Tải bản đầy đủ (.pdf) (39 trang)

Giáo trình Kiểm toán tài chính (Giáo trình đào tạo từ xa): Phần 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (679.36 KB, 39 trang )

TÓM TẮT CHƯƠNG IV
Nợ phải thu là số tiền còn phải thu của khách hàng hoặc các đối tượng
khác. Nợ phải thu bao gồm các khoản phải thu của khách hàng, ứng trước cho người
bán, phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác. Nợ phải thu được trình bày theo giá trị
ghi sổ trừ đi các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi. Dự phòng nợ phải thu khó đòi
được lập cho các khoản phải thu quá hạn hoặc các khoản còn trong hạn nhưng khách
nợ không còn khả năng thanh toán. Có nhiều sai phạm thường gặp khi kiểm toán khoản
mục nợ phải thu. Mục tiêu kiểm toán nợ phải thu gồm mục tiêu có thật, đầy đủ, đánh
giá, trình bày và công bố. Để phát hiện ra các sai phạm trong các khoản mục nợ phải
thu kiểm toán viên phải tím hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ, thực hiện các thử
nghiệm kiểm soát và thực hiện thử nghiệm cơ bản đối với khoản mục nợ phải thu
CHƯƠNG V: KIỂM TOÁN DOANH THU, THU NHẬP

Mục tiêu chương: Sau khi nghiên cứu chương, người đọc có thể hiểu được mục
tiêu kiểm toán doanh thu, thu nhập, các sai phạm thường gặp khi kiểm toán khoản mục
này, quy trình kiểm toán doanh thu, thu nhập
Nội dung của chương tập trung làm rõ những vấn đề sau:
- Đặc điểm doanh thu, thu nhập
- Mục tiêu kiểm toán doanh thu, thu nhập
- Nội dung kiểm toán doanh thu, thu nhập: tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ, thực
hiện thử nghiệm kiểm soát, thực hiện thử nghiệm cơ bản đối với doanh thu, thu nhập
5.1 Đặc điểm của doanh thu, thu nhập
Theo chuẩn mực kế toán Việt nam số 14- “Doanh thu và thu nhập khác”, định
nghĩa:
“Doanh thu: là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế
toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp,
góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Doanh thu gồm có doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ và doanh
thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia (doanh thu hoạt động tài
chính)
Thu nhập khác: là khoản thu góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu ngoài các hoạt


động tạo ra doanh thu”
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phản ánh doanh thu của khối lượng
hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ không phân biệt doanh thu đã thu
được tiền hay sẽ thu được tiền. Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng
chịu thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, doanh thu bán hàng và cung cấp

58


dịch vụ là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá thanh toán. Đối với sản phẩm, hàng hoá dịch
vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu thì doanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá thanh toán bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc
thuế xuất khẩu
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là chỉ tiêu quan trọng trên BCTC, đây
là một trong những chỉ tiêu mà người sử dụng BCTC đánh giá về kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Đây cũng là chỉ tiêu có thể xẩy ra nhiều sai phạm dẫn
tới những sai lệch trọng yếu trên BCTC bởi vì doanh thu có quan hệ mật thiết với kết
quả lãi lỗ nên khi doanh thu bị sai lệch thì dẫn đến lãi lỗ cũng bị trình bày sai trên
BCTC. Ngoài ra, có những trường hợp để xác định doanh thu thì đòi hỏi phải có sự xét
đoán chẳng hạn doanh thu cung cấp dịch vụ có liên quan đến nhiều niên độ, nhiều kỳ
sản xuất kinh doanh
Doanh thu hoạt động tài chính là những khoản doanh thu về tiền lãi, tiền bản
quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và các khoản doanh thu hoạt động tài chính khác
của doanh nghiệp. Tiền lãi là số tiền thu được phát sinh từ việc cho người khác sử
dụng tiền, các khoản tương đương tiền hoặc các khoản còn nợ doanh nghiệp như lãi
cho vay, lãi tiền gửi, lãi đầu tư trái phiếu, chiết khấu thanh toán được hưởng. Tiền bản
quyền là số tiền thu được phát sinh từ việc cho người khác sử dụng tài sản như bằng
sáng chế, nhãn hiệu thương mại, bản quyền tác giả, phần mềm máy vi tính. Cổ tức và

lợi nhuận được chia là số tiền lợi nhuận được phân phối từ việc nắm giữ cổ phiếu hoặc
góp vốn
Các khoản mục doanh thu và thu nhập có đặc điểm là chúng có mối quan hệ
chặt chẽ với những khoản mục trên bảng cân đối kế toán. Do đó nhiều nội dung của
doanh thu và thu nhập đã được tiến hành kiểm tra ngay trong quá trình kiểm toán các
khoản mục khác của bảng cân đối kế toán, chẳng hạn như: kiểm toán doanh thu trong
kỳ gắn liền với kiểm toán tiền và nợ phải thu, kiểm toán thu nhập khác cũng gắn với
kiểm toán tiền và nợ phải thu
Những sai phạm thường gặp khi kiểm toán doanh thu và thu nhập khác:
Đã ghi sổ doanh thu nhưng thực tế chưa giao hàng
Có những khách hàng giả
Tính toán doanh thu không đúng
Các nghiệp vụ tiêu thụ không được ghi sổ đầy đủ
Các nghiệp vụ tiêu thụ không được ghi sổ đúng kỳ

59


Các khoản thu nhập khác phản ánh không đúng tài khoản
5.2 Mục tiêu kiểm toán doanh thu và thu nhập khác
Hiện hữu: khoản doanh thu và thu nhập phản ánh trên báo cáo và sổ sách kế
toán thực sự tồn tại trong thực tế, các nghiệp vụ bán hàng, nghiệp vụ về doanh thu tài
chính, thu nhập khác được ghi nhận thì phát sinh trong thực tế
Đầy đủ: mọi nghiệp vụ bán hàng, doanh thu tài chính, thu nhập khác phát sinh
trong thực tế thì được ghi sổ đầy đủ
Tính toán: Các khoản doanh thu và thu nhập được tính toán đúng đắn
Trình bày và công bố: Doanh thu và thu nhập được trình bày đúng đắn trên các
khoản mục của BCTC
5.3 Nội dung kiểm toán doanh thu và thu nhập
5.3.1 Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát đối với

doanh thu và thu nhập
Khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ đối với các khoản mục trên BCTC thì
phương pháp kiểm toán mà kiểm toán viên thường áp dụng là phương pháp phỏng vấn,
quan sát, kiểm tra tài liệu. Đối với khoản mục doanh thu và thu nhập, những câu hỏi
kiểm toán viên thường sử dụng để hỏi đơn vị được kiểm toán bao gồm:
1. Việc ghi sổ doanh thu có căn cứ vào các hoá đơn bán hàng hoặc các
chứng từ hợp lệ khác, các hợp đồng mua hàng hay không?
2. Có chữ ký của khách hàng trong các hoá đơn giao hàng không?
3. Việc sử dụng hoá đơn bán hàng có theo đúng quy định hiện hành không?
4. Các chức năng giao hàng và viết hoá đơn có tách biệt nhau không?
5. Khách hàng có theo dõi riêng biệt từng loại doanh thu không?
6. Việc phản ánh doanh thu có theo đúng kỳ kế toán không?
7. Doanh nghiệp có theo dõi hàng gửi bán không?
8. Các khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại
có được phê chuẩn của người phụ trách không?
9. Doanh nghiệp có thu được các khoản lãi từ hoạt động đầu tư tài chính,
hoạt động mua bán chứng khoán?
10. Doanh nghiệp có khoản thu nhập bất thường nào phát sinh trong năm
không?
5.3.2 Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát đối với doanh thu và thu nhập
Kiểm toán viên có thể sử dụng các thử nghiệm kiểm soát đối với nợ phải thu và
vốn bằng tiền để đánh giá kiểm soát nội bộ đối với doanh thu và thu nhập

