Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

Tri thức, khoa học và công nghệ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (170.12 KB, 20 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1. Định nghĩa tri thức, khoa học, công nghệ
a) Tri thức:
•Tri thức là các thông tin, các tài liệu, các cơ sở lý luận, các kỹ năng
khác nhau, đạt được bởi một tổ chức hay một cá nhân thông qua các trải
nghiệm thực tế hay thông qua sự giáo dục đào tạo; các hiểu biết về lý thuyết
hay thực tế về một đối tượng, một vấn đề, có thể lý giải được về nó; là những
gì đã biết, đã được hiểu biết trong một lĩnh vực cụ thể hay toàn bộ, trong tổng
thể; là các cơ sở, các thông tin, tài liệu, các hiểu biết hoặc những thứ tương tự
có được bằng kinh nghiệm thực tế hoặc do những tình huống, hoàn cảnh cụ
thể. Những tranh cãi về mặt triết học nhìn chung bắt đầu với phát biểu của
Plato: tri thức như là "justified true belief". Tuy nhiên không có một định
nghĩa chính xác nào về tri thức hiện nay được mọi người chấp nhận, có thể
bao quát được toàn bộ, vẫn còn nhiều học thuyết, các lý luận khác nhau về tri
thức

•Tri thức giành được thông qua các quá trình nhận thức phức tạp: quá
trình tri giác quá trình học tập, tiếp thu, quá trình giao tiếp quá trình tranh
luận, quá trình lý luận hay kết hợp các quá trình này

•Tri thức có 2 dạng tồn tại chính là tri thức ẩn và tri thức hiện
• Tri thức hiện là những tri thức được giải thích và mã hóa dưới dạng
văn bản, tài liệu, âm thanh, phim, ảnh,… thông qua ngôn ngữ có lời hoặc
không lời, nguyên tắc hệ thống, chương trình máy tính, chuẩn mực hay các
phương tiện khác. Đây là những tri thức đã được thể hiện ra ngoài và dễ dàng
chuyển giao, thường được tiếp nhận qua hệ thống giáo dục và đào tạo chính
quy
•Tri thức ẩn là những tri thức thu được từ sự trải nghiệm thực tế, dạng tri
thức này thường ẩn trong mỗi cá nhân và rất khó “mã hóa” và chuyển giao,
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368


thường bao gồm: niềm tin, giá trị, kinh nghiệm, bí quyết, kỹ năng... VD:
Trong bóng đá, các cầu thủ chuyên nghiệp có khả năng cảm nhận bóng rất tốt.
Đây là một dạng tri thức ẩn, nó nằm trong mỗi cầu thủ. Nó không thể “mã
hóa” thành văn bản, không thể chuyển giao, mà người ta chỉ có thể có bằng
cách tự mình luyện tập.

b)Khoa học:
Khoa học (trong tiếng Latin scientia, có nghĩa là "kiến thức" hoặc
"hiểu biết") là các nỗ lực thực hiện phát minh, và tăng lượng tri thức hiểu biết
của con người về cách thức hoạt động của thế giới vật chất xung quanh.
Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát
các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm
thu thập dữ liệu, phân tích thong tin để giải thích cách thức hoạt động, tồn tại
của sự vật hiện tượng. Một trong những cách thức đó đó là phương pháp thử
nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được
và các ý tưởng thử nghiệm. Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin
mà các nghiên cứu đã tích lũy được. Định nghĩa về khoa học được chấp nhận
phổ biến đó là khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa.
Khoa học thuần túy là các môn học bao gồm các phương diện triết lý,
tôn giáo, khoa học, tín ngưỡng, xã hội học, nhân chủng học, chính trị học,
luận lý học, đạo đức học, tâm lý học, phân tâm học, thần kinh bệnh học, ngôn
ngữ học, tôn giáo học huyền bí học.
Khoa học ứng dụng là khoa học chính xác sử dụng các kiến thức thuộc
một hay nhiều lĩnh vực của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội để giải
quyết những vấn đề thực tế. Nó có liên hệ mật thiết hoặc đồng nhất với kỹ
nghệ. Khoa học ứng dụng có thể sử dụng để phát triển công nghệ
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
c) Công nghệ:
Công nghệ (hay công nghệ học hoặc kỹ thuật học) có nhiều hơn một

