Tải bản đầy đủ (.doc) (101 trang)

Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở các trường THPT thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (445.71 KB, 101 trang )

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với
mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở
thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết định
thắng lợi của cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con
người, là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất
lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao.
Căn cứ văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng
sản Việt Nam tiếp tục khẳng định và đi vào thực tiễn “ Phát triển giáo dục là
quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế,
trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán
bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào
tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực
hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục”.
Theo Chỉ thị số 33/2003/CT-BGDĐT ngày 23/7/2003 của Bộ trưởng Bộ
GD -ĐT về việc tích cực đẩy mạnh hoạt động dạy nghề phổ thông trong thời
gian tới. Chỉ thị khẳng định "Nâng cao chất lượng và mở rộng việc dạy nghề
phổ thông để giúp học sinh tìm hiểu nghề, làm quen với một số kỹ năng lao
động nghề nghiệp. Sở GD-ĐT giao chỉ tiêu kế hoạch học nghề phổ thông cho
các trường, đồng thời căn cứ vào điều kiện giáo viên và cơ sở vật chất mà
giao chỉ tiêu tiêu kế hoạch dạy nghề phổ thông cho các trung tâm GDTX KTHN và cơ sở khác được giao dạy nghề phổ thông".
Thông qua giáo dục dạy nghề phổ thông, giáo dục học sinh thái độ lao
động, ý thức đúng đắn với nghề nghiệp, có tác phong công nghiệp, đồng thời
giúp học sinh làm quen với một số nghề phổ biến trong xã hội, các ngành


2



nghề phổ biến ở địa phương. Từ đó học sinh lựa chọn nghề mình ưa thích phù
hợp với năng lực và sở thích của bản thân tham gia học tập và lao động, sản
xuất phục vụ cho xã hội, quê hương, đất nước.
Thành phố Cao Lãnh là một trong những trung tâm phát triển kinh tế
của tỉnh Đồng Tháp với nhiều dự án và khu công nghiệp cần phải tạo ra
nguồn nhân lực con người vững về kiến thức giỏi về kỹ năng nghề nghiệp để
phục vụ và đáp ứng với yêu cầu sự phát triển. Chính vì thế ngay từ bây giờ
cần trang bị cho học sinh phổ thông những kiến thức lý thuyết và những kỹ
năng thực hành, kiến thức về thế giới nghề nghiệp để cho các em học sinh
chuẩn bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, sẳn sàng tham gia vào lao
động sản xuất phục vụ nơi quê hương mình là một điều hết sức cần thiết.
Yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục và giáo
dục toàn diện học sinh trong trường trung học phổ thông là vấn đề quan trọng và
cấp thiết trong Giáo dục và Đào tạo hiện nay nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và
hội nhập quốc tế. Thực hiện đổi mới phương pháp quản lý, đổi mới chương trình
giáo dục phổ thông, đổi mới phương pháp dạy học nói chung, cấp Trung học phổ
thông nói riêng, tuy nhiên trong công tác quản lý của cán bộ quản lý của các trường
chú trọng nhiều về giáo dục phổ thông đạt tỷ lệ tốt nghiệp THPT còn công tác giáo
dục nghề phổ thông hiện nay còn nhiều bất cập và chưa thật quan tâm đúng mức.
Từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải
pháp quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở các trường THPT
thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp
quản lý nhằm nâng chất lượng giáo dục nghề phổ thông ở các trường THPT
thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.



3

3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở các trường
THPT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở các
trường THPT thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu những giải pháp đề xuất là thiết thực, phù hợp với điều kiện thực
tiễn của các trường THPT ở thành phố Cao Lãnh và có tính khả thi, thì sẽ góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục nghề phổ thông ở các trường THPT thành
phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông
của các trường THPT.
5.2. Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở các
trường THPT thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
5.3. Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở các
trường THPT thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các giải pháp quản lý của Sở GD – ĐT và
Hiệu trưởng trường THPT.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan nhằm xác lập cơ sở lý
luận của đề tài
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn



4

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
Các phương pháp này được sử dụng nhằm xác lập cơ sở thực tiễn của đề tài.
8. Đóng góp của đề tài
- Về lý luận: bổ sung những cơ sở lý luận mang tính khoa học và sự cần
thiết một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở trường
THPT trong giai đoạn hiện nay.
- Về thực tiễn: thực hiện các giải pháp nghiên cứu góp phần nâng cao
công tác quản lý giáo dục nghề phổ thông ở các trường THPT.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông
ở trường THPT
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ
thông ở các trường THPT thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông
ở các trường THPT thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp


5

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGHỀ
PHỔ THÔNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hoạt động giáo dục NPT trước đây được gọi là dạy NPT. Trên thê giới
việc dạy NPT được nghiên cứu và thực hiện khác nhau tuỳ theo trình độ phát
triển về mặt khoa học kỹ thuật và sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc
gia. Tại một số nước phát triển áp dụng mô hình dạy nghề phổ thông gắn liền
với phương pháp thực hành sản xuất, lao động nghề nghiệp cho HS tại xưởng
trường, hình thành thao tác kỹ thuật, thao tác lao động nghề nghiệp, tạo hứng
thú cho HS khi tham gia học tập. Với quan điểm trên việc dạy NPT cho HS
được coi là giáo dục nghề nghiệp.
Ở Nhật Bản từ năm 1958, giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề đã được
đưa vào cả những trường phổ thông trung học phổ thông và lẫn trường cấp
2 (vừa dạy chữ vừa dạy nghề). Nền giáo dục Nật Bản tìm cách đẩy mạnh
việc hướng nghiệp-đào tạo dạy nghề cho lứa tuổi trung học cơ sở lẫn trung
học phổ thông với nhiều phương cách linh hoạt nhằm đáp ứng kịp thời nhu
cầu phát triển kinh tế-xã hội Nhật Bản một cách hợp lý nhất trong đường lối
chiến lược “Kỹ thuật Lập quốc”, nghĩa là dùng khoa học kỹ thuật để vươn
tới, xây dựng một đất nước Nhật bản hùng mạnh về Kỹ thuật.
Trung Quốc có hệ thống giáo dục nghề nghiệp gồm ba trình độ là dạy
nghề sơ trung, dạy nghề cao trung và trung cấp chuyên nghiệp. Dạy nghề sơ
trung tương đương với sơ trung phổ thông của Trung Quốc hay trung học cơ
sở ở nước ta; dạy nghề cao trung tương đương với cao trung phổ thông của
Trung Quốc hay THPT ở nước ta; trung cấp chuyên nghiệp chia làm hai trình
độ: cao trung và sau cao trung.
Giáo dục nghề nghiệp gắn liền với giáo dục hướng nghiệp, một bộ phận


