Tải bản đầy đủ (.pdf) (79 trang)

Vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (654.58 KB, 79 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
--------------------------

LÊ THỊ THÚY

VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC NHẰM THÚC ĐẨY
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN
XUẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Người hướng dẫn khoa học
TS. TRẦN THỊ HỒNG LOAN

HÀ NỘI - 2013

Lê Thị Thúy

K35 - Giáo dục công dân


LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên của khóa luận, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô
giáo - TS. Trần Thị Hồng Loan - Người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như trong quá trình
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban
chủ nhiệm khoa và các thầy, cô trong khoa Giáo dục chính trị - Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt bài khóa
luận này.


Tuy nhiên, do điều kiện về thời gian, do trình độ có hạn và cũng là lần
đầu tiên nghiên cứu khoa học cho nên đề tài của tôi không tránh khỏi những
thiếu sót nhất định. Vì vậy, tôi rất mong nhận được những đóng góp của quý
thầy (cô) và bạn đọc để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên

Lê Thị Thúy

Lê Thị Thúy

K35 - Giáo dục công dân


LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn tận
tình của cô giáo - T.S. Trần Thị Hồng Loan.
Khóa luận với đề tài: “Vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay”
chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào. Nếu có gì sai
phạm người viết sẽ chịu mọi hình thức kỷ luật theo đúng quy định của việc
nghiên cứu khoa học.

Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Tác giả khóa luận

Lê Thị Thúy


Lê Thị Thúy

K35 - Giáo dục công dân


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH, HĐH

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

LLSX

: Lực lượng sản xuất

NNL

: Nguồn nhân lực

Lê Thị Thúy

K35 - Giáo dục công dân


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ
LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT .......................................................................... 6
1.1. Một số khái niệm cơ bản...................................................................... 6

1.2. Vai trò của nguồn nhân lực trong lực lượng sản xuất ......................... 21
Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ...................... 29
2.1. Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chất
lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay ............................................. 29
2.2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay ............. 34
2.3. Nguyên nhân dẫn đến những mặt tích cực và tiêu cực của chất lượng
nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay ....................................................... 44
2.4. Những vấn đề đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
hiện nay.................................................................................................... 48
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN
XUẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................................................. 51
3.1. Giải pháp phát triển kinh tế - xã hội ................................................... 51
3.2. Giải pháp nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế ........ 55
3.3. Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ........................... 59
3.4. Giải pháp phát triển thị trường lao động ............................................ 64
3.5. Giải pháp hoàn thiện các chính sách của Nhà nước về nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực ............................................................................... 66
KẾT LUẬN ................................................................................................. 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 72

Lê Thị Thúy

K35 - Giáo dục công dân


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ, các thành tựu của nó ngày càng đóng vai trò to
lớn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Khoa học và công nghệ có mặt ở
hầu hết các quy trình, công đoạn, các bộ phận của quá trình sản xuất và thực
sự đã làm lực lượng sản xuất có sự thay đổi lớn về chất. Chính các thành tựu
của khoa học và công nghệ đã làm thay đổi các yếu tố cấu thành của lực
lượng sản xuất, làm thay đổi vị trí, vai trò của người lao động trong lực lượng
sản xuất.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại đòi hỏi người lao động phải
không ngừng trang bị những tri thức khoa học mới, những kỹ năng nghề
nghiệp cao hơn để làm chủ được các phương tiện máy móc và trang bị của
quá trình sản xuất.
Thực tế ở Việt Nam cũng như ở các nước khác, muốn phát triển kinh tế xã hội đạt được sự tăng trưởng nhanh và bền vững thì trước hết phải có chiến
lược phát triển nguồn nhân lực.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra một loạt các chính
sách phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là vấn đề nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, và đã thu được nhiều thành công đáng khích lệ như về công tác
nâng cao sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật cho người
lao động - bộ phận nòng cốt sản xuất ra giá trị cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, Việt Nam chúng ta thoát khỏi chế độ phong kiến nửa thuộc
địa, lại bị kìm hãm bởi hơn 30 năm chiến tranh nên hiện nay ở nước ta thực
trạng nguồn nhân lực vẫn còn tồn tại nhiều bất cập về số lượng, về chất
lượng,… như trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm tới 70% lao động sản xuất xã

