Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị ở nước ta và các giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị trong thời gian tới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (179.92 KB, 26 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu

Trong hơn hai mơi năm thực hiện sự nghiệp đổi mới kinh tế dới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam, nền kinh tế nớc ta chuyển dần từ nền kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp trớc đây sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa với
nhiều cơ hội và thách thức mới trong việc xây dựng và phát triển kinh tế đất nớc. Quá
trình xây dựng một nền kinh tế thị trờng không thể tránh khỏi sự tác động của các
quy luật kinh tế thị trờng. Các quy luật kinh tế của thị trờng quyết định sự vận động
của thị trờng do đó quyết định sự vận động của nền kinh tế thị trờng. Vì thế khi
tham gia thị trờng các chủ thể kinh tế cũng không thể tránh đợc sự tác động của các
quy luật. Một nền kinh tế phát triển bắt nguồn từ sự phát triển của các cá nhân trong
xã hội hay chính là các chủ thể kinh tế. Do đó để phát triển một nền kinh tế thị trờng
vững manh nhà nớc vận dụng các quy luật kinh tế vào trong thực tiễn của nền kinh
tế nhằm giải quyết hài hoà các lợi ích của cá nhân và các thành phần khác trong xã
hội, từ đó tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển từng bớc theo định hớng.
Quy luật giá trị với t cách là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá, tạo
nên những tác động to lớn tới ngời sản xuất và ngời tiêu dùng. Quy luật giá trị tác
động đến cả quá trình sản xuất, lu thông hàng hoá, định mức hàng hoá trên thị trờng
các cá nhân hay các thành phần kinh tế khi tham gia vào thị trờng đều dựa trên cơ
sơ của giá trị mà tính đến hiệu quả của sản xuất kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận
cao nhất. Ngày nay quy luật giá trị tác động tới nền kinh tế thông qua sự vận động
của giá cả hàng hoá dới ảnh hởng của cung cầu cạnh tranh, tiền tệ Trong nền kinh
tế thị trờng thì giá cả là tín hiệu của cơ chế thị trờng. Do đó để phát triển nền kinh tế
thị trờng không thể không tính đến tác động của quy luật giá trị. Việc nhận thức và
vận dụng quy luật giá trị là hết sức cần thiết. Nhất là trong giai đoạn hiện nay tình
hình thế giới có nhiều biến động lớn gây ra nhiều tác động về giá, ảnh hởng xấu đến
giá cả trong nớc, đặc biệt là cơn sốt giá năm 2004 với các mặt hàng thiết yếu trong
đời sống hàng ngày nh :thực phẩm , vật liệu xây dựng, thuốc men.Các biến động đó
càng đòi hỏi chúng ta cần nhận biết rõ hơn và vận dụng quy luật giá trị tốt hơn vào
trong nền kinh tế đang có nhiều thay đổi hiện nay. Trớc tính cấp thiết đó đề tài này


1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đợc viết nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản về quy luật giá tri trong nền kinh tế
thị trờng ở nớc ta hiện nay. Quá trình viết chắc chắn không tránh khỏi một số thiếu
sót, do đó ngời viết mong muốn nhận đợc nhiều ý kiến đóng góp của các bạn và các
thầy cô.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo bộ môn đã nhiệt tình giúp đỡ
em trong quá trình thực hiện đề tài.
Hà nội 2005
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng 1: Một số vấn đề cơ bản về
quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trờng
1. Nội dung cơ bản và vai trò của quy luật giá trị
* Cơ sở khách quan và nội dung của quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá. ở đâu có
sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật
giá trị. Sự tồn tại của quy luật giá trị trong xã hội xã hội chủ nghĩa cũng nh xã hội
t bản chủ nghĩa là tất yếu khách quan vì vẫn còn sản xuất hàng hoá. Nh vậy cơ sở để
tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị là tồn tại nền sản xuất hàng hoá.
Nội dung của quy luật giá trị là sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ
sở hao phí lao động xã hội cần thiết. Trong nền kinh tế hàng hoá, vấn đề quan trọng
đặt ra là hàng hoá sản xuất ra có bán đợc hay không? Để có thể bán đợc thì hao phí
lao động để sản xuất ra hàng hoá phải phù hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết,
tức là phải phù hợp với mức hao phí lao động mà xã hội chấp nhận đợc. Nh vậy với
sự đòi hỏi của quy luật giá trị, chỉ có những quá trình sản xuất nào có mức hao phí
lao động cho sản phẩm nhỏ hơn hoặc bằng mức hao phí lao động trung bình của xã
hội mới có thể tồn tại và phát triển. Mặt khác quy luật giá trị còn đỏi hỏi việc trao đổi
hàng hoá cũng phải dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết. Có nghĩa là việc trao
đổi hàng hóa phải dựa trên nguyên tắc ngang giá. Điều này quyết định sự tồn tại hay

