Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

Tín dụng chứng từ và lưu ý khi đóng vai trò người xuất khẩu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (218.96 KB, 24 trang )

Nhóm 2

I.Lời mở đầu
Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế đã mở ra cho nhân loại cánh cửa giao
lưu đầy triển vọng. Lịch sử đã chứng minh rằng không một quốc gia nào có thể
phát triển trong sự tách biệt với thế giới bên ngoài, các nước đang xích lại gần
nhau thông qua chiếc cầu nối thương mại quốc tế.Vượt qua không gian và thời
gian những luồng chu chuyển hàng hóa, dịch vụ và tiền tệ đã tạo ra sự gắn kết bền
vững giữa cung và cầu ở những nước có trình độ kinh tế khác nhau và ngày trở
nên phong phú, đa dạng kéo theo sự phức tạp ngày càng lớn trong quá trình cuối
cùng của cuộc trao đổi, thanh toán quốc tế. Được xem là một nhân tố quan trọng
thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế, hoạt động thanh toán quốc tế đã
không ngừng được đổi mới và hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu thuận tiện, nhanh
chóng của các giao dịch thương mại
Cùng với xu hướng hội nhập ngày càng tăng, các mối giao lưu thương
mại cũng ngày càng được mở rộng. Điều đó đặt ra cho các ngân hàng thương mại
phải phát triển dịch vụ thương mại một cách tương ứng, trong đó không thể không
kể đến hoạt động thanh toán quốc tế với nhiều phương thức thanh toán đa dạng,
phong phú.Trong các phương thức thanh toán này, thanh toán tín dụng chứng từ là
phương thức được sử dụng phổ biến nhất do những ưu việt của nó. Song tín dụng
chứng từ không phải nghiệp vụ đơn giản, trong thực tế công tác này đã gặp không
ít những rủi ro gây thiệt hại cho tài chính lẫn uy tín cho các ngân hàng thương mại
cũng như các doanh nghiệp Việt Nam
II. Nội dung
1. Tổng quan về phương thức thanh toán L/C.
1.1 Khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ.
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là sự thỏa thuận mà trong đó một ngân
hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư
tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởng
số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba này ký phát
trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng một bộ


chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong một văn bản gọi là
thư tín dụng (Letter of Credit), viết tắt là L/C.
Do phương thức trả tiền ngày càng mang lại nhiều rủi ro cho người mua nên trong
hoạt động mua bán quốc tế, thư tín dụng được sử dụng ngày một phổ biến hơn
nhằm bảo đảm lợi ích cho cả hai bên. Theo đó, việc thanh toán chỉ được ngân
hàng chấp nhận sau khi người bán đã xuất trình đầy đủ bộ chứng từ.

1


Nhóm 2

1.2 Nội dung phương thức tín dụng chứng từ.

*Trong thương mại quốc tế, các bên tham gia trong phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ bao gồm:
-Người xin mở thư tín dụng (Applicant): là người mua hàng, người nhập khẩu
hoặc là người nhận nhập khẩu ủy thác cho người khác. Người này có 2 nghĩa vụ
cơ bản đó là:
+Viết giấy đề nghị xin mở L/C.
+Kiểm tra bộ chứng từ do ngân hàng xuất trình, nếu thấy hợp lệ sẽ thanh toán cho
ngân hàng.
-Ngân hàng mở thư tín dụng (Issuing Bank / Issuer): là ngân hàng của người nhập
khẩu, hoặc một tổ chức nào đó có năng lực tài chính tốt và có đủ khả năng phát
hành, nó cung cấp tín dụng cho người nhập khẩu. Nghĩa vụ cơ bản như sau:
+Kiểm tra giấy đề nghị xin mở L/C
+Phát hành L/C để cam kết trả tiền cho người hưởng lợi, và bằng mọi biện pháp
nhanh chóng, hợp lý thông báo nội dung của L/C cho người được hưởng lợi biết.
+Kiểm tra bộ chứng từ do người hưởng lợi xuất trình, nếu thỏa mãn các cam kết
và điều kiện của l/C thì sẽ trả tiền cho người hưởng lợi.

-Người hưởng lợi thư tín dụng (Benificary): là người xuất khẩu hay bất cứ người
nào khác do người hưởng lợi chỉ định. Nghĩa vụ cơ bản:
+Kiểm tra nội dung cơ bản của L/C
+Khi thấy L/C hợp lý, có khả năng đáp ứng yêu cầu của L/C thì giao hàng phù
hợp với yêu cầu của L/C.
+Thiết lập bộ chứng từ thỏa mãn các yêu cầu, điều kiện của L/C và xuất trình cho
ngân hàng để làm việc.
-Ngân hàng thông báo thư tín dụng (Advising Bank / Adviser): là ngân hàng đại lý
của ngân hàng phát hành L/C ở nước người hưởng lợi hoặc một tổ chức bất kỳ,
miễn là có đủ năng lực, thỏa mãn các điều kiện. nó có nghĩa vụ thông báo đầy đủ

2


Nhóm 2

nội dung của L/C cho người hưởng lợi và không phải chịu trách nhiệm về tính
chính xác hay thiếu sót của L/C.
*Quá trình nghiệp vụ:
1. Sau khi thống nhất về các điều kiện bán hàng và ký kết hợp đồng, người nhập
khẩu làm đơn gửi đến ngân hàng của mình xin mở L/C cho người xuất khẩu
hưởng.
2. Căn cứ vào đơn xin mở L/C, ngân hàng phát hành L/C sẽ tiến hành mở L/C và
thông qua ngân hàng chi nhánh của mình ở nước người bán ( hoặc ngân hàng có
mối quan hệ thương mại với ngân hàng phát hành L/C ) thông báo về việc mở L/C
và chuyển L/C đến người bán.
3. Sau khi nhận được thông báo, ngân hàng thông báo sẽ có nhiệm vụ thông báo
cho người bán toàn bộ nội dung thông báo về việc mở L/C, và khi nhận được bản
gốc L/C thì chuyển ngay cho người bán.
4. Nếu người xuất khẩu chấp nhận L/C thì, sau khi xem xét cẩn thận các điều

khoản ghi trong thư tín dụng, sẽ ký hợp đồng vận tải đảm bảo hàng sẽ được
chuyển đến đúng thời hạn. Nếu người xuất khẩu không đồng ý với bất kỳ một điều
kiện nào thì phải thông báo ngay cho người mua biết để kịp thời điều chỉnh.
5. Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C xuất
trình cho ngân hàng mở L/C thông qua ngân hàng đại lý thông báo để đòi tiền.
6. Ngân hàng mở L/C kiểm tra chứng từ nếu phù hợp với L/C thì trả tiền cho
người bán. Nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng
từ cho người bán, thường thì số ngày ngân hàng được phép kiểm tra là 7 ngày.
7. Ngân hàng mở L/C đòi tiền người mua và chuyển bộ chứng từ hàng hóa cho
người mua.
8. Người mua kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì thanh toán tiền để
nhận chứng từ và lấy hàng còn nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chối trả
tiền và không nhận hàng.
3