60


5.3.3 Thực hiện thử nghiệm cơ bản đối với doanh thu và thu nhập
a. Thực hiện thử nghiệm cơ bản đối với doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Thực hiện thủ tục phân tích
Thu thập và lập bảng tổng hợp doanh thu theo từng mặt hàng, doanh thu bán vật

tư, doanh thu khác…Phân loại doanh thu theo đối tượng khách hàng như doanh thu
bán cho các đơn vị trong tổng công ty, doanh thu bán qua các đại lý tiêu thụ, doanh thu
bán qua các cửa hàng giới thiệu sản phẩm, doanh thu bán cho các đối tượng khách
hàng lớn, doanh thu bán cho các đối tượng khác. Kiểm tra việc tính toán trên bảng tổng
hợp, đối chiếu với sổ cái và báo cáo. Xem xét các trường hợp tăng hay giảm bất
thường
So sánh doanh thu của kỳ này với kỳ trước theo từng tháng, các biến động bất
thường cần được giải thích nguyên nhân
Tính lãi gộp của những mặt hàng, dịch vụ chủ yếu và so sánh với năm trước
Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết
Kiểm tra tính có thật của của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Nếu đơn vị có các khoản doanh thu nhỏ được ghi chép đồng thời giữa doanh thu
và giá vốn thì chọn mẫu từ các nghiệp vụ ghi nhận giá vốn rồi thực hiện kiểm tra tới
hoá đơn bán hàng, kiểm tra giá ghi trên hoá đơn tới bảng giá tại từng thời điểm theo
từng đối tượng khách hàng (đối với khách hàng là đơn vị thành viên trong tổng công ty
thì cần đối chiếu với các chính sách giá do Tổng công ty quy định), đối chiếu số tiền
trên hoá đơn với số tiền trên nhật ký bán hàng, đối chiếu số liệu trên nhật ký bán hàng
với số liệu trên sổ cái
Nếu việc ghi nhận giá vốn không được thực hiện đồng thời với việc ghi nhận
doanh thu thì chọn mẫu một số nghiệp vụ bán hàng từ chứng từ gốc ban đầu như hoá
đơn bán hàng hoặc phiếu xuất kho. Đối với những nghiệp vụ được chọn thực hiện các
thủ tục: kiểm tra giá ghi trên hoá đơn với bảng giá tại từng thời điểm, đối chiếu số tiền
trên hoá đơn với số tiền trên nhật ký bán hàng, đối chiếu số tiền trên nhật ký bán hàng
với số liệu trên sổ cái
Kiểm tra tính đầy đủ của việc ghi chép các khoản doanh thu bán hàng và cung
cấp dịch vụ
Yêu cầu khách hàng cung cấp các quyển hoá đơn gốc, kiểm tra tính liên tục của
các quyển hoá đơn, xem xét xem có những hoá đơn nào không phải là hoá đơn huỷ mà
không được ghi nhận doanh thu không, các hoá đơn huỷ có được lưu đầy đủ các liên
không

Kiểm tra tính đúng kỳ và việc ghi chép của các khoản hàng bán bị trả lại
Yêu cầu khách hàng cung cấp hoặc lập bảng tổng hợp giá trị hàng bán bị trả lại.
Kiểm tra việc tính toán trên bảng tổng hợp, đối chiếu với sổ cái và báo cáo của đơn vị.

61


Chọn một số nghiệp vụ hàng bán bị trả lại, đối chiếu các chứng từ chi tiền trả lại
khách hàng các nghiệp vụ hạch toán phải trả hoặc các nghiệp vụ ghi giảm phải thu
tương ứng, đối chiếu với các phiếu nhập hàng và hoá đơn bán hàng gốc, khẳng định
rằng các khoản chi trả lại khách hàng đã được hạch toán đúng kỳ
Kiểm tra tính đúng kỳ của các nghiệp vụ về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Chọn một số phiếu xuất hàng hoặc tài liệu chứng từ chứng minh dịch vụ đã
được thực hiện được lập vào ngày trước ngày khoá sổ, đối chiếu các chứng từ đó với
hoá đơn bán hàng để kiểm tra tính đúng kỳ
Chọn một số nghiệp vụ ghi giảm doanh thu được hạch toán ngày trước ngày
khoá sổ, đối chiếu với các phiếu nhập để kiểm tra tính đúng kỳ
Soát xét các nghiệp vụ ghi giảm doanh thu khác phát sinh ngày trước ngày khoá
sổ, kiểm tra tới các chứng từ liên quan để kiểm tra tính đúng kỳ
Kiểm tra việc phân loại, trình bày và hạch toán các khoản doanh thu
Kiểm tra việc trình bày các khoản doanh thu bán hàng và các bên có liên quan,
doanh thu bán thành phẩm, doanh thu bán phế liệu, doanh thu bán nguyên liệu, doanh
thu khác có được trình bày hợp lý không
Kiểm tra việc phân loại và trình bày các khoản doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ, các khoản doanh thu hoạt động tài chính, các khoản doanh thu của các mặt
hàng có thuế suất khác nhau
b. Thực hiện thử nghiệm cơ bản đối với doanh thu hoạt động tài chính
Kiểm tra tính có thật và đầy đủ của các khoản doanh thu hoạt động tài chính
Đối với các nghiệp vụ tạo ra doanh thu tài chính của doanh nghiệp, kiểm toán
viên kiểm tra về thời điểm ghi nhận doanh thu xem có phù hợp với chuẩn mực và chế

độ kế toán hiện hành hay không. Theo quy định của chuẩn mực kế toán Việt nam số 14
– “Doanh thu và thu nhập khác”, các khoản tiền lãi và tiền bản quyền được ghi vào
từng thời kỳ phát sinh; trong khi cổ tức và lợi nhuận được chia chỉ được ghi nhận khi
đơn vị được quyền nhận chúng.
Đối với các khoản tiền lãi cho vay, lãi về bán chứng khoán, lãi do chênh lệch tỷ
giá hối đoái của các nghiệp vụ về ngoại tệ phát sinh trong kỳ…kiểm toán viên kiểm tra
từ chứng từ của các nghiệp vụ tới sổ kế toán để xem đã được ghi sổ đầy đủ doanh thu
tài chính hay chưa
Kiểm tra việc tính toán
Nếu doanh thu hoạt động tài chính phát sinh từ các khoản tiền lãi được tính trên
cơ sở phân bổ doanh thu chưa thực hiện kiểm toán viên xem xét phương pháp tính toán
của đơn vị có nhất quán và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hay không
c. Thực hiện thử nghiệm cơ bản đối với thu nhập khác
Kiểm tra tính có thật và đánh giá các khoản thu nhập khác

