Tải bản đầy đủ (.doc) (61 trang)

Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam khi gia nhập WTO

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (445.95 KB, 61 trang )

§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
A . LỜI MỞ ĐẦU
Sau một năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nền kinh
tế Việt Nam đã chứng kiến những chuyển biến rất tích cực : tăng trưởng kinh
tế đạt 8,5%, mức tăng cao nhất trong 10 năm qua.Trong quá trình hội nhập,
năng lực cạnh tranh của Việt Nam cũng như của các doanh nghiệp đã và đang
được nâng lên. Trong đó khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) giữ
một vị trí vô cùng quan trọng và đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế,
vào nguồn thu ngân sách quốc gia và chi phối hầu hết các hoạt động phân
phối (bán lẻ) của cả nước. Hiện cả nước có gần 200.000 DN và theo dự kiến
sẽ thành lập thêm 320.000 DN mới để đưa tổng số lên khoảng 500.000 DN
vào năm 2010. Trong số 320.000 DN mới sẽ thành lập, số lao động thu hút
trong các DN nhỏ và vừa có thể lên đến 2,7 triệu người. Tuy nhiên hạn chế
lớn nhất của các DN này là sức cạnh tranh còn yếu. Nghị định số
90/2001/NĐ-CP đã khẳng định : “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là một
nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nhà nước khuyến khích và tạo thuận
lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao
năng lực quản lý, phát triển khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng
các mối liên kết với các loại hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả kinh
doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường; phát triển sản xuất, kinh doanh,
tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động.”
Gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) để đưa đất nước hội
nhập, một mốc quan trọng nhưng không phải điểm mốc cuối cùng. WTO mở
ra nhiều cơ hội mới cho nền kinh tế nước ta cũng như mỗi DN thu hút thêm
sức mạnh để tăng cường năng lực cạnh tranh, phát triển nhanh và bền vững.
1
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
Mỗi DN cần nhận rõ các cơ hội, tận dụng mọi khả năng từ nhiều phía, trong
nước và ngoài nước có lợi cho mình, cũng như những khó khăn và thách thức
từ quá trình hội nhập. Xuất phát từ tình hình các DN nói chung và từ các


DNVVN nói riêng, em xin chọn đề tài : “Nâng cao năng lực cạnh tranh
của Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam khi gia nhập WTO” nhằm tìm ra
những hạn chế về khả năng cạnh tranh của các DNVVN và những giải pháp
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của khu vực này.
Đề án gồm 3 phần chính :
Phần 1 : Những vấn đề lý luận về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của
DNVVN ở Việt Nam trong hội nhập WTO.
Phần 2 : Năng lực canh tranh của các DNVVN ở Việt Nam khi gia nhập
WTO.
Phần 3 : Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của DNVVN ở Việt Nam
khi gia nhập WTO.
Trong quá trình thực hiện Đề án em đã hết sức cố gắng nhưng do hạn chế
về trình độ và thời gian nên bài viết không thể không có những thiếu sót. Rất
mong sự đóng góp ý kiến của thầy giáo để bài viết của em được hoàn thiện
hơn. Em xin chân thành cám ơn!

Sinh viên:
Phạm Thị Chiên
2
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
B. NỘI DUNG
PHẦN 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ
KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DNVVN Ở VIỆT NAM
TRONG HỘI NHẬP WTO
I. CẠNH TRANH VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH
NGHIỆP.
1.Khái niệm và vai trò của cạnh tranh.
1.1.Khái niệm
Từ khi nước ta thực hiện đường lối mở cửa nền kinh tế, từ nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của

Nhà nước theo định hướng XHCN thì vấn đề cạnh tranh bắt đầu xuất hiện và
len lỏi vào từng bước đi của Doanh nghiệp. Cạnh tranh vốn là một quy luật tự
nhiên và khách quan của nền kinh tế thị trường, là động lực thúc đẩy sản xuất,
lưu thông hàng hoá phát triển. Đối với nền kinh tế thị trường, các khái niệm
liên quan tới cạnh tranh còn rất khác nhau.
Theo C.Mác “ Cạnh tranh là sự ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm
giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt
được những lợi nhuận siêu ngạch”, có các quan niệm khác lại cho rằng “ cạnh
tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình
sao cho tốt hơn các Doanh nghiệp khác ”.
Theo kinh tế chính trị học: “ Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối
thử nhằm giành giật thị trường khách hàng cho Doanh nghiệp mình”. Trong nền
kinh tế thị trường cạnh tranh được hiểu là : “sự ganh đua giữa các Doanh nghiệp
trên thị trường nhằm giành giật được ưu thế hơn về cùng một loại sản phẩm
hàng hoá dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với đối thủ cạnh tranh.”
Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất đó
3
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với
nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tự thay
thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận.
1.2. Vai trò của cạnh tranh.
Cạnh tranh có vai trò đặc biệt không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn
cả người tiêu dùng và nền kinh tế :
- Cạnh tranh cho phép sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối ưu.
- Khuyến khích áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng.
- Thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu
quả kinh tế.
- Làm cho giá cả hàng hoá, dịch vụ giảm xuống nhưng chất lượng lại

