Tải bản đầy đủ (.pdf) (99 trang)

Tư tưởng phan bội châu về đảng chính trị và mô hình nhà nước

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (659.83 KB, 99 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

TRẦN THỊ THANH HÒA

TƯ TƯỞNG PHAN BỘI CHÂU
VỀ ĐẢNG CHÍNH TRỊ VÀ MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

TRẦN THỊ THANH HÒA

TƯ TƯỞNG PHAN BỘI CHÂU
VỀ ĐẢNG CHÍNH TRỊ VÀ MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lưu Văn An

Hà Nội - 2014



LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi. Thông tin, số liệu trong luận văn hoàn toàn trung thực, chính xác,
các trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc .
Kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với các công trình
nào khác.
Tác giả luận văn

Trần Thị Thanh Hòa


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS. Lưu Văn An, người thầy đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi
hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trực tiếp giảng dạy
chúng tôi trong suốt thời gian học tập; Đặc biệt là sự quan tâm giúp đỡ
tận tình của quý Thầy, Cô Khoa Khoa học Chính trị, Phòng Sau đại học
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà
Nội và Phòng Khoa học Công nghệ trường Đại học Sài Gòn.
Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn
bè đã là nguồn động lực giúp tôi hoàn thành khóa học. Bên cạnh đó, tôi
cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với đội ngũ cán bộ, giáo viên trường
Cao đẳng nghề Lilama 2 đã tạo điều kiện về thời gian công tác để tôi có
thể yên tâm học tập tốt.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Trần Thị Thanh Hòa



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG PHAN BỘI CHÂU VỀ ĐẢNG CHÍNH TRỊ VÀ MÔ HÌNH
NHÀ NƯỚC ................................................................................................... 10
1.1. Bối cảnh lịch sử thế giới và Việt Nam tác động đến sự hình thành
tư tưởng Phan Bội Châu về đảng chính trị và mô hình nhà nước .................. 10
1.1.1. Bối cảnh lịch sử thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ............... 10
1.1.2. Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ............ 21
1.2. Tiểu sử và quá trình hình thành tư tưởng Phan Bội Châu về đảng
chính trị và mô hình nhà nước ......................................................................... 34
1.2.1. Tiểu sử Phan Bội Châu .................................................................. 34
1.2.2. Quá trình hình thành tư tưởng Phan Bội Châu về đảng chính trị
và mô hình nhà nước ....................................................................................... 38
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 44
Chƣơng 2: NỘI DUNG, GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG
PHAN BỘI CHÂU VỀ ĐẢNG CHÍNH TRỊ VÀ MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC .. 46
2.1. Tư tưởng về đảng chính trị ...................................................................... 46
2.2. Tư tưởng về thể chế chính trị và mô hình nhà nước ............................... 58
2.3. Những giá trị và hạn chế trong tư tưởng Phan Bội Châu về đảng chính trị
vả mô hình nhà nước........................................................................................ 69
2.3.1. Những giá trị ................................................................................. 69
2.3.2. Một số hạn chế .............................................................................. 72
2.4. Ý nghĩa của tư tưởng Phan Bội Châu về đảng chính trị và mô hình
nhà nước .......................................................................................................... 74
2.4.1. Ý nghĩa đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc .............. 74
2.4.2. Ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới hiện nay ................................. 79
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 86
Kết luận .......................................................................................................... 87
Danh mục tài liệu tham khảo ....................................................................... 89



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phan Bội Châu (1867-1940) là nhà yêu nước, nhà chính trị, là lãnh tụ
của phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX. Ông giữ một vị trí quan
trọng trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam thời cận đại. Với con đường
cứu nước mới mẻ và các giá trị như “quốc dân”, “dân quyền”, “dân trí”, “dân
chủ”... là những giá trị tư tưởng của Phương Tây lần đầu tiên được truyền bá
vào Việt Nam, thông qua các tổ chức yêu nước do Phan Bội Châu thành lập
và trực tiếp lãnh đạo, đã có ảnh hưởng lớn đến các phong trào yêu nước ở
Việt Nam đầu thế kỷ XX. Mặc dù chưa giành được thắng lợi trong thực tiễn
cách mạng nhưng những hoạt động của Phan Bội Châu đã có những cống
hiến lớn đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do cho
nhân dân. Những cống hiến đó đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của phong
trào yêu nước, đặt nền móng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và
thắng lợi của cuộc cách mạng dân chủ vô sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo ở thời
kỳ sau đó.
Đã một thế kỷ qua đi kể từ khi Phan Bội Châu đề xướng và lãnh đạo
cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc thông qua các hoạt động cụ thể
như: thành lập Hội Duy Tân (1904), phong trào Đông Du (1905), thành lập
Việt Nam Quang Phục Hội (1912) thay thế Hội Duy Tân, rồi đến Việt Nam
Quốc dân Đảng (1924)... Mở đầu cho thời kỳ ra đời của một đảng chính trị
theo ý nghĩa hiện đại của nó. Những tư tưởng và hoạt động thực tiễn của ông
dựa trên tôn chỉ là đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước, khôi phục chủ
quyền của Việt Nam, và thành lập "Việt Nam Cộng hòa Dân quốc", một mô
hình nhà nước nhằm đem lại các quyền dân sinh, dân chủ, tự do cho nhân
dân… Đây là những giá trị, mục tiêu có tính thời đại mà cho đến ngày nay
đang là hướng phấn đấu của nhiều quốc gia, dân tộc trong đó có Việt Nam.
1



