy thể hiện khá rõ nét qua phương diện thể loại. Những thể thơ truyền
thống của dân tộc, như thể thơ năm chữ, bảy chữ và đặc biệt là thể lục bát được
Huy Cận sử dụng thuần thục và có những cách tân quan trọng” [21, tr. 157]. “Huy
Cận làm nhiều thể thơ nhưng sở trường của ông là thể bảy chữ và lục bát” [21, tr.
158]. Ngoài những nhận xét trên, tác giả còn đưa ra những số liệu khảo sát về thể
thơ và những phân tích về thanh điệu, cách ngắt nhịp câu thơ, cách đối ở cả hai thể
thơ bảy chữ và lục bát.
Thứ ba, nghiên cứu về giọng điệu trong thơ Huy Cận phải kể đến công trình
nghiên cứu Giọng điệu trong thơ trữ tình của tác giả Nguyễn Đăng Điệp. Trong
công trình nghiên khá quy mô này, cùng với Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử và Nguyễn
Bính nhà thơ Huy Cận được xem là một trong những “tứ bất tử về giọng điệu”
trong Thơ mới. So sánh với giọng điệu của nhà thơ Xuân Diệu, tác giả Nguyễn
Đăng Điệp đã nhận xét “giọng thơ ông trầm tĩnh, điềm đạm hơn nhiều” [4, tr. 292].
“Chất lửa nồng, chất gừng cay” và lòng yêu đời “âm âm”, “mãnh liệt” của Huy
Cận được vùi xuống cái chất vọng “lắng sâu, mang màu sắc suy tưởng” [4, tr. 273].
Nhưng tụ chung lại “cái âm hưởng chính trong thế giới Huy Cận trước Cách mạng
vẫn là giọng thơ ảo não” [4, tr. 292].
Trên đây là những công trình, bài viết hết sức tiêu biểu về thơ ca Huy Cận.

Các công trình nghiên cứu thơ Huy Cận từ nhiều góc độ khác nhau nhưng nhìn
chung lại, những nhà nghiên cứu đều rất trân trọng những đóng góp của Huy Cận
trong nền thơ ca dân tộc. Dù quy mô và những khía cạnh nghiên cứu có khác nhau
nhưng những công trình nghiên cứu, đánh giá phê bình về thơ ca Huy Cận để lại
cho chúng ta hôm nay vô cùng quý báo. Đặc biệt những tài liệu này là cơ sở cũng

5


như nguồn kiến thức quan trọng hỗ trợ cho người nghiên cứu xuyên suốt trong quá
trình thực hiện đề tài này.

3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Đặc điểm nghệ thuật thơ Huy Cận trước năm 1945”,
người nghiên cứu hướng đến những muc đích sau:
Thứ nhất, làm nổi bật lên những đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu trong thơ Huy
Cận trước cách mạng tháng Tám. Đồng thời cũng làm nổi bật lên sự khác biệt trong
phong cách nghệ thuật của Huy Cận với các nhà Thơ mới cùng thời.
Thứ hai, đề tài nghiên cứu này còn là cơ sở để người nghiên cứu hiểu thêm
về phong cách sáng tác của Huy Cận, qua đó có thể thấy được sự đa dạng, phong
phú về phong cách nghệ thuật trong phong trào Thơ mới.

4. Phạm vi nghiên cứu
Huy Cận là một nhà thơ lớn đã có nhiều đóng góp cho nền thơ ca dân tộc.
Suốt cuộc đời lao động nghệ thuật ông luôn mong muốn mang những vần thơ hay
đến cho đời. Kết quả của sự phấn đấu không ngừng trong cuộc đời cầm bút ấy là sự
yêu thích, mến mộ, say mê của bạn đọc với hơn 20 tập thơ tiêu biểu mà Huy Cận đã
để lại. Những tập thơ của ông đều là những trang thơ hay, độc đáo cả về nội dung
lẫn nghệ thuật. Mỗi trang thơ của ông đều là những suy nghĩ sâu sắc về cuộc sống
và con người với nhiều khía cạnh khác nhau.