được nâng cao, kích thích sức mua, làm tăng tốc độ tăng trưởng của nền kinh
tế.
2. Khả năng cạnh tranh.
2.1 Khái niệm khả năng cạnh tranh.
Hiện nay, một doanh nghiệp muốn có vị trí vững chắc trên thị trường và
thị trường ngày càng được mở rộng thì cần phải có một tiềm lực đủ mạnh để
có thể cạnh tranh trên thị trường. Cái đó chính là khả năng cạnh tranh của một
doanh nghiệp. Khả năng cạnh tranh (competitiveness) là thuật ngữ được dùng
để nói đến các đặc tính cho phép một doanh nghiệp cạnh tranh một cách có
hiệu quả với các doanh nghiệp khác nhờ có chi phí thấp hoặc sự vượt trội về
công nghệ và kỹ thuật trong so sánh quốc tế. Như vậy : “Khả năng cạnh tranh
của một doanh nghiệp chính là việc có được các lợi thế cạnh tranh so với các
doanh nghiệp đối thủ. Cạnh tranh để duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên
thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện mức lợi nhuận ít nhất là bằng tỷ lệ
đòi hỏi cho việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.”
2.2. Phân loại khả năng cạnh tranh
Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế gồm khái niệm cạnh tranh quốc
4
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
gia, khái niệm cạnh tranh doanh nghiệp và khái niệm cạnh tranh của hàng hoá
và dịch vụ.
Khả năng cạnh tranh quốc gia : Là khả năng của một nền kinh tế đạt
được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư bảo đảm ổn định kinh tế xã
hội, nâng cao đời sống của người dân .
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp : Khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi
nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế.
Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm và dịch vụ.
Vì vậy mà có phân biệt khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp với khả năng
cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ.

Khả năng cạnh tranh của sản phẩm : Khả năng cạnh tranh của sản
phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó trên thị trường .
2.3 Những nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp trên thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, khả năng cạnh tranh của bất kỳ một doanh
nghiệp nào cũng phải chịu ảnh hưởng của ba nhóm nhân tố sau :
+Nhóm nhân tố thuộc môi trường vĩ mô.
Đây là nhóm nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Nhóm nhân tố này bao gồm các nhân tố sau :
* Các nhân tố về mặt kinh tế.
* Các nhân tố về chính trị, luật pháp.
* Các nhân tố về khoa học – công nghệ.
* Các yếu tố về văn hoá-xã hội.
* Các yếu tố tự nhiên.
+Nhóm nhân tố thuộc môi trường ngành.
Môi trường ngành là môi trường phức tạp nhất và ảnh hưởng nhiều nhất
đến cạnh tranh. Sự thay đổi thường diễn ra thường xuyên khó dự báo được và
5
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
phụ thuộc vào các lực lượng sau đây :
- Sức ép của đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành : Khi trong ngành kinh
doanh của doanh nghiệp có số lượng đông đối thủ cạnh tranh hoặc có nhiều
đối thủ thống lĩnh thị trường thì cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt hơn.
- Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn sẽ gia nhập thị trường
- Sức ép của nhà cung ứng :
- Sức ép của khách hàng :.
- Sự xuất hiện các sản phẩm thay thế : Khi trên thị trường xuất hiện thêm
sản phẩm mà doanh nghiệp đang sản xuất tất yếu sẽ giảm khả năng tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp trên thị tưrờng.
+Nhân tố bên trong doanh nghiệp.

Nguồn nhân lực bao gồm :
- Quản trị viên cấp cao : Gồm ban giám đốc và các trưởng phòng phó ban.
Đây là đội ngũ có ảnh hưởng quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
- Quản trị viên cấp trung gian : Đây là độ ngũ quản lý trực tiếp phân xưởng
sản xuất đòi hỏi phải có kinh nghiệm và khả năng hợp tác, ảnh hưởng tới tốc
độ sản xuất và chất lượng sản phẩm.
- Đội ngũ quản trị viên cấp thấp và cán bộ công nhân viên trực tiếp sản xuất
sản phẩm : Đội ngũ công nhân ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm,
do vậy cần tạo điều kiện cho họ hoàn thành tốt những công việc được giao.
Nguồn lực vật chất ( Máy móc thiết bị và công nghệ )
Máy móc thiết bị và công nghệ ảnh hưởng rất lớn đến năng lực của doanh
nghiệp, nó là nhân tố quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm, chất lượng
của sản phẩm và giá thành của sản phẩm. Một doanh nghiệp có hệ thống trang
thiết bị hiện đại thì sản phẩm của họ có chất lượng cao, giá thành hạ. Như vậy
nhất định khả năng cạnh tranh sẽ tốt hơn.
6
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
Nguồn lực tài chính.
Khả năng tài chính của doanh nghiệp quyết định tới việc thực hiện hay
không thực hiện bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính sẽ có điều kiện để đổi
mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng, hạ giá
thành. Như vậy, doanh nghiệp sẽ duy trì và nâng cao sức cạnh tranh, củng cố
vị trí của mình trên thị trường.
2.4. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Để phản ánh khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp, người ta dùng rất
nhiều các chỉ tiêu khác nhau gồm các chỉ tiêu định lượng và các chỉ tiêu định tính.
Các chỉ tiêu định lượng.