62


Kiểm tra các khoản thu nhập khác được phản ánh trên sổ sách thực tế có phát
sinh không, đã đủ điều kiện để ghi nhận hay chưa. Để kiểm tra, kiểm toán viên căn cứ
vào quy định sau của chuẩn mực kế toán Việt nam số 01 – Chuẩn mực chung, một
khoản thu nhập chỉ được ghi nhận khi thu được lợi ích kinh tế tương lai do tăng tài sản
hay giảm nợ phải trả và giá trị tăng thêm đó phải xác định được một cách đáng tin cậy.
Kiểm tra các khoản thu nhập khác phát sinh có được xác định đúng đắn hay
không
HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP VẬN DỤNG
I. Câu hỏi
1. Nêu đặc điểm kiểm toán khoản mục doanh thu và thu nhập khác?
2. Nêu những sai phạm có thể xẩy ra khi kiểm toán doanh thu và thu nhập khác?

3. Trình bày những hoạt động kiểm soát để hạn chế sai phạm về doanh thu, thu nhập
khác?
4. Trình bày những thử nghiệm cơ bản đối với doanh thu, thu nhập khác?
II. Bài tập vận dụng
Một Công ty thương mại kinh doanh hàng dày dép. Trong quá trình kiểm toán
báo cáo tài chính cho niên độ kế toán kết thúc ngày 31 tháng 12 năm N của công ty
này kiểm toán viên đã thu thập được một số thông tin như sau:
- Trong năm N, công ty đã gặp phải một số khó khăn về phân chia thị phần do đó
doanh thu năm N đã giảm 35% so với năm N-1
- Sau khi phân tích Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh năm N cho thấy tỷ lệ
lãi gộp tăng 15% so với năm N-1, tuy nhiên không có sự thay đối nào lớn về giá
mua và bán hàng hoá so với năm N-1
- Sau khi phỏng vấn ban giám đốc Kiểm toán viên biết rằng Ban giám đốc của
công ty sẽ phải ký lại hợp đồng quản lý vào cuối năm N và việc xem xét ký lại
hợp đồng phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm N
- Cuối niên độ kết toán Công ty không lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Yêu cầu:
1. Hãy chỉ ra các sai phạm có thể xẩy ra đối với khoản doanh thu bán hàng và đối với
các khoản mục khác?
2. Xác định các thủ tục kiểm toán cần thiết phải thực hiện?
TÓM TẮT CHƯƠNG V
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế
toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp,
góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu gồm có doanh thu bán hàng, doanh thu
cung cấp dịch vụ và doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được

63


chia (doanh thu hoạt động tài chính). Thu nhập khác là khoản thu góp phần làm tăng

vốn chủ sở hữu ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu. Có nhiều sai phạm có thể xẩy ra
khi kiểm toán doanh thu, thu nhập khác. Mục tiêu kiểm toán viên tập trung vào khi
kiểm toán doanh thu, thu nhập khác là mục tiêu đầy đủ, có thật và tính toán. Khi tiến
hành kiểm toán doanh thu, thu nhập khác kiểm toán viên phải tìm hiểu hệ thống kiểm
soát nội bộ đối với doanh thu, thu nhập khác; thực hiện các thử nghiệm kiểm soát và
thử nghiệm cơ bản đối với khoản mục này.
CHƯƠNG VI: KIỂM TOÁN CHI PHÍ

Mục tiêu chương: Trang bị cho học viên những nhận thức cơ bản về kiểm toán
chi phí, cũng như thực tiễn áp dụng kiểm toán chi phí tại các công ty kiểm toán.
Nội dung chương : Trọng tâm của chương cung cấp cho học viên cách tiếp cận
hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán về chi phí và những thủ tục kiểm
toán khi tiến hành kiểm toán chi phí cũng như tổng hợp kết quả kiểm toán chi phí trước
khi đưa ra ý kiến kiểm toán.
6.1. Đặc điểm của chi phí
Chi phí được xác định là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong
kỳ kế toán, dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát
sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu.
Các khoản chi phí được phát sinh một cách thường xuyên trong quá trình sản
xuất kinh doanh, nó luôn vận động, thay đổi trong quá trình tái sản xuất. Tính đa dạng
của nó luôn được biểu hiện cụ thể gắn liền với sự đa dạng phức tạp của các loại hình
sản xuất và sự phát triển không ngừng của các tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Để tiện cho việc đưa ra các quyết định kinh tế, người ta có thể phân loại chi phí
theo các tiêu thức khác nhau.
Phân loại theo hoạt động và công dụng kinh tế:
- Chi phí hoạt động chính và phụ: bao gồm các chi phí tạo ra doanh thu bán hàng của
hoạt động sản xuất kinh doanh:
+ Chi phí sản xuất:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp


64


Chi phí sản xuất chung
+ Chi phí ngoài sản xuất:
Chi phí bán hàng
Chi phí quản lý doanh nghiệp
- Chi phí hoạt động khác:
+ Chi phí hoạt động tài chính
+ Chi phí khác.
6.2. Mục tiêu kiểm toán chi phí
Chi phí là vấn đề cốt lõi của doanh nghiệp, việc doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh có hiệu quả không, có đảm bảo mục tiêu đề ra hay không? Tất cả đều xoay
quanh chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là hai khoản mục tương đối
phức tạp do nhiều các yếu tố chi phí kết hợp lại, mặt khác lại chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng chi phí của doanh nghiệp vì vậy trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải
đặt mục tiêu rõ ràng và hiệu quả cho chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Chi phí tài chính: thông thường ở các doanh nghiệp trong chi phí tài chính chủ
yếu là chi phí lãi vay, lỗ chuyển nhượng chứng khoán ngắn hạn, các khoản dự phòng
giảm giá đầu tư chứng khoán ngắn hạn... Các nghiệp vụ phức tạp như xác định cổ
phiếu, lợi nhuận, ghi nhận cổ tức tương đối phức tạp. Tuy nhiên các doanh nghiệp vẫn
đang ít phát sinh các nghiệp vụ này vì vậy khi phát sinh thường có rủi ro lớn.
Chi phí khác: những khoản lỗ do các sự kiện hay các nghiệp vụ riêng biệt với
hoạt động thông thường của doanh nghiệp gây ra, cũng có thể là những khoản chi phí
bổ sung từ các năm trước. Thường các khoản chi phí này phát sinh không nhiều, nhưng
do tính chất bất thường, mới nên khó khăn cho xử lý và quản lý
Mục tiêu kiểm toán:
+ Chi phí được hạch toán có căn cứ hợp lý, tính toán đánh giá đúng, ghi sổ kế toán kịp

thời, đầy đủ.
+ Kiêm tra việc tính và phân bổ chi phí một cách đúng đắn
+ Kiểm tra việc trình bày và công bố các chi phí trên báo cáo tài chính.