6

không thể thiếu trong giáo dục hướng nghiệp là giáo dục NPT.
Thực hiện nguyên tắc của Đảng "học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp
với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội", Nghị quyết của Bộ

chính trị năm 1979 về cải cách giáo dục đã khẳng định " hướng nghiệp là bộ
phận khắn khít của quá trình giáo dục và đào tạo". Ngày 19/3/1981, Hội đồng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 126/CP về công tác hướng nghiệp trong
trường phổ thông và việc sử dụng học sinh các cấp trung học cơ sở (THCS)
và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường. Quyết định 126/ CP đã khẳng
định, công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông được tiến hành qua 4 con
đường (4 hình thức): Dạy - học các môn văn hoá, dạy - học môn Kỹ thuật và
hoạt động lao động sản xuất, qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp, qua các
hoạt động ngoại khoá ở trong và ngoài nhà trường, Bộ GD & ĐT đã nêu vấn
đề: tiếp theo hướng nghiệp là phải dạy nghề phổ thông cho HS phổ thông, nối
liền ba khâu có quan hệ chặt chẽ: hướng nghiệp - dạy nghề - sử dụng HS ra
trường, nếu không tiếp tục học lên, HS ra đời dễ tạo công ăn việc làm, sẳn
sàng tham gia lao động sản xuất ở địa phương. Vấn đề này đã được đưa ra
toàn ngành thảo luận và được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội VI Đảng
Cộng sản Việt Nam vào năm 1986. Từ Đại hội lần thứ VIII (1996) đến Đại
hội lần thứ IX (2001), Trung ương Đảng luôn nhấn mạnh đến tăng cường
công tác hướng nghiệp, đẩy mạnh dạy nghề, song tình hình trường phổ thông
chưa chuyển động là bao xét từ góc độ hướng nghiệp, chuẩn bị nguồn nhân
lực cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Quá trình vận hành nền kinh tế đó
làm xuất hiện các nghề mới gần gũi với đời sống hiện đại trước đây chưa có.
Việc dạy – học Nghề phổ thông giúp các em có được những thông tin ban đầu
về một số nghề trong xã hội và thị trường lao động liên quan đến việc sáng
tạo ra công nghệ mới, tiếp nhận và làm chủ công nghệ tiến tiến nhập của nước
ngoài trong mọi lĩnh vực: Nông, Lâm, Ngư nghiệp, chế biến sau thu hoạch,


7

Công nghệ thông tin, Viễn thông....Chính vì lẽ đó, thực hiện Nghị quyết lần
thứ IX của Đảng, Nghị quyết 40/2000/QH10, ngày 9/12/2000 của Quốc hội

khoá 10 và Chỉ thị 14/2001/CT – TTg của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới
Giáo dục phổ thông, Bộ trưởng Bộ GD & ĐT đã ban hành chỉ thị 33/2003/
CT – BGDĐT ngày 23/7/2003 về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh phổ thông. Nội dung chỉ thị đề cập 6 vấn đề, trong đó nêu rõ: “Nâng
cao chất lượng và mở rộng việc dạy nghề phổ thông để giúp học sinh tìm hiểu
nghề, làm quen với một số kỹ năng lao động nghề nghiệp”.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Nghề, nghề phổ thông
1.2.1.1. Nghề
Nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến, gắn chặt với
sự phân công lao động xã hội, với tiến độ khoa học kỹ thuật văn minh nhân
loại. Từ nhiều khía cạnh khác nhau về khoa học cũng như quan niệm của
từng quốc gia mà người ta có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm về
nghề: "Nghề là một hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và
thường là nguồn gốc của sự sinh tồn, nghề là một lao động có thói quen, kỹ
năng và kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống, nghề là
một việc chuyên môn đòi hỏi phải có một sự đào tạo trong khoa học và
nghệ thuật; nghề là một hoạt động cần thiết cho xã hội có một lĩnh vực lao
động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở một trình độ nhất định nào đó".
Theo Đại từ điển tiếng Việt (năm 2011) định nghĩa nghề là " công việc
chuyên làm theo sự phân công của xã hội"
Ở một khía cạnh khác : "nghề" là một lĩnh vực hoạt động lao động mà
trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng
để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được
những yêu cầu của xã hội.