Lê Thị Thúy

1

K35 - Giáo dục công dân



hội, về trình độ văn hóa và trình độ kỹ thuật của người lao động hiện nay ở
nước ta vẫn còn thấp, năng lực quản lý còn kém, tỷ lệ cán bộ ở trình độ đại
học đạt 3,7%.
Hơn nữa, Việt Nam hiện nay đang trong quá trình thực hiện sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới. Để sự
nghiệp này thành công thì chúng ta phải có một nguồn nhân lực có chất
lượng cao.
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chúng ta phải dựa trên cơ sở phân
tích những thực trạng của nó; từ đó, có những giải pháp tích cực để hạn chế
những mặt yếu kém của chất lượng nguồn nhân lực. Chỉ như vậy, chúng ta mới
có nguồn nhân lực có chất lượng để phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng những
đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chỉ có nguồn nhân lực với những con người có thể lực, trí lực, nhân cách
và tài năng mới là tài nguyên vô tận, không bao giờ cạn kiệt, có khả năng
phục hồi và tái sinh nếu chúng ta biết nuôi dưỡng và phát triển. Chỉ khi đào
tạo được một nguồn nhân lực bao gồm những con người có năng lực phát
triển toàn diện, nắm bắt nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực
tiễn, đáp ứng nhu cầu khai thác và sử dụng các nguồn tự nhiên cho sự phát
triển xã hội, nhanh chóng đưa nền kinh tế trong nước hội nhập vào nền kinh tế
thế giới, chúng ta mới có thể đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến
thắng lợi.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Vấn đề nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất
ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về con người nói
chung và nguồn nhân lực nói riêng:

Lê Thị Thúy


2

K35 - Giáo dục công dân


TS. Nguyễn Thế Nghĩa, Đoàn Văn Khái đã có những nghiên cứu về yếu
tố con người trong lực lượng sản xuất và việc phát huy nó ở Việt Nam hiện
nay; tác động của yếu tố thời đại đến sự phát triển của lực lượng sản xuất
“Nguồn nhân lực - Động lực của CNH, HĐH” của tác giả Nguyễn Thế Nghĩa,
Tạp chí triết học, số 1, tháng 2 - 1996; Nguồn lực con người - yếu tố quyết
định sự nghiệp CNH, HĐH đất nước của Đoàn Văn Khái, Nxb Lý luận chính
trị, 1995).
Một số ẩn phẩm dưới dạng sách tham khảo như: Vấn đề con người trong
sự nghiệp CNH, HĐH của Phạm Minh Hạc (Chủ biên), NXb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1996. Đây là một công trình lớn về vấn đề con người và phát triển
con người ở nước ta. Tập thể tác giả đã đề cập một cách khái quát, phân tích lý
giải một cách khá sâu sắc vấn đề con người với sự nghiệp CNH, HĐH dưới góc
độ xã hội học. Công trình Về động lực phát triển kinh tế - xã hội của GS.TS. Lê
Hữu Tầng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 đã đưa ra và lý giải các tác
động của sự phát triển kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến nguồn
nhân lực với tư cách là động lực của sự phát triển.
Ngoài ra, còn có những ấn phẩm đề cập đến kinh nghiệm về quản lý và
phát triển nguồn nhân lực của một số nước có ý nghĩa tham khảo đối với Việt
Nam như: Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước
ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 của Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm;
Chiến lược con người trong thần kỳ Nhật Bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1996 của Lưu Ngọc Trinh.
Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ cả về
lý luận và thực tiễn như: Vai trò của nguồn nhân lực trong LLSX, nhất là

trong điều kiện khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão; nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực để phát triển lực lượng sản xuất; những giải pháp để
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,…

Lê Thị Thúy

3

K35 - Giáo dục công dân


Khóa luận này sẽ góp phần bổ sung cho việc nghiên cứu về nguồn nhân
lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, những giải pháp để nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ được vai trò của nguồn nhân lực trong lực lượng sản xuất; đánh
giá được thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay; từ đó, đưa
ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt
Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ được vai trò của nguồn nhân lực trong lực lượng sản xuất.
- Phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay và
một số vấn đề đặt ra.
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực ở nước ta hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trước hết là chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; vận dụng tư tưởng Hồ

Chí Minh về con người; đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát
triển nguồn nhân lực.
* Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp: Phân tích và tổng hợp, logic và
lịch sử, khái quát hóa và trừu tượng hóa,… trên cơ sở phương pháp luận biện
chứng duy vật.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu

Lê Thị Thúy

4

K35 - Giáo dục công dân


Nghiên cứu nguồn nhân lực trong mối quan hệ, ảnh hưởng lẫn nhau với
lực lượng sản xuất.
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tiến hành khảo sát từ những năm cuối
thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa của đề tài của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài, trước hết có ý nghĩa thiết thực đối với bản thân
tác giả trong việc củng cố kiến thức, tiếp cận vấn đề con người dưới góc độ
triết học, làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học.
Khóa luận đã làm rõ được vai trò của nguồn nhân lực trong lực lượng
sản xuất, nêu được thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện
nay. Qua đó, đề ra được một số giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
còn bao gồm 3 chương và 11 tiết.