Tuy nhiên do giới hạn của luận văn cho phép người nghiên cứu chỉ tập trung
nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đặc điểm nghệ thuật thơ Huy Cận giai đoạn
trước 1945.
Về phạm vi sử dụng tài liệu bao gồm những tập thơ tiêu biểu của Huy Cận
trước cách mạng tháng Tám năm 1945. Đó là hai tập thơ Lửa thiêng (1940) và Vũ
trụ ca (1942).

5. Phương pháp nghiên cứu

6


Nghiên cứu đề tài Đặc điểm nghệ thuật trong thơ Huy Cận trước năm 1945
người nghiên cứu sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp hệ thống được sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm tập
hợp những sáng tác của nhà thơ Huy Cận trước giai đoạn trước năm 1945 với
những đặc điểm tiêu biểu về nghệ thuât, đặt chúng vào hệ thống thơ ca Việt Nam
hiện đại. Qua đó giúp ta xác định được vai trò, vị trí của các biên pháp nghệ thuật
trong thơ Huy Cận, từ đó có một sự đánh giá đầy đủ hơn về giá trị và ý nghĩa của
nó.
Bên cạnh đó, phương pháp so sánh cũng có một vai trò quan trọng trong quá
trình nghiên cứu. Để thấy được nét độc đáo trong nghệ thuật thơ Huy Cận, người
nghiên cứu đã so sánh đặc điểm về nghệ thuât trong thơ Huy Cận với một số nhà
thơ trong văn học trung đại và một số nhà Thơ mới cùng thời. Đồng thời, người
nghiên cứu còn so sánh hai giai đoạn sáng tác trước và sau năm 1945 để thấy được
những đổi mới trong nghệ thuật thơ Huy Cận.
Không chỉ thế, phương pháp xã hội học sáng tác cũng được kết hợp sử dụng
để hỗ trợ cho các phương pháp trên. Ở phương pháp này người nghiên cứu sẽ chỉ ra
sự tác động của xã hội như bối cảnh lịch sử, gia đình, xã hội…đến viêc lựa chọn sử
dụng các thủ pháp nghệ thuật trong quá trình sáng tác thơ văn của Huy Cận.

Ngoài những phương pháp trên, trong quá trình nghiên cứu người nghiên cứu
còn vận dụng một số thao tác như thao tác thao tác liệt kê, thao tác phân tích, chứng
minh…để vấn đề nghiên cứu sâu sắc, khoa học và khách quan hơn.

7


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƠ CA VÀ
TÁC GIẢ HUY CẬN
1.1. Thể loại thơ
1.1.1. Khái niệm thơ
Thơ ca là hình thức sáng tác đầu tiên của văn học, rất gần gũi và quen thuộc
với con người ở mọi thời đại cả phương Đông cũng như phương Tây, gắn bó với
đời sống văn hóa xã hội của con người. Chính vì thế, những công trình nghiên cứu
về thơ đã có cả một bề dày lịch sử phức tạp. Ở các nền văn chương khác nhau từ
phương Đông đến phương Tây định nghĩa về thơ vô cùng đa dạng nhưng việc tìm
một định nghĩa thống nhất về thơ dường như vẫn còn là một vấn đề.
Trong công trình Lí luận văn học, Hà Minh Đức đã dẫn lại những định nghĩa
về thơ của các nhà thơ phương Tây như sau:
Đuy – bê – lây - nhà thơ lãng mạn Pháp (thế kỉ XIII) định nghĩa “ Thơ là
người thư kí trung thành của trái tim” [6, tr.168]. Ở cách quan niệm này nhà thơ đã
hòa nhập tiếng nói của thơ với tiếng nói của trái tim. Thơ đã ghi lại một cách thật
chân thành những rung động cũng như những cảm xúc của con người trước tạo vật.
Nhà thơ lãng mạn nước Anh William Wordsworth đã nói rằng “Thơ là sự
tuôn tràn bộc phát của những tình cảm mãnh liệt. Nó bắt nguồn từ trong cảm xúc
và được nhớ lại bằng sự bình tâm” [6, tr. 168].
Ở Việt Nam, thơ là một thể lọai văn học có lịch sử phát triển rất phong phú
trải qua nhiều giai đoạn phát triển, chiếm một tình cảm vô cùng lớn trong lòng
người thưởng thức. Bên cạnh phát triển thể loại thơ thì việc nghiên cứu về thơ cũng