không tồn tại, phát triển hay không phát triển của một đơn vị sản xuất, kinh doanh
trong nền kinh tế.
2. Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị.
Quy luật giá trị biểu hiện hoạt động thông qua sự hoạt động của giá cả hàng
hoá. Giá trị là cơ sở của việc hình thành giá cả nên giá cả trớc hết phụ thuộc vào giá
trị. Hàng hoá đợc sản xuất ra mà có nhiều giá trị thì giá cả cao và ngợc lại hàng hoá
nào có giá trị thấp thì giá cả thấp. Trên thị trờng, ngoài giá trị giá cả còn phụ thuộc
vào các nhân tố cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền. Sự tác động của các
nhân tố này làm cho giá cả hàng hóa trên thị trờng tách rời với giá trị và lên xuống
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xoay quanh trục giá trị của nó. Sự vận động của giá cả thị trờng của hàng hoá xoay
quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị. Thông qua sự
vận động của giá cả thị trờng mà quy luật giá trị phát huy tác dụng.
3. Đặc điểm hoạt động của quy luật giá trị trong nền kinh
tế hàng hoá.
Trong bất cứ quốc gia nào, theo thể chế chính trị nào mà ở đó nền sản xuất hàng
hoá vẫn còn thì quy luật giá trị còn tồn tại và phát huy tác dụng.
Trong nền kinh tế t bản chủ nghĩa, quy luật giá trị tác động vào sản xuất và lu
thông hàng hoá thông qua cơ chế hoạt động của hệ thống các quy luật kinh tế t bản
chủ nghĩa. ở thời kỳ tự do cạnh tranh, quy luật giá trị đợc thực hiện thông qua cạnh
tranh hình thành giá trị thị trờng và giá cả một cách tự phát. Đến thời kì độc quyền,
các tổ chức độc quyền nắm đợc vị trí độc quyền nên áp đặt giá cả độc quyền. Giá cả
độc quyền vẫn không thoát li và không phủ định cơ sở của nó là giá trị. Quy luật giá
trị biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền .
Quy luật giá trị trong nền kinh tế t bản chủ nghĩa quyết định các tỉ lệ trong nền
kinh tế và còn mang tính tự phát vì việc sản xuất hàng hoá vẫn dựa chủ yếu vào chế
độ công hữu về t liệu sản xuất.
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, quy luật giá trị không đóng vai trò điều tiết sản
xuất nh trong nền sản xuất hàng hoá xây dựng trên chế độ t hữu. Nó cũng không phải