Nhóm 2

*Các loại thư tín dụng (Letter of credit – L/C):
Thư tín dụng (Letter of Credit - viết tắt là L/C) là một cam kết thanh toán có điều
kiện bằng văn bản của một tổ chức tài chính (thông thường là ngân hàng) đối với
người thụ hưởng L/C (thông thường là người bán hàng hoặc người cung cấp dịch
vụ) với điều kiện người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng từ phù hợp với tất cả
các điều khoản được quy định trong L/C.
Thư tín dụng hoạt động theo 2 nguyên tắc: Độc lập và tuân thủ ngiêm ngặt.
+Độc lập: nó được hình thành dựa trên hợp đồng mua bán nhưng sau khi được
thiết lập thì lại độc lập hoàn toàn với hợp đồng. Nghĩa là chỉ cần người bán xuất
trình đầy đủ chứng từ theo yêu cầu của L/C thì ngân hàng phải có nghĩa vụ thanh
toán tiền mà không quan tâm đến hợp đồng hay hàng hóa.
+Tuân thủ nghiêm ngặt: Ngân hàng chỉ thanh toán nếu các chứng từ hoàn toàn phù

hợp với L/C, đúng với chỉ dẫn của người mua, trường hợp ngân hàng không phát
hiện ra sai biệt, thanh toán nhầm thì ngân hàng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Có 2 loại thư tín dụng:
+Thư tín dụng hủy ngang (Revocable letter of credit): là loại L/C mà ngân hàng
mở L/C và người NK có thể sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà
không cần sự chấp thuận của người XK. Loại L/C này ít được sử dụng trong thanh
toán quốc tế vì nó không có sự cam kết trả tiền chắc chắn.
+Thư tín dụng không hủy ngang (Irrevocable letter of credit): là loại thư mà trong
thời hạn hiệu lực của nó, ngân hàng không có quyền hủy bỏ hay sửa đội nội dung
L/C mà không được sựu đồng ý của người XK ngay cả khi người NK ra lệnh hủy
bỏ hay sửa đổi. Loại L/C này được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong thanh
toán quốc tế vì nó là cam kết chắc chắn đối với người bán trong việc thanh toán
tiền hàng.
Thư tín dụng không hủy ngang có thể có:
4


Nhóm 2

+Thư tín dụng không hủy ngang có xác nhận (Confirmed irrevocable L/C): là loại
L/C được xác nhận bởi 1 ngân hàng khác theo yêu cầu của ngân hàng phát hành
L/C, thường là ngân hàng thông báo thư tín dụng tại nước người XK. Nguyên
nhân có loại L/C là do người XK không hoàn toàn tin tưởng vào ngân hàng mở
L/C và giá trị của L/C tương đối lớn. Do ngân hàng xác nhận sẽ đứng ra cam kết
trả tiền cho người XK nên người XK sẽ thu được tiền về nhanh hơn, đảm bảo
quyền lợi của mình hơn.
+Thư tín dụng không hủy ngang miễn truy đòi (Irrevocable without resource L/C):
là loại L/C mà sau khi người XK đã nhận được tiền thanh toán thì ngân hàng mở
L/C không có quyền đòi loại trong bất cứ trường hợp nào.


1.3. Đặc điểm L/C
a) L/C là hợp đồng kinh tế hai bên: L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của 2 bên
là ngân hàng phát hành và người thụ hưởng. Mọi yêu cầu và chỉ thị của người
xin mở L/C không được thể hiện trong L/C.
b) L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa: L/C được hình thành trên cơ
sở hợp đồng ngoại thương nhưng sau khi được thiết lập nó lại hoàn toàn độc
lập với hợp đồng này. Một khi L/C đã được mở và được các bên chấp nhận,
thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không
cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến
L/C.
c) L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ:
- Chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt, nó là bằng
chứng về việc giao hàng của người bán, là đại diện cho giá trị hàng hóa
đã được giao. Do đó chúng trở thành căn cứ để ngân hàng trả tiền, để nhà
nhập khẩu hoàn trả cho ngân hàng, là chứng từ đi nhận hàng của nhà
nhập khẩu…
- Khi chứng từ xuất trình là phù hợp thì ngân hàng phát hành phải thanh
toán vô điều kiện cho nhà xuất khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hóa có thể
không được giao hoặc được giao không hoàn toàn đúng như ghi trên
chứng từ.
d) L/C yêu cầu chặt chẽ của bộ chứng từ: Đây là nguyên tắc cơ bản của giao dịch
L/C để được thanh toán người xuất khẩu phải lập được bộ chứng từ phù hợp,
tuân thủ chặt chẽ các điều khoản và điều kiện của L/C bao gồm: số loại, số
5


Nhóm 2

lượng mỗi loại và nội dung chứng từ phải đáp ứng được chức năng của chứng
từ có liên quan.

e) L/C là công cụ thanh toán hạn chế rủi ro hay là công cụ từ chối thanh toán và
lừa đảo:
- Trong thực tiễn thương mại quốc tế do diễn biến của thị trường giá cả mà
L/C có thể bị lạm dụng trở thành công cụ để từ chối nhận hàng, từ chối
thanh toán và là công cụ để gian lận, lừa đảo.
- Do tính chất độc lập của L/C với hợp đồng cơ sở, nên bọn lừa đảo có thể
lợi dụng không giao hàng hoặc giao hàng không đúng, nhưng vẫn lập bộ
chứng từ để thanh toán.
1.4.
Các mối quan hệ pháp lý hợp đồng L/C
a) Ngân hàng phát hành và người yêu cầu mở L/C :
Bằng thư yêu cầu mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng phục vụ mình, người
nhập khẩu đã chính thức đề nghị ngân hàng mở thư tín dụng để mình có thể
thực hiện hợp đồn với các bên đối tác. Thông qua việc chấp thuận yêu cầu
mở thư tín dụng, ngân hàng mở và người yêu cầu mở đã có một quan hệ
pháp lý. Có nghĩa là giữa người yêu cầu mở và ngân hàng mở đã có một
hợp đồng ràng buộc phải tuân theo một cách vô điều kiện tất cả những điều
khoản mà hai bên đã ký kết trong hợp đồng. Một bộ phận cơ bản của thư
yêu cầu mở L/C là điều kiện chung của các ngân hàng, trong đó quy định
rằng việc thực hiện L/C quy định rằng việc thực hiện L/C phải tuân theo nội
dung cơ bản của UCP 500. Khi thư tín dụng được mở, ngân hàng đòi hỏi
người mua phải ký quỹ theo một tỷ lệ nào đó thì mối quan hệ đó trở thành
mối tín dụng, vì số tiền đó được coi như là một khoản tiền gửi và được
hưởng lãi suất như lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn.
b) Ngân hàng phát hành và người hưởng lợi:
Việc mở thư tín dụng cho người nhập khẩu của ngân hàng mở L/C đồng
nghĩa với việc ngân hàng mở cam kết sẽ trả tiền cho người hưởng lợi sau
khi các điều kiện nêu ra trong thư tín dụng được người hưởng lợi thỏa mãn,
ngay cả khi người mở thư tín dụng chưa trả tiền hay không muốn trả tiền
cho ngân hàng. Rủi ro này thuộc về quan hệ tín dụng nên ngay khi xem xét

thư yêu cầu mở thư tín dụng, ngân hàng phải xem xét kỹ tình hình tài chính
của doanh nghiệp và nếu có thể,yêu cầu doanh nghiệp nhập khẩu quỹ một
khoản tiền nhất định , tối đa là 100% giá trị yêu cầu trong thư tín dụng.
c) Ngân hàng thông báo và người hưởng lợi:
Khi ngân hàng thông báo chỉ thực hiện thông báo tín dụng chứng từ mà
không có một cam kết nào về thanh toán đối với tín dụng chứng từ thì mọi
quan hệ giữa ngân hàng thông báo và người hưởng lợi không có sự ràng
buộc về pháp lý. Nhưng ngân hàng thông báo, nếu đồng ý thông báo, phải
6