8

Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn

nhiều nên người ta còn gọi là "hệ thống nghề nghiệp". Nhiều nghề chỉ thấy có
ở nước này nhưng lại không có ở nước khác. Hơn nữa, các nghề trong xã hội
luôn ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ.
Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như về phương pháp
sản xuất. Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng đa dạng hóa.
Mặc dù nghề có thể hiểu nhiều góc độ khác nhau. Nói chung chúng ta có
thể hiểu nghề là hoạt động, công việc và lao động của con người được lặp đi
lặp lại. Là sự phân công trong xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội. Nghề là
phương tiện để sinh sống; là lao động có kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt, có giá
trị trao đổi, đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định.
Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động
khoa học kỹ thuật, khoa học kinh tế, văn minh nhân loại nói chung và chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia nói riêng. Vì thế khái niệm
"nghề" biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt xu hướng phát triển KT - XH của đất
nước. Muốn đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và cơ cấu ngành nghề hợp lý
cần phải nắm được thực trạng và xu thế biến đổi về khái niệm "nghề".
1.2.1.2. Nghề phổ thông
Nghề phổ thông là những nghề thông dụng phổ biến, có mức độ kỹ thuật
tương đối đơn giản; tổ chức dạy học không phức tạp về trang thiết bị và quy
trình triển khai; nguyên vật liệu và phôi dễ kiếm phù hợp với điều kiện kinh
tế, phù hợp với khả năng đầu tư của địa phương, rẻ tiền, dễ được sử dụng
trong các thành phần kinh tế tại cộng đồng dân cư nơi mình đang sinh sống,
dễ tạo ra những sản phẩm, đồng thời góp phần nâng cao dân trí, và góp phần
xây dựng nguồn nhân lực. Thời gian học nghề ngắn, chi phí đào tạo ít, nội
dung dạy học gồm có lý và phần thực hành để học viên nắm được những kiến
thức lý thuyết và kỹ năng thực hành cơ bản của nghề.


9


Một cách chung nhất chúng ta có thể hiểu : Nghề phổ thông là nghề có
rộng khắp mọi nơi, giảng dạy lý thuyết và công cụ còn đơn giản, thời gian học
nghề không lâu, nguyên vật liệu ít tốn kém; quá trình học nghề có thể vận
dụng kiến thức phổ thông có kỹ năng nghề phổ thông học sinh dễ thích ứng
với lao động sản xuất.
1.2.2 Giáo dục nghề phổ thông
Giáo dục nghề phổ thông là một khái niệm có tính chất lịch sử - xã hội. Vì
muốn hiểu khái niệm này cần đặt nó vào mốc thời điểm phù hợp và quá trình phát
triển công tác giáo dục nghề thông của các nước và ở nước Việt Nam.
Giáo dục nghề phổ thông (NPT) được hiểu là những hoạt động nhằm
truyền thụ các tri thức, kỹ năng nghề nghiệp ban đầu đồng thời giáo dục thái
độ nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp cho HS.
Dạy học môn Kỹ thuật (trước đây), môn Công nghệ, Nghề phổ thông
(hiện nay) và hoạt động lao động sản xuất là một trong bốn con đường hướng
nghiệp cho học sinh phổ thông. Nó góp phần phát triển toàn diện nhân cách
cho các em HS, là bước khởi đầu quan trọng của quá trình phát triển nguồn
nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở mỗi địa phương
và đất nước.
Từ Đại hội lần thứ VIII (1996) đến đại hội lần thứ IX (2001), Trung
ương Đảng luôn nhấn mạnh đến tăng cường công tác hướng nghiệp, đẩy
mạnh công tác dạy nghề. Thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng " giáo dục
kết hợp với lao động sản xuất, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với
xã hội, giáo dục hướng nghiệp được xác định là một bộ phận quan trọng
trong nội dung giáo dục toàn diện cho học sinh phổ thông đã được khẳng
định trong Luật Giáo dục. Giáo dục NPT đã được triển khai thực hiện trong
những năm qua trên phạm vi toàn quốc đã thu được những kết quả đáng kể,
giúp HS rèn luyện kỹ năng nghề, tác phong công nghiệp, và góp phần định


10


hướng nghề nghiệp, tạo điều kiện phân luồng HS sau khi tốt nghiệp THPT.
HS được học nghề phổ thông ở mức độ có kiến thức và kỹ năng về kỹ thuật
tổng hợp, có hiểu biết về những quy công nghệ phổ biến của đất nước và
một số nghề phổ biến ở địa phương với mức độ cần thiết theo mô đun hành
nghề để có thể " hoàn thành nhân cách của một thanh niên hiện đại, có đủ tư
cách làm chủ gia đình tương lai, có khả năng chọn nghề phù hợp năng lực,
khả năng, yêu cầu của xã hội và có đủ tâm thế và kỹ năng để vào đời lao
động khi cần thiết " .
1.2.3. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.3.1. Quản lý
Quản lý (QL) là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất
trong các hoạt động của con ngưởi. Nó ra đời khi xã hội có sự phân công lao
động đòi hỏi có sự hợp tác trong lao động tập thể trên một qui mô nào đó
hoặc khi con người hoạt động với mục đích chung.
Khái niệm “quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát. Nó dùng cho quá
trình quản lý xã hội (xí nghiệp, trường học,…), quản lý giới vô sinh (hầm mỏ,
máy móc,…) cũng như quản lý giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng,…). Có
nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý:
- Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể
quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức nhằm đạt
mục đích nhất định.
- Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động,
phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật
lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm
đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất. [13, tr 7-8].
- Theo tác giả Trần Hữu Cát và tác giả Đoàn Minh Duệ: Quản lý là hoạt
động thiết yếu nẩy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của