Lê Thị Thúy

5

K35 - Giáo dục công dân


Chương 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ
LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Nguồn nhân lực
1.1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Theo từ điển Tiếng Việt: “Nguồn” là nơi phát sinh, nơi cung cấp. “Nhân
lực” là sức lực của con người bao gồm sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri
thức được vận dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực), những
ham muốn, hoài bão của bản thân người lao động hướng tới một mục đích xác
định (tâm lực). Nhân lực với ý nghĩa đầy đủ của nó là bao gồm 3 yếu tố có sự
liên kết biện chứng với nhau đó là thể lực, trí lực và tâm lực. Nguồn nhân lực
được hiểu là nơi phát sinh, nơi cung cấp sức lực của con người trên đầy đủ
các phương diện cho lao động sản xuất.
Nguồn nhân lực là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên
cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát
triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đã đề cập
đến nguồn nhân lực với nhiều góc độ khác nhau:
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: Nguồn nhân lực là trình độ lành

nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực
tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng.
Ngân hàng thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể
lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,…) mà mỗi cá nhân sở hữu. Nguồn lực con
người được coi như là một nguồn vốn khác như tài chính, công nghệ, tài
nguyên thiên nhiên,…
Ở trong nước cũng có nhiều nhà khoa học định nghĩa về nguồn nhân lực
như: GS. Nguyễn Minh Hạc cho rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm
Lê Thị Thúy

6

K35 - Giáo dục công dân


năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động
được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia vào một công
việc lao động nào đó” [11, tr.269]. TS. Nguyễn Thanh xác định: “Nguồn
nhân lực đó là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể
hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải
tạo xã hội” [28, tr.70].
Nói đến nguồn nhân lực (nguồn lực con người, nguồn tài nguyên người),
tức là nói đến con người - chủ thể đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã khẳng định: “nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của phát triển xã hội,
tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững,… Con người và nguồn nhân lực là
nhân tố quyết định phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa,…” [8, tr.112].
Như vậy, về khái niệm nguồn nhân lực ta có thể hiểu ở hai phương
diện sau:

Thứ nhất, với tư cách là nguồn lực con người - chủ thể không tồn tại một
cách biệt lập, mà chúng liên kết chặt chẽ với nhau thành một chỉnh thể thống
nhất về tổ chức, tư tưởng và hành động. Nói cách khác, nguồn nhân lực là
tổng hợp những con người - chủ thể với những phẩm chất nhất định đã, đang
và sẽ tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Cần hiểu rằng, tổng hợp những con người - chủ thể này không chỉ là số
lượng người mà nó thực sự là tổng hợp năng lực, sức mạnh của chỉnh thể
người. Năng lực, sức mạnh này bắt nguồn trước hết từ những phẩm chất vốn
có bên trong của mỗi con người - chủ thể và nó được tăng lên gấp bội bởi cái
“chỉnh thể” thống nhất trong hành động.
Thứ hai, nguồn nhân lực bao gồm không chỉ những con người - chủ thể
đã và đang tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn cả

Lê Thị Thúy

7

K35 - Giáo dục công dân


những con người - chủ thể sẽ tham gia và quá trình này. Bởi vì, lịch sử tự
nhiên của đời sống xã hội là quá trình phát triển kế tiếp nhau của các nền văn
minh và các trình độ văn minh; trong đó, các giá trị do các thế hệ trước tạo ra
là nền tảng của những thế hệ sau kế thừa, phát triển và sáng tạo ra những giá
trị mới. Không chú ý đến phương diện này của nguồn nhân lực thì không thể
triển khai công nghiệp hóa, hiện đại hóa có hiệu quả và do đó, không thể có
sự phát triển bền vững của đất nước.
Tóm lại, khái niệm nguồn nhân lực có thể hiểu là tổng thể số lượng và
chất lượng với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất
đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội loài

người đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển
và tiến bộ xã hội.
1.1.1.2. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân
lực, với tư cách vừa là khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt
động kinh tế và các quan hệ xã hội. “Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm
tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về thể lực, trí lực, kỹ năng, phong
cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực” [25, tr.16]. Nói cách
khác, nó là trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ
thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội,… của nguồn nhân lực. Trong
đó trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá,
phân loại chất lượng nguồn nhân lực.
+ Trí lực là toàn bộ năng lực của trí tuệ, tinh thần, quyết định phần lớn
khả năng lao động sáng tạo của con người. Trí tuệ được xem là yếu tố quan
trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi “tất cả những gì thúc đẩy con
người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ”. Khai thác và phát
huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy

Lê Thị Thúy

8

K35 - Giáo dục công dân


nguồn lực con người. Trí lực quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con
người, là yếu tố ngày càng có vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn
nhân lực, đặc biệt là trong thời đại khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại
do chính bàn tay, khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại đang
chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình.