thu hút không ít sự quan tâm của những nhà nghiên cứu. Việc khám phá, tìm hiểu
để định nghĩa về thơ quả thật là một công việc không hề đơn giản bởi lẽ mỗi tác giả
đều có một cách cảm nhận và một góc nhìn không giống nhau. Nhưng nhìn chung,

8


những công trình nghiên cứu, định nghĩa về thơ ở Việt Nam cũng đã đóng góp một
phần không nhỏ vào kho tàng trí thức dân tộc. Từ những góc nhìn khác nhau, các
tác giả, những nhà nghiên cứu đi vào khám phá thơ trên từng phương diện cụ thể từ
truyền thống cho đến hiện đại. Trong công trình Lí luận và phê bình văn học đầu
thế kỉ XX, nhà nghiên cứu Trần Mạnh Tiến đã dẫn lại một số khái niệm tiêu biểu về
thơ của một số nhà nghiên cứu như sau: nhà nghiên cứu Phan Khôi nhìn từ đặc
điểm thể loại cho rằng “Thi là một lối văn có vần theo thanh âm từ điệu của một thứ
tiếng mà làm ra” [24, tr. 77]. Không chỉ có đặc điểm thể loại, dựa trên phương thức
biểu đạt, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Ngọc khái niệm “Thơ là một thể văn có
thanh, có vần ngâm vịnh được” [24, tr. 77]. Cũng định nghĩa về thơ nhà nghiên cứu
Phạm Quỳnh cho rằng “Thơ là tiếng khóc, giọng cười, là bởi trời sinh ra để nói cái
tiếng ấy, trời sinh ra cái tiếng ấy để ta nói, ta nói bằng tiếng ấy mới nói được lòng
ta, nói bằng tiếng khác là nói những chuyện không đâu cả” [24, tr. 80].
Bên cạnh đó còn phải kể đến đóng góp của nhà thơ Tố Hữu – người viết lịch
sử Việt Nam hiện đại bằng thơ. Cắt nghĩa về thơ ông đã nhấn mạnh “Thơ là tiếng
nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời, trước trời đất” [6, tr.
168]. Có lẽ với một nhà thơ trữ tình chính trị như Tố Hữu thì thơ ca là một sự vận
động không ngừng của sự sáng tạo trước sự vận động của cuộc sống. Tiếng nói rung
động đầy cảm xúc mãnh liệt của con người trước muôn màu của cuộc sống chính là
tiếng thơ hồn nhiên nhất, tự nhiên nhất mà con người tạo ra.
Còn trong quyển Từ điển thuât ngữ văn học các tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cho rằng “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh
cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm

súc, giàu hình ảnh và nhất là có vần có điệu” [7, tr. 254]. Ở cách định nghĩa này,
các nhà nghiên cứu đã định nghĩa về thơ cả hai phương diện nội dung phản ánh và
hình thức nghệ thuật của thơ.
Nhà thơ Sóng Hồng cũng đã từng khái niệm: “Thơ là một hình thái nghệ
thuật cao quý, tinh vi. Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nóng
chảy trong lòng. Nhưng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và