Phan Bội Châu trước hết là một nhà Nho, một sỹ phu thiết tha yêu
nước, đã đi tiên phong trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc với tư
tưởng dân chủ tư sản tiếp thu qua sách báo tiến bộ, qua thực tiễn cải cách của
Nhật Bản. Trong bối cảnh Việt Nam cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Phan
Bội Châu là người có tư tưởng tiến bộ nhất trong số các trí thức Nho học lúc
bấy giờ, phân hoá từ giai cấp phong kiến, ý thức được trách nhiệm lịch sử, nỗ
lực không ngừng để vươn lên cùng với thời đại, tìm đến một phương thức cách
mạng mới, một con đường cứu nước mới chưa từng có tiền lệ, vượt ra ngoài
khuôn khổ ý thức hệ truyền thống.
Tư tưởng chính trị Phan Bội Châu đương thời đã khích lệ, cổ động các
tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên có chí hướng đấu tranh giành độc lập
tự do, “rửa vết nhơ nô lệ”. Ngày nay, tư tưởng chính trị Phan Bội Châu đang
tiếp tục kêu gọi chúng ta hành động, vươn lên vì một Việt Nam dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Có thể nói tư tưởng chính trị của
Phan Bội Châu về dân quyền, dân trí, dân chủ, công bằng, văn minh, độc lập
dân tộc... vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự của nó. Do đó, việc nghiên
cứu, tìm hiểu di sản tư tưởng chính trị nói chung và tư tưởng về Đảng chính
trị - mô hình nhà nước nói riêng của Phan Bội Châu nhằm cung cấp một cứ
liệu khoa học, làm rõ hơn những nội dung quan trọng của lịch sử tư tưởng
chính trị Việt Nam dưới ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản Phương Tây;
những ảnh hưởng đối với cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX là hết
sức cần thiết.
Bước vào thế kỷ XXI, Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, để thực hiện thành công sự nghiệp đó
đòi hỏi cần phải phát huy những giá trị tư tưởng chính trị truyền thống; biết kế
thừa những tinh hoa trí tuệ, tư tưởng của cha ông để lại. Mặt khác, cần phải
tiếp thu có chọn lọc những giá trị tư tưởng của nhân loại nhằm nâng cao năng


2


lực tư duy, đáp ứng yêu cầu mà thực tiễn cuộc sống đang đặt ra hiện nay.
Cũng thông qua việc nghiên cứu này, chúng ta rút ra được những bài học lịch
sử quý giá cho công cuộc đổi mới hiện nay, góp phần xứng đáng trong xây
dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững như tinh thần Đại hội lần thứ XI
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra. Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực
tiễn như trên, tác giả chọn vấn đề “Tư tưởng Phan Bội Châu về đảng chính
trị và mô hình nhà nước” làm đề tài luận văn thạc sỹ Chính trị học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Với tư cách là một nhà tư tưởng, nhà cách mạng và hoạt động chính trị,
nhà văn hóa lớn, cuộc đời và sự nghiệp của Phan Bội Châu đã trở thành tiêu
điểm, thu hút sự quan tâm, tìm hiểu của nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu
cả trong và ngoài nước. Các công trình nghiên cứu này thể hiện dưới dạng
sách chuyên khảo, bài đăng tạp chí, luận văn, luận án của các tác giả trong và
ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả đã tiến hành khảo sát,
phân loại các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài dưới các góc độ sau:
- Những công trình nghiên cứu liên quan đến con người, thân thế sự
nghiệp của Phan Bội Châu
Phan Bội Châu là một nhà Nho đặc biệt, lại sinh ra và lớn lên ở một
vùng quê có tinh thần cách mạng và hiếu học cũng rất đặc biệt, vì thế con
người, thân thế của Phan Bội Châu giành được rất nhiều sự quan tâm của các
học giả. Những nghiên cứu về con người, thân thế là nền tảng quan trọng để
hiểu thêm về điều kiện hình thành tư tưởng của Phan Bội Châu về đảng chính
trị và mô hình nhà nước. Liên quan đến vấn đề này có thể liệt kê một số công
trình tiêu biểu sau:
+ Phan Bội Châu con người và sự nghiệp cứu nước, luận án tiến sỹ sử
học của Chương Thâu, Viện Sử học (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam) năm
1981.