Nhóm 2

kiểm tra một cách cẩn thận tính chân thật bề ngoài của thư tín dụng mà
mình thông báo. Bên cạnh đó, ngân hàng thông báo cũng phải thu phí dịch
vụ từ người hưởng lợi.
d) Ngân hàng xác nhận và người hưởng lợi:
Với việc xác nhận tín dụng chứng từ, ngân hàng xác nhận đã cùng chịu
trách nhiệm với ngân hàng phát hành trong việc trả tiền cho người hưởng
lợi. Nếu thư tín dụng quy định “chấp nhận” bởi ngân hàng xác nhận thì
ngân hàng xác nhận phảo chiun trách nhiệm trả tiền các hối phiếu do người
hưởng lợi ký phát đòi tiền các hối phiếu khi đến hạn.
e) Ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận:
Sự xác nhận thư tín dụng không thể hủy bỏ của một ngân hàng khác (ngân
hàng xác nhận) theo yêu cầu hoặc theo sự ủy nhiệm của ngân hàng phát
hành là một sự cam kết chắc chắn của ngân hàng xác nhận cộng thêm vào
sự cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành sẽ trả tiền trên của người
hưởng lợi miễn là các chứng từ xuất trình chi ngân hàng xác nhận hoặc cho
bất kỳ một ngân hàng chỉ định nào đó phải phù hợp với các quy định trong
thư tín dụng. Khi xác nhận, ngân hàng xác nhận đòi ngân hàng phát hành

phải ký quỹ một khoản xác định, khi đó quan hệ giữa hai ngân hàng này trở
thành mối quan hệ tín dụng vì khoản tiền ký quỹ được coi như một khoản
tiền gửi và được trả lãi. Nếu một ngân hàng khác được ngân hàng phát hành
yêu cầu xác nhận một thư tín dụng mà không sẵn sàng làm việc đó thì phải
thông báo ngay cho ngân hàng phát hành biết.
f) Ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo:
Với yêu cầu thông báo tín dụng chứng từ từ phía ngân hàng phát hành, ngân
hàng thông báo và ngân hàng phát hành có mối quan hệ ngang bằng đông
nghiệp vụ và ngân hàng thông báo không chịu bất cứ ràng buộc pháp lý
nào.
g) Ngân hàng phát hành và ngân hàng hòan trả:
Với số tiền ký quỹ tại ngân hàng để thanh toán tín dụng chứng từ cho ngân
hàng thống báo, hay ngân hàng đã xuất hiện mối quan hệ đồng thực hiện
nghiệp vụ mà không có sự đảm bảo nào từ phía ngân hàng hoàn trả. Chính
vì thế, ngân hàng hoàn trả sẽ không chịu trách nhiệm trong trường hợp tài
khoản gửi của ngân hàng phát hành không có đủ tiền để thanh toán.
1.5.Các bên tham gia phương thức tín dụng chứng từ
1.

Người xin mở L/C (Applicant for L/C): là người yêu cầu ngân hàng phục
vụ mình phát hành một L/C, và có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của ngân
hàng cho người bán theo L/C này. Người xin mở L/C có thể là người mua (buyer),
nhà NK (importer), người mở L/C (opener), người trả tiền (accountee).
7


Nhóm 2

2.


Người thụ hưởng L/C (Beneficiary): là người được hưởng tiền thanh toán
hay sở hữu hối phiếu chấp nhận thanh toán.Người thụ hưởng L/C có thể có những
tên gọi khác nhau như: người bán (seller), nhà XK (exporter), người ký phát hối
phiếu (drawer).

3.

Ngân hàng phát hành L/C (Issuing Bank) hay ngân hàng mở L/C (Opening
Bank): là ngân hàng mà theo yêu cầu của người mua, phát hành một L/C cho
người bán hưởng. Ngân hàng phát hành thường được hai bên mua bán thoả thuận
và quy định trong hợp đồng mua bán.

4.

Ngân hàng thông báo (Advising Bank): là ngân hàng được ngân hàng phát
hành yêu cầu thông báo L/C cho người thụ hưởng. Ngân hàng thông báo thường là
một ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước nhà XK.

5.

Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): trong trường hợp nhà XK muốn
có sự đảm bảo chắc chắn của thư tín dụng, thì một ngân hàng có thể đứng ra xác
nhận L/C theo yêu cầu của ngân hàng phát hành. Thông thường ngân hàng xác
nhận là một ngân hàng lớn có uy tín và trong nhiều trường hợp ngân hàng thông
báo được đề nghị là ngân hàng xác nhận L/C.

6.

Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): là ngân hàng được ngân hàng
phát hành uỷ nhiệm để khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với những qui định

trong L/C thì:



Thanh toán (pay) cho người thụ hưởng



Chấp nhận (accept) hối phiếu kỳ hạn



Chiết khấu (negotiate) bộ chứng từ
Trách nhiệm của ngân hàng được chỉ định là giống như ngân hàng phát hành khi
nhận được bộ chứng từ của nhà XK gửi đến.
2. Quy trình thực hiện phương thức L/C
2.1.Cách thức mở L/C
Ðiều kiện mở L/C:
Ðể được mở L/C, Doanh nghiệp phải nộp tại ngân hàng
- Giấy đăng ký kinh doanh
- Tài khoản ngoại tệ tại Ngân hàng ( muốn mở tài khoản phải đóng ít nhất 500
USD vào tài khoản chuẩn bị mở cùng với các giấy tờ sau:
+ Quyết định thành lập Công ty
8


Nhóm 2

+ Quyết định bổ nhiệm Giám đốc và Kế toán trưởng
Cách thức mở L/C:

Các giấy tờ cần nộp khi đến Ngân hàng để mở L/C:
- Ðối với L/C at sight:
+ Giấy phép nhập khẩu (nếu hàng hoá được quản lý bằng giấy phép)
+ Quota ( đối với hàng quản lý bằng hạn ngạch)
+ Hợp đồng nhập khẩu ( bản sao)
+ Ðơn xin mở L/C at sight ( theo mẫu in sẵn của Ngân hàng). Cơ sở viết đơn là
hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết.
- Ðối với L/C trả chậm
+ Giấy phép nhập khẩu ( nếu có) hoặc quota nhập
+ Phương án bán hàng để thanh toán nhập khẩu
+ Ðơn xin mở L/C trả chậm (theo mẫu in sẵn của Ngân hàng).Cơ sở viết đơn là
hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết.
+ Ðơn xin bảo lãnh và cam kết trả nợ ( theo mẫu của Ngân hàng)
* Lưu ý khi làm đơn xin mở L/C
- Cơ sở viết đơn là hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết nhưng nhà nhập
khẩu có thể thêm một số nội dung có lợi cho mình.
- Trên đơn phải có chữ ký của Giám đốc và Kế toán trưởng đơn vị nhập khẩu. Nếu
thực hiện nhập khẩu uỷ thác thì trên đơn xin mở L/C phải có đầy đủ 4 chữ ký: chữ
ký của Giám đốc và Kế toán trưởng đơn vị nhập khẩu uỷ thác và chữ ký của Giám
đốc và Kế toán trưởng của đơn vị nhận uỷ thác
- Ðể tránh L/C phải tu chỉnh nhiều lần mất thời gian và tốn kém, nhà nhập khẩu có
thể fax đơn xin mở L/C đến nhà xuất khẩu xem trước và xin ý kiến.
- Nhà nhập khẩu nên xem L/C bản gốc và đề nghị tu chỉnh nếu cần để bảo vệ
quyền lợi cho mình
Ký quĩ mở L/C:
Hiện nay các ngân hàng quy định tỷ lệ ký qũi ( 100%; dưới 100% hoặc không cần
ký quĩ) đối với doanh nghiệp nhập khẩu căn cứ vào:
- Uy tín thanh toán của doanh nghiệp
- Mối quan hệ của doanh nghiệp đối với ngân hàng
- Số dư ngoại tệ trên tài khoản của doanh nghiệp