9


có nghệ thuật. Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ
qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường” [7, tr. 254]. Ở cách
định nghĩa này nhà thơ Sóng Hồng đã đề cập đến cái hồn của thơ đó chính là sự
vang lên của những cung bậc tình cảm, kết hợp với sức tưởng tượng phong phú của
thi sĩ để tạo nên những hình tượng giàu biểu cảm.
Có thể nói đi vào khám phá thế giới thơ, các nhà nghiên cứu không chỉ tìm
thấy những giá trị thẩm mỹ trong thơ mà ở đây họ còn đã thấy được sợi dây liên kết
bền chặt giữa người làm nên thơ và thơ. Thơ là sự kết tinh tinh túy từ nhiều cái đẹp
của nghệ thuật nhưng tình cảm, cảm xúc của trái tim người nghệ sĩ mới là cái làm
nên hồn thơ.
Như vậy, thơ là tiếng nói của con người trước những rung động về hiện thực
cuộc sống. Đó là tiếng nói bên trong của con người, nó biểu hiện những tình cảm
sâu sắc, mơ ước cao đẹp của con người, nó có khả năng biến đổi thế giới tâm hồn,
gợi lên những tình cảm lành mạnh, hồn nhiên nhất của con người mà họ chưa tìm
thấy.

1.1.2. Đặc điểm thơ
Trong văn học nghệ thuật thơ là một trong những loại hình nghệ thuật phổ
biến và phát triển sớm nhất trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Với bề
dày lịch sử lâu đời ấy thơ ca đã đạt được những thành tựu rực rỡ, khẳng định được

vị trí, vai trò trong nền văn học nghệ thuật của dân tộc. Bên cạnh niềm tự hào về
một lịch sử phát triển so với những thể loại khác, thơ ca còn mang những đặc điểm
rất riêng mà không một thể loại văn học nào có được.
Về nội dung, thơ ca tập trung vào thể hiện và phản ánh thế giới chủ quan của
con người. Không giống như tryện ngắn, thơ ca phản ánh hiện thực cuộc sống bằng
cách đi sâu vào đời sống tình cảm của con người. Tình cảm, cảm xúc là yếu tố cốt
lỗi, trọng tâm để tạo nên thơ. Thơ không phải là một chuỗi từ để miêu tả những sự
vật bên ngoài của thế giới mà chỉ mượn thế giới bên ngoài để biểu hiện những xúc
động nảy sinh bên trong thế giới nội tâm, tình cảm từ đó giúp ta hiểu được chiều sâu
tâm hồn của con người. “Tình cảm là sinh mệnh của thơ” [6, tr. 257], thơ càng hay

10


càng lay động lòng người thì tình cảm trong thơ càng mãnh liệt. Nếu không có tình
cảm, cảm xúc thơ ca chỉ là một sự sắp xếp có vần có điệu theo quy cách nhất định.
Thơ ca đã thâm nhập vào thế giới nội tâm của con người rồi cùng với trí tưởng
tượng để tạo nên những vần thơ có hồn, có cánh để lay động bao trái tim của người
tiếp nhận chúng.
Về hình thức nghệ thuật, thơ chính là loại hình nghệ thuật được biểu hiện
bằng những hình ảnh biểu tượng mang nhiều ý nghĩa. Chính vì vậy, để mang lại
nhiều hình tượng cảm xúc cho thơ thì ngôn ngữ thơ là một yếu tố nghệ thuật đặc
biệt quan trọng. Không giống như những thể loại văn học tiểu thuyết, truyện
ngắn…ngôn ngữ trong thơ ca có một số đặc trưng riêng biệt.
Ngôn ngữ trong thơ ca là ngôn ngữ có giá trị tạo hình cao. Tính tạo hình là
một trong những đặc trưng quan trọng của thơ ca nói riêng và văn chương nghệ
thuật nói chung. Tuy nhiên do yêu cầu về số câu số chữ trong thơ bị giới hạn nên
tính tạo hình trong ngôn ngữ thơ ca càng cao. Tính tạo hình, đa nghĩa của ngôn ngữ
thơ thể hiện qua cách nhà thơ miêu tả trực tiếp đối tượng và qua các biện pháp tu từ
nghệ thuật như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ,…Chúng làm cho đối tượng miêu