3


+ Nghiên cứu Phan Bội Châu do Chương Thâu tuyển chọn, biên soạn;
Nxb. Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2004.
+ Phan Bội Châu - nhà yêu nước - nhà văn hoá lớn, Chương Thâu biên
soạn, Nxb. Nghệ An và Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây phát hành
năm 2005.
+ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh của Tôn Quang Phiệt do Ban
nghiên cứu Văn Sử Địa phát hành năm 1956.
+ Phan Bội Châu và một số giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhân dân
Việt Nam của Tôn Quang Phiệt, Nxb. Văn hóa và Cục xuất bản ấn hành năm
1958.
+ Hồi ký về cụ Phan và cụ Huỳnh của Vương Đình Quang Nxb. Văn
học ấn hành năm 1997.
+ Phan Bội Châu (1867-1940): Con người và sự nghiệp do tập thể tác
giả Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Khánh, Trần Ngọc Vương, Trần Kim Đỉnh
biên soạn, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn ấn hành năm 1997.
+ Phan Bội Châu và xã hội Việt Nam ở thời đại ông của G. Boudarel,
Chương Thâu (do Hồ Song dịch, Đinh Xuân Lâm giới thiệu và hiệu đính).
+ Những chí sĩ cùng học sinh du học Nhật Bản dưới sự hướng dẫn của
cụ Sào Nam - Phan Bội Châu của Ngô Thành Nhân (Anh Minh).
- Những công trình nghiên cứu về các tác phẩm thơ, văn của Phan
Bội Châu
Phan Bội Châu đã viết rất nhiều các tác phẩm thơ văn nhằm thể hiện rõ
những quan niệm của ông về tư tưởng chính trị và triết lý cuộc sống, đồng
thời qua thơ văn cổ động mọi tầng lớp nhân dân tham gia đấu tranh, thực hiện
sự nghiệp giải phóng. Các tác giả đã nghiên cứu, bình luận, đánh giá về những
sáng tác thơ văn của ông; tư tưởng chính trị trong các nghiên cứu này được tiếp

cận dưới góc nhìn chính luận văn học. Tiếp cận dưới góc độ này, có thể kể đến
một số công trình tiêu biểu sau:
4


+ Truyện và tự truyện của Phan Bội Châu (từ góc nhìn thể loại), luận
án Phó tiến sỹ khoa học ngữ văn (mã số: 5.04.33) của Hoàng Đức Khoa,
Trường Đại học sư phạm Hà Nội, năm 1994.
+ Thơ Phan Bội Châu thời kỳ ông già bến Ngự, luận án phó tiến sỹ ngữ
văn của Nguyễn Hữu Trí (mã số: 5.04.33), năm 1996.
+ Sào Nam thiên cổ sự của Vũ Ngọc Khánh, Nxb. Thuận Hoá, năm
1998.
+ Tập nghiên cứu và bình luận văn học chọn lọc (tuyển chọn và giới
thiệu) của Đỗ Quang Lưu; Nxb. Hà Nội, năm 1999.
+ Nghiên cứu lý luận, phê bình văn học Nghệ An thế kỷ XX, cuốn sách
do Nxb. Nghệ An giới thiệu và tuyển chọn các tác phẩm nghiên cứu, lí luận
phê bình của hơn 80 tác giả của Nghệ An như: Hồ Chí Minh, Đặng Nguyên
Cẩn, Phan Bội Châu, Hồ Phi Huyền, Võ Liêm Sơn...
- Những công trình nghiên cứu về cuộc đời hoạt động cách mạng của
Phan Bội Châu gắn với phong trào Đông Du và các tổ chức yêu nước
Hoạt động thực tiễn cách mạng lớn của cụ Phan Bội Châu là tổ chức
phong trào Đông Du và thành lập các tổ chức yêu nước, cổ động mọi tầng lớp
nhân dân, tập hợp những thanh niên ưu tú lúc bấy giờ. Thông qua các hoạt
động này, cụ đã truyền bá tư tưởng chính trị tiến bộ, qua đó góp phần không
nhỏ vào việc thúc đẩy sự phát triển của phong trào yêu nước trong nhân dân,
đặc biệt là thanh niên. Liên quan đến vấn đề nghiên cứu có thể kể đến một số
công trình tiêu biểu sau:
+ Phong trào Đông Du và Phan Bội Châu của nhóm tác giả Đinh Xuân
Lâm, Chương Thâu, Phạm Xanh, sách do Nxb. Nghệ An và Trung tâm Văn
hoá Ngôn ngữ Đông Tây ấn hành năm 2005.

+ Mùa xuân 100 năm trước mở đầu Phong trào Đông Du do Phan Bội
Châu lãnh đạo của Chương Thâu, tạp chí Xưa và Nay, số 231, trang 16-18,
năm 2005.
5


+ Những người đi qua hai thế kỷ của Bùi Đình Phong, Phan Sĩ Phúc,
Trần Văn Cẩn; Nxb. Lao động, năm 2000.
+ Phong trào dân tộc Việt Nam và quan hệ của nó với Nhật Bản và
châu Á: Tư tưởng của Phan Bội Châu về cách mạng và thế giới, sách tham
khảo gồm 2 tập của Shiraishi Masaya (người dịch tập 1: Nguyễn Như Diệm;
người dịch tập 2: Trần Sơn), Nxb. Chính trị Quốc gia, năm 2000.
- Những công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học và chính trị
Phan Bội Châu
Phan Bội Châu đã để lại cho chúng ta những giá trị tư tưởng đặc sắc,
tổng hợp toàn bộ những hoạt động của cụ trong suốt một thời gian dài trực
tiếp tham gia phong trào kháng Pháp. Những giá trị đó đã được nhiều tác giả
tham gia nghiên cứu, đánh giá và học hỏi, bao gồm những nội dung cụ thể
như:
+ Tư tưởng triết học và chính trị của Phan Bội Châu, luận án tiến sỹ
triết học của Nguyễn Văn Hòa, Viện Triết học, năm 2000.
+ Thế giới quan Phan Bội Châu, luận án tiến sỹ triết học (mã số:
5.01.02) của Lê Ngọc Thông, Viện Triết học, năm 2001.
+ Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX qua các nhân vật tiêu biểu, của Doãn Chính, Phạm Đào Thịnh,
Nxb. Chính trị Quốc gia, năm 2007.
+ Tư tưởng Phan Bội Châu về con người, của Doãn Chính - Cao Xuân
Long, Nxb. Chính trị Quốc gia, năm 2012.
+ Sự tiếp nối tư tưởng trên đất Nghệ Tĩnh từ Phan Đình Phùng qua
Phan Bội Châu tới Hồ Chí Minh của Phạm Xanh, tạp chí Lịch sử quân sự, số

166, năm 2005, trang 22-27.
+ Phan Bội Châu về một số vấn đề văn hoá - xã hội - chính trị, do
Chương Thâu sưu tầm và tuyển chọn, Nxb. Thuận Hoá, năm 2000.