là cái duy nhất quyết định sự lu thông hàng hoá và giá cả hàng hoá. Quy luật giá trị ở
đây không làm phân hoá ngời sản xuất, không đẻ ra chủ nghĩa t bản. Nó hoạt động
chủ yếu dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất. Tác động của nó không phải là
thông qua sự lên xuống tự phát của giá cả xung quanh giá trị, không phải là sự hình
thành một cách tự phát hao phí lao động xã hội cần thiết dới sức mạnh của quy luật
cạnh tranh giữa những ngời sản xuất hàng hoá độc lập với nhau.
Trong chủ nghĩa xã hội quy luật giá trị không tác động nh một lực lợng tự phát
thống trị con ngời nh trong chế độ t bản. Nhà nớc xã hội chủ nghĩa có đủ khả năng
nhận thức tính toán vận dụng triệt để trong quản lí kinh tế, kích thích nền sản xuất
xã hội chủ nghĩa phát triển dới sự chi phối của các quy luật kinh tế cơ bản.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
4. Vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá.
4.1. Vai trò điều tiết sản xuất và lu thông hàng hoá.
Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân phối các yếu tố sản xuất giữa các ngành,
các lĩnh vực của nền kinh tế. Tác dụng của quy luật giá trị thông qua sự biến động
của giá cả hàng hoá trên thị trờng, dới tác động của quy luật cung cầu. Ngời sản xuất
hàng hoá sản xuất ra cái gì ? sản xuất bằng công nghệ nào và cho ai là do họ quyết
định. Mục đích của họ là thu đợc nhiều lợi nhuận. Dựa vào sự biến động của giá cả
thị trờng dới tác động trực tiếp của cung cầu, ngời ta biết đợc hàng hoá nào đang
thiếu, bán chạy có giá cao và nhiều lãi, hàng hoá nào ế thừa , giá thấpNgời sản xuất
hàng hoá sẽ mở rộng sản xuất những mặt hàng đang thiếu, bán chạy nhiều lãi và ng-
ợc lại thu hẹp sản xuất, thậm chí đóng cửa doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng ế
thừa, không tiêu thụ đợc. Ngời ta sẽ chuyển sang sản xuất những hàng có nhu cầu
nhiều hơn, bỏ mặt hàng không có hoặc rất ít nhu cầu hoặc nhu cầu trên thị trờng đã
đợc thoả mãn.. kết quả là các yếu tố sản xuất nh t liệu sản xuất, sức lao động, tiền
vốn đợc chuyển dịch từ ngành này sang ngành khác làm cho quy mô ngành này mở
rộng, ngành kia thu hẹp. Đó chính là vai trò điều tiết sản xuất của quy luật giá trị.
Quy luật giá trị cũng đóng vai trò điều tiết lu thông hàng hóa. Hàng hoá bao giờ
cũng vận động từ nơi có giá cả thấp đến nơi giá cả cao, từ nơi cung lớn hơn cầu đến

nơi cung nhỏ hơn cầu, tạo nên sự cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng trong nền kinh
tế. Nh vậy thông qua sự vận động của giá cả trên thị trờng mà quy luật giá trị đóng
vai trò phân phối hay điều tiết lợng hàng trên thị trờng.
4.2. Vai trò thúc đẩy cải tiến kĩ thuật, tăng năng suất lao động.
Trong kinh tế hàng hoá, mỗi ngời sản xuất là một chủ thể kinh tế độc lập, tự
quyết định hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Nhng do điều kiện khác nhau
mà các hàng hoá đợc sản xuất trong các điều kiện khác nhau vì thế giá trị cá biệt của
chúng khác nhau. Khi trao đổi trên thị trờng, các hàng hoá đều phải đợc trao đổi theo
giá trị xã hội vì thế ngời sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao
động xã hội cần thiết sẽ ở thế có lợi thu đợc lãi cao, ngời sản xuất nào có hao phí lao
động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội của hàng hoá thì rơi vào thế bất lợi, lỗ
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vốn. Do đó để giành đợc u thế trong cạnh tranh và tránh đợc nguy cơ lỗ vốn họ phải
hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình sao cho nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao
động xã hội cần thiết. Để đạt đợc yêu cầu đó ngời sản xuất tìm mọi cách cải tiến kĩ
thuật, nâng cao trình độ tay nghề, sử dụng các thành tựu khoa học mới nhất vào sản
xuất, cải tiến tổ chức quản lí, tăng năng suất lao động. Ngoài ra để thu đợc nhiều lợi
nhuận, ngời sản xuất hàng hoá còn phải thờng xuyên cải tiến chất lợng, mẫu mã hàng
hoá cho phù hợp với nhu cầu, thị hiếu ngời tiêu dùng, cải tiến các biện pháp lu thông,
bán hàng để tiết kiệm chi phí lu thông và tiêu thụ sản phẩm nhanh hơn.
4.3. Vai trò thực hiện phân hoá ngời sản xuất.
Dới tác động của quy luật giá trị cùng những đòi hỏi nghiêm ngặt với mỗi ngời
sản xuất trong xã hội thì chỉ có những ngời khả năng nhạy bén với thị trờng, những
ngời làm tốt mới có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã
hội cần thiết. Do đó mà họ có thể thu lãi và mở rộng sản xuất, họ trở thành ngời giàu
có trong xã hội. Ngợc lại những ngời kém hơn hay có ít điều kiện trong sản xuất nh ít
vốn, công nghệ lạc hậu thì mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao
động xã hội cần thiết, do đó lâm vào tình trạng thua lỗ, thậm chí phá sản.
Quy luật giá trị ở đâu cũng đóng vai trò đào thải cái kém, cái lạc hậu kích thích