* Thị phần của doanh nghiệp : Chỉ tiêu này được đo bằng tỷ lệ phần trăm
doanh số của công ty so với doanh số của toàn ngành. Chỉ tiêu này càng cao
chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao và ngược lại.
* Doanh thu : Dựa vào doanh thu có thể đánh giá được khả năng tiêu thụ
của doanh nghiệp là tốt hay không tốt. Để sử dụng được chỉ tiêu này thì doanh
nghiệp có thể chọn từ 3 đến 5 đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành để
đưa ra so sánh và kết luận.
* Tỷ suất lợi nhuận : Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản
ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và cũng thể hiện tính hiệu quả
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
* Quy mô về vốn : Một doanh nghiệp có tổng vốn kinh doanh lớn sẽ có khả
năng cạnh tranh cao hơn do có điều kiện mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ.
* Năng suất lao động: Được đo bằng giá trị sản lượng / một công nhân.
Năng suất lao động càng cao phản ánh doanh nghiệp càng có khả năng giảm
chi phí, hạ giá thành, do đó có khả năng cạnh tranh càng cao trên thị trường.
* Giá thành sản xuất : Phản ánh khả năng cạnh tranh về giá của doanh
nghiệp. Giá thành sản xuất càng thấp, giá bán càng giảm, do đó sẽ tăng khả
7
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu định tính .
* An toàn trong kinh doanh : Chỉ tiêu chủ yếu về an toàn trong kinh
doanh là đưa dạng hoá đầu tư và sản phẩm với kết quả cuối cùng là bảo đảm
và phát triển nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao
phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
* Vị thế của doanh nghiệp trên thị trường: Các doanh nghiệp phải xây
dựng nhãn hiệu riêng của mình và khi đọc đến tên nhãn hiệu người tiêu dùng
trên toàn thế giới có thể phân biệt được tiềm lực, chất lượng, phương thức
phục vụ của sản phẩm này như thế nào so với các sản phẩm khác
II. DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ.

1. Định nghĩa và vai trò doanh nghiệp vừa và nhỏ
Để phân chia quy mô DNVVN, các quốc gia căn cứ vào những tiêu
chuẩn : số lao động thường xuyên, vốn sản xuất, doanh thu, lợi nhuận, giá trị
gia tăng. Ở mỗi quốc gia khác nhau, tiêu chí để phân biệt DNVVN cũng khác
nhau. Trên thực tế, các nước thường căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản là vốn sản
xuất, số lao động thường xuyên để phân biệt DNVVN với các doanh nghiệp
lớn, nhưng cũng tùy theo từng ngành, từng thời kỳ và tùy thuộc vào trình độ
phát triển kinh tế của từng nước.
Ở Việt Nam, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP đưa ra chính thức định nghĩa
doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất,
kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng
ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300
người”. Các doanh nghiệp cực nhỏ được quy định là có từ 1 đến 9 nhân công,
doanh nghiệp có từ 10 đến 49 nhân công được coi là doanh nghiệp nhỏ.
Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong
quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp
8
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói
trên.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm :
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà
nước;
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã;
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP
ngày 03 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh.
Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, các DNVVN ngày càng khẳng định
vị trí và đóng góp của mình trong nền kinh tế. DN có một số vai trò sau:
Thứ nhất, DN đóng vai trò quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm ổn

định, giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội.
Thứ hai, DN huy động triệt để các nguồn lực để phát triển kinh tế bao gồm
vốn, công nghệ, tài nguyên, con người... tạo điều kiện sử dụng tài nguyên sẵn
có, nguồn vốn tiết kiệm trong dân cư để đầu tư tạo động lực cho sự phát triển
kinh tế.
Thứ ba, cung cấp hàng hoá và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
người tiêu dùng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước.
Thứ tư, góp phần gia tăng nguồn hàng xuất nhập khẩu, tăng nguồn thu cho
ngân sách nhà nước, nguồn thu ngoại tệ, tạo tiền đề cho sự phát triền của đất
nước.
2. Ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thoả
mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh
hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp,
9
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
đặc biệt là rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu
và thay đổi của thị trường. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể bước vào thị
trường mới mà không thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp lớn (do quy mô
doanh nghiệp nhỏ), sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, những khoảng
trống vừa và nhỏ trên thị trường mà các doanh nghiệp lớn không đáp ứng vì
mối quan tâm của họ đặt ở các thị trường có khối lượng lớn. Doanh nghiệp
vừa và nhỏ là loại hình sản xuất có địa điểm sản xuất phân tán, tổ chức bộ
máy chỉ đạo gọn nhẹ nên nó có nhiều điểm mạnh:
Thứ nhất, cần ít vốn, chi phí quản lý, đào tạo không lớn, thường hướng
vào những lĩnh vực phục vụ trực tiếp đời sống, những sản phẩm có sức mua
cao, dung lượng thị trường lớn, nên huy động được các nguồn lực xã hội, các
nguồn vốn còn tiềm ẩn trong dân.
Thứ hai, có thể sử dụng các loại máy móc, thiết bị sản xuất trong nước, dễ
dàng thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật mà không cần nhiều

chi phí; có thể kết hợp cả những công nghệ truyền thống với công nghệ hiện
đại, sản xuất những sản phẩm chất lượng cao trong điều kiện sản xuất không
thuận lợi.
Thứ ba, nhạy cảm với những biến động của thị trường, chuyển đổi mặt
hàng nhanh phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, tận dụng được các
nguồn nguyên vật liệu, nhân lực tại chỗ.
Thứ tư, dễ dàng duy trì sự tự do cạnh tranh, làm vệ tinh gia công, chế tác
cho các doanh nghiệp lớn. DNVVN có thể len lỏi, xâm nhập vào các thị
trường ngách và dễ dàng tạo nên sự phát triển cân đối giữa các vùng, miền
trong lãnh thổ một quốc gia.
3. Hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các hạn chế của loại hình doanh nghiệp này đến từ hai nguồn. Các hạn chế
10
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
khách quan đến từ thực tế bên ngoài, và các hạn chế đến từ chính các lợi thế
của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của DNVVN nằm trong chính đặc điểm của
nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm vào tình
trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến hành
đổi mới, nâng cấp trang thiết bị.
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường phụ thuộc vào doanh nghiệp mà nó
cung cấp sản phẩm.
- Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là
các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất
lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường.
- Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp, thiếu bí
quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm,
thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển,... nói cách khác là không đủ năng
lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao được năng
suất và hiệu quả kinh doanh.

- Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trường các doanh nghiệp vừa và
nhỏ thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thị trường.
- Do tính chất vừa và nhỏ của nó DNVVN gặp khó khăn trong thiết lập và
mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương doanh
nghiệp đó đang hoạt động.
- Cũng do tính chất vừa và nhỏ của nó, DNVVN gặp khó khăn trong thiết
lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường
III. TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ.
11
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
1. Gia nhập WTO cơ hội và thách thức :
Trên cơ sở những thành tựu đạt được sau gần 10 năm đổi mới, năm 1995
nước ta chính thức làm đơn xin gia nhập Tổ chức thương mại thế giới. Nhận
thức rõ “toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng
nhiều nước tham gia” (Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khoá
VIII tại Đại hội toàn quốc của Đảng tháng 4 năm 2001) và thực hiện Nghị
quyết 07 của Bộ Chính trị khoá VIII về hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta đã
nỗ lực hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm hình thành đồng bộ các yếu tố của
kinh tế thị trường, kiên trì đàm phán trên cả 2 kênh song phương (mở cửa thị
trường) và đa phương (thực hiện các hiệp định của Tổ chức thương mại thế
giới). Ngày 7/11/2006, tại Geneve (Thụy Sĩ) đã diễn ra trọng thể Lễ ký Nghị
định thư về việc Việt Nam được chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO). Sự kiện này mở ra cơ hội mới cho sự phát triển đất nước và cả
những thách thức cần phải vượt qua khi Việt Nam được tham gia vào tổ chức
thương mại lớn nhất toàn cầu.
Tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới, nước ta đứng trước những
cơ hội lớn như sau:
Một là: Được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước
thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ

mà các nước mở cửa theo các Nghị định thư gia nhập của các nước này,
không bị phân biệt đối xử. Điều đó, tạo điều kiện cho chúng ta mở rộng thị
trường xuất khẩu và trong tương lai - với sự lớn mạnh của doanh nghiệp và
nền kinh tế nước ta - mở rộng kinh doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia.
Với một nền kinh tế có độ mở lớn như nền kinh tế nước ta, kim ngạch xuất
khẩu luôn chiếm trên 60% GDP thì điều này là đặc biệt quan trọng, là yếu tố
bảo đảm tăng trưởng.
Hai là: Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các
thiết chế quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của nước ta
12
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
ngày càng được cải thiện. Đây là tiền đề rất quan trọng để không những phát
huy tiềm năng của các thành phần kinh tế trong nước mà còn thu hút mạnh
đầu tư nước ngoài, qua đó tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ
quản lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và
chuyển dịch cơ cấu lao động, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, bảo đảm tốc độ tăng trưởng và rút ngắn khoảng cách phát triển.
Ba là: Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành
viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để
đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn,
có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp. Đương nhiên
kết quả đấu tranh còn tuỳ thuộc vào thế và lực của ta, vào khả năng tập hợp
lực lượng và năng lực quản lý điều hành của ta.
Bốn là: Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới, cải cách
thể chế kinh tế ở trong nước để phát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài
nhưng chính việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc
đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng
bộ hơn, có hiệu quả hơn.
Năm là: Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm

đổi mới, việc gia nhập WTO sẽ nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo
điều kiện cho ta triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại theo phương
châm: Việt Nam mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong
cộng đồng thế giới vì hoà bình, hợp tác và phát triển.
Trong khi nhận thức rõ những cơ hội có được do việc gia nhập WTO
mang lại, cần thấy hết những thách thức mà chúng ta phải đối đầu, những
thách thức này bắt nguồn từ sự chênh lệch giữa năng lực nội sinh của đất
nước với yêu cầu hội nhập, từ những tác động tiêu cực tiềm tàng của chính
quá trình hội nhập. Những thách thức này gồm:
Một là: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên
13
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
bình diện rộng hơn, sâu hơn. Đây là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của ta với sản
phẩm các nước, giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước, không
chỉ trên thị trường thế giới và ngay trên thị trường nước ta do thuế nhập khẩu
phải cắt giảm từ mức trung bình 17,4% hiện nay xuống mức trung bình 13,4%
trong vòng 3 đến 5 năm tới, nhiều mặt hàng còn giảm mạnh hơn. Cạnh tranh
không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh
nghiệp. Cạnh tranh còn diễn ra giữa nhà nước và nhà nước trong việc hoạch
định chính sách quản lý và chiến lược phát triển nhằm phát huy nội lực và thu
hút đầu tư từ bên ngoài. Tổng hợp các yếu tố cạnh tranh trên đây sẽ tạo nên sức
cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, sức cạnh tranh quốc gia.
Hai là: Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không
đồng đều. Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở
mỗi quốc gia, sự “phân phối” lợi ích cũng không đồng đều. Một bộ phận dân
cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá;
nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng
lên, phân hoá giàu nghèo sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách
phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ
trương của Đảng: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực

hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”.
Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ
thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên. Sự biến động trên thị trường các
nước sẽ tác động mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏi chúng ta phải có
chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình,
cơ chế quản lý phải tạo cơ sở để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực,
hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực trước những biến động trên thị trường thế
giới. Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn
thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là khó
khăn không nhỏ, đòi hỏi chúng ta phải phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, với lòng
14
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
tự hào và trách nhiệm rất cao trước quốc gia, trước dân tộc.
Bốn là: Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo
vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền.
Như vậy, gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, hội nhập kinh tế quốc
tế vừa có cơ hội lớn, vừa phải đối đầu với thách thức không nhỏ. Tận dụng
được cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua và đẩy lùi thách thức, tạo ra
cơ hội mới lớn hơn.
2. Tác động của việc gia nhập WTO đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là một chủ trương lớn của Đảng. Sau
một năm gia nhập WTO, bên cạnh những thuận lợi chưa từng có, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ cũng đang đứng trước những thách thức to lớn. Để tiếp
tục phát triển, cần nhận rõ các ưu thế lẫn các lực cản. Đánh giá chính xác
được sự tác động tích cực và hạn chế của WTO đến doanh nghiệp vừa và nhỏ
sẽ giúp đề xuất các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu phát triển về số lượng,
nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
2.1. Những tác động tích cực đến doanh nghiệp vừa và nhỏ khi Việt
Nam gia nhập WTO :

- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có hành lang pháp lý đầy đủ và thuận lợi
hơn để phát triển. Thật vậy, năm 2000, Luật Doanh nghiệp ra đời, được sửa
đổi bổ sung vào năm 2005 (thực chất là luật dành cho kinh tế tư nhân). Từ đó
đến nay, dưới sức ép của tiến trình gia nhập WTO, Chính phủ Việt Nam cũng
đã ban hành nhiều nghị định mang tính pháp lý dành riêng cho sự hỗ trợ
doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển.
- Hội nhập WTO tạo môi trường kinh doanh bình đẳng hơn cho doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Nhìn lại thời kỳ bao
cấp, quản lý nền kinh tế theo phương thức kế hoạch hóa tập trung, khu vực
kinh tế tư nhân không những không có luật chính thức để điều tiết sự hoạt
15
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
động, mà còn bị sự "kỳ thị" của xã hội. Đến nay, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
thuộc khu vực kinh tế tư nhân được hoạt động bình đẳng trong một môi trường
pháp lý chung: kể từ năm 2006 các khu vực kinh tế của Việt Nam, không kể
quy mô đều chịu sự điều tiết chung của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, các
Bộ luật về thuế... Ngoài ra, vai trò của doanh nghiệp tư nhân ngày càng được
nâng cao, doanh nhân làm ăn có hiệu quả, thành đạt được xã hội coi trọng.
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có điều kiện thuận lợi tiếp cận với thị
trường thế giới. Từ năm 2002 trở lại đây, mọi doanh nghiệp không phân biệt
thành phần kinh tế, kể cả hộ cá thể có đăng ký kinh doanh hợp pháp đều có
quyền xuất - nhập khẩu trực tiếp với nước ngoài. Các rào cản về giấy phép,
hạn ngạch xuất - nhập khẩu giảm rất nhiều; việc đi lại của các cá nhân Việt
Nam ra nước ngoài hết sức dễ dàng, khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ có
điều kiện thuận lợi tiếp cận với thị trường thế giới.
Môi trường kinh doanh minh bạch và công khai. Nếu trước đây các thông tin
về cơ chế chính sách, thủ tục hành chính có liên quan đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp chưa được công khai đầy đủ, thường thay đổi, khiến cho các
doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận không kịp thời, tốn
nhiều thời gian và tiền bạc thì nay từ trung ương đến địa phương, các cơ quan

của nhà nước đều công khai công bố dưới nhiều hình thức các cơ chế chính sách
có liên quan đến doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh minh bạch, rõ ràng đã
ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
-Thủ tục hành chính thuận lợi, cơ hội tốt để loại trừ tham nhũng. Chương
trình cải cách thủ tục hành chính đang từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập
quốc tế. Cơ chế "một cửa" ở các ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất;
hoàn thiện cơ chế đăng ký kinh doanh; hoàn thiện thủ tục hải quan, thủ tục
nộp thuế... đã giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ giảm chi phí thời gian và
tiền bạc, nhờ đó mà tăng năng lực cạnh tranh.
- Cùng với tiến trình hội nhập, thuế nhập khẩu và các rào cản phi thuế
16
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
quan giảm. Giá nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu phục vụ đầu vào của doanh
nghiệp giảm, dẫn đến chi phí sản xuất hàng hóa tại Việt Nam giảm, điều này
rất có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi nền sản xuất hàng hóa
Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu; giúp các doanh nghiệp Việt Nam
thuận lợi hơn trong việc đưa hàng hóa thâm nhập vào thị trường thế giới. Việt
Nam được hưởng Quy chế Tối huệ quốc tại 164 nước trên thế giới nên nhiều
ngành hàng, mặt hàng được miễn giảm thuế, xóa bỏ hạn ngạch. Đây chính là
nguyên nhân cơ bản tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ; sự cạnh tranh trên thị trường tăng, tạo động lực thúc đẩy
các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao
chất lượng sản phẩm, hạ chi phí để nâng cao sức cạnh tranh...
2.2 Những hạn chế của việc gia nhập WTO đối với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ Việt Nam
- Sự chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế ở tất cả các cấp chưa đáp ứng yêu
cầu. Hiện tại, các ngành, các bộ đang trong quá trình xây dựng chương trình
kế hoạch hội nhập quốc tế. Nhiều nơi chưa nhận diện rõ hội nhập mang lại cơ
hội gì, thách thức gì một cách cụ thể. Vấn đề này sẽ ảnh hưởng không nhỏ
đến xây dựng cơ chế chính sách đáp ứng yêu cầu hội nhập, gây khó khăn cho