định nghĩa. Một trong số đó là phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, máy
móc, nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con
người. Với tư cách là hoạt động con người, công nghệ diễn ra trước khi có
khoa học và kỹ nghệ . Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết
các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình
tiêu chuẩn . Việc tiêu chuẩn hóa như vậy là đặc thù chủ yếu của công nghệ.
Khái niệm về kỹ thuật Kỹ thuật được hiểu là bao gồm toàn bộ những phương
tiện lao động và nhưng phương pháp tạo ra cơ sở vật chất.
Công nghệ (có nguồn gốc từ technologia, hay τεχνολογια, trong tiếng
Hy lạp ; techne có nghĩa là thủ công và logia có nghĩa là "châm ngôn") là một
thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và mưu mẹo của con người. Tuỳ vào
từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thể được hiểu:
•công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề;
•các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến
trình để giải quyết một vấn đề;
•Các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau
d) Mối quan hệ giữa khoa học, kỹ nghệ và công nghệ:
Khoa học nghiên cứu các sự kiện tự nhiên. Kỹ nghệ là ứng dụng của các
kiến thức khoa học để phát triển sản phẩm. Công nghệ là việc sử dụng các sản
phẩm đã kỹ nghệ hóa.
Ví dụ: Chuyển động của các điện tử (êlêctrôn) sinh ra dòng điện, đây là
một yếu tố hay khái niệm trong khoa học vật lý. Khi dòng điện truyền qua
một chất bán dẫn như silic (Si) hay gecmani (Ge) thì cơ chế này được biết
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
như là điện tử học. Việc sản xuất các thiết bị điện tử sử dụng các khái niệm
của điện tử học được hiểu như là kỹ nghệ điện tử. Máy tính được phát triển sử
dụng công nghệ điện tử. Việc sử dụng máy tính để lưu trữ thông tin số hóa
cũng như việc biến đổi và gửi các thông tin này từ một điểm đến một điểm
khác bằng các thiết bị liên lạc viễn thông một cách an toàn là công nghệ thông

tin.
Thuật ngữ công nghệ vì vậy thông thường được đặc trưng bởi các phát
minh và cải tiến sử dụng các nguyên lý và quy trình đã được khoa học phát
hiện ra gần đây nhất. Tuy nhiên, thậm chí cả phát minh cổ nhất như bánh xe
cũng là một minh họa cho công nghệ.
Một định nghĩa khác - được sử dụng trong kinh tế học- xem công nghệ
như là trạng thái hiện tại của các kiến thức của chúng ta trong việc kết hợp
các nguồn lực để sản xuất các sản phẩm mong muốn (và kiến thức của chúng
ta về việc sản xuất như thế nào). Như vậy chúng ta có thể thấy các thay đổi
công nghệ khi kiến thức kỹ thuật của chúng ta tăng lên
2.Vai trò của tri thức khoa học công nghệ với sự phát triển
kinh tế thế giới
a) Tri thức khoa học công nghệ là tiềm năng tạo ra những phát hiện có
giá trị kinh tế to lớn và quan trọng trong đời sống thưc tiễn
Nó diễn ra trong lĩnh vực khoa học cơ bản gồm toán học, vật lí học, hoá
học, sinh vật học. Khoa học cơ bản đã tạo cơ sở lí thuyết cho các khoa học
khác, cho kỹ thuật phát triển và là nền móng của tri thức. Ngoài khoa học cơ
bản ra, cuộc cách mạng khoa học – kinh tế đã và đang nghiên cứu, phát minh
ra nhiều ngành kho
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
‘Tôi mới, như khoa học vũ trụ và khoa học du hành vũ trụ, những ngành
mới, như điều khiển học v.v… Hiện nay, các nhà khoa học đang tập trung đi
sâu nghiên cứu, giải quyết những yêu cầu bức thiết nhằm đáp ứng cuộc sống
của con người trên các phương hướng sau đây: phương hướng tự động hoá
nhằm tự động hoá và thay đổi cơ bản những điều kiện lao động của con người
và nâng cao năng suất lao động; tìm tòi những nguồn năng lượng mới, những
vật liệu mới, những công cụ mới; cuộc “cách mạng xanh” trong nông nghiệp;
chinh phục vũ trụ để phục vụ cho cuộc sống trên Trái đất…
Trải qua một nửa thế kỉ, cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ hai