các nhân tố tích cực phát triển. Mặt khác tạo ra bất bình đẳng trong xã hội.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng 2: Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị
ở nớc ta và các giải pháp nhằm vận dụng tốt
hơn quy luật giá trị trong thời gian tới
1. Kinh tế nớc ta và một số vấn đề về vận dụng quy luật giá
trị trớc đổi mới.
Sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975 đất nớc ta hoàn toàn độc lập thống
nhất. Cả nớc bắt tay vào xây dựng kinh tế đất nớc sau chiến tranh dới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam. Chúng ta dần dần thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa trên cả hai miền Nam Bắc. Trong quá trình đó chúng ta đã vận dụng mô hình
kinh tế tập trung của Liên Xô (cũ). Với cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao
cấp mà đặc trng là nhà nớc trực tiếp điều khiển nền kinh tế bằng hệ thống các chỉ
tiêu pháp lệnh : chỉ tiêu về sản lợng, về thu nhập, về nộp ngân sách, và tiêu thụ, về
vốn và lãi suất, tín dụng ngân hàng
Trong thời gian này chúng ta đã phạm phải một số sai lầm trong nền kinh tế :
dù thực tế vẫn thừa nhận sản xuất hàng hoá, thừa nhận quan hệ hàng hoá thị trờng
nhng thực chất đó chỉ là kinh tế hàng hoá một thành phần- thành phần xã hội chủ
nghĩa dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất dới hai hình thức toàn dân và tập
thể. Với tên gọi kinh tế hàng hoá xã hội chủ nghĩa về thực chất là kinh tế chỉ huy
đã làm cho các phạm trù của kinh tế hàng hoá vốn sống động và nhạy cảm nh giá trị,
giá cả, lợi nhuận bị hình thức hoá đến cao độ, không phản ánh các quy luật của thị
trờng, không còn nội dung kinh tế hàng hoá nữa. Quy luật giá trị khi đó đã không đ-
ợc nhận thức đúng đắn về nội dung và bản chất.
Trên thị trờng chúng ta duy trì hệ thống giá cả chỉ đạo của nhà nớc trên cơ sở
lấy giá thóc sản xuất trong nớc làm căn cứ xác định giá chuẩn và tỉ lệ trao đổi hiện
vật. Hầu hết hàng hoá và dịch vụ lu thông trong xã hội đều theo giá chỉ đạo của nhà
nớc. Ví dụ giá gạo theo quy định là 0,4 đồng/kg, bán theo định lợng
1