11

chủ thể vào khách thể, trong đó quan trọng nhất là khách thể con người ,
nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức. [8, tr 41]
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu: QL là sự tác động có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Như vậy, hiệu quả QL phụ thuộc vào các yếu tố: chủ thể, khách thể mục
tiêu, phương pháp và công cụ QL.
Chủ thể QL là một cá nhân, một nhóm xã hội hay một tổ chức.
Khách thể QL là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các
mối quan hệ giữa những con người, giữa những nhóm người, ...
Công cụ QL là phương tiện tác động của chủ thể QL đến khách thể QL
như mệnh lệnh, quyết định, chính sách, các văn bản thể chế,...
Phương pháp QL là cách thức tác động của chủ thể đến khách thể.
Mục tiêu của tổ chức được xác định theo nhiều cách khác nhau, mục tiêu
quy định hình thức, lĩnh vực hoạt động và phong cách QL trong tổ chức. Mục
tiêu có thể do chủ thể QL áp đặt hoặc do sự cam kết hoặc do sự cam kết giữa
chủ thể và khách thể QL. Mục tiêu còn là ở trạng thái tương lai, các tiêu điểm
tương lai hay kết quả cuối cùng mà một tổ chức mong muốn đạt được.
Các thành tố này có mối quan hệ tác động qua lại và tương hỗ lẫn nhau.
1.2.3.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục (QLGD) là một bộ phận của QL xã hội nói chung. Có
thể nói QL là yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng giáo dục. QLGD là
nhân tố quan trọng để phát triển sự nghiệp giáo dục.
Đề cập đến khái niệm QLGD, các nhà nghiên cứu lý luận giáo dục đưa
ra nhiều quan điểm khác nhau, có thể nêu một số quan điểm sau:
- Quan điểm của các tác giả nước ngoài :
+ QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích
của các chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống ( từ



12

Bộ GD&ĐT đến nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục thế hệ
trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện, hài hoà của họ.
+ QLGD là tập hợp những biện pháp ( tổ chức, phương pháp, cán bộ
giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, ...) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường
của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở
rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng.
- Theo quan điểm của các tác giả trong nước:
+ Theo tác giả Trần Kiểm: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch,
có ý thức và hướng đích của chủ thể QL ở các cấp khác nhau nhằm mục đích
đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận
dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của QLGD, của
sự phát triển tâm, sinh lý của trẻ em.
+ Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: QLGD là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL (hệ giáo dục) nhằm
làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến
lên trạng thái mới về chất.
Tóm lại: QLGD được hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù
hợp với quy luật khách quan của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm đưa
hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt yới mục
tiêu đề ra[11,tr1,2].
1.2.3.3. Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là quản lý vi mô, nó là một hệ thống con của quản lý
vĩ mô: Quản lý giáo dục; quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuổi tác động
hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức-sư
phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực



13

lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác,
phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình
này vận hành tối ưu để đạt được những mục tiêu dự kiến.
QL trường học thực chất là hoạt động có định hướng, có kế hoạch của
các chủ thể QL nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các
chất lượng giáo dục khác cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để
nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.
- Quản lý nhà trường bao gồm hai loại:
+ Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường.
+ Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường.
* QLGD trên cơ sở QL nhà trường
QLGD trên cơ sở QL nhà trường là một phương hướng QLGD trên cơ sở
tăng cường phân cấp QL nhà trường cho các chủ thể QL bên trong nhà trường
với quyền hạn và trách nhiệm rộng rãi hơn để thực hiện nguyên tắc giải quyết
vấn đề tại chỗ. Nội dung chủ yếu của QLGD trên cơ sở QL nhà trường:
- Nhà trường là thực thể trung tâm của bất kỳ sự biến nào trong hệ thống
giáo dục.
- Nhà trường tự chủ giải quyết những vấn đề sư phạm - kinh tế - xã hội
của mình với sự tham gia tích cực và có trách nhiệm của những thực thể hữu
quan ngoài nhà trường.
- Nâng cao trách nhiệm và tính tự quản của mỗi GV.
- Hình thành các cơ cấu cần thiết để các thực thể hữu quan ngoài nhà
trường có thể tham gia vào việc điều phối công việc nhà trường. Đồng thời
tăng cường trách nhiệm và quyền hạn của GV tham gia vào quá trình ra quyết
định QL trong nhà trường.
- Hình thành các thiết chế hỗ trợ về tài chính và các nguồn lực cần thiết

để GV thực sự tham gia QL nhà trường.


14

- Hình thành và hoàn thiện hệ thống thông tin giữa các thực thể trong và
ngoài nhà trường tham trực tiếp vào hoạt động QL nhà trường.
- Xây dựng môi trường giáo dục trong nhà trường và xây dựng nhà trường
thành một hệ thống mở nhằm công khai hoá các hoạt động của nhà trường.
- Hình thành các thiết chế đánh giá kết quả hoạt động sư phạm của nhà
trường dựa trên những thực thể trực tiếp tham gia quá trình QL nhà trường.
[11,t2,3]
1.2.4. Quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông (NPT)
Quản lý (QL) quá trình diễn ra hoạt động GDNPT có thể được hiểu là
QL quá trình dạy - học NPT, giáo dục NPT bằng cách lập kế hoạch, tổ chức
thực hiện kế hoạch, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh. Để lập kế hoạch
cho hoạt động GDNPT cần phải xác định mục tiêu cần đạt tới (mục tiêu này
chịu sự chi phối của mục tiêu phát triển KT-XH); xác định cụ thể nội dung và
cách thức (phương pháp) thực hiện; xác định các phương tiện và điều kiện
bảo đảm cho quá trình thực hiện hoạt động giáo dục NPT đạt được mục tiêu
đề ra. Việc tổ chức thực hiện kế hoạch chính là quá trình triển khai các nội
dung đã đã được xác lập ra trong kế hoạch.
* QL con người tham gia hoạt động giáo dục NPT gồm: đối tượng QL
(GV, HS), chủ thể QL (bộ máy QL, lãnh đạo); tạo một mạng lưới các quan hệ
tổ chức giữa người trong hệ QL và những người trong hệ được QL; tuyển lựa,
sắp xếp, quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ.
* QL CSVC và các nguồn lực phục vụ cho hoạt động GDNPT bao gồm :
Khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, CSVC kỹ thuật nhằm duy trì
và phát triển công tác GDHN và dạy NPT; phối hợp với trường phổ thông làm
công tác giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh, trung tâm

giáo dục thường xuyên; liên kết với các cơ sở sản xuất, trung tâm hướng
nghiệp và dạy nghề khác… để tổ chức đào tạo và bồi dưỡng nghề theo quy