các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bởi các doanh
nghiệp này chưa nhận diện rõ cơ hội và thách thức do hội nhập kinh tế quốc tế
và WTO mang lại, do vậy chưa xây dựng cho mình chiến lược kinh doanh
phù hợp.
- Môi trường kinh doanh của Việt Nam đã cải thiện nhiều, nhưng chưa
nhanh, chưa thực sự mang tính cách mạng. Theo xếp hạng của "Doing
Business - 2007" - một tổ chức có uy tín, Việt Nam xếp hạng 104/175 nước
tham gia khảo sát, tụt 6 bậc so với năm 2006; ở hàng năng lực cạnh tranh tụt 3
bậc, đứng thứ 132 trên thế giới. Sự thay đổi cơ chế quản lý chưa đáp ứng yêu
cầu hội nhập WTO, do đó chưa tác động mạnh nhằm mang lại những thay đổi
17
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
lớn cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung và cho khu vực doanh nghiệp
vừa và nhỏ nói riêng.
Nguồn vốn đầu tư trong nước tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn
chế, điều kiện nâng cấp và hiện đại hóa cơ sở vật chất rất thấp, khó có khả
năng hội nhập sâu rộng trong điều kiện cạnh tranh gay gắt.
- Thiếu thông tin về thị trường, trình độ quản lý doanh nghiệp yếu. đưa số
các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có chiến lược kinh doanh, chưa xây dựng
chương trình hội nhập khi Việt Nam đã gia nhập WTO. Theo số liệu khảo sát
các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 50% số
giám đốc các công ty chưa tham gia các lớp đào tạo quản trị kinh doanh,
nhiều người trong số họ chưa tốt nghiệp phổ thông, trình độ tiếng Anh, sử
dụng công nghệ thông tin kém, khiến tỷ lệ doanh nghiệp bị đóng cửa khá cao,
bình quân trên 10%/năm.
Theo cam kết WTO, Việt Nam bỏ tài trợ trực tiếp đối với hoạt động xuất
khẩu, điều này sẽ ảnh hưởng nhất định đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
khi tham gia xuất khẩu hàng hóa ra thị trường khu vực và thế giới. Những quy
định, chuẩn mực kinh doanh mới như: bảo hộ quyền sở hữu tài sản trí tuệ; vấn
đề rào cản kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh quốc tế, quản lý tiêu chuẩn

hóa quốc tế, chuẩn mực nâng cao tính cạnh tranh cho doanh nghiệp... đã tác
động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
mới được thành lập, kinh nghiệm kinh doanh còn nhiều hạn chế.
-Việc Việt Nam chưa được thừa nhận có nền kinh tế thị trường, theo cam
kết khi gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường cho
đến năm 2018. Điều này đã tác động đến khả năng tự vệ, chống bị kiện phá
giá của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong hoạt động thương mại
quốc tế. Bên cạnh đó, nền công nghiệp phụ trợ của Việt Nam chưa phát triển,
vì vậy, đưa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị lệ thuộc vào nguồn nguyên
liệu nhập khẩu; nhập siêu ở Việt Nam gia tăng. Nhập khẩu nhiều dẫn tới chi
18
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
phí và rủi ro kinh doanh tăng, tác động hạn chế đến khả năng cạnh tranh của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở trong nước cũng như thị trường quốc tế.
Từ những thuận lợi và thách thức trên, việc đề xuất các giải pháp để
doanh nghiệp vừa và nhỏ nắm bắt cơ hội, hạn chế thách thức sẽ mang ý nghĩa
thực tiễn lớn lao, góp phần phát triển khu vực kinh tế năng động này.
19
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
PHẦN 2 : NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO.
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC DNVVN TẠI
VIỆT NAM.
Quá trình hình thành và phát triển các DNVVN ở Việt nam diễn ra từ khá
lâu, trải qua nhiều giai đoạn với những đặc điểm khác nhau :
Giai đoạn trớc năm 1945, khi mà Việt nam còn nằm trong ách thống trị
của thực dân Pháp thì cũng đã tồn tại một số lượng đáng kể các doanh nghiệp
mà lúc đó là các cơ sở, các xưởng sản xuất nhỏ chủ yếu tập trung vào các lĩnh
vực nông nghiệp, các nghề thủ công truyền thống.
Trong giai đoạn từ cuộc cách mạng tháng 8/1945 thành công và cả nước