. Trên thị trờng
có hai hệ thống giá cả : giá của nhà nớc áp dụng trên thị trờng có tổ chức và thị trờng
tự do biến động theo cung cầu. giá chỉ đạo không liên quan đến quan hệ cung cầu và
1
Vai trò quản lí của nhà nớc về giá trong nền kinh tế thị trờng ở nớc ta. Trang 27
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
rất ít biến đổi. Giá chỉ đạo không quan hệ với giá thị trờng và giá trên thế giới. Tỉ giá
ở khu vực I áp dụng từ năm 1958-1980 vẫn là 5,644 đ/rup (tỉ giá kết toán nội bộ)
2
.
Đây chính là cơ sở quan trọng để ổn định toàn bộ giá chỉ đạo nội địa mà thực chất là
sự bao cấp qua giá t liệu sản xuất.
Trong thời kì này các cơ sở kinh tế quốc doanh hoạt động theo cơ chế cấp phát
và giao nộp, lãi nhà nớc nhờ, lỗ nhà nớc chịu, không có cạnh tranh, phá sản. Những
xí nghiệp làm ăn kém đợc nhà nớc bù lỗ để duy trì sự tồn tại, ngợc lại những xí
nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì phải trích nộp ở mức cao số lợi nhuận thu
đợc cho nhà nớc để điều tiết sự chênh lệch thu nhập giữa các xí nghiệp trong cùng
một ngành và giữa các ngành khác nhau. Phơng pháp quản lí trên đã vi phạm quy
luật giá trị và là một trong những nguyên nhân gây ra sự trì trệ bảo thủ, kìm hãm sự
phát triển của nền kinh tế quốc dân. Thực tế chúng ta phải chấp nhận rằng : khi thừa
nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần thì trong quan hệ kinh tế giữa các xí
nghiệp phải có quan hệ cạnh tranh và hợp tác. Vì thế, những xí nghiệp làm ăn tốt thì
có thu nhập cao còn các xí nghiệp làm ăn kém phải chịu thu nhập thấp hoặc chịu phá
sản.
Những phơng pháp quản lí trên trong cơ chế quản lí tập trung đã gây ra những
tác hại nghiêm trọng : thị trờng tiếp tục bị phân hoá, hàng hoá ngày càng khan hiếm,
chủ nghĩa bản vị, cục bộ phát triển mạnh cùng cơ chế cấp phát vật t, tiền vốn theo chỉ
tiêu kế hoạch đã kích thích các địa phơng hình thành hàng loạt tổ chức kinh tế quốc
doanh, hoạt động bất chấp hiệu quả kinh tế nhằm bòn rút, giành giật vốn liếng từ

trung ơng để kinh doanh, mua đi bán lại, ăn chênh lệch giá, tăng thêm nguồn thu cho
ngân sách địa phơng. Để bảo vệ lợi ích cục bộ các chính quyền địa phơng đã sử dụng
các biện pháp ngăn sông cấm chợ chia cắt thị trờng theo địa giới hành chính làm
cho lu thông hàng hoá, tiền tệ bị ách tắc nghiêm trọng. Nhiều chỉ tiêu về kinh tế đạt
tỉ lệ thấp, tăng trởng bình quân của công nghiệp chỉ đạt 0,6%/năm đầu t cho nông
nghiệp tăng 14%/năm, nông nghiệp -0,9%/ năm, lâm nghiệp -11%/năm, tổng sản
phẩm xã hội chỉ tăng bình quân 1.4%. Tổng mức hàng hoá bán lẻ giảm 3,5%/năm,
xuất khẩu không đáng kể. Trên thị trờng xuất hiện tình trạng mức chênh lệch ngày
2
Vai trò quản lí của nhà nớc về giá trong nền kinh tế thị trờng ở nớc ta. Trang 27
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
càng lớn mặt bằng giá do nhà nớc quy định và giá thị trờng tự do, trong đó giá tự do
cao gấp 7-8 lần do giá nhà nớc quy định.
3

Tất cả những yếu tố trên dẫn đến tình trạng tất yếu là kinh tế lâm vào khủng
khoảng, suy thoái, đời sống của nông dân, công nhân viên chức, các lực lợng vũ
trang giảm sút nghiêm trọng. Chính trong tình hình ấy xuất hiện yêu cầu cấp bách là
đổi mới đờng lối kinh tế nhằm đa đất nớc ta ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái.
2. Tổng quan nền kinh tế nớc ta sau đổi mới.
Đứng trớc yêu cầu của đổi mới tại đại hội lần VII Đảng ta đã khẳng định phát
triển nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa-
nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lí của nhà nớc bằng kế hoạch
chính sách và các công cụ khác. Đây là một chủ trơng đúng đắn có cơ sở lí luận và
thực tiễn.
Thực hiện chủ trơng này trong nhiều năm qua chúng ta kiên quyết xoá bỏ cơ
chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp , phát triển kinh tế thị trờng có sự quản
lí của nhà nớc.
Hiện nay nền kinh tế thị trờng của nớc ta còn ở trình độ kém phát triển, kinh tế