+ Thể lực đó là trạng thái sức khoẻ của con người biểu hiện ở sự phát
triển sinh học, không có bệnh tật, có sức làm việc trong một hình thái lao
động - nghề nghiệp nào đó, có sức khoẻ để tiếp tục học tập, làm việc lâu
dài,… là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách
bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực,
thần kinh, cơ bắp trong lao động. Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định
trong sự phát triển nguồn nhân lực, song sức mạnh trí tuệ của con người chỉ
có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh. Chăm sóc sức khoẻ
cho người dân là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người.
+ Đạo đức cá nhân phản ánh những giá trị và những chuẩn mực đạo đức
xã hội. Những giá trị và chuẩn mực đó phản ánh bản chất của xã hội, lý tưởng
đạo đức mà xã hội vươn tới được cá nhân lĩnh hội và thể hiện trong đời sống
của mình, nhất là trong hoạt động lao động, trong lối sống và nếp sống hàng
ngày. Các giá trị chuẩn mực đó phải thể hiện thành hiệu quả công việc, đóng
góp vào sự phát triển xã hội, vào sự hoàn thiện nhân cách cá nhân. Đạo đức
gắn liền với năng lực tạo nên những giá trị cơ bản của nhân cách, của chất
lượng nguồn nhân lực từ phương diện cá thể đến phương diện xã hội. Ngày
nay, cái đem lại lợi thế cho nguồn nhân lực ngoài trí lực và thể lực, còn phải
tính đến phẩm chất đạo đức, nhân cách con người. Bởi vì, trí lực cũng như thể
lực chỉ có thể tạo ra sức mạnh thúc đẩy tiến bộ xã hội khi chủ nhân của nó là
những con người có phẩm chất đạo đức, nhân cách tốt. Trình độ phát triển

Lê Thị Thúy

9

K35 - Giáo dục công dân



nhân cách, đạo đức đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt các chức
năng xã hội, nâng cao năng lực sáng tạo của họ trong hoạt động thực tiễn xã
hội. Do vậy, phát triển chất lượng nguồn nhân lực, ngoài việc quan tâm nâng
cao mặt bằng và đỉnh cao dân trí, tới việc bồi dưỡng và nâng cao sức khoẻ
cho mỗi con người, cho cộng đồng xã hội, chúng ta phải đặc biệt coi trọng
việc xây dựng đạo đức, nhân cách, lý tưởng cho con người.
Như vậy, cấu thành chất lượng nguồn nhân lực xét từ phương diện cá
thể, đó là tổng hợp các năng lực và giá trị về trí lực, thể lực và những phẩm
chất tinh thần. Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trước hết
phải phát triển cá nhân con người, tức là phải đầu tư chăm lo cho sự phát triển
về trí tuệ, sức khỏe, đạo đức, tinh thần của từng con người, từng thế hệ.
1.1.1.3. Kết cấu của nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực bao gồm lao động đang tham gia hoạt động kinh tế và
nguồn nhân lực dự trữ:
*Lao động đang tham gia hoạt động kinh tế
Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế (hay còn gọi là dân số hoạt
động kinh tế) là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có
công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội.
* Nguồn nhân lực dự trữ
Nguồn nhân lực dự trữ là những người nằm trong độ tuổi lao động
nhưng vì lý do nào đó chưa tham gia hoạt động kinh tế. Số người này đóng
vai trò của một nguồn dự trữ về nhân lực cho xã hội. Bao gồm:
- Những người làm công việc nội trợ gia đình.
- Những người đang tham gia học tập bao gồm những người trong độ
tuổi lao động nhưng đang trong thời gian học tập tại các trường phổ thông,
Đại học, Cao đẳng, các trường Trung học chuyên nghiệp và những người
đang trong thời gian tham gia học nghề.
Lê Thị Thúy
dân


10

K35 - Giáo dục công


- Những người đang trong thời gian hoàn thành nghĩa vụ quân sự.
- Những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, những người trong độ
tuổi lao động đang bị thất nghiệp (có nghề hoặc không có nghề), đang trong
quá trình tìm việc làm.
1.1.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực
* Thứ nhất, sự biến đổi kinh tế - xã hội
Chất lượng nguồn nhân lực bị chi phối nhiều bởi các nhân tố kinh tế - xã
hội tăng trưởng là nhân tố quan trọng tác động trên nhiều phương diện. Trước
hết, nó trực tiếp cải thiện đời sống của người dân. Qua tăng trưởng và phát
triển kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sống mà trước hết là chất lượng dinh
dưỡng được nâng cao hơn, người dân được hưởng tốt hơn các dich vụ giáo
dục cũng như chăm sóc sức khỏe. Từ việc chất lượng cuộc sống được nâng
cao hơn, người dân được hưởng tốt hơn các dịch vụ giáo dục cũng như chăm
sóc sức khỏe. Từ việc chất lượng cuộc sống được nâng cao, các dịch vụ chăm
sóc được quan tâm hơn làm cho con người không những được cải thiện hơn
về tình hình sức khỏe mà còn nâng cao được trình độ văn hóa cũng như trình
độ chuyên môn kỹ thuật của mình. Qua đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực góp phần vào công cuộc phát triển con người.
Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế còn làm tăng tiết kiệm, tăng đầu tư
trong nước, qua đó tạo ra được nhiều việc làm mới cho người lao động, giảm
tỷ lệ thất nghiệp và giảm bất bình đẳng xã hội.
Tăng trưởng kinh tế không chỉ là môi trường mà còn là động lực để thúc
đẩy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Yêu cầu đặt ra là phải có những con
người có thể lực tốt, trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật tốt. Chính vì vậy,
để có thể phát triển nhanh và bền vững thì yêu cầu tất yếu là phải nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực, nhân tố quyết định tới quá trình sản xuất xã hội.
Tuy nhiên, các biến đổi xã hội cũng có nhiều mặt tiêu cực của nó, những
biến đổi không có lợi đến môi trường sống, môi trường tự nhiên gây ô nhiễm,
Lê Thị Thúy
dân