của nhân loại đã thu được những thành tựu to lớn và kì diệu.
Trước hết, trong lĩnh vực khoa học cơ bản, con người đã thu được
những thành tựu hết sức to lớn, đánh dấu những bước nhảy vọt chưa từng có
trong các ngành toán học, vật lí học, hóa học, sinh vật học. Các nhà khoa học
đã có những phát minh vô cùng quan trọng, như sóng điện từ, trường điện từ,
tia rơnghen và hiện tượng phóng xạ, sự phân chia của nguyên tử, bản chất hạt
sóng của ánh sáng, khởi thảo thuyết lượng tử và thuyết tương đối học, tìm ra
những định luật và định lí mới về toán học, lí học, hoá học Với những phát
minh lớn về lí thuyết hạt nhân, về sóng điện từ, trường điện từ, hiện tượng
phóng xạ…, vật lí học đã góp phần quan trọng trong việc sản xuất ra những
công cụ mới, vật liệu mới, nguồn năng lượng nguyên tử và những phương
tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc hết sức hiện đại.
Cuộc cách mạng trong sinh vật học đã dẫn đến cuộc “cách mạng xanh”
trong nông nghiệp và sự ra đời của Phỏng sinh học và công nghệ sinh học,
bao gồm công nghệ sinh hoá, y và dược sinh hoá, công nghệ sinh vật chế biến
thực phẩm, công nghệ sinh học chống ô nhiễm và bảo vệ môi trường.
Đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện nay là
cuộc cách mạng khoa học và cách mạng kỹ thuật gắn bó chặt chẽ với nhau,
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hầu như tất cả những khuynh hướng chủ yếu của khoa học cơ bản hiện nay
đều gắn liền với lĩnh vực này hay lĩnh vực khác của kỹ thuật và sản xuất như
khoa vật lí hạt nhân và năng lượng nguyên tử, môn điều khiển học và tự động
học, môn phỏng sinh học v.v…
Thứ hai, các nhà khoa học đã có những phát minh lớn về những công cụ
sản xuất mới, trong đó có ý nghĩa to lớn nhất là sự ra đời của máy tính, máy
tự động và hệ thống máy tự động.
Con người thông minh nhất trong 1 phút cũng chỉ giải được một số phép
tính, nhưng ngày nay, với máy tính hệ hiện đại nhất, con người có thể giải
được hàng chục triệu phép tính trong một giây. Máy tính làm thơ, m

b) Tác động trực tiếp của các cuộc cách mạng khoa học công nghệ tới
nền kinh tế thế giới
Mọi nền kinh tế đều có các lĩnh vực sản xuất, lưu thông và tiêu dùng.
Các lĩnh vực đó hợp thành một hệ thống thống nhất, có sự tác động qua lại,
trong đó lĩnh vực sản xuất đóng vai trò quan trọng nhất. Do đó, đánh giá trình
độ phát triển của một nền kinh tế, trước hết phải căn cứ vào trình độ phát triển
của lĩnh vực sản xuất, trong đó yếu tố có tính cách mạng nhất là công cụ sản
xuất.
Mọi công cụ sản xuất đều có ba bộ phận: động lực, truyền lực và công
tác
- Bộ phận công tác (còn gọi là bộ phận chấp hành hay tác động) trực tiếp
tác động lên đối tượng lao động để làm ra sản phẩm.
- Bộ phận truyền lực truyền năng lượng từ nguồn động lực đến bộ phận
công tác. Ở công cụ sản xuất thủ công, nguồn động lực là do sức cơ bắp của
người lao động, còn bàn tay trực tiếp làm bộ phận công tác chuyển động (thí
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dụ: cái kim khâu tay). Nếu bộ phận công tác giao cho máy thực hiện - gọi là
máy công tác, thì ta có công cụ nửa cơ khí (thí dụ: cái máy khâu đạp chân).
- Khi nguồn động lực cũng do máy cung cấp thì đó là công cụ cơ khí (thí
dụ: cái máy khâu chạy bằng điện). Trong công cụ thủ công và cơ khí, việc
điều khiển công cụ sản xuất hoạt động đều do bộ óc con người đảm nhận.
Trong bộ "Tư bản", C.Mác đã phân tích rất cụ thể vai trò của từng bộ
phận nói trên trong công cụ sản xuất và chứng minh rằng, cuộc cách mạng
công nghiệp thế kỷ XVIII đã bắt đầu khi bộ phận công tác, vốn đã bàn tay
người thao tác trong công cụ thủ công, giao cho máy thực hiện, nhờ đó mà
năng suất lao động tăng vọt, mặc dù nguồn động lực vẫn là sức người (công
cụ loại này lần đầu tiên xuất hiện ở máy kéo sợi vào năm 1735). Còn máy hơi
nước, tuy được phát minh từ cuối thế kỷ XVII nhưng sau gần một thế kỷ vẫn
không dẫn đến cuộc cách mạng nào trong công nghiệp. Tuy vậy, sau khi có