6


+ Chủ nghĩa yêu nước của Phan Bội Châu của Nguyễn Đức Sự, đăng ở
tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 83/1966, trang 28-36.
+ Ảnh hưởng của “Tân Thư” trong tư tưởng Phan Bội Châu và Phan
Chu Trinh của Lê Sỹ Thắng, đăng ở tạp chí Triết học, số 2-1997, trang 26-30.
+ Sự truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản Phương Tây vào Việt Nam đầu
thế kỷ XX. Đề tài do Nguyễn Văn Vĩnh chủ nhiệm, Viện Chính trị học là cơ
quan chủ trì; đề tài được nghiệm thu tháng 12 năm 2010.
Đánh giá tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan đến
đề tài luận văn:
Như vậy, nghiên cứu về Phan Bội Châu đã được thực hiện trong một
thời gian dài, gồm nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả tên tuổi gắn
với Phan Bội Châu như: Chương Thâu, Tôn Quang Phiệt, Đinh Xuân Lâm...
Các nghiên cứu dù lớn hay nhỏ đều đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác
nhau như: sử học, văn học, triết học, tôn giáo học... Tuy nhiên, vẫn còn thiếu
vắng các công trình nghiên cứu tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu dưới
góc độ khoa học chính trị.
Mặt khác, nghiên cứu về tư tưởng chính trị truyền thống của dân tộc nói
chung và tư tưởng chính trị Phan Bội Châu nói riêng vẫn còn là một đề tài lớn,
đang tiếp tục thu hút nhiều học giả và nhà nghiên cứu. Bởi vì, việc tiếp tục đi
sâu vào nghiên cứu một cách có căn bản, có chiều sâu những vấn đề này là hết
sức cần thiết, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm, các giá trị tham khảo đối
với thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Mặc dù chưa có công trình nào trực tiếp và đi sâu nghiên cứu tư tưởng

của Phan Bội Châu về đảng chính trị và mô hình nhà nước nhưng những
nguồn tài liệu kể trên là hết sức quan trọng và quý báu để tác giả luận văn vừa
có điều kiện kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước vừa có thể
tự hệ thống và khám phá độc lập trong nghiên cứu riêng của mình.

7


3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục tiêu:
Trên cơ sở làm rõ bối cảnh lịch sử, tác giả luận văn phân tích những tư
tưởng chủ yếu của Phan Bội Châu về đảng chính trị và mô hình nhà nước,
đồng thời rút ra các giá trị và ý nghĩa lịch sử đối với cách mạng Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
- Nhiệm vụ:
+ Làm rõ bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Phan Bội Châu về đảng
chính trị và mô hình nhà nước;
+ Phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng Phan Bội Châu về đảng chính
trị và mô hình nhà nước;
+ Đánh giá những hạn chế trong tư tưởng của Phan Bội Châu về đảng
chính trị, về mô hình nhà nước;
+ Rút ra ý nghĩa của tư tưởng Phan Bội Châu về đảng chính trị và mô
hình nhà nước đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn giải phóng dân
tộc và trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
-Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu các nội dung chủ yếu tư tưởng Phan Bội Châu
về đảng chính trị và mô hình nhà nước.
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu vào giai đoạn đầu thế kỷ XX,

bắt đầu từ năm 1900 sau khi Phan Bội Châu thi đỗ giải nguyên nhưng không
ra làm quan cho triều Nguyễn mà đi vào hoạt động cách mạng cho đến lúc
mất, năm 1940.

8


5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng lý luận và phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị, về
nhà nước, về đảng chính trị. Luận văn cũng dựa trên các quan điểm của Đảng
cộng sản Việt Nam về xây dựng và đổi mới chính trị, nhất là hệ thống chính
trị trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
- Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của luận văn là của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phương pháp cụ thể: lịch sử và lôgíc, phân tích
và tổng hợp, so sánh, hệ thống, nghiên cứu tài liệu...
6. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Là đề tài trực tiếp nghiên cứu về “Tư tưởng của Phan Bội Châu về
đảng chính trị và mô hình nhà nước” nên luận văn góp phần nhận diện một
cách cụ thể và đầy đủ hơn về tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu. Đồng thời
nêu lên những giá trị lịch sử của tư tưởng này và ý nghĩa của nó đối với công
cuộc xây dựng đất nước hiện nay; luận văn có thể được dùng làm tài liệu
tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy về lịch sử tư tưởng chính trị Việt
Nam và khoa học chính trị nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,
phần nội dung của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết.