11

K35 - Giáo dục công


làm tăng bệnh tật, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động cũng như chất
lượng cuộc sống người lao động.
* Thứ hai, tình trạng dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho con người
của xã hội
Như chúng ta đã biết, sức khỏe là vốn quý của mỗi con người. Tình trạng
sức khỏe có liên quan trực tiếp tới khả năng lao động cũng như năng suất của
người lao động. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của con người;
trong đó, chế độ dinh dưỡng cũng như sự phát triển của các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe cho người dân giữ vị trí quan trọng. Ngoài thể trạng từ lúc được sinh
ra là nền móng ban đầu thì chế độ dinh dưỡng trong suốt quãng đời là nhân tố
quyết định đến thể lực. Ăn uống hợp lý, đầy đủ không chỉ giúp con người ta
có sức khỏe tốt mà khả năng phòng ngừa bệnh tật cũng được nâng lên. Bên
cạnh đó, dinh dưỡng đảm bảm là điều kiện không thể thiếu để phát triển trí
não, thuận lợi cho học tập cũng như cho công việc. Qua đây, ta cũng có thể
thấy được chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng to lớn đến chất lượng nguồn nhân
lực. Và thực tế trên thế giới hiện nay, với bất cứ quốc gia nào đều quan tâm
tới vấn đề dinh dưỡng và xem như là chiến lược trọng điểm của các quốc gia.
Đi đôi với chế độ dinh dưỡng, vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người dân
nói chung và người lao động nói riêng cũng đóng vai trò không kém phần

quan trọng. Sức khỏe tốt là trước hết con người phải có thể trạng tốt, tức là
không có bệnh tật gì. Để phòng ngừa được bệnh tật trong khi mỗi chúng ta
phải sống trong điều kiện ô nhiễm ngày càng tăng, thiên tai bệnh dịch hoành
hành thì việc đảm bảo cho người lao động phòng chống được bệnh tật, phục
hồi sức khỏe sau khi chữa trị bệnh là công việc khó khăn. Để làm được điều
này thì trước hết công tác chăm sóc sức khỏe người lao động phải được quan
tâm. Tăng cường bảo vệ, bảo hộ lao động khi tham gia sản xuất; tăng cường
công tác khám chữa bệnh cho người lao động và tăng cường chất lượng hệ
Lê Thị Thúy
dân

12

K35 - Giáo dục công


thống y tế là nhân tố quan trọng để đảm bảo sức khỏe cho người dân nói
chung và cho người lao động.
* Thứ ba, mức độ phát triển của giáo dục và đào tạo
Giáo dục và đào tạo là hoạt động nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng cũng
như nhân cách đạo đức cho mỗi con người. Xét đến giáo dục và đào tạo cũng
như chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe ta không chỉ xét đến ảnh hưởng
trực tiếp tới nguồn nhân lực đơn thuần mà nó còn có ảnh hưởng sâu rộng tới
toàn bộ người dân của một quốc gia. Trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật
không phải là sản phẩm của một giai đoạn học đơn thuần mà nó là kết quả của
cả một quá trình học tập kiến thức, rèn luyện từ khi bắt đầu bước vào ghế nhà
trường. Vì vậy, giáo dục và đào tạo không chỉ đào tạo cho hiện tại mà nó là
một nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lực con người trong dài hạn.
Mức độ phát triển của giáo dục và đào tạo góp phần vào tăng trưởng
kinh tế. Dựa vào lý thuyết về tỷ suất lợi nhuận, các nhà nghiên cứu xác định

được tỷ suất lợi nhuận hoàn trả của giáo dục sau đầu tư, giáo dục góp phần
vào tăng trưởng kinh tế thông qua cả tăng năng suất lao động của mỗi cá nhân
nhờ nâng cao trình độ và quan điểm của họ lẫn tích luỹ kiến thức. Vai trò của
giáo dục có thể được đánh giá qua tác động của nó đối với năng suất lao động
được tính toán bằng so sánh sự khác biệt giữa sản phẩm của một cá nhân làm
ra trong cùng một đơn vị thời gian trước và sau khi cá nhân đó được học một
khoá đào tạo với chi phí cho khoá đào tạo đó. Kết quả này được gọi là tỷ suất
lợi nhuận xã hội khi đầu tư vào giáo dục. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh
tỷ suất lợi nhuận của giáo dục rất cao ở những nước có thu nhập vừa và thấp.
Mối liên hệ giữa nguồn vốn nhân lực với các nguồn vốn vật chất được
thể hiện qua các thuyết tăng trưởng kinh tế; theo đó, ta có trữ lượng vốn
nhân lực tăng lên làm tăng giá trị lợi tức của máy móc, trữ lượng vốn vật
chất tăng lại làm hiệu quả đầu tư vào giáo dục tăng và đầu tư chung nếu
Lê Thị Thúy
dân