15

định của pháp luật; phối hợp với các tổ chức kinh tế, giáo dục, nghiên cứu
khoa học và các tổ chức cá nhân khác trong việc nghiên cứu ứng dụng khoa
học, kỹ thuật và công nghệ để gắn dạy nghề với việc làm.
Một số trường THPT chưa đủ giáo viên đúng chuyên môn và trang thiết bị CSVC để giảng dạy nghề phổ thông cho các em HS, công tác phối hợp, quản lý các
em học sinh giữa các trường THPT và Trung tâm GDTX & KTHN.
1.2.5. Giải pháp, giải pháp quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông
Theo Đại từ điển Tiếng Việt năm 2011 giải pháp là "cách làm cách giải
quyết một vấn đề cụ thể", giải pháp cho từng vấn đề. Nói giải pháp là những
cách thức, phương thức tác động nhằm làm thay đổi chuyển biến một hệ
thống, một quá trình, một trạng thái nhất định, nhằm đạt được mục đích hoạt
động. Giải pháp càng phù hợp, càng hoàn hảo càng giúp cho con người giải
quyết được những vấn đề đã đặt ra. Mức độ hoàn thiện và hiệu quả của các
giải pháp quản lý phụ thuộc vào tính thích hợp của chúng với tính cơ sở khoa
học và tính thực tiễn đáng tin cậy.
Nói một cách chung nhất, giải pháp quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ
thông là những cách thức tác động của chủ thể quản lý hướng vào việc giải
quyết những vấn đề đặt ra của hệ thống, làm cho hệ thống đó vận hành đạt kết
quả như mong muốn. Vấn đề là sử dụng, lựa chọn, phối hợp chúng như thế
nào cho phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh cụ thể.
1.3. Hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở trường THPT
1.3.1. Trường trung học trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1.1. Vị trí của trường trung học trong hệ thống giáo dục.
- Trường trung học bao gồm: trường trung học cơ sở, trường trung học
phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học.

- Trường trung học là cơ sở giáo dục của bậc trung, bậc học nối tiếp bậc
tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông.


16

Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng.
1.3.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung học.
Trường trung học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của
Chương trình giáo dục phổ thông;
- Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều
động giáo viên, cán bộ, nhân viên;
- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản
lý học sinh theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục .
Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục;
- Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy
định của Nhà nước;
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội;
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo
dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục;
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo qui định của pháp luật.
1.3.1.3. Hệ thống trường trung học
a. Trường trung học có loại hình công lập và loại hình tư thục
- Trường công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành
lập và Nhà nước trực tiếp quản lý. Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và
kinh phí cho chi thường xuyên, chủ yếu do ngân sách nhà nước đảm bảo;
- Trường tư thục do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức

kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho
phép. Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động của trường
tư thục là nguồn ngoài ngân sách nhà nước.


17

b. Các trường có một cấp học gồm
- Trường trung học cơ sở;
- Trường trung học phổ thông.
c. Các trường phổ thông có nhiều cấp học gồm
- Trường tiểu học và trung học cơ sở;
- Trường trung học cơ sở và trung học phổ thông;
- Trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông.
d. Các trường trung học chuyên biệt gồm các loại trường theo qui định
tại Mục 3 Chương III của Luật Giáo dục.
1.3.2. Mục tiêu, yêu cầu của hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở trường
THPT
1.3.2.1. Mục tiêu của hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở trường THPT
GDNPT là hoạt động giáo dục kết hợp giữa giáo dục phổ thông - kỹ
thuật tổng hợp - hướng nghiệp - nghề nghiệp. Giúp học sinh tìm hiểu nghề,
làm quen với một số kỹ năng lao động nghề nghiệp phổ biến trong xã hội và
các nghề truyền thống tại địa phương; đồng thời thông qua đó để giáo dục kỹ
thuật tổng hợp và định hướng nghề nghiệp cho học sinh trong tương lai.
Về kiến thức : giáo dục cho HS hiểu được một số kiến thức cơ bản về
công cụ, kỹ thuật, quy trình công nghệ và an toàn lao động, vệ sinh môi
trường đối với một NPT đã được học, biết đặc điểm và yêu cầu của nghề đó.
Về kỹ năng : hình thành cho HS một số kỹ năng sử dụng công cụ, kỹ
năng thực hành theo quy trình công nghệ để làm ra một sản phẩm theo yêu
cầu của GDNPT và phát triển nhu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Về thái độ : phát triển hứng thú kỹ thuật và nhu cầu vận dụng kiến thức,
kỹ năng vào lao động, thói quen làm việc có kế hoạch, tuân thủ theo quy trình
kỹ thuật và đảm bảo an toàn lao động, bước đầu có tác phong công nghiệp,
giữ gìn vệ sinh môi trường, có ý thức tìm hiểu và lựa chọn nghề nghiệp.