9


Chƣơng 1
BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
TƢ TƢỞNG PHAN BỘI CHÂU VỀ ĐẢNG CHÍNH TRỊ
VÀ MÔ HÌNH NHÀ NƢỚC
1.1. Bối cảnh lịch sử thế giới và Việt Nam tác động đến sự hình thành
tƣ tƣởng Phan Bội Châu về đảng chính trị và mô hình nhà nƣớc
1.1.1. Bối cảnh lịch sử thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn có những biến đổi
to lớn trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Ở phương Tây, với sự áp
dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất đã làm cho chủ nghĩa tư
bản phát triển mạnh mẽ về mọi phương diện, tạo bước chuyển từ giai đoạn tư
bản tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền. Tư bản độc quyền ra đời đồng
nghĩa với việc chủ nghĩa tư bản luôn tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm và
nơi cung cấp nguyên vật liệu. Chủ nghĩa thực dân phương Tây luôn chạy đua,
cạnh tranh với nhau gay gắt nhằm xâm lược và đặt ách thống trị ở các quốc
gia kém phát triển nhằm giải quyết vấn đề này. Cùng với quá trình xâm lược
của thực dân phương Tây là phong trào đấu tranh của nhân dân các nước bị áp
bức nhằm bảo vệ độc lập và chủ quyền. Các quốc gia phong kiến cũng đã có
những bước chuyển mình quan trọng để phát triển kỹ nghệ, cải cách chính trị
nhằm thích hợp với sự chuyển biến của tình hình. Ở mỗi nước có cách làm
khác nhau và sự thành công hay thất bại không giống nhau, song những thay
đổi, cải cách này đã tác động không nhỏ đến việc hình thành và du nhập các
tư tưởng chính trị hiện đại. Chính Việt Nam là một trong số các nước chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ của các tư tưởng dân chủ tư sản trong giai đoạn này.
Trước sự xâm lược tàn bạo của các thế lực thực dân phương Tây, giai
cấp phong kiến và đông đảo quần chúng nhân dân ở các nước bị áp bức đã
đứng lên bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc. Phong trào đấu tranh của các

10


tầng lớp giai cấp mới và cũ trong xã hội bùng nổ mạnh mẽ. Đây chính là điểm
giao thời giữa cái “cũ” và cái “mới”, giữa cái tiến bộ của phương Tây và cái
lạc hậu của phương Đông. Xã hội có những chuyển biến quan trọng về kinh
tế- chính trị, văn hóa - xã hội, là những tiền đề quan trọng cho sự xuất hiện
của các tư tưởng chính trị dân chủ tư sản.
Thời kỳ trước đó, từ cuối thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư
bản đã được định hình và phát triển một cách hết sức mạnh mẽ ở châu Âu,
song ở châu Á vẫn còn chưa thực sự rõ nét, nền kinh tế tiểu nông, tự cấp tự
túc vẫn chi phối chủ yếu đến đời sống kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia,
cùng với đó thì thương mại bị hạn chế do chính sách bế quan, tỏa cảng. Vì
thế, khi kinh tế tư bản bên ngoài xâm nhập vào đã xáo trộn và làm thay đổi cơ
cấu kinh tế và xã hội bên trong các quốc gia phong kiến phương Đông, như
Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ... Từ nông nghiệp, công nghiệp cho đến
thương mại đều đã có những bước phát triển mạnh, phá vỡ kết cấu kinh tế
truyền thống của nhiều quốc gia châu Á. Sự hình thành và phát triển của nhân
tố kinh tế tư bản chủ nghĩa là tiền đề vật chất cho những tư tưởng mới, tiến bộ
ra đời, đó là hệ tư tưởng của giai cấp tư sản dân tộc.
Nhật Bản là một trong những quốc gia châu Á đầu tiên phát triển kinh
tế mạnh mẽ do tiếp cận và ứng dụng nhanh công nghệ phương Tây vào sản
xuất. Từ năm 1868, với chính sách “duy tân” mang tính đột phá và thực sự có
hiệu quả của Thiên hoàng Minh Trị, Nhật Bản đã có được “bước nhảy thần
kỳ” về kinh tế - xã hội. Câu chuyện bắt đầu từ giữa thế kỷ XIX, sau hơn 200
năm thống trị của chế độ Mạc phủ Tokugawa, Nhật Bản lâm vào tình trạng
khủng hoảng về mọi mặt. Trước tình hình đó, thực dân phương Tây đã gây áp
lực buộc Nhật phải mở cửa tự do buôn bán, xóa bỏ chính sách bế quan, tỏa
cảng. Trước tình hình khủng hoảng cùng với những đe dọa từ các nước
phương Tây đòi hỏi Nhật Bản phải tiến hành cải cách đất nước với cơ hội trở