65


Căn cứ kiểm toán:
+ Quy định và việc thực hiện các quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chi phí
trong doanh nghiệp.
+Các chứng từ gốc: bảng lương, bảng phân bổ vật liệu, bảng tính và phân bổ khấu hao,
các bảng thanh lý, phiếu chi.....
+ Các sổ kế toán chi tiết và tổng hợp.
+ Tài liệu về định mức, kế hoạch...
+ Tài liệu, thông tin có liên quan.
6.3. Nội dung kiểm toán chi phí
6.3.1. Tìm hiểu kiểm soát nội bộ và đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát về chi phí
Chi phí là bộ phận quan trọng của báo cáo tài chính, liên quan tới nhiều khoản
mục khác trên các báo cáo tài chính như các khoản mục trên BCĐKT, BCKQKD,
BCLCTT.
-Bảng cân đối kế toán: Gián tiếp thông qua các chỉ tiêu: Lợi nhuận chưa phân phối,
TK331, 338, TK131,138, 111....,TK333.
-Báo cáo kết quả kinh doanh: Chỉ tiêu chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp,
chi phí khác, chi phí tài chính, chỉ tiêu lợi nhuận, thuế thu nhập doanh nghiệp phải
nộp...
-Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Tiền chi trả lãi vay, chi dịch vụ, chi bằng tiền khác.....
Việc tính toán và đánh giá các khoản chi phí khá phức tạp, chi phí bán hàng và
chi phí quản lý doanh nghiệp được cầu thành từ nhiều bộ phận và liên quan đến nhiều
khoản mục khác: khấu hao, tiền lương, trích....; chi phí tài chính thường rơi vào lỗi tính
toán sai nhất là khi doanh nghiệp có những nghiệp vụ đầu tư liên doanh, chứng khoán;

chi phí khác thường tổng hợp nhiều loại chi phí bất thường ngoài hoạt động sản xuất
như chi phí liên quan đến bên thứ ba, liên quan đến các nghiệp vụ của năm trước... các
chi phí khác cũng khó có thể phân loại rõ ràng như các tài khoản khác nên khó đánh
giá, khó phân tích.
Trong quá trình tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ về chi phí, kiểm toán viên
cần xem xét các nghiệp vụ thường xảy ra, các nghiệp vụ biến động bất thường, xem xét

66


trình độ của người làm kế toán cho phí, liệu có rủi ro ở các khoản mục chi phí hay
không?Có các quy định về chi tiêu trong đơn vị không, việc quyết định chi tiêu do
những ai ra quyết định.
-Đơn vị có ban hành các chính sách,quy định về vay vốn, đầu tư tài chính, về nhượng
bán, thanh lý tài sản cố định. Các quy trình tiến hành thanh lý nhượng bán, quy định về
các khoản chi quản lý doanh nghiệp...
- Đưa ra các chính sách nhằm quản lý, các biện pháp quy trình nhằm hạn chế sai sót.
- Có ban hành các quy định cho phòng kế toán về quy định hạn mức chi phí, việc ghi
nhận các khoản chi phí...
Sau khi tìm hiểu, KTV sẽ đánh giá sơ bộ về các rủi ro ở khoản mục chi phí, cân
nhắc các thử nghiệm kiểm soát hoặc mở rộng hơn các thử nghiệm cơ bản.
6.3.2. Thực hiện thử nghiệm kiểm soát
Kiểm toán viên thực hiện các thử nghiệm kiểm soát để đánh giá về hệ thống và
dự đoán rủi ro kiếm soát cho khoản mục chi phí. Do đó khi đánh giá hệ thống kiểm
soát nội bộ, kiểm toán viên cần đánh giá tính hiệu lực của các bộ phận có chức năng
kiểm soát ở đơn vị. Kiểm toán viên có thể thực hiện các thủ tục kiểm soát như: phỏng
vấn, trao đổi, quan sát trực tiếp, nghiên cứu tài liệu...
Trình tự thực hiện các thử nghiệm kiểm soát chi phí được kết hợp với khi
nghiên cứu các khoản mục khác có liên quan đã được trình bày ở các chương trước.
6.3.3. Thực hiện thử nghiệm cơ bản

6.3.3.1. Thực hiện thủ tục phân tích
Khi thực hiện các thủ tục phân tích kiểm toán viên thường sử dụng các kỹ thuật sau:
- So sánh chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp kỳ này với kỳ trước, với kế
hoạch, với số dự toán đã điều chỉnh. So sánh chi phí tài chính, chi phí khác giữa các
kỳ, các niên độ kế toán. Mọi sự biến động cần được xem xét tới nhân tố hợp lý và bất
hợp lý.
- So sánh tỷ trọng chi phí bán hàng trên doanh thu, chi phí quản lý doanh nghiệp trên
doanh thu. So sánh ước tính chi phí tài chính trên cơ sở tổng vốn vay.
- Xem xét sự biến động của từng khoản mục chi phí giữa các tháng trong năm.

67


- Lập bảng phân tích quan hệ đối ứng tài khoản và nhận dạng các quan hệ đôi ứng bất
thường, nội dung không rõ ràng.
Mục đích của việc thực hiện các thủ tục phân tích trên là để tìm ra những biến
động bất thường và những sai lệch thông tin để định hướng kiểm toán và sử dụng
phương pháp kiểm toán thích hợp.
6.3.3.2. Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết
Khi tiến hành kiểm toán về chi phí, kiểm toán viên thường kết hợp các kết quả ở
các khoản mục khác, và thương quan tâm vào những ngiệp vụ có số tiền phát sinh lớn,
dễ có sai sót, những khoản chi phí có biến động bất thường.
- Đối chiếu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết từng khoản chi phí
- Đối với các khoản chi phí có liên quan đến khoản mục khác cần đối chiếu kết quả với
các kiểm toán viên khác.
- Đối với các khoản chi phí biến động bất thường cần chọn mẫu để kiểm tra chứng từ
gốc phát sinh chi phí và kiểm tra việc tính toán, đánh giá, ghi sổ nghiệp vụ có đúng
không
- Đọc nội dung các khoản chi phí để xem xét chi phí có được phân loại đúng đắn
không.