- Công nợ của doanh nghiệp nhập khẩu
9


Nhóm 2

- Tính khả thi trong phương án kinh doanh hàng nhập khẩu của đơn vị nhập
khẩu
* Cách thức ký quĩ:
- Nếu số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng lớn hơn số tiền ký quĩ, ngân hành sẽ
trích từ tài khoản tiền gửi chuyển sang tài khoản ký quĩ. Phòng nhập khẩu trực tiếp
làm phiếu chuyển khoản nội dung ký quĩ mở L/C sau đó sẽ chuyển sang Phòng Kế
toán để thực hiện
- Nếu số dư tài khoản tiền gửi nhỏ hơn số tiền ký quĩ, giải quyết bằng hai cách sau:
+ Mua ngoại tệ để ký quĩ
+ Vay ngoại tệ để ký quĩ.
Thanh toán phí mở L/C:
Phí mở L/C tùy theo mức nhà nhập khẩu thực hiện ký quỹ:
Ví dụ: Tại Vietcombank
Ký qũi

Phí mở L/C

100% trị giá L/C

0,075% trị giá L/C mở

30 - 50% trị giá L/C

0,1% trị giá L/C mở


Dưới 30% trị giá L/C

0,15% trị giá L/C mở ( min 5
USD và max 200 USD)

Miễn ký quĩ

0,2% trị giá L/C mở ( min 5
USD và max 300 USD )

Khi mở L/C trả chậm: phải có sự bảo lãnh của ngân hàng nên nhà nhập khẩu phải
trả thêm 0,2% - 0,5% cho mỗi quý tùy vào từng mặt hàng nhập khẩu.
2.2.Quy trình thanh toán L/C

10


Nhóm 2

(1) Hai bên xuất khẩu và nhập khẩu ký kết hợp đồng thương mại.
(2) Người nhập khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở L/C cho người xuất khẩu
thụ hưởng.
Muốn mở L/C người nhập khẩu phải trả ngân hàng một khoản phí và phải ký quỹ
nhỏ hơn hoặc bằng giá trị của L/C, mức ký quỹ tùy theo hạn mức mỗi ngân hàng
quy định và mối quan hệ hợp tác, sự tín nhiêm lẫn nhau giữa ngân hàng với nhà
nhập khẩu mà người nhập khẩu có thể được miễn ký quỹ hoặc chỉ ký quỹ một
phần trị giá L/C hoặc là phải ký quỹ 100% trị giá L/C.
Dựa trên cơ sở hợp đồng mua bán, luật áp dụng và UCP 600, khi phát hành L/C
cho người nhập khẩu cần tư vấn cho người nhập khẩu kỹ về các nội dung của L/C

như số lượng và các loại chứng từ, thời hạn giao hàng cụ thể…
Do đó trong bước thứ 2 này thấy rằng người nhập khẩu đã thực hiện nghĩa vụ mở
L/C của mình và sẽ không thể từ chối trả tiền nếu người xuất khẩu hoàn thành
đúng nghĩa vụ giao hàng và cung cấp chứng từ đúng theo yêu cầu L/C.
(3) Ngân hàng mở L/C mở L/C theo đúng yêu cầu của người nhập khẩu và chuyển
L/C sang ngân hàng thông báo để báo cho người xuất khẩu biết về việc thư tín
dụng đã được mở.
11


Nhóm 2

(4) Ngân hàng thông báo L/C thông báo cho người xuất khẩu biết rằng L/C đã mở
và khi nhận được bản gốc của thư tín dụng thì chuyển ngay cho người xuất khẩu.
(5) Dựa vào L/C, người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng đó thì tiến hành
giao hàng, còn nếu không thì tiến hành đề nghị ngân hàng phát hành L/C sửa đổi ,
bổ sung, điều chỉnh thư tín dụng cho phù hợp với hợp đồng.
(6) Người xuất khẩu sau khi giao hàng lập bộ chứng từ thanh toán gửi vào ngân
hàng thông báo để được thanh toán.
(7) Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán sang ngân hàng mở L/C
xem xét trả tiền.
(8) Ngân hàng mở L/C sau khi kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp thư tín dụng
thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu. Nếu không phù hợp thì từ chối thanh
toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu (tuy nhiên nếu người
nhập khẩu chấp nhận thanh toán thì ngân hàng phát hành thư tín dụng vẫn thanh
toán và trừ phí sai sót của bộ chứng từ)
(9) Ngân hàng thông báo ghi có và báo có cho người xuất khẩu
(10) Ngân hàng mở L/C trích tài khoản và báo nợ cho người nhập khẩu
(11) Người nhập khẩu xem xét chấp nhận trả tiền và ngân hàng mở L/C trao bộ
chứng từ để người nhập khẩu có thể nhận hàng.

Thông qua nội dung và quy trình các bước tiến hành phương thức tín dụng chứng
từ như đã mô tả trên đây, chúng ta thấy rằng phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu trong việc được ngân hàng đứng ra
cam kết trả tiền còn đối với nhà nhập khẩu thì được ngân hàng đứng ra xem xét,
kiểm tra bộ chứng từ nhằm đảm bảo cho bên nhập khẩu nhận đủ hàng, đúng thời
hạn giao hàng và chính xác hàng hóa đặt mua trước khi trả tiền.
Trong thực tiễn thanh toán quốc tế, đôi khi cũng xảy ra một số trường hợp không
hoàn toàn giống như quy trình trên. Ví dụ, hàng đã về nhưng nhà nhập khẩu chưa
nhận được bộ chứng từ, trong trường hợp này nếu muốn nhận hàng ngay nhà nhập
khẩu phải làm thế nào? Họ phải thực hiện cam kết đối tịch với ngân hàng rằng sẽ
thanh toán vô điều kiện dù chứng từ có khác biệt. Ngân hàng sẽ bằng sự tín nhiệm
của mình đề nghị đại lý tàu biển giao hàng cho người nhập khẩu dù chưa có vận
đơn gốc và cam kết chịu trách nhiệm về điều đó. Khi ngân hàng nhận được bộ
12


Nhóm 2

chứng từ, ngân hàng tiến hành ký hậu vận đơn, người nhập khẩu sẽ mang vận đơn
tới đại lý tàu biển đổi lấy cam kết đối tịch để hủy cam kết đó.
Trong phương thức này, ngân hàng đóng vai trò chủ động trong thanh toán chứ
không chỉ làm trung gian đơn thuần như những phương thức thanh toán khác. Để
hiểu rõ về phương thức này và các ưu điểm nổi bật của nó, sau đây chúng ta sẽ
phân tích cụ thể các loại thư tín dụng chủ yếu.
Trong quá trình thanh toán L/C nên lưu ý một số điểm sau:
1.
Khi mở L/C, người mua phải ký quỹ một số tiền tại ngân hàng (có thể
lên đến 100% giá trị L/C).
2.
L/C không phải là phương thức thanh toán an toàn tuyệt đối vì ngân

hàng chỉ làm việc trên chứng từ chứ không xét đến chất lượng hàng hoá.
3.
Bộ chứng từ đề nghị thanh toán L/C do các bên thoả thuận. Người bán
phải cung cấp đầy đủ các chứng từ và phải phù hợp với L/C thì mới được
thanh toán. Các loại chứng từ thường gặp:
-