còn ít nhiều mang tính tự cung tự cấp. Cơ sở vật chất kĩ thuật còn kém, trong nhiều
ngành đã đợc trang bị máy móc kĩ thuật hiện đại , tuy vậy vẫn còn nhiều ngành máy
móc cũ kĩ, công nghệ lạc hậu. Việt Nam đang ở trình độ lạc hậu 2/7 của thế giới,
thiết bị máy móc lạc hậu đến 2-3 thế hệ, vì thế năng suất lac động của nớc ta chỉ
bằng 30% mức trung bình của thế giới. Nền kinh tế nớc ta vẫn cha thoát khỏi nền
kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ. Nông nghiệp sử dụng khoảng 70% lực lợng lao
động nhng chỉ sản xuất khoảng 26% GDP
4
. Trong nền kinh tế có nhiều thành phần
tham gia, thị trờng dân tộc thống nhất đang trong quá trình hình thành nhng cha đồng
bộ. Sự hình thành thị trờng trong nớc gắn liền với mở rộng kinh tế đối ngoại, hội
nhập vào thị trờng khu vực và thế giới trong hoàn cảnh trình độ phát triển kinh tế
kĩ thuật của nớc ta còn kém phát triển so với các nớc khác. Trong quản lí kinh tế còn
3
Vai trò quản lí của nhà nớc về giá trong nền kinh tế thị trờng ở nớc ta. Trang 31.
4
Giáo trình kinh tế chính trị Mac-Lenin \. Trang 382
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bộc lộ nhiều yếu kém : hệ thống luật pháp cơ chế chính sách cha đồng bộ nhất
quán và cha nghiêm
5
Mặc dù còn nhiều hạn chế nhng thực tế những năm đổi mới đã chứng minh việc
chuyển sang cơ chế thị trờng nhiều thành phần là đúng đắn. Nhờ phát triển kinh tế
hàng hoá chúng ta đã bớc đầu khai thác và đợc tiềm năng trong và ngoài nớc, thu hút
đợc vốn và kĩ thuật, công nghệ của nớc ngoài, giải phóng lực lợng sản xuất góp phần
quyết định vào việc đảm bảo tăng trởng kinh tế vơi nhịp độ tơng đối cao trong thời
gian qua.
- Chúng ta đã đạt đợc một số thành tựu quan trọng : lạm phát từ ba con số/năm
trong những năm 1986-1980 giảm xuống hai con số/năm trong các năm 1991-1995

và xuống một con số từ 1996 đến nay. Giá cả tơng đối ổn định trong các năm qua,
lạm phát ở mức kiểm soát và kích thích đầu t, phân bổ và sử dụng hợp lí tài nguyên
của đất nớc.
- Môi trờng đầu t của Việt Nam đợc đánh giá là an toàn trong khu vực và trên
thế giới. Việt Nam đang là điểm đến an toàn của các nhà đầu t nớc ngoài và các
khách du lịch.
3. Thực trạng vân dụng quy luật giá trị ở nớc ta trong
thời gian vừa qua và vai trò của quy luật giá trị trong
nền kinh tế thị trờng.
Nền sản xuất của nớc ta hiện nay đang ở trong quá trình phát triển từ sản xuất
nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã đợc xây
dựng trên cả nớc, sản xuất chuyển dần từ tính tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá
xã hôi chủ nghĩa. Cở sở khách quan của sự hoạt động của quy luật giá trị vẫn còn tồn
tại. Quy luật giá trị còn hoạt động và tác dụng trên phạm vi rộng và trong thời gian
dài.
Vai trò và phạm vi hoạt động của nó biến đổi từng thời kì cùng với sự chuyển
biến của quan hệ sản xuất, của lực lợng sản xuất, sự phát triển và phân công lao động
xã hội. Vì thế chúng ta cần nhận thức đúng quy luật giá tri, tự giác vân dụng quy luật
giá trị và các phạm trù kinh tế gắn liền với quy luật giá trị nh : tiền tệ, giá cả, tín
5
Đảng cộng sản Việt Nam: văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Trang 66
10

×