- Việc tính toán phân bổ các chi phí có nhất quán giữa các kỳ không
- Việc trình bày các khoản mục chi phí trên báo cáo tài chính có phù hợp và đúng đắn
không?
HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP VẬN DỤNG
I. Câu hỏi
1. Trình bày đặc điểm kiểm toán khoản mục chi phí?
2. Nêu những sai phạm có thể xẩy ra khi kiểm toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý
doanh nghiệp?
3. Nêu các thử nghiệm cơ bản được áp dụng để kiểm toán chi phí bán hàng và chi phí
quản lý doanh nghiệp?
II. Bài tập vận dụng

68


Kiểm toán viên Hà được giao phụ trách kiểm toán khoản mục Chi phí của Công
ty Hoàng Hà cho niên độ kế toán kết thúc ngày 31/12/200X. Thông qua phỏng vấn
giám đốc về vấn đề lập dự toán chi phí, kiểm toán viên được biết chỉ có một nhà quản
lý của Công ty soạn thảo dự toán này và công ty xem đây là tài liệu mật. Kiểm toán
viên có thể xem bảng dự toán này nhưng không cho bất kỳ nhân viên nào trong công ty
xem. Bạn hãy cho ý kiến về quy định này?
TÓM TẮT CHƯƠNG VI
Chi phí là vấn đề cốt lõi của doanh nghiệp, việc doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh có hiệu quả không, có đảm bảo mục tiêu đề ra hay không. Tất cả đều xoay
quanh chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Kiểm toán chi phí là vấn đề quan trọng, ảnh hưởng đến nhiều chỉ tiêu trên báo cáo
tài chính, đặc biệt là chỉ tiêu lợi nhuận. Trong quá trình kiểm toán chi phí, kiểm toán
viên cần đánh giá về hệ thống và rủi ro kiểm soát đối với chi phí, sử dụng thử nghiệm
kiểm soát và thử nghiệm cơ bản để đạt được mục tiêu kiểm toán. Mục tiêu của kiểm

toán chi phí thường tập trung vào mục tiêu có thật, tính giá, trình bày. Kiểm toán viên
áp dụng các thử nghiệm kiểm toán đối với chi phí để đạt được mục tiêu này

CHƯƠNG VII: KIỂM TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH

69


Mục tiêu chương: Trang bị cho học viên những nhận thức cơ bản về kiểm toán
tài sản cố định, cũng như thực tiễn áp dụng kiểm toán tài sản cố định tại các công ty
kiểm toán.
Nội dung chương : Trọng tâm của chương cung cấp cho học viên cách tiếp cận
hệ thống kiếm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán về tài sản cố định cũng như
những thủ tục kiểm toán áp dụng khi tiến hành kiểm toán tài sản cố đinh.
7.1. Đặc điểm tài sản cố định
Tài sản cố định là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài.
Tài sản cố định là một trong những bộ phận quan trọng của doanh nghiệp,
chiếm tỷ trọng lớn trên tổng tài sản của doanh nghiệp. Tùy thuộc vào lĩnh vực kinh
doanh của doanh nghiệp mà tỷ trọng có thể khác nhau, thường những doanh nghiệp sản
xuất thì tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn trong doanh nghiệp, doanh nghiệp thương
mại thì tỷ trọng tài sản là ít hơn do đặc thù kinh doanh là mua bán là chính. Trong quá
trình sử dụng, giá trị của tài sản được dịch chuyển dần dần vào chi phí bộ phận sử
dụng. TSCĐ trong doanh nghiệp cũng phản ánh năng lực sản xuất hiện có và trình độ
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các hoạt động của đơn vị.
Ngoài việc đầu tư mua tài sản cố định hợp lý, trích khấu hao phù hợp thì vấn đề
quản lý tài sản, bảo dưỡng và các kế hoạch nâng cấp tài sản cũng cần được quan tâm
và phản ánh kịp thời thông tin lên báo cáo tài chính.
Để việc quản lý và cung cấp thông tin về tài sản kịp thời, trong doanh nghiệp tài
sản được phân theo nhiều cách khác nhau:
Theo tính chất của tài sản:

- Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh.
- Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, an ninh, quốc phòng.
- Tài sản cố định bảo quản hộ, cất hộ, giữ hộ.
Theo nguồn hình thành:
- Tài sản cố định được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước cấp.
- Tài sản cố định được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn vay.

70


- Tài sản cố định được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn tự bổ sung.
- Tài sản cố định nhận liên doanh, liên kết với đơn vị khác.
Theo tính chất sở hữu:
- Tài sản cố định thuộc quyền sở hữu của đơn vị.
- Tài sản cố định thuê ngoài.
Các cách phân loại này giúp cho người sử dụng phân biệt quyền và nghĩa vụ của
đơn vị trong quản lý Tài sản cố định.
Trong tài sản cố định thuộc quyền sở hữu của đơn vị, phân loại theo tính chất và
đặc trưng kỹ thuật của tài sản là cách phân loại được sử dụng phổ biến hiện nay trong
công tác hạch toán và quản lý tài sản cố định ở các doanh nghiệp. Theo cách phân loại
này, tài sản cố định được chia thành tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình,
và tài sản cố định thuê tài chính.
- Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất
(từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản
liên kết với nhau để thực hiện một thực hiện một hay một số chức năng nhất định) thỏa
mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất
kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến
trúc, máy móc, thiết bị…
TK 211- Tài sản cố định hữu hình bao gồm những tài khoản chi tiết sau:
+ Tài khoản 2111 – Nhà cửa vật kiến trúc.

+ Tài khoản 2112 – Máy móc thiết bị.
+ Tài khoản 2113 – Phương tiện vận tải, truyền dẫn.
+ Tài khoản 2114 – Thiết bị, dụng cụ quản lý.
+ Tài khoản 2115 – Cây lâu năm,súc vật làm việc và cho sản phẩm.
+ Tài khoản 2118 – TSCĐ khác.
-Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một
lượng giá trị đã được đầu tư thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham
gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất
sử dụng, chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh sáng chế, bản quyền tác giả…

71


Tài khoản 213 – Tài sản cố định vô hình:
+ Tài khoản 2131 – Quyền sử dụng đất
+ Tài khoản 2132 – Quyền phát hành
+ Tài khoản 2133 – Bản quyền, bằng sáng chế
+ Tài khoản 2134 – Nhãn hiệu hàng hóa
+ Tài khoản 2135 – Phần mềm máy vi tính
+ Tài khoản 2136 – Giấy phép và giấy nhượng quyền
+ Tài khoản 2138 – TSCĐ vô hình khác.
- Tài sản cố định thuê tài chính: là những tài sản cố định mà doanh nghiệp thuê của
công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn
mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng
thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính,
ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
Tài khoản 212 – Tài sản cố định thuê tài chính.
7.2. Mục tiêu kiểm toán tài sản cố định
Mục tiêu kiểm toán tài sản cố định phù hợp với mục đích chung kiểm toán báo
cáo tài chính là xác nhận về mức độ tin cậy của báo cáo tài chính được kiểm toán. Mục

tiêu cụ thể của của kiểm toán tài sản cố định là thu thập đầy đủ thông tin các bằng
chứng kiểm toán thích hợp từ đó đưa ra xác nhận về mức độ tin cậy của các thông tin
tài chính có liên quan. Kiểm toán TSCĐ nhằm các mục tiêu chủ yếu sau đây:
-Khảo sát các cơ sở dẫn liệu TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và TSCĐ thuê tài chính:

Tính có thật: Các TSCĐ có thực tế tồn tại ở doanh ngiệp hay không.
TSCĐ có thuộc quyền sở hữu (đối với các TSCĐ tự có) hoặc doanh nghiệp có quyền
kiểm soát và sử dụng lâu dài theo hợp đồng thuê TSCĐ hay không (đối với TSCĐ thuê
tài chính).
Tính toán và đánh giá:
+ Kiểm tra cách tính và xác định nguyên giá TSCĐ theo từng trường hợp tăng,
giảm có đúng với quy định hiện hành của hệ thống kế toán và chính sánh, chế độ tài

72


chính doanh nghiệp hay không.
+ Kiểm tra để xem xét mức khấu hao TSCĐ có được tính toán đúng đắn theo quy
định hiện hành và nhất quán với các kì trước hay không.
Chính xác: kiểm tra xem xét việc ghi chép các trường hợp tăng, giảm, khấu hao TSCĐ
có được ghi chép đúng đắn và số dư các tài khoản các tài khoản có liên quan có đúng
đắn hay không.
- Khảo sát, kiểm tra số khấu hao lũy kế (số dư TK 214)
- Kiểm tra các chi phí sữa chữa, đặc biệt là chi phí sữa chữa lớn TSCĐ
Căn cứ để kiểm toán tài sản cố định:
-Các nội quy, quy chế của đơn vị có liên quan đến mua sắm, quản lý, sử dụng, thanh
lý, nhượng bán tài sản cố định,
- Các tài liệu là căn cứ pháp lý cho các nghiệp vụ tăng giảm, mua bán, sửa chữa tài sản
cố định, thanh lý tài sản cố định.
- Các chứng từ phát sinh liên quan đến tài sản cố định: hóa đơn mua tài sản cố định,

các chứng từ liên quan đến quá trình vận chuyển, lắp đặt, sửa chữa tài sản cố định,
phiếu chi, giấy báo nợ, các biên bản thanh lý TSCĐ…
- Sổ sách kế toán tổng hợp, chi tiết liên quan đến tài sản cố định.
- Các báo cáo kế toán tổng hợp, chi tiết như: Báo cáo tăng giảm tài sản cố định, báo
cáo sửa chữa, …
7.3. Nội dung kiểm toán tài sản cố định.
7.3.1. Tìm hiểu kiểm soát nội bộ và đánh giá sơ bộ về tài sản cố định.
Việc kiểm toán TSCĐ thường được kiểm toán khác với kiểm toán tài sản lưu động với
các lý do

:

- Việc mua sắm đầu tư TSCĐ trong mỗi kỳ thường xảy ra rất ít.
- Số tiền của mỗi lần mua sắm, đầu tư tái sản cố định là một đại lượng xác định.
- TSCĐ có thể theo dõi và lưu giữ trên sổ kế toán trong một thời gian lâu dài.
Vì những khác biệt nói trên nên trọng tâm của kiểm toán TSCĐ là quá trình mua sắm,
đầu tư và giám sát TSCĐ trong kỳ kiểm toán chứ không phải là số dư trên tài khoản
được chuyển sang từ năm trước.

73


Chính vì vậy trong quá trình tìm hiểu kiểm soát nội bộ về tài sản cố định, kiểm toán
viên quan tâm đến những vấn đề sau:
- Xác định nhu cầu đầu tư và đưa ra quyết định đầu tư đối với tài sản cố định.
- Tổ chức tiếp nhận các tài sản cố định: Xem xét đơn vị tiếp nhận có nhận đúng TSCĐ
theo yêu cầu hay không. Việc bàn giao phải phù hợp với nhu cầu từng bộ phận.
- Tổ chức quản lý, bảo quản TSCĐ
- Tổ chức quản lý và ghi nhận TSCĐ vào hệ thống sổ sách kế toán.
- Tổ chức xem xét, phê chuẩn và xử lý các nghiệp vụ thanh lý, nhượng bán

Sau khi xem xét hoạt động của hệ thống kiếm soát nội bộ, kiểm toán viên sẽ có
những đánh giá sơ bộ về hệ thống này. Nếu kiểm toán viên nghĩ có thể tin tưởng hệ
thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên sẽ tiến hành các thủ nghiệm kiểm soát. Nếu Hệ
thống kiếm soát nội bộ hoạt động không có hiệu lực, kiểm toán viên có thể sẽ bỏ qua
các thử nghiệm kiểm soát và tập trung vào các thử nghiệm cơ bản.
7.3.2. Thực hiện thử nghiệm kiểm soát.
Cũng giống như các khoản mục khác, trước khi xem xét các phạm vi thử
nghiệm cơ bản sẽ được áp dụng, kiểm toán viên phải tiến hành nghiên cứu và đánh giá
hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị nhằm đánh giá rủi ro kiểm soát đối với các
nghiệp vụ về tài sản và số dư tài khoản. Việc nghiên cứu và đánh giá hệ thống kiểm
soát nội bộ được thực hiện thông qua các thử nghiệm kiểm soát.
Việc nghiên cứu đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện trên hai góc độ:

+ Việc thiết kế hệ thống có phù hợp đảm bảo khả năng kiểm soát hay không?
+ Quy trình thực hiện có đảm bảo tính liên tục nhằm duy trì tính hiệu lực của hệ thống
trong quá trình hoạt động hay không?
Các kỹ thuât khảo sát được sử dụng là kiểm tra các tài liệu, các quy định của
đơn vị về việc xây dựng các quy chế có phù hợp hay không? Có kẽ hở để cho các gian
lận đi qua hay không? Quan sát sự vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ, có dấu
hiệu của kiểm soát nội bộ trong đơn vị thông qua các chứng từ, tài liệu hay không?,

74


phỏng vấn những người có trách nhiệm về việc xây dựng và duy trì hệ thống kiểm soát
nội bộ.
7.3.3. Thực hiện thử nghiệm cơ bản
a. Thực hiện thủ tục phân tích.
Cũng như cấu thành khác của báo cáo tài chính, việc kiểm toán TSCĐ thường được
bắt đầu bằng việc áp dụng phương pháp phân tích, đánh giá tổng quát. Sau khi phân

tích kiểm toán viên sẽ phát hiện được những dấu hiệu bất thường từ đó có thể đưa ra
những nhận định về khả năng có thể có của các sai phạm.

Các Thủ Tục Phân Tích Kiểm Toán TSCĐ
Thủ Tục Phân Tích

Mục Đích

Tổng khấu hao lũy kế

Nhận định, tìm kiểu sai sót có
thể có khi tính số khấu hao

- So sánh tỷ suất

kỳ kiểm toán.
Tổng nguyên giá TSCĐ
Tổng chi phí sữa chữa lớn

Nhận định, tìm kiểu sai sót có
thể có khi tính số khấu hao

- So sánh tỷ suất

lũy kế (tài khoản 214) hao
Tổng nguyên giá TSCĐ

hoặc so sánh tổng chi phí sửa chữa lớn với các

mòn TSCĐ


-

năm trước

Tìm hiểu các chi phí sữa
chữa lớn trong chi phí SXKĐ

Tổng nguyên giá TSCĐ

bị vốn hóa hoặc các chi phí

- So sánh tỷ suất

đầu tư XDCB bị phản ánh sai
Giá trị tổng sản lượng

lệch vào chi phí SXKĐ

với các năm trước
-

Tìm kiếm các TSCĐ không

75


sử dụng vào SXKĐ hoặc đã
bị thanh lý, nhượng bán
nhưng chưa được ghi sổ.