Bill of Lading – B/L (Vận đơn);

-

Invoice (Hoá đơn);

-

Packing List (Bảng kê chi tiết hàng hoá đóng thùng);

-

Certificate of Origin (Giấy chứng nhận xuất xứ, nguồn gốc);

-

Insurance Certificate (Chứng từ bảo hiểm lô hàng);

-

Shipping Documents(Chứng từ giao hàng);

-


Phytosanitary Certificate (Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật);

-

Fumigation Certificate (Giấy chứng nhận hàng hoá đã xông khói);

-


4.
Trong quá trình kiểm tra bộ chứng từ, nếu phát hiện sai sót, ngân hàng
mở L/C sẽ từ chối thanh toán. Trường hợp này có thể được giải quyết như sau:
Người bán cam kết miệng với ngân hàng để được thanh toán. Cách
này chỉ có thể thực hiện nếu có sự tín nhiệm giữa ngân hàng và người bán.
13


Nhóm 2

-

Người bán viết thư cam kết bồi thường.

-

Người bán điện cho ngân hàng phát hành để xin phép thanh toán.

-


Người bán chuyển sang phương thức nhờ thu.

3.Phân tích ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ:
Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ được sử dụng rất rộng rãi trong
kinh doanh XNK của doanh nghiệp vì nó bảo đảm tính an toàn.Là vì :
Các đối tác ký kết hợp đồng thường có trụ sở ở những quốc gia khác nhau nên
giữa các bên vẫn tồn tại sự thiếu tin tưởng lẫn nhau, phương thức tín dụng chứng
từ giúp 2 bên yên tâm về quyền lợi của mình.


Ưu điểm:
Lợi ích đối với người xuất khẩu:
Người bán hoàn toàn được đảm bảo thanh toán với bộ chứng từ hợp lệ.
Việc thanh toán không phụ thuộc vào nhà nhập khẩu. Người bán sau khi
giao hàng tiến hành lập bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản của L/C sẽ
được thanh toán bất kể trường hợp người mua không có khả năng thanh
toán. Do vậy, nhà xuất khẩu sẽ thu hồi vốn nhanh chóng, không bị ứ đọng
vốn trong thời gian thanh toán.
Lợi ích đối với người nhập khẩu:
Phương thức thanh toán L/C giúp người mua có thể mở rộng nguồn cung
cấp hàng hoá cho mình mà không phải tốn thời gian, công sức trong việc
tìm đối tác uy tín và tin cậy. Bởi lẽ, hầu hết các giấy tờ chứng từ đều được
Ngân hàng đối tác kiểm tra và chịu trách nhiệm hoàn toàn về sai sót này.
Người mua được đảm bảo về mặt tài chính rằng bên bán giao hàng thì mới
phải trả tiền hàng. Ngoài ra, các khoản ký quỹ mở L/C cũng được hưởng lãi
theo quy định.
Lợi ích đối với Ngân hàng:
Thực hiện nghĩa vụ thanh toán này, Ngân hàng thu được các khoản phí thủ
tục, ngoài ra, Ngân hàng còn thu hút được một khoản tiền khá lớn (Khi có
ky quỹ). Khi thực hiện nghiệp vụ này, Ngân hàng còn thực hiện được một

số nghiệp vụ khác như cho vay xuất khẩu, bảo lãnh, xác nhận, mua bán
ngoại tệ... Hơn nữa, thông qua nghiệp vụ này uy tín và vai trò của Ngân
hàng trên thị trương tài chính quốc tế được củng cố và mở rộng.
14


Nhóm 2


Nhược điểm:
Với người xuất khẩu:
Nếu không hiểu rõ về phương thức thanh toán này hoặc do lí do nào đó mà
không xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với quy đinh của tín dụng thư
hoặc xuất trình muộn so với thời hạn hiệu lực của tín dụng thư thì khi đó
ngân hàng sẽ từ chối thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu.
Với người nhập khẩu:
Vì tín dụng thư khi được phát hành ra sẽ độc lập với hợp đồng cơ sở và
ngân hàng phát hành cũng không chịu trách nhiệm kiểm tra về hình thức,
nội dung, hiệu lực pháp lí, tính thật giả, chính xác, của bất kì chứng từ nào
trong bộ chứng từ người xuất khẩu lập mà chỉ kiểm tra bề ngoài của bộ
chứng từ đó có phù hợp với điều khoản của L/C hay không thì sẽ thanh
toán cho người xuất khẩu mà không cần quan tâm xem chất lượng hay hàng
hóa có được giao đúng, đủ như trong hợp đồng mua bán ngoại thương(hợp
đồng cơ sở) không.
Với ngân hàng:
Nhược điểm lớn nhất của hình thức thanh toán này là quy trình thanh toán
rất tỷ mỷ, máy móc, các bên tiến hành đều rất thận trọng trong khâu lập và
kiểm tra chứng từ. Chỉ cần có một sai sót nhỏ trong việc lập và kiểm tra
chứng từ cũng là nguyên nhân để từ chối thanh toán. Đối với Ngân hàng
phát hành, sai sót trong việc kiểm tra chứng từ cũng dẫn đến hậu quả rất

lớn.
4.Những rủi ro và nguyên nhân gây ra rủi ro trong phương thức tín
dụng chứng từ:

Trong hoạt động ngân hàng, lợi nhuận và rủi ro luôn đi đôi với nhau và có mối
quan hệ ngược chiều. Lợi nhuận càng cao thì rủi ro ngân hàng gặp phải càng lớn
và ngược lại. Trong hoạt động thanh toán TDCT, ngân hàng cũng không thể tránh
khỏi rủi ro. Các rủi ro trong thanh toán TDCT mà ngân hàng và các bên tham gia
thường gặp là:
Rủi ro kỹ thuật
Rủi ro kỹ thuật là những rủi ro do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trình
thanh toán TDCT.
Rủi ro đối với nhà Xuất khẩu
15


Nhóm 2

Khi tham gia phương thức thanh toán TDCT, nhà XK hay gặp những rủi ro sau:
1.

Khi nhận được L/C từ NH thông báo, nếu nhà XK kiểm tra các điều kiện
chứng từ không kĩ, chấp nhận cả những yêu cầu bất lợi mà nhà XK không thể đáp
ứng được trong khâu lập chứng từ sau này. Khi các yêu cầu đó không được thoả
mãn, NH phát hành từ chối bộ chứng từ và không thanh toán. Lúc đó, nhà NK sẽ
có lợi thế để thương lượng lại về giá cả nằm ngoài các điều khoản của L/C và nhà
XK sẽ gặp bất lợi.

2.


Trong thanh toán TDCT, ngân hàng mở L/C đứng ra cam kết thanh toán
cho người XK khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C, NH
chỉ làm việc với các chứng từ quy định trong L/C. Phương thức thanh toán TDCT
đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán với nội dung quy định
trong L/C. Chỉ cần một sơ suất nhỏ trong việc lập chứng từ thì nhà XK cũng có thể
bị NH mở L/C và người mua bắt lỗi, từ chối thanh toán. Do đó, việc lập bộ chứng
từ thanh toán là một khâu quan trọng và rất dễ gặp rủi ro đối với nhà XK.
Một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với L/C phải đáp ứng được các yêu cầu sau :



Các chứng từ phải phù hợp với luật lệ và tập quán thương mại mà hai nước
người mua và người bán đang áp dụng và được dẫn chiếu trong L/C.