bước vào giai đoạn kháng chiến chống pháp. Các DNVVN lúc này tồn tại cả
ở vùng ta và vùng địch, đáng chú ý là các DNVVN ở vùng căn cứ đã đóng
góp vai trò đáng kể, vừa phục vụ nhu cầu thời chiến của nhân dân, vừa đáp
ứng nhu cầu hậu cần cho kháng chiến lâu dài.
Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, cả miền bắc bắt tay vào xây dựng lại đất
nước trên con đường xây dựng CNXH. Các DNVVN ra đời rất nhanh và
nhiều trong giai đoạn này, lúc này chịu sự chi phối của đường lối chính trị
hình thức hợp tác xã, tổ hợp tác kinh doanh được khuyến khích phát triển, còn
các DNVVN dưới hình thức sở hữu t nhân thì bị loại trừ, trong khi đó loại
hình DNVVN t nhân ở miền Nam lúc đó lại rất phát triển.
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975 và đến trớc đại hội VIII. Điểm đáng
lưu ý trong các DNVVN ở giai đoạn này là ở Miền nam, kinh tế tư nhân là
hình thức bị kỳ thị và các DNVVN dưới hình thức sở hữu tư nhân buộc phải
quốc hữu hoá, DNVVN của tư nhân bị cải tạo, xoá bỏ, không khuyến khích
phát triển. Nếu muốn tồn tại thì phải tồn tại dưới dạng khác như : hình thức
hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, công tư hợp danh.
20
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt nam năm 1986 thực sự là một bước
ngoặt, Đại hội VI đã đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức sở hữu khác nhau,
thay đổi quan điểm với kinh tế tư nhân, từ kỳ thị chuyển sang coi trọng. Chủ
trương này đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng loạt cơ sở sản xuất tư nhân, cá
thể, hộ gia đình kinh doanh ngành công nghiệp, dịch vụ, thương mại ra đời và
phát triển.
Bên cạnh đó, từ năm 1986 đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản
pháp quy, quy định chế độ chính sách đối với hộ gia đình, hộ cá thể, doanh
nghiệp tư nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp Nhà nước. Đáng chú ý là Nghị
quyết 16 của Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam (1988); Nghị định 27, 28,
29 /HĐBT (1988) về kinh tế cá thể, kinh tế hợp tác và hộ gia đình; Nghị định

66/HĐBT về nhóm kinh doanh dưới vốn pháp định, Công văn số 681/CP-
KTN ngày 20/6/98 về định hướng chiến lược và chính sách phát triển
DNVVN và một loạt các Luật như: Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân
mà nay hai Luật này đã được gộp lại thành Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác
xã, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật
đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanh
nghiệp phát triển.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của mình, DNVVN vẫn gặp không ít
những khó khăn, vớng mắc, và nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh
tế của đất nước, chính phủ đã có Nghị định 90/2001/CP-ND ngày 23/11/2001
về chính sách trợ giúp, phát triển DNVVN trong đó quy định rõ khái niệm,
tiêu chí xác định DNVVN ở Việt Nam, khẳng định tầm quan trọng của DNVVN
trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước và các biện pháp, các
chính sách hỗ trợ DNVVN phát triển. Chính phủ còn giao cho MPI đứng lên
làm đầu mối phối hợp các Bộ, các ngành và địa phương tiếp tục nghiên cứu
hoàn chỉnh dự thảo “Chiến lược và chính sách phát triển DNVVN”, đề xuất
21
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
giải pháp thực hiện để chính phủ xem xét và phê duyệt .
Nghị định cũng quy định việc thành lập “Cục Phát triển doanh nghiệp
vừa và nhỏ” trực thuộc Bộ Kế hoạch - Đầu tư, để giúp Bộ trưởng Bộ Kế
hoạch - Đầu tư thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về xúc tiến phát triển
DNVVN; thành lập “Hội đồng khuyến khích phát triển DNVVN” làm nhiệm
vụ tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích phát
triển DNVVN; thành lập “Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật DNVVN” thuộc các cơ
quan, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, nhằm thực
hiện các chương trình trợ giúp một cách thiết thực và có hiệu quả; khuyến
khích, tạo điều kiện để các DNVVN tham gia các hiệp hội doanh nghiệp đã có
và thành lập các hiệp hội, câu lạc bộ doanh nghiệp, nhằm triển khai các hoạt
động kể cả thu hút các nguồn lực từ nước ngoài để trợ giúp một cách thiết

thực, trực tiếp cho DNVVN , các dịch vụ về thông tin, tiếp thị mở rộng thị
trường, đào tạo, công nghệ... nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các
DNVVN.
Trong thời kỳ từ đổi mới đến hiện nay, số lượng doanh nghiệp của các
thành phần kinh tế có sự biến động rất lớn. Trong khi số lượng DNVVN trong
khu vực Nhà nước giảm liên tục, thì số lượng DNVVN trong khu vực tư nhân
trong công nghiệp (doanh nghiệp và công ty) tăng nhanh, số lượng lao động
trên tổng số, đóng góp cho GDP và tỷ trọng trong tổng đầu tư xã hội cũng
tăng nhanh. Quan niệm về kinh tế tư nhân cũng có nhiều đổi mới, không còn
cái nhìn kỳ thị như trong giai đoạn bao cấp, với tư tưởng giáo điều và tả
khuynh, coi kinh tế tư nhân là một loại hình kinh tế tiêu cực, là tàn dư của chế
độ cũ, là bóc lột, ăn bám…, Đến nay, kinh tế tư nhân thực sự đã được coi là
“một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt nam”.
II. KHUNG PHÁP LÝ ĐỐI VỚI CÁC DNVVN
Xác định tầm quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với phát triển
22
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
kinh tế đất nước theo xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều năm trở lại đây,
Chính phủ đã có nhiều chính sách, giải pháp lớn nhằm phát huy đến mức cao
nhất hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng của loại hình
kinh tế này. Có thể thấy rõ, hệ thống pháp luật, môi trường kinh doanh đang
dần được cải thiện và ngày càng có chuyển động tích cực :
Năm 2001
 Nghị định 90/2001/NÐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001, về trợ giúp phát
triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa (là tuyên bố cấp cao đầu tiên được ban hành).
 Quyết định số: 193/2001/QÐ/-TTg ngày 20/12/2001 của Thủ tướng
Chính phủ, về việc ban hành quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ
bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Năm 2002
 Thông tư số: 86 /2002/TT - BTC ngày 27 tháng 09 năm 2002 của Bộ