13

K35 - Giáo dục công


không có sự hỗ trợ của giáo dục chỉ đóng vai trò không lớn đối với tăng
trưởng kinh tế.
Không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến việc nâng cao trình độ văn hóa,
trình độ chuyên môn kỹ thuật,… của người lao động mà việc phát triển giáo
dục còn có tác động lan tỏa sang các yếu tố khác nằm trong phạm vi các yếu
tố có tác động đến chất lượng nguồn nhân lực.
Phát triển giáo dục và đào tạo có tác động tích cực tới chất lượng dinh
dưỡng và dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nhờ có hiểu biết và trình độ mà người
lao động biết để tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe của bản thân, bảo vệ mình

trong lao động để tránh những tai nạn lao động xảy ra và phòng ngừa bệnh
nghề nghiệp.
“Không có một nước công nghiệp hóa giàu mạnh nào đạt tăng trưởng
có ý nghĩa trước khi hoàn thành phổ cập giáo dục trung học, hơn thế nữa, sự
thành công của các nước công nghiệp hóa mới như Hàn quốc, Singapore,
Hồng Kông, những nước có GDP tăng nhanh nhất trong những năm thập kỷ
70, đã đạt tỷ lệ biết chữ cao và phổ cập giáo dục trung học trước khi có nền
kinh tế của họ” (Báo cáo phát triển nguồn nhân lực của UNDP).
* Thứ tư, nhu cầu phát triển của thị trường lao động
Ngoài yếu tố chất lượng dinh dưỡng cũng như chất lượng giáo dục và
đào tạo ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực thì yếu tố môi
trường lao động cũng có tác động không nhỏ tới việc tạo điều kiện cho người
lao động sau khi đào tạo ra có cơ hội làm việc đúng với thực lực của mình.
Tuy một người có sức khỏe tốt, có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn
cao nhưng nếu người đó không được làm việc đúng với chuyên môn của
mình, đúng với ngành nghề đào tạo của mình thì chất lượng công việc mà anh
ta hoàn thành không được như mong muốn. Năng suất lao động trung bình
của một đất nước không thể cao nếu trong nền kinh tế tình trạng làm việc trái
Lê Thị Thúy
dân

14

K35 - Giáo dục công


ngành, trái nghề vẫn tồn tại với tỷ lệ lớn. Thị trường lao động tạo ra cho
người lao động cơ hội để tìm kiếm việc làm thích hợp, tạo môi trường cho
con người ta phát huy hết khả năng trong lao động, phát huy tính chủ động
sáng tạo của mỗi người. Vì thế, xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng

nguồn nhân lực chúng ta phải xét đến vai trò ảnh hưởng của thị trường lao
động cũng giống như là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp.
* Thứ năm, các chính sách của Nhà nước về nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực
Bên cạnh những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực như
chúng ta đã phân tích ở trên thì các chính sách của Đảng và Nhà nước cũng có
tác động đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trước yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì mỗi quốc gia phải xây dựng cho
mình những chiến lược hợp lý nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Việc đề ra các chính sách để cụ thể hóa mục tiêu của chiến lược quyết định
đến việc có thực hiện được mục tiêu đó hay không? Bởi thế chất lượng nguồn
nhân lực phụ thuộc nhiều vào các chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực. Nhà nước hoạch định các chính sách tạo môi trường pháp lý cho phát
triển hệ thống giáo dục, đào tạo cả chiều rộng và chiều sâu. Hệ thống các
chính sách xã hội đúng đắn vì mục tiêu của con người sẽ là động lực to lớn
phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của người lao động trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội. Cơ chế, chính sách phải nhằm phát huy nhân tố con người
trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân;
kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và
tinh thần. Cơ chế, chính sách phải theo hướng tạo mở, thúc đẩy và kích thích
người lao động, doanh nghiệp, Nhà nước và toàn xã hội chăm lo đến chất
lượng nguồn nhân lực. Có như vậy, người lao động mới phát huy được khả
năng trí tuệ của bản thân để đóng góp cho xã hội và qua đó, chất lượng nguồn
Lê Thị Thúy
dân