Nội dung và hình thức của các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng
yêu cầu đề ra trong L/C.



Những nội dung và các số liệu có liên quan giữa các chứng từ không được
mâu thuẫn với nhau, nếu có sự mâu thuẫn giữa các chứng từ mà từ đó người ta
không thể xác định một cách rõ ràng, thống nhất nội dung thuộc về tên hàng, số
lượng, trọng lượng, giá cả, tổng trị giá, tên của người hưởng lợi…thì các chứng từ
đó sẽ bị ngân hàng từ chối thanh toán vì bộ chứng từ đó mâu thuẫn với nhau.



Bộ chứng từ phải được xuất trình tại địa điểm qui định trong L/C và trong

thời hạn hiệu lực của L/C.
Trên thực tế có rất nhiều sai sót xảy ra trong quá trình lập chứng từ, thường gặp
vẫn là:





Lập chứng từ sai lỗi chính tả, sai tên, địa chỉ của các bên tham gia, của
hãng vận tải
Chứng từ không hoàn chỉnh về mặt số lượng.

16


Nhóm 2


Các sai sót trên bề mặt chứng từ : số tiền trên chứng từ vượt quá giá trị của
L/C; các chứng từ không ghi số L/C, không đánh dấu bản gốc; các chứng từ không
khớp nhau hoặc không khớp với nội dung của L/C về số lượng, trọng lượng, mô tả
hàng hoá…; các chứng từ không tuân theo quy định của L/C về cảng bốc dỡ hàng,
về hãng vận tải, về phương thức vận chuyển hàng hóa…
Tất cả những sai sót trên đều là những nguyên nhân gây nên rủi ro cho nhà XK khi
lập bộ chứng từ thanh toán.
Ngoài ra, do sự khác biệt về tập quán, luật lệ ở mỗi nước cho nên dễ dẫn đến
những sai sót khi nhà XK hoàn tất bộ chứng từ hàng hoá để gửi NH xin thanh
toán.
3. Nếu nhà XK xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản thanh
toán hay chấp nhận có thể đều bị từ chối, và nhà XK phải tự xử lý hàng hoá như

dỡ hàng, lưu kho cho đến khi vấn đề được giải quyết hoặc phải tìm người mua
mới, bán đấu giá hay chở hàng về quay về nước. Đồng thời, nhà XK phải chịu
những chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho… trong khi đó không biết rõ lập
trường của nhà NK là sẽ đồng ý hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ có sai
sót.
4. Nếu NH phát hành mất khả năng thanh toán, thì cho dù bộ chứng từ xuất trình
là hoàn hảo thì cũng không được thanh toán.
5. Thư tín dụng có thể huỷ ngang có thể được NH phát hành sửa đổi, bổ sung hay
huỷ bỏ bất cứ lúc nào trước khi nhà XK xuất trình bộ chứng từ mà không cần sự
đồng ý của nhà XK.
Rủi ro đối với nhà Nhập khẩu



Trong thanh toán TDCT, việc thanh toán của NH cho người thụ hưởng chỉ
căn cứ vào bộ chứng từ xuất trình mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hoá.
NH chỉ kiểm tra tính chân thật bề ngoài của chứng từ, mà không chịu trách nhiệm
về tính chất bên trong của chứng từ, cũng như chất lượng và số lượng hàng hoá.
Như vậy sẽ không có sự đảm bảo nào cho nhà NK rằng hàng hoá sẽ đúng như đơn
đặt hàng hay không. Nhà NK có thể nhận được hàng kém chất lượng hoặc bị hư
hại trong quá trình vận chuyển mà vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền thanh toán cho
NH phát hành.



Khi nhà NK chấp nhận bộ chứng từ hàng hoá sẽ có nguy cơ gặp rủi ro. Bộ
chứng từ là cơ sở pháp lý đầu tiên về tính đúng đắn của hàng hoá. Nếu nhà NK
không chú ý kiểm tra kỹ bộ chứng từ (từ lỗi, câu chữ, số lượng các loại chứng từ,
cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy chứng nhận…) mà chấp nhận bộ chứng
từ có lỗi sẽ bị thiệt hại và gặp khó khăn trong việc khiếu nại sau này.


17


Nhóm 2


Một rủi ro mà nhà NK hay gặp là hàng đến trước bộ chứng từ, nhà NK
chưa nhận được bộ chứng từ mà hàng đã cập cảng. Bộ chứng từ bao gồm vận đơn,
mà vận đơn lại là chứng từ sở hữu hàng hoá nên thiếu vận đơn thì hàng hoá không
được giải toả. Nếu nhà NK cần gấp ngay hàng hoá thì phải thu xếp để NH phát
hành phát hành một thư bảo lãnh gửi hãng tàu để nhận hàng. Để được bảo lãnh
nhận hàng, nhà NK phải trả thêm một khoản phí cho NH. Hơn nữa, nếu nhà NK
không nhận hàng theo qui định thì tiền bồi thường giữ tàu quá hạn sẽ phát sinh.
Rủi ro đối với ngân hàng phát hành

1.

Trong nghiệp vụ mở L/C, nếu NH phát hành kiểm tra không kĩ đơn xin mở
L/C sẽ dẫn đến việc chấp nhận cả những điều khoản hàm chứa rủi ro cho NH sau
này.

2.

Khi nhận được bộ chứng từ xuất trình, nếu NH phát hành trả tiền hay chấp
nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ
chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, nhà NK không chấp nhận, thì NH không thể đòi
tiền nhà NK.

3.


Ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo
qui định của L/C ngay cả trong trường hợp nhà NK mất khả năng thanh toán hoặc
bị phá sản do kinh doanh thua lỗ.

4.

Trong trường hợp hàng đến trước bộ chứng từ thì NH phát hành hay được
yêu cầu chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng
từ. Nếu không có sự chấp nhận trước của người NK về việc hoàn trả, thì NH phát
hành sẽ gặp rủi ro khi bộ chứng từ có sai sót, khi đó nhà NK không chấp nhận và
NH sẽ không truy hoàn được tiền từ nhà NK.

5.

Nếu trong L/C ngân hàng phát hành không qui định bộ vận đơn đầy đủ(full
set off bills of lading) thì một người NK có thể lấy được hàng hoá khi chỉ cần xuất
trình một phần của bộ vận đơn, trong khi đó người trả tiền hàng hoá lại là ngân
hàng phát hành theo cam kết của L/C.

6.

NH phát hành có thể gặp rủi ro do không hành động đúng theo UCP 500,
đó là đưa ra quyết định từ chối bộ chứng từ vượt quá 7 ngày làm việc của ngân
hàng, theo qui định của UCP 500 là không quá 7 ngày.
Rủi ro đối với ngân hàng thông báo
NH thông báo có trách nhiệm phải đảm bảo rằng thư tín dụng là chân thật, đồng
thời phải xác minh chữ ký, mã khoá (test key), mẫu điện của NH phát hành trước
khi gửi thông báo cho nhà XK. Rủi ro xảy ra với NH thông báo là khi NH này
18



Nhóm 2

thông báo một L/C giả hoặc sửa đổi một L/C không có hiệu lực trong khi chính
NH chưa xác nhận được tình trạng mã khoá hay chữ ký uỷ quyền của NH mở L/C.
Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận
1.

Nếu bộ chứng từ được xuất trình là hoàn hảo thì NH xác nhận phải trả tiền
cho nhà XK bất luận là có truy hoàn được tiền từ NH phát hành hay không. Như
vậy, NH xác nhận chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát hành.