tả vừa cụ thể vừa sinh động, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc, tăng sức biểu
cảm. Chẳng hạn như những từ láy trong các câu thơ sau đã góp phần làm tăng thêm
chất gợi cảm trong việc diễn tả nỗi buồn, cô đơn của nhà thơ:
“Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn”
(Huy Cận - Buồn đêm mưa)
Hay những hình dung từ giàu hình tượng, cảm xúc:
“Nghặm một khối căm hờn trong cũi sắt
Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua”
(Thế Lữ - Nhớ rừng)
Bên cạnh tính tạo hình, tính hòa phối là một đặc trưng quan trọng trong thơ
ca. Tính hòa phối trong ngôn ngữ thơ tạo nên sự hài hòa đăng đối cho bài thơ làm

11


cho câu thơ có vần có điệu và tiết tấu riêng, tạo nên tính nhạc cho thơ ca. Tính hòa
phối của ngôn ngữ thơ ca thể hiện qua các phương diện như ngữ âm, từ vựng, ngữ
nghĩa, cú pháp. Mỗi câu thơ sẽ có một cách gieo vần ngắt nhịp riêng tùy vào trạng
thái cảm xúc của tác giả:
“Anh đã đến / quê em Ban – tích
Sóng ngòi xanh / ngọc bích biển khơi”
(Em ơi, Ba Lan – Tố Hữu)
Chính sự hòa phối về thanh điệu nhịp điệu và tiết tấu trong thơ ca đã tạo nên tính
nhạc điệu cho thơ. Câu thơ càng tạo ra được tính nhạc thì càng du dương, mềm mại
càng dễ đi vào lòng người. Khổ thơ sau sẽ cho thấy được tính nhạc trong rất rõ
trong ngôn ngữ thơ:
“Hôm nay đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy

Em vấn đầu soi gương”
(Nguyễn Nhược Pháp – Chùa hương)
Có thể khẳng định rằng chính cách tổ chức sắp xếp từ ngữ trong thơ theo một
quy tắc nhất định đã tạo nên cho ngôn ngữ thơ những đặc trưng rất riêng về nghệ
thuật so với các thể loại khác. Chính nhờ có thơ ca, nhờ những câu thơ có vần có
điệu từ hình thức và giàu tình cảm, cảm xúc từ nội dung mà mỗi khi tiếp xúc với
thơ, chúng ta như nhận thêm một thứ tình cảm rất vô hình, làm cho ta thêm yêu con
người, yêu cuộc sống hơn. Bằng nghệ thuật ngôn từ, thơ ca thật sự đã sáng tạo ra
một thế giới tình cảm tự nhiên và đẹp nhất của con người. Chỉ có thể bằng trái tim,
sự rung cảm thật sự của tình cảm con người mới có thể thâm nhập vào thế giới ấy.

1.1.3. Một số đặc điểm thơ ca lãng mạn Việt Nam trước năm 1945
Thơ ca lãng mạn Việt Nam là trào lưu thi ca xuất hiện từ năm 1932. Đây là
tiếng nói chung của giai cấp tư sản và tiểu tư sản thành thị. Chính sự xuất hiện của
các tầng lớp này trên thi đàn văn học cùng với sự đổi mới thị hiếu thẩm mĩ và ảnh
hưởng văn hóa phương Tây đã dẫn đến sự ra đời của phong trào Thơ mới. Phong