18

1.3.2.2. Yêu cầu của hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở trường THPT
Theo Luật giáo dục năm 2005 quy định mục tiêu của giáo dục THPT là "
giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện
học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng
nghiệp, có điều kiện và phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát
triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc
sống lao động" [14]. Trong quá trình hiện giáo dục nghề phổ thông và giáo
dục hướng nghiệp, HS cần tìm hiểu các lĩnh vực nghề nghiệp phổ biến trong
xã hội để định hướng nghề nghiệp và thấy rõ sự phù hợp năng lực của bản
thân với yêu cầu ở những nghề cụ thể, được rèn luyện cá kỹ năng, tác phong
lao động cần thiết. Thông qua giáo dục NPT, HS được vận kiến thức, kỹ năng
đã học ở các môn công nghệ và các môn học khác vào thực tiễn đời sống và
trong lao động sản xuất trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch
vụ. Giáo dục NPT phải góp phần rèn luyện phẩm chất, thói quen lao động có
kế hoạch, có kỷ luật, có kỹ thuật và ý thức đảm bảo an toàn lao động, giữ gìn
vệ sinh môi trường, từng bước hình thành tác phong công nghiệp.
1.3.3. Nội dung chương trình hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở
trường THPT
Thực hiện chương trình giáo dục nghề cho học sinh từ khi còn ngồi ghế
nhà trường phổ thông. Vào năm 2003 Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD & ĐT) ra
Chỉ thị số 33/2003/CT-BGDĐT ngày 23/7/2003 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho HS phổ thông, nâng cao chất

lượng và mở rộng việc dạy nghề phổ thông để giúp HS tìm hiểu, làm quen với
một số kỹ năng lao động nghề nghiệp. Thực hiện chương trình Giáo dục phổ
thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006 ngày 05/5/2006 Bộ trưởng
Bộ GD&ĐT, hoạt động giáo dục NPT lớp 11 được triển khai từ năm học 2007
- 2008 đối với cấp THPT.


19

Chương trình học GDNPT lớp 11 có 105 tiết (3 tiết/ 1 tuần ) và được bố
trí học trái buổi với chương trình học các môn văn hóa ( 1 buổi/1 ngày). Nội
dung giáo dục NPT gồm các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thủ công,
dịch vụ và tin học. Những NPT được lựa chọn là những ngành nghề phổ
biến, xã hội có nhu cầu phát triển, phù hợp với HS THPT. Chương trình NPT
được áp dụng cho HS trên toàn quốc và phù hợp với đặc thù các vùng miền
khác nhau. Tài liệu dạy lớp NPT do Bộ GD&ĐT ban hành gồm có : Tin học
văn phòng, Điện tử dân dụng, Điện dân dụng, Sửa chữa xe máy, Làm vườn,
Trồng rừng, Nuôi cá, Gò, Cắt may, nấu ăn, Thêu tay. Chương trình mỗi NPT
bao gồm các nội dung về nguyên vật liệu, dụng cụ kỹ thuật, quy trình công
nghệ, và phần tìm hiểu nghề. Học NPT ở trường phổ thông đảm bảo về kiến
thức lý thuyết và kỹ năng thực hành trong chương trình học của mỗi nghề;
phần lý thuyết không quá 1/3 số tiết.
Các địa phương, cơ sở giáo dục lựa chọn những NPT phù hợp với nhu
cầu học tập HS, điều kiện phát triển kinh tế, giáo viên, cơ sở vật chất mà tổ
chức thực hiện. Nội dung chương trình phải phù hợp với sự đa dạng của thực
tiễn phát triển kinh tế ở địa phương và nguyện vọng cũng như năng lực của
học sinh để đảm bảo cho mỗi HS được phát triển và phục vụ cho việc định
hướng nghề.
1.4. Một số vấn đề về quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở
trường THPT

1.4.1. Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở trường
THPT
Mục tiêu của GDNPT không phải là dạy nghề thuần túy mà giáo dục
nghề gắn với mục tiêu kép như sau: rèn kỹ năng nghề nghiệp ban đầu và thử
năng lực lao động nghề nghiệp để biết mức độ phù hợp nghề giúp HS có ý
thức chọn nghề cho phù hợp với năng lực của mình góp phần phân luồng HS;


20

bước đầu chuẩn bị hành trang cho HS đi vào lao động nghề tương lai. Nếu
mục tiêu của dạy nghề là tạo nên những người lao động với trình độ từ sơ cấp
đến cao đẳng nghề, những nhân viên dịch vụ, những người lao động trực tiếp
cho ngành nghề của xã hội thì mục tiêu của hoạt động GDNPT chỉ giúp cho
HS có năng lực nghề ban đầu để đi vào mọi ngành nghề trong tương lai. Vì
vậy hoạt động giáo dục NPT chỉ có tính chất là giáo dục kỹ thuật tổng hợp,
tạo tiền đề "vật chất" để HS lựa chọn đi vào các ngành nghề trong tương lai
góp phần phân luồng HS....
Với quan điểm trên, dạy nghề cho học sinh coi là giáo dục nghề nghiệp
và giáo dục nghề nghiệp gắn liền với công tác hướng nghiệp. Việc giáo dục
có tính chọn lọc cao, có mục tiêu, chương trình, nội dung phong phú. Nhiệm
vụ quản lý giáo dục NPT được thực hiện đồng thời với công tác quản lý khác
do Nhà nước quy định trong trường THPT.
1.4.2. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở trường
THPT.
1.4.2.1. Quản lý nội dung, chương trình đào tạo
Nội dung đào tạo dạy NPT là hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của
ngành nghề mà HS được trang bị nhằm đạt được mục tiêu đào tạo.
Chương trình môn học là văn bản pháp huy xác định danh mục và khối
lượng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của nghề nghiệp từng môn học theo kế

hoạch giảng dạy. Chương trình môn học được cấu thành bởi các chương mục
bảo đảm các yêu cầu về khoa học và kỹ thuật, về sư phạm và mối và mối
quan hệ logic giữa kiến thức của các môn học trong kế hoạch giảng dạy.
Chương trình môn học là căn cứ biên soạn giáo trình, phục vụ cho việc giảng
dạy. Đồng thời là cơ sở cơ quan quản lý tiến hành chỉ đạo và giám sát công
tác giảng dạy của nhà trường, chương trình môn học cũng là căn cứ để các cở
sở giáo dục giảng dạy và giáo viên giảng dạy tiến hành đánh giá, kiểm tra