máy công tác, máy hơi nước đã phát huy tác dụng rất to lớn, thúc đẩy cuộc
cách mạng công nghiệp phát triển mạnh mẽ, thông qua việc cung cấp nguồn
động lực cho các công xưởng tư bản chủ nghĩa cơ khí hoá. (Vì lý do này,
nhiều người đã cho rằng cuộc cách mạng công nghiệp được bắt đầu là nhờ có
máy hơi nước. Điều này không thật chính xác).
Như vậy, đặc trưng cơ bản của nền kinh tế nông nghiệp và nền kinh tế
công nghiệp trước công xưởng là công cụ sản xuất thủ công, còn của nền kinh
tế công nghiệp công xưởng - sau này nói gọn là kinh tế công nghiệp - là công
cụ sản xuất cơ khí hay thường gọi là máy móc.
Từ khi ra đời cho đến khoảng giữa thế kỷ XX, sau gần 200 năm, công
cụ cơ khí không ngừng được cải tiến và hoàn thiện, được nâng lên trình độ tự
động dựa trên các thành tựu chủ yếu của vật lý học cổ điển. Việc điều khiển
nhiều khâu trong công cụ cơ khí đã được tự động hóa ở mức thấp đưa vào
những cơ cấu kỹ thuật cơ - điện vĩ mô. Sự tự động hoá này được gọi là tự
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
động hoá cứng vì nó kém tính linh hoạt và khó thực hiện trong toàn bộ một
đây chuyền sản xuất. Hơn nữa, khi một dây chuyền đã được thiết kế cho việc
sản xuất một loại sản phẩm nào đó, nếu muốn thay đổi kích cỡ, mẫu mã, kiểu
dáng ... thì rất khó khăn, tốn kém và mất nhiều thời gian. Vì vậy, việc tự động
hoá này tuy có đem lại sự tăng năng suất lao động, nhưng chưa đưa. đến một
cuộc cách mạng trong sản xuất công nghiệp và do đó, nó chỉ được coi là bộ
phận phát triển của cơ khí hóa. Đây được coi là cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật lần thứ nhất và những thành tựu nổi bật nó mang lại là:
Năm 1733 John Kay đã phát minh ra "thoi bay". Phát minh này đã làm
người thợ dệt không phải lao thoi bằng tay và năng suất lao động lại tăng gấp
đôi.
Năm 1765 James Hagreaves đã chế được chiếc xa kéo sợi kéo được 8
cọc sợi một lúc. Ông lấy tên con mình là Jenny để đặt cho máy đó.
Năm 1769, Richard Arkrwight đã cải tiến việc kéo sợi không phải bằng

tay mà bằng súc vật, sau này còn được kéo bằng sức nước.
Năm 1785, phát minh quan trọng trong ngành dệt là máy dệt vải của linh
mục Edmund Cartwright. Máy này đã tăng năng suất dệt lên tới 40 lần.
Phát minh trong ngành dệt cũng tác động sang các ngành khác. Lúc bấy giờ,
các nhà máy dệt đều phải đặt gần sông để lợi dụng sức nước chảy, điều đó bất
tiện rất nhiều mặt. Năm 1784, James Watt phụ tá thí nghiệm của trường Đại
học Glasgow (Scotland) đã phát minh ra máy hơi nước. Nhờ phát minh này,
nhà máy dệt có thể đặt bất cứ nơi nào. Không những thế phát minh này còn có
thể coi là mốc mở đầu quá trình cơ giới hoá.
Ngành luyện kim cũng có những bước tiến lớn. Năm 1784 Henry Cort
đã tìm ra cách luyện sắt "puddling". Mặc dù phương pháp của Henry Cort đã
luyện được sắt có chất lượng hơn nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về
8

×