12


trào Thơ mới ra đời đã khép lại một thời kì “quá độ” của thơ ca truyền thống mở ra
một thời kì mới cho nền thơ ca dân tộc. Diễn ra với nhịp độ khá liên tục, chỉ trong
vòng 13 năm với những bước thăng trầm nhưng phong trào Thơ mới đã đạt được
những thành tựu rực rỡ, đưa đến bước phát triển nhảy vọt trên nhiều phương diện
cho nền thơ ca dân tộc.
Về lực lượng sáng tác, Tác giả Hoài Thanh đã nhận định rằng: “Trong lịch
sử thơ ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này” [12,
tr. 77]. Phong trào Thơ mới thật sự đã đánh dấu một bước phát triển mới cho lịch sử
thơ ca bằng sự ra đời của đội ngũ sáng tác hùng hậu, tiêu biểu và đa dạng về phong
cách nghệ thuật. Có thể kể đến những tên tuổi tiêu biểu như: Thế Lữ, Lưu Trọng

Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên, Vũ Hoàng Chương, Thâm
Tâm, Phan Văn Dật, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Nguyễn
Bính, Phan Khắc Khoan, Thu Hồng, Tế Hanh, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ….Mỗi nhà
thơ là mang một phong cách khác nhau đã góp phần làm cho thơ ca giai đoạn này
thêm đa dạng, phong phú hơn về phong cách sáng tác. Phong trào Thơ mới thật sự
đã đạt đến độ chín về lực lượng sáng, yếu tố này cũng là cơ sở cho những bước phát
triển trên nhiều phương diện khác của phong trào Thơ mới.
Về tác phẩm, chỉ trong 13 năm nhưng phong trào Thơ mới đã cho ra đời một
khối lượng tác phẩm đồ sộ, có nhiều giá trị cao, không ít những tác phẩm đã đạt
được sự đổi mới vượt bật về chất lượng, đáp ứng được nhu cầu thẩm mĩ của thời đại
và tạo nên một tiếng vang trên thi đàn. Trong số những tác phẩm ấy, có thể nhắc
đến những tập thơ tiêu biểu, có giá trị như: tập thơ Yêu đương của Phạm Huy
Thông, Mấy vần thơ của Thế Lữ, Gái quê của Hàn Mặc Tử, Điêu tàn của Chế Lan
Viên, Thơ thơ và Gửi hương cho gió của Xuân Diệu, Tiếng thu của Lưu Trọng Lư,
Lửa thiêng của Huy Cận, Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính, Bức tranh quê của
Anh Thơ, Hoa niên của Tế Hanh…
Về nội dung phản ánh, không còn cái e dè, thẹn thùng, khép nép của thơ ca
truyền thống nữa, Thơ mới công khai đề cặp mạnh mẽ đến cái tôi cá nhân. Bóng
dáng của cái tôi cá nhân đã xuất hiện trong các sáng tác của các nhà thơ trung đại

13


như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu…Tuy nhiên, mãi đến Thơ
mới cái tôi mới trở nên mạnh mẽ và chính thức trở thành nội dung chính trong thơ.
Cái tôi đi vào trong thơ mới “khoát nhiều tấm áo khác nhau, có nhiều giọng nói
khác nhau, lúc tha thiết sôi nổi, lúc thì thất vọng chán chường, lúc thì khẳng định
mình như một trung tâm của mọi người mọi vật, khi thì tự phủ định một cách tuyệt
vọng cơ hồ như không còn khả năng tồn tại” [12, tr. 78] nhưng điểm chung là cái
tôi nào cũng mang nỗi buồn. Nỗi buồn trong Thơ mới xuất hiện và nối tiếp mạch