21

theo yêu cầu chung.
Quản lý nội dung chương trình đào tạo là quản lý việc xây dựng nội
dung đào tạo, kế hoạch đào tạo và nội dung chương trình giảng dạy của giáo
viên và HS sao cho kế hoạch, nội dung chương trình giảng dạy được thực
hiện đầy đủ và đảm bảo về thời gian, đảm bảo các yêu cầu của mục tiêu đào
tạo. Quản lý nội dung dạy NPT là hoạt động quản lý chuyên môn khoa học,
khác với quản lý chuyên môn đơn thuần như các môn văn hóa ở các trường
phổ thông. Do vậy, người QL phải nắm nắm được trong tay đội ngũ giáo viên
từng giảng dạy nghề hoặc một nhóm nghề, điều này giúp cho công tác quản lý
được tốt hơn. Mặt khác, QL nội dung đào tạo, yêu cầu thực hiện đúng và đủ
nội dung chương trình các môn học. Tuy nhiên, người QL với vai trò người
quản lý chung, không yêu cầu nắm vững kiến thức sâu chuyên nghành của
từng nghề nhưng phải năm một cách khái quát, tổng thể có thể kiểm tra đánh
giá, đồng thời phải nắm bắt thông tin, năng động, sáng tạo, nghiên cứu, bổ
sung kiến thức khoa học hiện đại vào ngành nghề trong tương lai.
1.4.2.2. Quản lý đội ngũ giáo viên
Quản lý là công tác xây dựng và phát triển đội ngũ đảm bảo yêu cầu về
số lượng, chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt tiêu chuẩn về phẩm chất và năng
lực giảng dạy. Bao gồm việc quản lý công tác tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ

đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của giáo viên qua các nội
dung:
- QL kế hoạch giảng dạy và việc đổi mới phương pháp dạy học.
- Quản lý sinh hoạt chuyên môn.
- Theo dõi chỉ đạo việc hoàn thiện các hồ sơ, sổ sách chuyên môn nghiệp vụ.
- Theo dõi đôn đốc việc thực hiện kế hoạch và chương trình giảng dạy
theo thời khóa biểu, đánh giá kết thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục
của toàn thể đội ngũ giáo viên của từng giáo viên.


22

- Theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện việc học tập, bồi dưỡng nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên.
- Nắm được những ưu điểm, khuyết điểm, đánh giá được sự tiến bộ các
mặt về chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức của từng giáo viên.
- Đánh giá giáo viên thông qua HS, có thể cung cấp các thông tin phản
hồi có giá trị giúp giáo viên nâng cao hiệu quả giảng dạy.
- Kiểm tra đánh giá giáo viên thông qua đồng nghiệp và người QL được
xem là cần thiết; có thể cung cấp thông tin một cách khách quan về trình độ
của giáo viên trong giảng dạy và trong nghiên cứu khoa học.
- Kiểm tra đánh giá giáo viên được thực hiện bằng nhiều phương cách,
được tiến hành theo định kỳ và đột xuất thông qua các hình thức : kiểm tra
soạn giảng giáo án, kiểm tra việc lên lớp, thao giảng, hội giảng, dự giờ, sinh
hoạt sư phạm.
1.4.2.3. Quản lý học sinh
Quản lý HS, thực chất là công tác QL việc thực hiện các nhiệm vụ học
tập, rèn luyện của HS trong quá trình đào tạo. Bao gồm các nhiệm vụ, nội
dung chủ yếu sau đây :
- QL quá trình học tập trên lớp và học tập ở nhà. Quản lý việc thực hành

việc thực hành cơ bản tại phòng thực hành bộ môn, xưởng trường và thực
hành tại cơ sở sản xuất (vườn cây ăn trái, trại chăn nuôi, xí nghiệp may,...) mà
nhà trường liên kết.
- Theo dõi, tìm hiểu để để nắm được những biểu hiện tích cực và tiêu
cực trong việc thực nhiệm vụ học tập, rèn luyện của HS.
- Theo dõi, thúc đẩy, khuyến khích HS phát huy các yếu tố tích cực, khắc
phục những nhược điểm để phấn đấu vươn lên đạt kết quả cao trong học tập
và rèn luyện.
Học sinh học 3 tiết/tuần, một buổi/tuần, kết quả học nghề của HS được


23

đánh giá trên cả 3 mặt: kiến thức, kỹ năng và thái độ học tập. Kết quả học
NPT của HS được lấy làm tiêu chí khuyến khích khi xếp loại hạnh kiểm học
kỳ, cả năm học và là điều kiện để học tiếp thi chứng chỉ NPT. Người QL phải
có kế hoạch kiểm tra, đánh giá thường xuyên. Việc kiểm tra đánh giá HS
được tiến hành theo định kỳ và đột xuất thông qua nhiều hình thức. Kết quả
kiểm tra đánh giá HS được xem xét và xử lý đồng thời với kết quả kiểm tra
đánh giá nội dung chương trình đào tạo để rút ra những kết luận chính xác
giúp người QL có những điều chỉnh kịp thời trong quá trình đào tạo.
1.4.2.4. QL phương pháp, phương tiện, các hình thức giáo dục nghề
a. Phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục nghề phổ
thông ở trường THPT
Hoạt động giáo dục NPT được Bộ GD&ĐT biên soạn chương trình theo
tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên phải đổi phương pháp dạy
học và hình thức tổ chức dạy học giúp cho học sinh tham gia các hoạt động
học tập để đạt mục tiêu đào tạo. Bên cạnh những phương pháp dạy học
truyền thống giáo viên cần vận dụng các phương pháp để hình thành cho HS
phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo tự rèn luyện tay nghề, tự