15

K35 - Giáo dục công



nhân lực của quốc gia sẽ được nâng cao. Nhà nước đã đề ra chính sách hỗ trợ,
phát triển giáo dục và đào tạo; các chính sách về việc làm, thất nghiệp; các chính
sách về nâng cao sức khỏe người lao động, an toàn lao động,... Qua các chính
sách đó, Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu về vấn đề phát triển bền vững con
người. Để nâng cao sức khỏe người lao động, nâng cao trình độ văn hóa, trình độ
chuyên môn kỹ thuật cũng như tinh thần và ý chí của người lao động.
1.1.2. Lực lượng sản xuất
1.1.2.1. Khái niệm lực lượng sản xuất
Người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Lực lượng sản xuất” là C.Mác, quan
điểm của ông về vấn đề này được thể hiện trong một loạt tác phẩm như: “Hệ
tư tưởng Đức”, “Sự khốn cùng của triết học”, đặc biệt được trình bày và phân
tích sâu sắc trong tác phẩm “Tư bản”.
Theo Mác: “Lao động là một quá trình diễn ra giữa con người với tự
nhiên. Một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm
trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [19,
tr.260]. Từ đó, Mác đã vạch ra bản chất của lực lượng sản xuất là biểu hiện
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Căn cứ vào đâu mà Mác lại khẳng
định như vậy?
Trong quá trình nghiên cứu lịch sử của nhân loại cũng như nghiên cứu
về sự phát triển của con người, Mác cho rằng: Con người ta muốn sống, muốn
tồn tại phải có thức ăn, thức uống, nhà ở và những thứ khác. Để có được điều
đó, con người phải tiến hành hoạt động sản xuất vật chất, tức là con người
phải tiến hành lao động sản xuất, phải tác động vào tự nhiên, làm biến đổi tự
nhiên để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của bản thân con người.
Chính sự tác động qua lại giữa tự nhiên với con người là biểu hiện của lực
lượng sản xuất.
Mặt khác, hoạt động sản xuất vật chất giúp con người ngày càng khám
phá những bí ẩn của thế giới khách quan, hiểu biết sâu sắc bản chất của các sự
Lê Thị Thúy

dân

16

K35 - Giáo dục công


vật, hiện tượng, đồng thời cải biến những công cụ, phương tiện tác động vào
tự nhiên. Nhờ đó, con người không ngừng tạo ra các lực lượng sản xuất ngày
càng lớn mạnh.
Trong tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, Mác viết:
“Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ
nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ
sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định
của các lực lượng sản xuất vật chất của họ,… Phương thức sản xuất đời sống
vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói
chung. Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ, trái lại,
tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [23, tr.14-15].
Đồng thời trong quá trình luận giải những vấn đề nêu trên, Mác là người
đầu tiên có công xây dựng nội dung khoa học của khái niệm lực lượng sản xuất.
Theo Mác, lực lượng sản xuất là: “Biểu hiện mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất. Lực lượng sản xuất thể
hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật
chất” [7, tr.351].
1.1.2.2. Kết cấu của lực lượng sản xuất
* Người lao động
Nhân tố đầu tiên của LLSX chính là người lao động - yếu tố giữ vị trí
hàng đầu, chủ yếu của LLSX. Nói đến người lao động trong lực lượng sản
xuất không phải chỉ nói đến kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm mà còn phải nói
đến đó là người lao động có thể lực cường tráng, khỏe mạnh, có năng lực lao

động trí tuệ cao, có trình độ chuyên môn giỏi, có đạo đức trong sáng,… trong
đó, “trí tuệ không phải là những tri thức trừu tượng mà trước hết phải là
năng lực chuyên môn được đào tạo và qua đào tạo, nó biểu hiện ở trình độ
tay nghề và các thao tác thuộc về kỹ năng cần thiết không thể thiếu được của
Lê Thị Thúy
dân

17

K35 - Giáo dục công


người lao động. Còn thể chất, không chỉ là sự phát triển cường tráng về thể
lực mà còn phải bao hàm trong đó cả sự phát triển tốt về trí lực, tư chất thông
minh, sự nhạy bén của thần kinh, cả tâm lý và tính sáng tạo cao trong lao
động” [21, tr.28].
Trong quá trình tác động vào tự nhiên sản xuất ra của cải vật chất, con
người không chỉ với cơ bắp sức lực mà còn dùng cả những tri thức, kinh
nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo để tác động vào tự nhiên, tạo ra những sản phẩm vật
chất có hiệu quả nhất. Chính con người tạo ra tất cả những phương tiện máy
móc, tạo ra công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động, tạo ra phương
tiện sản xuất để cho hoạt động sản xuất của con người ngày một nâng cao.
C.Mác viết: “Một vật do bản thân tự nhiên cung cấp đã trở thành một khí
quan của sự hoạt động của con người, khí quan mà con người đem chắp vào
những khí quan của cơ thể mình và do đó, kéo dài cái tầm thước tự nhiên của
cơ thể đó” [20, tr.268].
Những tư liệu sản xuất dù quan trọng đến đâu thì riêng bản thân chúng
cũng không tạo ra được của cải vật chất, nó chỉ có tác dụng khi được con
người sử dụng. Cùng với việc tạo ra công cụ sản xuất, con người còn sử dụng
những công cụ đó để làm ra của cải vật chất cho xã hội. Từ những công cụ thủ

công bằng đá, bằng đồng, bằng sắt, con người tiến tới chế tạo máy móc với kĩ
thuật mới, công nghệ mới. Trên cơ sở vận dụng những thành tựu mới nhất của
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, ngày nay con người bước những bước
kỳ diệu trong việc chinh phục tự nhiên. Cũng chính sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật sản xuất đòi hỏi lao động của con người trở thành lao động có trí tuệ
và lao động trí tuệ. Mà trí tuệ con người không phải là cái gì siêu nhiên, nó là
sản phẩm tự nhiên của lao động. Trí tuệ hình thành và phát triển cùng với lao
động làm cho sản phẩm của lao động ngày càng có hàm lượng trí tuệ cao. Do
đó, người lao động cần phải được tăng cường tri thức trên mọi lĩnh vực.
Lê Thị Thúy
dân