11


thành một cường quốc như các nước phương Tây. Phong trào đấu tranh chống
Mạc phủ Tokugawa bùng nổ khắp nơi trong thập niên 60 của thế kỷ XIX.
Tháng 12 năm 1867 chế độ Mạc phủ Tokugawa chấm dứt, ngày 3 tháng
1 năm 1868, chính quyền mới do Thiên hoàng Minh Trị bổ nhiệm được thành
lập. Giai cấp tư sản chưa được tham gia chính quyền, nhưng chế độ mới tạo
điều kiện cho chủ nghĩa tư bản phát triển, nên họ ủng hộ chính quyền
mới. Thời kì Minh Trị (nghĩa là “sự cai trị sáng suốt”) bắt đầu.
Đổi mới và thúc đẩy nền kinh tế phát triển, Thiên Hoàng đã cử các
chuyên gia sang phương Tây học hỏi về kỹ thuật, thành lập các trường đại học
đào tạo tầng lớp lãnh đạo chính quyền và kinh doanh. Cơ sở hạ tầng bắt đầu
được quan tâm đầu tư xây dựng. Nhiều chuyên gia phương Tây được mời tới
Nhật Bản để phổ biến kiến thức và kỹ thuật. Nhật Bản còn ban bố quyền tự do
buôn bán và đi lại, thiết lập chế độ tiền tệ thống nhất (đồng yên), đẩy mạnh
xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển chủ nghĩa tư bản đến tận các vùng nông
thôn. Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ các công trường sản xuất thủ công
ở Nhật Bản, với các ngành kinh tế chủ yếu như: dệt, sản xuất giấy, máy móc,
cơ khí… Sự phát triển về kinh tế của Nhật Bản là một trong những hình mẫu
có nhiều ảnh hưởng đến các tầng lớp yêu nước ở nhiều quốc gia châu Á, trong
đó có Việt Nam.
Để xóa quyền lực của các đại danh, triều đình đã bãi bỏ hệ thống lãnh
địa và danh hiệu của các đại danh; thực hiện “tứ dân bình đẳng”, nghĩa là bốn
tầng lớp gồm võ sĩ, nông dân, thợ thủ công và thương nhân giờ đây không còn
bị phân biệt. Năm 1889, Hiến pháp mới được ban hành, quy định Nhật Bản là
một quốc gia quân chủ lập hiến có Hội đồng Quốc gia (Nghị viện Hoàng gia),
hệ thống hành chính địa phương mới, cho phép nhân dân bầu cử; các đảng
phái như Ái quốc xã, Tự do Đảng, Lập hiến Cải cách Đảng, Lập hiến Đế chính

Đảng được phép chấp chính. Những cải cách này đã đưa Nhật Bản thoát khỏi

12


vòng nô lệ như một số ít nước châu Á và vươn tới tầm cường quốc thế giới với
chiến thắng Trung Quốc trong Chiến tranh Trung - Nhật (1894-1895); chiến
thắng Nga tại Mãn Châu Lý trong Chiến tranh Nga - Nhật năm (1904-1905);
tham dự phe Đồng minh trong chiến tranh thế giới thứ nhất, chiếm giữ các
vùng lãnh thổ do người Đức nắm giữ tại Trung Quốc và Thái Bình Dương.
Nhờ có duy tân, đổi mới, Nhật Bản đã trở thành nước độc lập, không
những thế mà còn sớm cường thịnh, vươn lên một cách mạnh mẽ và còn có
chính sách bành trướng thực dân. Những thành công trong cải cách Nhật Bản
là sự khích lệ, là tấm gương mà nhiều nhà yêu nước các dân tộc châu Á muốn
học hỏi. Phan Bội Châu và các đồng chí của ông rất muốn học tập Nhật Bản.
Thời kỳ này ở Trung Quốc, triều đình Mãn Thanh đang ở giai đoạn
khủng hoảng, kinh tế, chính trị, xã hội đi vào suy thoái. Sự mâu thuẫn giữa
chế độ phong kiến đang suy vong và chủ nghĩa tư bản đang hình thành biến
Trung Quốc thành một nướcphong kiến nửa thuộc địa và rơi vào tình trạng bị
các nước thực dân thi nhau xâu xé. Dưới chính sách khai thác thuộc địa của
các nước đế quốc, nền kinh tế Trung Quốc có bước chuyển rõ rệt, bắt đầu
xuất hiện một số ngành công nghiệp. Đã có nhiều xưởng sửa chữa, đóng tàu ở
Thượng Hải, Hương Cảng được thành lập. Các ngành công nghiệp nhẹ như
chế biến chè, tơ, da, dầu, dệt... và công nghiệp dịch vụ như điện nước, sản
xuất diêm, giấy, thuỷ tinh, xà phòng... đã xuất hiện ở Thượng Hải. Cho đến
đầu thế kỷ XX nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Trung Quốc đã phát triển mạnh
mẽ. Từ năm 1900 đến năm 1908, số công trường thủ công tăng lên gấp đôi,
giai cấp tư sản Trung Quốc đã không ngừng mở rộng đầu tư sang các lĩnh vực
khác như công nghiệp dân dụng, công nghiệp nặng.
Về chính trị, trước sự mục ruỗng của triều đình Mãn Thanh với hệ tư

tưởng lạc hậu cùng với các chính sách bảo thủ của nó càng làm cho tình hình
Trung Quốc rơi vào thảm cảnh. Trước thực trạng trên, cuối thế kỷ XIX, nhiều