chiếm lĩnh tri thức và hình thành kỹ năng cho bản thân, HS có thể tự kiểm
tra, tự đánh giá kết quả học tập của mình, vận dụng những kiến thức lý
thuyết, kỹ năng thực hành đã được học vào cuộc sống cũng tham gia lao
động sản xuất.
Giáo dục NPT là một biện pháp hữu hiệu để giáo dục hướng nghiệp cho
HS với nội dung, chương trình cụ thể của Bộ GD&ĐT. Tùy theo điều kiện
của từng địa phương để có cách tổ chức dạy nghề phù hợp nhằm động viên
được HS tham gia học nghề với số lượng nhiều và đạt hiệu quả cao.
Hình thức dạy NPT: có thể trải đều hàng tuần trong suốt năm học ( 3
tiết/1 tuần), dạy dồn trong học kỳ 1 trong năm học (6 tiết /tuần ), dạy tập trung


24

vào cuối tháng, cuối năm học hay dạy tập trung trong thời gian nhất định
trong hè,... đảm bảo cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên.
Địa điểm học NPT: được tổ chức trong các trung tâm GDTX và KTHN
tỉnh, trung tâm GDTX, trường THCS, THPT có đủ cơ sở vật chất và đội ngũ
giáo viên, hoặc được dạy ở các cơ sở sản xuất của Nhà nước nhưng với sự
đồng ý của Sở GD&ĐT.
b. QL các phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động giáo
dục NPT
CSVC, tài chính và phương tiện kỹ thuật dạy học tốt sẽ góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo. Trong hệ thống giáo dục, nhất là giáo dục NPT thì đồ
dùng dạy học, thiết bị thực hành, vật tư tiêu hao, CSVC, nguồn tài chính của
nhà trường là điều kiện quan trọng góp phần quyết định chất lượng dạy và
học. Nếu có mục tiêu giáo dục tốt, nội dung chương trình hiện đại phù hợp
với yêu cầu xã hội, có đội ngũ CBQL giáo dục và đội ngũ GV tốt mà không
có TBDH và CSVC kỹ thuật tiên tiến thì cũng không thể tạo ra những sản
phẩm giáo dục đáp ứng mục tiêu tiêu đề ra.

QL các phương tiện, CSVC chính là quá trình xây dựng, bảo quản, sử
dụng và khai thác triệt để các điều CSVC để phục vụ cho công tác dạy và học.
Việc đảm bảo CSVC, tài chính phục vụ đào tạo nhằm:
- Đảm bảo đầy đủ nguồn tài chính cho việc xây dựng CSVC và các hoạt
động khác phục vụ cho quá trình dạy học.
- Cung cấp đầy đủ máy móc, trang thiết bị, vật tư tiêu hao phục vụ cho
hoạt động giáo dục đào tạo. Đảm bảo phòng học, xưởng thực hành, phòng thí
nghiệm, phòng học bộ môn, thư viện,... đáp ứng nhu cầu công tác dạy và học.
Cung cấp đầy đủ tài liệu, giáo trình giảng dạy, học tập.
QL tốt môi trường giáo dục, tạo ra môi trường thống nhất giữa nhà
trường - gia đình - xã hội nhằm tác động giáo dục đến HS. Là quá trình nhà


25

trường phối hợp với các lực lượng giáo dục của xã hội, huy động các nguồn
lực phục vụ cho sự nghiệp giáo dục.
1.4.2.5. Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục nghề
QL làm sao cho quá trình dạy nghề đạt được những mục tiêu đề ra. Tổ
chức, chỉ đạo kiểm tra thi cử, đánh giá kết quả học nghề của học sinh một
cách có khoa học, khách quan và đáng tin cậy. Thực hiện các kỳ thi nghiêm
túc, tránh gian lận, chủ quan trong thi cử, trong nhận xét và đánh giá. Thực
hiện tốt phong trào hai không trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục,
thực sự làm cho công tác thi cử là sự đo lường đánh giá khách quan phản ánh
trung thực kết quả dạy NPT. Việc đánh giá được thực hiện bằng việc cho
điểm kiểm tra miệng, cho điểm các loại bài kiểm tra thường xuyên, định kỳ và
tính điểm trung bình môn như một môn học, xếp loại theo Quy chế của đánh
giá xếp loại HS THCS, THPT theo Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12
tháng 12 năm 2011 của Bộ GD&ĐT.
QL kết quả dạy NPT được thực hiện trên những mặt sau: thống nhất

cách kiểm tra, đánh giá; thực hiện theo chế độ cho điểm theo tiến độ
chương trình, QL việc chấm bài, trả bài của GV; thường xuyên kiểm tra
chế độ cho điểm, cộng điểm của GV; tổ chức chỉ đạo đổi mới phương pháp
kiểm tra, đánh giá HS, thường xuyên đánh giá GV về việc kiểm tra đánh
giá kết quả học nghề của HS; tổ chức coi và chấm thi tốt nghiệp NPT do
Sở GD&ĐT tổ chức đúng quy chế phù hợp với đặc thù của NPT. Với kết
quả học tập NPT của các em HS, đánh giá kết quả học tập NPT thông qua
kỳ thi NPT do Sở GD&ĐT tổ chức.
1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục nghề phổ
thông ở trường THPT
Như đã đề cập phần trên công tác QL việc dạy NPT đặc thù hơn QL
giảng dạy các môn văn hóa, ngoài giảng dạy lý thuyết, thực hành kỹ năng


×