2.

Nếu NH xác nhận trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà
không có sự kiểm tra bộ chứng từ một cách thích đáng, để bộ chứng từ có lỗi, NH
phát hành không chấp nhận thanh toán thì NH xác nhận không thể đòi tiền NH
phát hành.
Rủi ro đối với ngân hàng được chỉ định
Các NH được chỉ định không có trách nhiệm thanh toán cho nhà XK trước khi
nhận được tiền hàng từ NH phát hành. Tuy nhiên trong thực tế, trên cơ sở bộ
chứng từ được xuất trình, các NH được chỉ định thường ứng trước cho nhà XK với
điều kiện truy đòi để trợ giúp nhà XK, do đó NH này phải chịu rủi ro tín dụng đối
với NH phát hành hoặc nhà XK.
Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham gia phương thức thanh toán
TDCT cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo qui định của L/C,
làm ảnh hưởng tới quyền lợi của bên kia.
Rủi ro đạo đức đối với nhà XK

Mặc dù trong thanh toán TDCT đã có sự cam kết của NH mở L/C nhưng sự tin
tưởng và thiện chí giữa người mua và người bán vẫn được coi là yếu tố quan trọng
đảm bảo cho sự an toàn của TTQT. Khi người NK không thiện chí, cố ý không
muốn thực hiện hợp đồng thì họ có thể dựa vào sai sót cho dù là rất nhỏ của bộ
chứng từ để đòi giảm giá, kéo dài thời gian để chiếm dụng vốn của người bán,
thậm chí từ chối thanh toán.
Rủi ro đạo đức đối với nhà NK
Với người mua sự trung thực của người bán là rất quan trọng bởi vì NH chỉ làm
việc với các chứng từ mà không cần biết việc giao hàng có đúng hợp đồng hay
không. Do đó nhà NK có thể gặp rủi ro nếu nhà XK có hành vi gian dối, lừa đảo
trong việc giao hàng như : cố tình giao hàng kém phẩm chất, không đúng số
lượng…
19


Nhóm 2

Một nhà XK chủ tâm gian lận có thể xuất trình bộ chứng từ giả mạo, có bề ngoài
phù hợp với L/C cho NH mà thực tế không có hàng giao, người NK vẫn phải
thanh toán cho NH ngay cả trong trường hợp không nhận được hàng hoặc nhận
được hàng không đúng theo hợp đồng.
Rủi ro đạo đức đối với ngân hàng
NH là người gánh chịu rủi ro đạo đức : NH phát hành phải thực hiện thanh toán
cho người hưởng lợi theo qui định của L/C ngay cả trong trường hợp người NK
chủ tâm không hoàn trả.
NH là người gây ra rủi ro đạo đức: NH mở L/C có thể vi phạm cam kết của mình
như từ chối thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán hoặc đứng về phía khách hàng gây
khó khăn trong quá trình thanh toán.
Rủi ro chính trị
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một trong các phương thức được sử

dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế. Các chủ thể tham gia trong phương thức
TDCT ở nhiều quốc gia khác nhau và tham gia vào nhiều lĩnh vực ngành nghề
khác nhau. Do đó, phương thức TDCT chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường
chính trị, xã hội của các quốc gia. Một sự biến động dù là nhỏ về chính trị, xã hội
của một quốc gia cũng sẽ ảnh hưởng tới sự vận động của tự do thương mại, đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghịêp…từ đó ảnh hưởng tới quá trình
thanh toán.
Rủi ro chính trị trong thanh toán quốc tế theo phương thức TDCT là những rủi ro
bắt nguồn từ sự không ổn định về chính trị của các nước có liên quan trong quá
trình thanh toán.Thông thường đó là rủi ro do thay đổi môi trường pháp lý như:
thay đổi đột ngột về thuế XNK, hạn ngạch, cơ chế ngoại hối (hạn chế ngoại hối),
luật XNK. Những thay đổi này làm cho các điều kiện trên thị trường tài chính thay
đổi đột biến không dự tính trước làm các bên tham gia XNK và ngân hàng không
thực hiện được nghĩa vụ của mình, làm cho L/C có thể bị huỷ bỏ, gây thiệt hại cho
các bên tham gia.
Bên cạnh đó, các cuộc nổi loạn, biểu tình, bạo động hay chiến tranh, đảo chính,
đình công…hoặc những rủi ro bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn ở các nước
tham gia, chứng từ bị thất lạc cũng có thể gây rủi ro trong quá trình thanh toán.
Rủi ro khách quan từ nền kinh tế
Một rủi ro mà các bên tham gia phương thức thanh toán TDCT hay gặp là sự
khủng hoảng, suy thoái kinh tế và tình trạng công nợ nặng nề của các quốc gia.
Khi nền kinh tế của một quốc gia bị suy thoái, khủng hoảng sẽ kéo theo các ngân
hàng bị phong toả hoặc tạm ngưng hoạt động, từ đó làm ảnh hưởng rtới quá trình
thanh toán quốc tế. Nếu nợ nước ngoài của một quỗc gia là quá lớn thì các biện
20


Nhóm 2

pháp như tăng thuế, phá giá nội tệ sẽ được áp dụng, từ đó làm giảm khả năng chi

trả của người mua và ngân hàng có nguy cơ không đòi được tiền. Ngoài ra, sự
phong toả kinh tế của các quốc gia như trường hợp của Cuba, Iraq… cũng mang
lại những rủi ro cho bất kì quốc gia, đơn vị kinh tế nào có hoạt động xuất nhập
khẩu với các nước đó.
5. Một số giải pháp kiến nghị để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động thanh
toán theo phương thức tín dụng chứng từ:
5.1. Đối với nhà nước:
- Cần tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho hoạt động thanh toán tín dụng chứng
từ của toàn hệ thống NHTM.
- Cần có chính sách khuyến khích và kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu.
- Tăng cường chất lượng hoạt động của trung tâm thông tin tính dụng ngân
hàng nhà nước (CIC)
5.2. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu:
- Nên có cán bộ chuyên trách về xuất nhập khẩu đã được đào tạo nghiệp vụ
ngoại thương, am hiểu về luật pháp trong thương mại quốc tế thanh toán quốc tế,
có năng lực và có phẩm chất trung thực trong kinh doanh
- Giữ chữ tín, thực hiện đúng vam kết với đối tác và với ngân hàng, thực hiện
đúng chỉ dẫn của ngân hàng về L/C, phối hợp khi có tranh chấp
- Chú ý đến các điều kiện để được thanh toán, đặc điểm của từng loại chứng từ,
kiểm tra hàng hóa, mở L/C đúng quy định
- Cần lường trước những bất lợi khi có tranh chập và bị khởi kiện ở nước
ngoại.
5.3. Đối với NHTM:
- Chú trọng công tác thẩm định đánh giá khách hàng
- Xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp
- Thành lập bộ phận quản lý và phòng ngừa rủi ro
- Đẩy mạnh công tác tư vấn cho khách hàng
- Tiếp tục đổi mới công nghệ ngân hàng