sầu ngàn năm truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên chỉ đến giai đoạn này, nỗi buồn
mới thật sự trở nên thống thiết và là tâm trạng chung của tất cả những nhà Thơ mới.
Nỗi buồn ấy được các nhà Thơ mới diễn tả bằng nhiều trạng thái cảm xúc mang
đậm dấu ân cá nhân. Mỗi nhà thơ đều mang trong mình một nỗi buồn riêng làm
choáng ngợp cả thi đàn lúc bấy giờ, có những nỗi buồn vô cớ như một trạng thái
tình cảm tự nhiên nhất đang tồn tại mọi lúc trong cảm xúc của con người, không sao
lý giải được:
“Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”
(Xuân Diệu – Chiều)
Có những nỗi buồn của sự chia ly, cách biệt
“Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thui hoa bắp lay
(Hàn Mạc Tử - Đây thôn Vĩ Dạ)
Tóm lại, cái tôi trong Thơ mới được thể hiện qua nhiều cung bậc màu sắc và
dáng vẻ khác nhau nhưng ở đâu cũng có nỗi buồn, chán nản và cô đơn. Có khi buồn
vì sự chia li, cách biệt, buồn vì sự cô đơn…Cũng có những nỗi buồn vô cớ mà ta
không cắt nghĩa được nó. Đứng trước hiện thực bế tắc chưa tìm được con đường
ánh sáng hạnh phúc các nhà Thơ mới chỉ còn biết cách gửi hồn mình vào mây, gió,
trăng, sao để nói lên nỗi buồn sâu thẳm trong tâm hồn mình.

14


Về nghệ thuật, Thơ mới kế thừa truyền thống tốt đẹp của thơ ca cổ điển dân
tộc, đồng thời học tập một cách sáng tạo thơ ca nước ngoài đem lại cho thơ ca nhiều
đổi mới đáng kể.
Những thể thơ như thể thơ bảy từ, tám từ, lục bát, năm từ là những thể thơ
phổ biến nhất trong phong trào Thơ mới. Các nhà Thơ mới đã có sự đổi mới về
khuôn khổ, quy tắc về kết cấu, niêm luật… làm cho bài thơ trở nên uyển chuyển,

mềm mại, linh hoạt hơn. Thơ mới tiếp tục phát triển những lối hiệp vần của thơ ca
dân tộc và kết hợp với lối hiệp vần của thơ ca phương Tây tạo thành những loại vần
mới như vần liên tiếp, vần hỗn tạp, vần ôm, vần lưng…
Chẳng hạn như vần ôm nhau:
“Chính hôm nay gió dại tới trên đồi
Cây không hẹn để ngày mai sẽ mát
Trời đã thắm lẽ đâu vườn cứ nhạt
Đắn đo gì cho lỡ mộng song đôi”
(Xuân Diệu – Tặng thơ)
Loại vần gián cách cũng xuất hiện nhiều trong Thơ mới:
“Hỡi mây trắng phất phơ màu gió cũ
Nước buồn ơi! còn lại bến sơ xưa
Cho ta gửi vọng xưa về quá khứ
Đôi chút sầu tư nước đẩy, mây đưa”
(Huy Cận - Bi ca)
Thơ mới có lối ngắt nhịp phong phú, linh hoạt tùy theo tình cảm diễn tả trong
câu thơ. Khi tình cảm trong câu thơ trở nên sôi nổi mãnh liệt thì nhịp điệu đều đều
trong câu thơ bị phá vỡ mà thay vào đó là nhịp điệu khỏe khoắn, sôi nổi. Chẳng hạn
như bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ:
“Với khi thét / khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên / dõng dạc / đường hoàng
Lượn tấm thân / như sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm thầm / lá gai / cỏ sắc”
15


(Thế Lữ - Nhớ rừng)
Về ngôn ngữ, không còn vẻ ước lệ khuôn sáo như thơ ca truyền thống, Thơ
mới sử dụng ngôn ngữ gần gũi, giàu hình tượng và cảm xúc. Thơ mới đã “thanh
xuân hóa” nền thơ ca Việt Nam, làm cho nền thơ ca dân tộc có một lối nói tình cảm