13


nhà tư tưởng tiến bộ đã đề xuất chủ trương duy tân. Người đầu tiên là Hồng
Tú Toàn với phong trào Thái bình Thiên quốc nhằm lật đổ triều đại Mãn
Thanh, thực hiện bình đẳng xã hội, bình đẳng nam nữ, xóa bỏ sở hữu ruộng
đất phong kiến và chia ruộng cho dân cày, hướng tới một xã hội không còn
người bóc lột người. Sau đó là cuộc chính biến một trăm ngày của Khang
Hữu Vi với tư tưởng “biến pháp”… Các cuộc đấu tranh đó đã thức tỉnh phong
trào yêu nước của nhân dân, nâng cao ý thức độc lập dân tộc chống ngoại xâm
và ý thức dân chủ chống chuyên chế. Đó là những tiền đề để đến đầu thế kỷ
XX, lịch sử Trung Quốc có một sự chuyển biến quan trọng, chính là cuộc
Cách mạng Tân Hợi năm 1911 do Tôn Trung Sơn lãnh đạo. Nó tiến bộ ngay
từ chủ trương của Hội “đánh đổ Mãn thanh, khôi phục Trung Hoa, lập chính
phủ liên hiệp” đã thực sự đập tan triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến
Trung Quốc, dưới ngọn cờ của giai cấp tư sản. Tuy nhiên, tất cả các cuộc cách
mạng nêu trên, cuối cùng cũng chỉ dừng lại ở đó, chỉ có thể lật đổ được chế
độ phong kiến tồn tại với lịch sử hàng ngàn năm, bởi trong thời điểm lịch sử
lúc bấy giờ, việc biến Trung Quốc thành một nước tư bản chủ nghĩa và giành
độc lập bằng con đường cải cách từ trên xuống là điều không tưởng. Mặt
khác, vì quyền lợi của mình, các nước đế quốc không thể chấp nhận việc
Trung Quốc đi theo con đường của họ, vì như thế sẽ mất đi một thị trường
béo bở và tạo ra một đối thủ cạnh tranh tiềm tàng trong tương lai.
Từ đó cho thấy, con đường theo kiểu phương Tây của Trung Quốc ở
thời điểm ấy, không những không thoát khỏi sự thống trị của ngoại bang mà
còn lệ thuộc hơn nữa vào họ. Sau thất bại của cách mạng Tân Hợi (19111913), các mục tiêu đánh đổ chính quyền Mãn Thanh, thành lập nước Trung
Hoa dân quốc, thực hiện cải cách ruộng đất cần phải xem lại. Cuộc cách mạng

này chỉ dừng lại ở việc trọng tâm là đánh đổ tập đoàn thống trị Mãn Thanh mà
chưa nhận ra kẻ thù chủ yếu của cách mạng là chủ nghĩa thực dân và giai cấp địa

14


chủ phong kiến. Thất bại này của cách mạng Tân Hợi cho thấy, các nhà lãnh đạo
cuộc cách mạng này đã thiếu cương quyết với chế độ phong kiến, ảo tưởng với
chế độ thực dân. Mặc dù thất bại nhưng những cuộc cách mạng ở Trung Quốc đã
có ảnh hưởng rất lớn đến các nhà tư tưởng tiến bộ Việt Nam, Phan Bội Châu đã
viết: “Phong triều Trung Hoa cách mệnh thành công, ảnh hưởng tới nước ta
hung lắm. Nhiệt độ người nước ta so với trước kia lên gấp bội. Nếu ở ngoài có
cái gì tiên thanh, thì khí thế ở trong nước khắc sống lại” [7, tr. 215].
Qua thực tiễn của Nhật Bản và Trung Quốc đã minh chứng sự ra đời
của giai cấp tư sản ở châu Á khác với giai cấp tư sản châu Âu. Ở châu Á, khi
thực dân phương Tây xâm nhập vào các nước và mở rộng ảnh hưởng thông
qua các hoạt động thương mại, truyền giáo thì những mầm mống của nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện. Ban đầu tầng lớp tư sản chưa trở thành một
giai cấp trong xã hội, họ mới là những người buôn bán, chủ các công trường
thủ công phân tán. Trước sự xâm lược của thực dân phương Tây, cùng với
những mâu thuẫn lợi ích với thực dân nên khi giai cấp phong kiến tổ chức
chống thực dân thì tầng lớp này cũng đã hưởng ứng tham gia đấu tranh. Họ đi
theo dưới ngọn cờ của giai cấp phong kiến bởi vì nhiệm vụ dân tộc là trên hết.
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, tầng lớp tư sản nhanh
chóng lớn mạnh ở nhiều nước và đã trở thành một giai cấp trong xã hội. Tuy
nhiên, lúc này giai cấp tư sản đang trong quá trình hình thành, số lượng và
chất lượng yếu kém, lại chưa đủ khả năng lãnh đạo cách mạng. Về sau, giai
cấp phong kiến đã mất dần vai trò lịch sử nhưng những trí thức phong kiến
tiến bộ lại giữ một vị trí hết sức quan trọng, họ nhanh chóng tiếp thu tư tưởng
dân chủ tư sản, và được giai cấp tư sản đồng tình, ủng hộ về vật chất và tinh

thần cho phong trào.
Khi phong trào đấu tranh theo khuynh hướng tư sản của trí thức phong
kiến thất bại thì giai cấp tư sản lúc này đã đứng ra đảm nhiệm vai trò sứ mệnh