76


b. Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết
* Kiểm tra các nghiệp vụ tăng TSCĐ trong năm kiểm toán.
Việc ghi sổ một cách đúng đắn các nghiệp vụ tăng TSCĐ có tác động và ảnh hưởng
lâu dài đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Việc quên không ghi sổ hoặc ghi sổ sai
giá trị một TSCĐ tăng lên trong kỳ có ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán cho đến khi
thanh lý, nhượng bán... Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thì bị ảnh
hưởng cho tới khi TSCĐ đó được khấu hao hết. Việc kiểm tra các nghiệp vụ tăng
TSCĐ trong kỳ thường được chú trọng vào các khoản đầu tư XDCB đã hoàn thành,
các nghiệp vụ mua sắm TSCĐ trong kỳ và thường được kết hợp với các khảo sát chi
tiết số dư các trường hợp tăng TSCĐ.
Các mục tiêu kiểm toán và các khảo sát chi tiết số dư các tài khoản TSCĐ hữu
hình (TK 211) TSCĐ vô hình (TK 213) và tài khoản TSCĐ thuê tài chính (TK 212)
được khái quát trong bảng sau:
Các Khảo Sát Chi Tiết Số Dư Tài Khoản
Mục đích kiểm toán

Các khảo sát chi tiết số dư tài

Những vấn đề cần lưu

khoản TSCĐ

ý

1
- Các nghiệp vụ tăng


2

3

- Đánh giá các khoản tăng TSCĐ - Các KTV cần phải

TSCĐ trong năm được (đặc biệt các nghiệp vụ có giá trị có hiểu biết đầy đủ và
ghi chép đều hợp lý.

lớn) có hợp lý với công việc kinh sâu sắc công viẹc sản
doanh

của

doanh

nghiệp

hay xuất, kinh doanh của

không.

doanh nghiệp.

- Đánh giá tổng các khoản mua
vào, đầu tư tiếp nhận …có xét đến
các biến động về kinh doanh và các
điều kiện kinh tế.
- So sánh với tổng số nguyên giá

TSCĐ tăng của năm trước.

77


Các mục tiêu cụ thể

- Đối chiếu số tổng cộng với sổ cái - Các cuộc khảo sát

- Nguyên giá TSCĐ tổng hợp

này cần được cân

tăng được ghi chép - Cộng tổng bảng liệt kê mua sắm, nhắc tùy thuộc mức
chính xác

đầu tư, nhập, cấp phát…

rủi ro kiểm soát của

-Đối chiếu với từng trường hợp khoản
tăng với sổ chi tiết TSCĐ

mục

trong báo

TSCĐ
cáo


tài

chính.
- Các trường hợp tăng - Kiểm kê cụ thể các TSCĐ hữu - Kiểm tra cụ thể các
TSCĐ đều có thật , hình.
thực sự phát sinh

trường

hợp

tăng

- Kiểm tra quá trình mua sắm, chi TSCĐ là điếu không
phí để hình thành TSCĐ.

phổ biến ngoại trừ các

- Kiểm tra các hóa đơn của người TSCĐ có giá trị lớn
bán, các biên bản giao nhận TSCĐ, và khi hệ thống kiểm
biên bản giao nhận về bản quyết soát nội bộ kém (rủi
toán công trình đầu tư XDCB hoàn ro kiểm soát cao).
thành, biên bản liên doanh, liên
kết…

- Các trường hợp tăng - Xem xét các hóa đơn của người - Đây là một trong
TSCĐ đều được ghi bán, các chứng từ tăng TSCĐ, các các mục tiêu quan
chép đầy đủ

chi phí sữa chữa TSCĐ để phát trọng nhất của kiểm

hiện trường hợp quên ghi sổ TSCĐ toán TSCĐ.
hoặc ghi TSCD thành tài sản lưu
động và chi phí SXKD.
- Kiểm tra lại các hợp đồng thuê tài
sàn và hợp đồng thuê nhà.

- Các TSCĐ tăng và - Kiểm tra các hóa đơn của người - Không cần chú ý
đã ghi sổ các tài khoản bán, các chứng từ pháp lý khác về nhiều đến máy móc,
TSCĐ

trong

bảng tăng TSCĐ.

thiết bị sản xuất.

78


CĐKT đều thuộc sở - Kiểm tra các điều khoản của hợp - Cần kiểm tra thường
hữu của doanh nghiệp đồng thuê TSCĐ tài chính.

xuyên đối với đất đai

hoặc doanh nghiệp có - Xem xét các TSCĐ vô hình có và nhà xưởng chủ yếu
quyền kiểm soát, sủ được hình thành bằng tiền của và TSCĐ vô hình.
dụng lâu dài.

doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp
có phải bỏ chi phí để có TSCĐ đó

hay không.

- Nguyên giá TSCĐ - Kiểm tra hóa đơn của người bán - Cần nắm vững các
tăng đều được tính và các chứng từ gốc liên quan đến nguyên tắc, quy định
toán và đánh giá đúng tăng TSCĐ (biên bản giao nhận hiện hành về đánh giá
đắn.

TSCĐ, hợp đồng lien doanh…)

TSCĐ.

- Kiểm tra các điều khoản hợp đồng - Mức độ và phạm vi
thuê tài chính lien quan đến xác kiểm tra và phụ thuộc
định nguyên giá TSCĐ đi thuê.

vào tính hiệu lực của
hệ thống kiểm soát
nội bộ.

-Các trường hợp tăng - Kiểm tra các chứng từ tăng TSCĐ - Mục tiêu này được
TSCĐ trong kỳ được và các bút toán trong sổ kế toán căn kết hợp chặt chẽ với
ghi chép theo đúng sự cứ các quy định hạch toán của hệ việc ghi sổ đầy đủ các
phân loại của tài sản.

thống kế toán hiện hành.

trường

hợp


tăng

- Các trường hợp tăng - Kiểm tra các nghiệp vụ tăng TSCĐ và cách tính
TSCĐ được ghi sổ TSCĐ vào gần ngày lập bảng cân giá TSCĐ.
đúng kỳ.

đối kế toán để kiểm tra việc ghi sổ - Thường được tiến
có đúng niên độ không.

hành như một phần
của khảo sát thời hạn
tính các khoản phải
trả.

79


Kiểm tra việc ghi sổ TSCĐ có đúng với cách phân loại TSCĐ và TSLĐ hay không
cũng là một nội dung quan trọng của kiểm toán TSCĐ. Trong thực tế, các sai sót của
doanh nghiệp thường xảy ra là:
-

Ghi chép TSCĐ thành công cụ dụng cụ hoặc ngược lại.

-

Ghi chép các TSCĐ vô hình (chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí ngiên cứu
phát triển…) vào chi phí trả trước hoặc ngược lại.