đầy xúc động và gần gũi hơn với đọc giả. Một số nhà thơ như Nguyễn Bính, Anh
Thơ, Tế Hanh, Đoàn Văn Cừ…đã đem vào trong thơ một hệ thống ngôn ngữ quen
thuộc trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, làm cho ý thơ trở nên mộc mạc và chân
chất, rất dễ đi vào lòng người:
“Đây góc quán bà già ngồi rũ nóng
Kia, cửa lều ông lão quạt khăn tay
Chó le lưỡi ngồi thừ nhìn cũi đóng
Lợn trói nằm hồng hộc thở căng dây”
(Anh Thơ - Chợ mùa hè)
Thơ mới còn sử dụng nhiều hình dung ngữ, làm tăng thêm tính tạo hình cho
câu thơ đồng thời làm giàu thêm cho vốn ngôn ngữ dân tộc:
“Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt

“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan”
(Thế Lữ - Nhớ rừng)
Thơ mới cũng tiếp tục sử dụng đa dạng linh hoạt các biện pháp tu từ nghệ
thuật để làm tăng tính hình tượng và khả năng gợi cảm của ngôn ngữ. Chẳng hạn
như cách nói nhân hóa đầy cảm xúc:
“Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi”
(Hàn Mạc Tử)
Về nhạc điệu, bên cạnh kế thừa nhạc điệu của thơ ca truyền thống, Thơ mới
còn ảnh hưởng tính nhạc điệu trong thơ Pháp. Thơ mới ưa diễn tả những tình cảm

16


buồn, sâu kín, dìu dịu nên thường nghiêng về thanh bằng. Điều này tạo nên một sự
ngân vang tha thiết và làm cho nhạc điệu câu thơ thêm dồi dào:

“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”
(Xuân Diệu – Nhị hồ)
Có thể nói, trong lịch sử hình thành và phát triển của thơ ca Việt Nam, chưa
có một sự kiện nào làm biến đổi mạnh mẽ nền thơ ca dân tộc như phong trào Thơ
mới. Chính sự xuất hiện của phong trào Thơ mới đã cho ra đời một đội ngũ sáng tác
hùng hậu, đa dạng về phong cách nghệ thuật, cùng với số lượng lớn tác phẩm lớn
đổi mới mạnh mẽ về cả nội dung lẫn nghệ thuật đã làm nên một cuộc thay đổi lớn,
góp phần đưa nền thơ ca Việt Nam tiến gần hơn với nền thơ ca hiện đại của thế giới.

1.3. Tác giả Huy Cận
1.3.1. Đôi nét về cuộc đời
Huy Cận tên khai sinh là Cù Huy Cận, sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919, tại xã
Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh).
Ông xuất thân trong một gia đình thuộc tầng lớp trung nông lớp dưới. Bố là nhà
Nho, đậu tam tường, đã từng làm hương sư nhưng sau về quê dạy chữ Hán và làm
ruộng. Mẹ ông là cô gái ở vùng quê có nghề dệt lụa truyền thống (xã Tùng Ánh,
huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Cả bố và mẹ đều yêu văn chương và thích ngâm,
bình truyện Kiều.
Huy Cận sinh ra và gắn bó một phần tuổi thơ đời mình trong một làng quê
nghèo khó. Cảnh vật làng quê ông là nơi lưu trữ nhiều nét đẹp truyền thống văn hóa
và vẫn giữ nguyên vẻ đẹp hoang sơ hùng vĩ của tạo hóa. Người dân quê ông là
những người chân lấm tay bùn nhưng rất thích hát ví dặm và kể truyện thơ Nôm,
yêu và thích ngâm Kiều. Huy Cận đã trải qua tuổi thơ trong một vùng quê đẹp và
nghèo ấy với một không khí gia đình thường nặng nề và xung đột. Thế nên chàng
Huy Cận hay sầu rất thích lang thang giữa trời đất bao la với những trò chơi dân dã,
được gắn bó với thiên nhiên và cuộc sống người nông dân…Có lẽ vì thế mà tình
yêu thiên nhiên, con người và sự nhạy cảm trước những biểu hiện của tạo vật trong

17



×