Tài chính, Hướng dẫn chi hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại đẩy mạnh
xuất khẩu.
Năm 2003
 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 12/2003/QÐ-TTg ngày 17
tháng 01 năm 2003, về chức năng, nhiệm vụ và thành viên Hội đồng khuyến
khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
 Quyết định của Bộ trưởng Thương mại về Quy định Thành lập và Quản
lý Chương trình Xúc tiến Thương mại Trọng điểm Quốc giangày 24 tháng 01
năm 2003
 Quyết định số 185 QÐ/BKH ngày 24/3/2003 của Chủ tịch Hội đồng
khuyến khích phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa, về ban hành quy chế hoạt
động của Hội đồng khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
 Quyết định số 290/2003/QĐ-BKH ngày 12/5/2003 của Bộ trưởng Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, về việc thành lập các Trung tâm Hỗ trợ Kỹ thuật Doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội, Đà Nẵng và Tp Hồ Chí Minh
23
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
 Chỉ thị số: 27/2003/CT-TTg ngày 11/12/2003 của Thủ tướng Chính
phủ, về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện luật Doanh nghiệp, khuyến khích phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Năm 2004
 Quyết định số: 115/2004/QĐ-TTg ngày 25/6/2004 của Thủ tướng
Chính phủ, về việc sửa đổi, bổ sung Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động
của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành kèm theo
Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng
Chính phủ.
 Hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về triển khai Chương trình Phát
triển nguồn nhân lực, ngày 24 tháng 11 năm 2004 .
 Quyết định số: 143/2004/Q Đ-TTg ngày 10/08/2004 của Thủ tướng
Chính phủ, về việc Phê duyệt Chương trình trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực

cho các doanh nghiệp .
 Thông tư số: 93/2004/TT-BTC ngày 29/09/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính,hướng dẫn một số nội dung Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động
của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Năm 2005 :
 Thông báo số 144/2005/TB-BKH ngày 07/10/2005, Kết quả Phiên họp
Hội đồng khuyến khích phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa
 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế Triển khai Chương
trình Xúc tiến Thương mại Quốc gia 2006-2010 ngày 3 tháng 11 năm 2005 .
 Chỉ thị số: 40/2005/CT-TTg ngày 16/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ,
về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa .
Năm 2006 :
 Thông tư số: 01/2006/TT-NHNN ngày 20/02/2006 của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, hướng dẫn một số nội dung về góp vốn thành lập Quỹ bảo
lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
24
§Ò ¸n kinh tÕ th¬ng m¹i
 Quyết định số: 236/2006/QĐ-TTg ngày 23/10/2006 của Thủ tướng
Chính phủvề Phê duyệt Kế hoạch phát triển DNVVN 2005-2010.
Năm 2007 :
 Nghị định : 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 Quy đ ịnh chi tiết Luậ t
Thương m ại về hoạ t đ ộng mua bán hàng hoá và các hoạ t đ ộng liên quan trực
tiế p đ ến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vố n đ ầ u tư nư ớc ngoài tại
Việt Nam
 Nghị định : 87/2007/NĐ-CP ngày 28/05/2007 Ban hành Quy chế thực
hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
 Thông tư số : 9/2007/TT-BTM ngày 17/07/2007 hư ớng dẫn thi hành
Nghị đ ịnh số 23/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2007 quy đ ịnh chi tiết
Luậ t Thương m ại về hoạ t đ ộng mua bán hàng hóa và các hoạ t đ ộng liên quan
trực tiế p đ ến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vố n đ ầ u tư nư ớc ngoài

tại Việt Nam.
 Nghị định : 122/2007/NĐ-CP ngày 27/07/2007 Quy đ ịnh Danh mục
doanh nghiệ p không đư ợ c đ ình công và việc giải quyết yêu cầu của tập thể lao
đ ộng ở doanh nghiệ p không đư ợ c đ ình công .
Hệ thống thể chế hỗ trợ DNVVN tại Việt Nam
Hệ thống thể chế hỗ trợ DNVVN tại Việt Nam hoạt động dưới sự chỉ đạo
của Thủ tướng được thành lập theo Nghị định 90/2001/NÐ-CP ngày
23/11/2001.
Hội đồng Khuyến khích phát triển DNVVN làm cố vấn cho Thủ tướng
trong công tác phát triển DNVVN do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm
chủ tịch. Cục Phát triển DNVVN là cơ quan điều phối chính sách liên quan
tới DNVV ở cấp trung ương đồng thời đóng vai trò là thư ký thường trực cho
Hội đồng khuyến khích phát triển DNVVN.
Sở Kế hoạch và Đầu tư dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân tỉnh/ thành
phố là cơ quan điều phối chính sách liên quan tới DNVVN ở cấp địa phương
25

×