21



Nhóm 2

không đủ khả năng thanh toán. Trong một số trường hợp, biến động tỷ giá cũng
gây thiệt hại cho ngân hàng. Ví dụ, trong thực tế nước ta một số doanh nghiệp
nhập khẩu thường không có sẵn ngoại tệ, họ sẽ chuyển nội tệ vào ngân hàng và
yêu cầu ngân hàng bán ngoại tệ cho mình. Khi có yêu cầu mở L/C thanh toán ngân
hàng sẽ thu tiền ký quỹ đối với nhà nhập
khẩu. Do trong TTQT ngoại tệ mạnh thường được sự dụng nên ngân hàng sẽ phải
dùng số tiền đó để mua ngoại tế. Số tiền ký quỹ mà DN nộp vào ngân hàng đã
được tính ra ngoại tệ tại thời điểm ký. Nễu vì một lý do nào đó ngân hàng không
thực hiện ngay việc trao đổi lấy ngoại tệ thời điểm đó mà lùi lại một thời gian, và
khi đó động nội tệ giảm giá, ngân hàng sẽ phải mật thêm một khoản tiền bù vào
mức giảm. Kết quả là ngân hàng bị mất thêm một khoản tiền do biến động tỷ giá.
Ngoài ra, nếu trạng thái ngoại hối của ngân hàng không tốt, một mặt ngân hàng sẽ
không đáp ứng được nhu cầu mua ngoại tệ cảu khách hàng, mặt khác bản thân
ngân hàng cũng sẽ gặp khó khăn trong quá trình thanh toán. Thiệt hại về mặt tài
chính xảy ra do ngân hàng phải đi vay ngân hàng khác và uy tín của ngân hàng bị
giảm sút
III.Những điều cần lưu ý trong giao dịch L/C khi bạn đóng vai trò là người
xuất khẩu
Trong thanh toán xuất nhập khẩu, người xuất khẩu có trách nhiệm chuẩn bị
hàng, giao hàng và lập bộ chứng từ nhận hàng cho người nhập khẩu. Khi ngân
hàng là trung gian thanh toán giữa người bán và người mua thì ngân hàng chủ làm
việc dựa trên bộ chứng từ mà người bán lập ra. Vì vậy trong quá trình thanh toán
người xuất khẩu cần lưu ý những vấn đề sau:
1. Khi nhận được L/C từ ngân hàng thông báo, nếu nhà xuất khẩu kiểm tra các
điều kiện chứng từ không kĩ, chấp nhận cả những yêu cầu bất lợi mà nhà mình
không thể đáp ứng được trong khâu lập chứng từ sau này. Khi các yêu cầu đó

không được thoả mãn, ngân hàng phát hành từ chối bộ chứng từ và không thanh
toán. Lúc đó, nhà nhập khẩu sẽ có lợi thế để thương lượng lại về giá cả nằm ngoài
các điều khoản của L/C và nhà xuất khẩu sẽ gặp bất lợi.
2. Trong thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàng mở L/C đứng ra cam kết thanh
toán cho người xuất khẩu khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với nội dung của
L/C, ngân hàng chỉ làm việc với các chứng từ quy định trong L/C. Phương thức
thanh toán này đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán với nội
dung quy định
trong L/C. Chỉ cần một sơ suất nhỏ trong việc lập chứng từ thì nhà xuất khẩu cũng
có thể bị ngân hàng mở L/C và người mua bắt lỗi, từ chối thanh toán. Do đó, việc
lập bộ chứng từ thanh toán là một khâu quan trọng và rất dễ gặp rủ ro đối với nhà
xuất khẩu.
Một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với L/C phải đáp ứng được các yêu cầu sau :
– Các chứng từ phải phù hợp với luật lệ và tập quán thương mại mà hai nước
người mua và người bán đang áp dụng và được dẫn chiếu trong L/C.
– Nội dung và hình thức của các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng yêu
cầu đề ra tron L/C.
22


Nhóm 2

– Những nội dung và các số liệu có liên quan giữa các chứng từ không được mâu
thuẫn với nhau, nếu có sự mâu thuẫn giữa các chứng từ mà từ đó người ta không
thể xác định một cách rõ ràng, thống nhất nội dung thuộc về tên hàng, số lượng,
trọng lượng, giá cả, tổng trị giá, tên của người hưởng lợi…thì các chứng từ đó sẽ
bị
ngân hàng từ chối thanh toán vì bộ chứng từ đó mâu thuẫn với nhau
– Bộ chứng từ phải được xuất trình tại địa điểm qui định trong L/C và trong thời
hạn hiệu lực của L/C.

Trên thực tế có rất nhiều vấn đề xảy ra trong quá trình lập chứng từ như là:
+ Lập chứng từ sai lỗi chính tả, sai tên, địa chỉ của các bên tham gia, của hãng vận
tải
+ Chứng từ không hoàn chỉnh về mặt số lượng.
+ Các sai sót trên bề mặt chứng từ : số tiền trên chứng từ vượt quá giá trị của L/C;
các chứng từ không ghi số L/C, không đánh dấu bản gốc; các chứng từ không
khớp nhau hoặc không khớp với nội dung của L/C về số lượng, trọng lượng, mô tả
hàng hoá…; các chứng từ không tuân theo quy định của L/C về cảng bốc dỡ hàng,
về hãng vận tải, về phương thức vận chuyển hàng hóa…
Tất cả những vấn đề trên đều là những nguyên nhân gây nên sai sót cho nhà XK
khi lập bộ chứng từ thanh toán.
Ngoài ra, do sự khác biệt về tập quán, luật lệ ở mỗi nước cho nên dễ dẫn đến
những sai sót khi nhà xuất khẩu hoàn tất bộ chứng từ hàng hoá để gửi ngân hàng
xin thanh toán.
3. Nếu nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản
thanh toán hay chấp nhận có thể đều bị từ chối, và nhà xuất khẩu phải tự xử lý
hàng hoá như dỡ hàng, lưu kho cho đến khi vấn đề được giải quyết hoặc phải tìm
người mua mới, bán đấu giá hay chở hàng về quay về nước. Đồng thời, nhà xuất
khẩu phải chịu những chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho… trong khi đó
không biết rõ lập trường của nhà nhập khẩu là sẽ đồng ý hay từ chối nhận hàng vì
lý do bộ chứng từ có sai sót.
4. Nếu ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán, thì cho dù bộ chứng từ xuất
trình là hoàn hảo thì cũng không được thanh toán.
5. Thư tín dụng có thể huỷ ngang có thể được ngân hàng phát hành sửa đổi, bổ
sung hay huỷ bỏ bất cứ lúc nào trước khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ mà
không cần sự đồng ý của nhà xuất khẩu.
IV. Kết luận
Trong nên kinh tế Việt Nam hiện nay tồn tại khá nhiều phương thức thanh toán
quốc tế, tuy nhiên phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một phương pháp
phổ biến rộng rãi nhờ vào khả năng bảo đảm quyền lợi cho cả nhà xuất khẩu và

nhập khẩu
Thư tín dụng, gọi tắt là L/C là văn bản pháp lý một ngân hàng theo yêu cầu của
khách hàng đứng ra cam kết sẽ trả cho người thụ hưởng một số tiền nhất định nếu
người xuất trình bộ chứng từ phù hợp với những quy định đã nêu trong thư tín
dụng. Quy trình mở cũng như thanh toán L/C trải qua nhiều giai đoạn cho thấy
23


Nhóm 2

phương thức này vẫn tương đối rườm rà, tốn kém nhiều chi phí và tồn tại nhiều rủi
ro
Hiểu rõ và đầy đủ về phương thức thanh toán tín dụng chắc chắn sẽ giúp ích, tạo
điều kiện cho chúng ta khi tham gia thực hành thanh toán quốc tế, giảm thiểu rủi
ro, sai sót và các vấn đề pháp lý liên quan đến phương thức này.

24



×