-


Ghi chép các khoản phí nâng cấp, cải tạo TSCĐ làm tăng năng lực TSCĐ (phải
được ghi tăng TSCĐ) thành các chi phí sữa chữa lớn trong chi phí SXKD nhằm
trốn thuế lợi tức, hoặc ngược lại ghi chi phí sữa chữa lớn bình thường thành chi
phí đầu tư XDCB (chi phí SXKD bị “vốn hóa”).
Ngoài ra, cũng cần đề phòng trường hợp doanh nghiệp vừa có hoạt động

SXKD,vừa có công trình XDCB tự làm nhưng không phân bổ chi phí quản lý doanh
nghiệp cho giá thành công trình XDCB. Điều này vừa ảnh hưởng đến tính xác thực của
bảng cân đối kế toán, vừa ảnh hưởng đến báo cáo kết quả kinh doanh và số thuế lợi tức
mà doanh nghiệp phải nộp cho ngân sánh.
* Kiểm tra các nghiệp vụ giảm TSCĐ.
Các mục tiêu quan trọng nhất trong kiểm toán các nghiệp vụ giảm TSCĐ là:
-

Các nghiệp vụ giảm TSCĐ đã xảy ra thì đều đã được ghi sổ.

-

Các nghiệp vụ giảm TSCĐ đều được đánh giá đúng đắn.

Để đạt mục tiêu trên, kiểm toán viên có thể xây dựng bảng kê các nghiệp vụ giảm
TSCĐ trong năm kiểm toán bằng các chỉ tiêu chủ yếu sau:
+ Tên TSCĐ giảm (tên, mã hiệu của đối tượng tài sản, quy cách, nước sản xuất)
+ Lý do giảm (nhượng bán, thanh lý, góp vốn liên doanh, đánh giá giảm…).
+ Nguyên giá.
+ Ngày giảm TSCĐ.
+ Khấu hao tích lũy của tài sản.

80



+ Giá bán, thanh lý, giá trị góp vốn được thỏa thuận và chấp nhận của các bên
tham gia liên doanh, liên kết…
Sau khi đã lập bảng liệt kê nói trên, cần phải cộng các chỉ tiêu (giá trị) của bảng và
đối chiếu các số liệu trên bảng liệt kê này với các nhiệm vụ giảm TSCĐ đã ghi sổ và
đối chiếu mức khấu hao tích lũy; giá trị còn lại của TSCĐ; chi phí và thu nhập có liên
quan đến giảm TSCĐ trong sổ chi tiết TSCĐ.
Để phát hiện các trường hợp giảm TSCĐ chưa được ghi sổ hoặc ghi sổ không đúng,
có thể áp dụng các thủ tục và biện pháp kiểm tra là:
+ Xem xét lại liệu TSCĐ mới xây dựng, mua sắm…có thay thế cho các TSCĐ cũ
đang sử dụng hay không.
+ Phân tích thu nhập thu nhập và lãi của các nghiệp vụ thanh lý, nhượng bán
TSCĐ này.
+ Xem xét quá trình bổ sung TSCĐ, quá trình sử dụng TSCĐ để tính toán lại
mức hao mòn của từng tài sản.
+ Thực hiện các cuộc thảo luận, phỏng vấn với cán bộ quản lý và cán bộ nghiệp
vụ về cách thức định giá bán, giá thanh lý TSCĐ hoặc thỏa thuận giá trị góp vốn của
tài sản giữa các bên tham gia liên doanh.
+ Kiểm tra các chứng từ giảm TSCĐ (biên bản giao nhận TSCĐ, hóa đơn bán tài
sản, hợp đồng cho thuê tài sản, hợp đồng hợp tác kinh doanh …)
+ So sánh mức khấu hao tích lũy và chi phí liên quan đến các nghiệp vụ giảm
TSCĐ trong sổ chi tiết và các bút toán nhật ký.
+ Tính toán lại số lãi (hoặc lỗ) về thanh lý, nhượng bán TSCĐ để so sánh số liệu
trên sổ kế toán.
* Kiểm tra chi tiết số dư các tài khoản tài sản cố định.
- Đối với số dư đầu kỳ:
Nếu báo cáo tài chính năm trước cũng do KTV kiểm toán thì không cần thiết xem
xét, kiểm tra lại số dư dầu kỳ, kể cả nghiệp vụ tăng TSCĐ ở niên độ trước và cách tính
giá đối với từng trường hợp tăng TSCĐ vì chúng đã đựơc kiểm tra ở năm trước.


81


Trường hợp kiểm toán lần đầu nhưng nếu doanh nghiệp có quá trình kiểm soát nội
bộ tốt, KTV cũng có thể không cần quan tâm nhiều đến số dư đầu kỳ của TSCĐ.
- Đối với số dư cuối kỳ:
+ Tổng hợp kết quả kiểm toán số dư đầu kỳ và kết quả kiểm tra các nghiệp vụ tăng,
giảm TSCĐ đã nói ở trên để xác định số dư cuối kỳ của các tài khoản TSCĐ.
+ Chọn một mẫu các TSCĐ ở các sổ chi tiết để kiểm tra các tài sản thực tế.
+ Kiểm kê hiện vật TSCĐ hữu hình (rất ít khi KTV tiến hành kiểm kê toàn bộ TSCĐ)
hoặc kiểm tra, đánh giá kết quả kiểm kê của doanh nghiệp.
+ Kiểm tra tình trạng thế chấp của TSCĐ: theo chế độ tài chính và kế toán hiện hành,
các TSCĐ thế chấp nhưng không di chuyển ra khỏi doanh nghiệp thì không hoạch toán
giảm TSCĐ của doanh nghiệp. Đối với các TSCĐ này, tình trạng có hay không thế
chấp không tác động, ảnh hưởng đến số dư tài khoản TSCĐ nhưng lại có ý nghĩa quan
trọng xem xét, đánh giá tình hình tài chính và khả năng hoạt động của doanh nghiệp.
+ Để xem xét tình trạng thế chấp của TSCĐ, KTV cần kiểm tra, xem xét các khế ước,
hợp đồng tín dụng và gửi các yêu cầu xác nhận đến ngân hàng và các tổ chức tín dụng
khác …
* Kiểm tra chi phí khấu hao TSCĐ.
Mục tiêu quan trọng nhất của kiểm toán chi phí khấu hao TSCĐ là xem xét việc
đánh giá, tính toán khâu hao TSCĐ như thế nào. Các nội dung chủ yếu thuộc mục tiêu
này là:
-

Chính sách khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp có nhất quán hay không.

-


Quá trình và kết quả tính toán khấu hao TSCĐ có chính xác hay không.

Những trọng điểm cần xem xét, kiểm tra là:
+ Phạm vi các TSCĐ phải tính khấu hao: theo quy định hiện hành.
+ Phương pháp tính khấu hao áp dụng ở doanh nghiệp và tính nhất quán của chính
sách khấu hao.
Đồng thời với việc kiểm tra mức trích khấu hao TSC, cần phải kiểm tra tính hợp lý
của việc phân bổ khấu hao TSCĐ cho các đối tượng liên quan.

82


×