18

K35 - Giáo dục công


* Tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất là tất cả những điều kiện vật chất cần thiết cho con
người khi sản xuất.
Theo Mác, tư liệu sản xuất được chia thành: Đối tượng lao động và tư
liệu lao động:
- Đối tượng lao động là “những sản phẩm có sẵn của giới tự nhiên như
đất đai, sông ngòi, biển, khoáng sản, hải sản,… mà con người tác động vào”,
“là những sản phẩm có nguồn gốc trong tự nhiên được con người chế tạo như
sợi tổng hợp, hóa chất, chất hợp kim, các loại nguyên liệu, vật liệu và cây,
con mới” [22, tr.28]. Những loại sản phẩm này không thể chuyển hóa từ cái tự
nó thành cái cho con người và vì con người nếu không có sự tác động và vai
trò sáng tạo của con người. Chính bằng lao động sáng tạo của mình, con
người đã khai thác, sử dụng có hiệu quả những sản phẩm có sẵn trong tự
nhiên, đồng thời tạo ra những đối tượng mới có nguồn gốc trong tự nhiên.

- Tư liệu lao động
Tư liệu lao động là “những vật thể hay phức hợp những vật thể được con
người sử dụng nối giữa con người với đối tượng lao động” [22, tr.28]. Tư liệu
lao động bao gồm công cụ lao động và các phương tiện sản xuất, kết cấu hạ
tầng, trong đó công cụ lao động là yếu tố quyết định, nó chính là tiêu chí cơ
bản thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Công cụ lao động là
cái vật hóa trí tuệ và tài năng sáng tạo của con người. Với mục đích tăng năng
suất lao động và giảm cường độ lao động, con người đã sáng tạo ra công cụ
lao động. Nhờ đó, công cụ lao động ngày càng được cải tiến hiện đại. Trình
độ của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con
người, là tiêu chuẩn để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau. C.Mác viết:
“Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì
mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”
[20, tr.269].
Lê Thị Thúy
dân

19

K35 - Giáo dục công


Công cụ lao động là cầu nối giữa người lao động với đối tượng lao động.
Để tác động vào đối tượng lao động bắt buộc con người phải sử dụng công cụ
lao động để cải biến những vật liệu có sẵn trong tự nhiên thành những vật
phẩm theo yêu cầu, mục đích sử dụng của con người. Công cụ lao động hiện
thực hóa cái trừu tượng tư duy của con người. Công cụ lao động có thể là một
vật thể hay là một phức hợp những vật thể (tùy theo tính chất của việc sản
xuất sản phẩm). Nó có nhiệm vụ dẫn truyền sự tác động của con người với đối
tượng lao động để tạo ra của cải vật chất. Lịch sử phát triển loài người được

đánh dấu bằng những mốc quan trọng trong sự phát triển của LLSX, trước hết
là công cụ lao động. Thời trung cổ, công cụ lao động giản đơn, thô sơ lạc hậu.
Ngày nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhiều
công cụ lao động phát triển thành hệ thống thiết bị tự động và ngày càng phát
triển. Người lao động dần tách khỏi quá trình sản xuất trực tiếp, đóng vai trò
kiểm tra, điều hành sự vận động của hệ thống tự động.
Về các phương tiện sản xuất, kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống dịch vụ,
đường sá, cầu cống, bến bãi, nhà kho, thông tin,… Những yếu tố này không
trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng nó có ảnh hưởng lớn tới giá trị sản phẩm, đến
sản xuất, nó là yếu tố nội sinh của quá trình sản xuất góp phần tạo ra giá trị
mới. Sản phẩm làm ra chính nhờ các phương tiện sản xuất, kết cấu hạ tầng
như trên mà có thể tăng hoặc giảm giá trị sản phẩm, lưu thông, tiêu thụ,…
Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay thì
LLSX không chỉ bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất mà còn có cả
yếu tố khoa học và công nghệ hiện đại.
* Khoa học và công nghệ
Lực lượng sản xuất không phải là số cộng giản đơn của yếu tố người và
yếu tố vật mà chính là phương thức tác động, kết hợp giữa các yếu tố tạo
thành lực lượng sản xuất. Khoa học không phải là một yếu tố riêng biệt trong
Lê Thị Thúy
dân

20

K35 - Giáo dục công


×