15


lịch sử của mình. Là đại diện cho lực lượng tiến bộ trong xã hội nên họ đã
giương cao ngọn cờ đấu tranh giải phóng dân tộc, xóa bỏ chế độ cũ (chống
phong kiến) để thiết lập chế độ mới - tư bản chủ nghĩa, đưa đất nước phát
triển đi lên. Khác với phong trào đấu tranh của giai cấp phong kiến và nông
dân, giai cấp tư sản chủ trương dùng đấu tranh đòi tự do để tập hợp lực lượng,
họ có phương pháp đấu tranh, đường lối, cương lĩnh rõ ràng. Họ đã thành lập
các tổ chức chính trị, chính đảng của giai cấp mình và trở thành lực lượng
chính trị độc lập (như tổ chức Đồng minh Hội của Trung Quốc, Đảng Quốc
đại ở Ấn Độ…). Giai cấp tư sản cũng đã biết sử dụng nhiều biện pháp đấu
tranh phong phú, không chỉ cải cách, hòa bình mà còn kết hợp với đấu tranh
kinh tế, đấu tranh vũ trang, chính trị… Tùy theo điều kiện của mỗi quốc gia
mà con đường đấu tranh, biện pháp đấu tranh cũng khác nhau, nhưng có hai
con đường đấu tranh chủ yếu đó là: bằng vũ trang bạo lực cánh mạng (Cách
mạng Tân Hợi ở Trung Quốc) hoặc bằng phương pháp ôn hòa, hòa bình (Ấn
Độ, Indonesia).
Như vậy, cùng với sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa, đầu thế
kỷ XX giai cấp tư sản ở châu Á đã có những bước phát triển về tư tưởng
chính trị. Đây là những điều kiện cần thiết để thực hiện vai trò của mình trong
cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và xóa bỏ chế độ phong kiến. Dưới
sự lãnh đạo của giai cấp tư sản các phong trào đấu tranh diễn ra mạnh mẽ,
rộng lớn, thu hút được sự tham gia rộng rãi của các giai cấp, tầng lớp trong xã
hội. Mặc dù phong trào đấu tranh diễn ra ở các nước là khác nhau nhưng lại
gần như cùng một thời gian, tạo ra một làn sóng cách mạng mà như Lênin đã

nhận định: sự thức tỉnh của châu Á... có nghĩa là một giai đoạn mới trong lịch
sử thế giới được mở ra vào đầu thế kỷ XX.
Nhìn chung, mặc dù những yếu tố kinh tế tư bản chủ nghĩa ở các quốc
gia xuất hiện sớm hay muộn, nhưng đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, giai

16


cấp tư sản đã xuất hiện ở hầu hết các nước châu Á. Tuy nhiên, trước khi giai
cấp tư sản châu Á ra đời hầu hết các quốc gia này đã trở thành thuộc địa của
thực dân phương Tây. Vì thế, sự ra đời của giai cấp tư sản đồng hành cùng
với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Hay nói cách
khác, quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây đã làm xuất
hiện mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa ở một số nước châu Á, từ đó làm
xuất hiện giai cấp tư sản. Đây là tiền đề kinh tế quan trọng cho việc truyền bá
các tư tưởng chính trị tiến bộ phương Tây, cũng như sự xuất hiện các xu
hướng chính trị đòi tự do, dân chủ, độc lập của các giai cấp, tầng lớp tiến bộ
trong xã hội. Chính những phát triển về kinh tế đã tạo ra niềm tin về một xã
hội phồn vinh, cùng với sự phổ biến rộng rãi các giá trị nhân văn đã có tác
động, ảnh hưởng lớn đến sự hình thành tư tưởng chính trị của các tầng lớp
yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ mà Phan Bội Châu là một đại diện tiêu biểu.
Ngoài sự ra đời và phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng
của giai cấp tư sản châu Á, với vai trò cương vị mới của họ thì vào những
thập niên đầu của thế kỷ XX, thế giới còn chứng kiến sự phát triển lên một
bước mới của chủ nghĩa tư bản. Từ tư bản tự do cạnh tranh thành tư bản độc
quyền với năm đặc trưng cơ bản: sự tập trung sản xuất, tạo thành những tổ
chức kinh tế độc quyền; sự dung hợp giữa tư bản ngân hàng và tư bản công
nghiệp thành các đầu sỏ tài chính; xuất khẩu tư bản trở thành vấn đề đặc biệt
của kinh tế tư bản; sự hình thành những khối liên minh tư bản độc quyền chia
nhau thế giới; các cường quốc tư bản hoàn thành quá trình phân chia thị

trường thế giới. Chính sự phát triển nhanh chóng của chủ nghĩa đế quốc đã
làm cho thế giới có nhiều biến động, đa số các nước phong kiến phương
Đông, các nước lạc hậu ở châu Phi và châu Mỹ Latinh đã bị xâm chiếm làm
thuộc địa. Các nước đế quốc chia nhau để cai trị, nô dịch và bóc lột nhân dân
ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa nói trên. Từ những điều kiện lịch

17


sử đó đã làm xuất hiện những mâu thuẫn lớn trong xã hội và ngày càng trở
nên gay gắt: mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ở các nước đế
quốc; mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với bè lũ thực dân; mâu thuẫn
giữa quảng đại quần chúng nhân dân lao động với giai cấp địa chủ phong kiến
trước hết là với triều đình phong kiến ở phương Đông; mâu thuẫn giữa giai
cấp công nhân ở các nước thuộc địa với giai cấp tư sản bản xứ và tư sản thực
dân; mâu thuẫn giữa các nước tư bản đế quốc với nhau trong việc phân chia
lại thị trường… Bối cảnh đó đã đặt ra những nhu cầu bức thiết đối với nhân
loại, cần phải thực hiện sự nghiệp đấu tranh giải phóng, trước hết là giải
phóng con người, giải phóng dân tộc. Đáp lại khát vọng đó của nhân loại tiến
bộ, Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã bùng nổ và thắng lợi, chủ nghĩa
xã hội đã trở thành hiện thực, là nguồn cổ vũ động viên, khích lệ rất lớn cho
các nước, các giai cấp bị áp bức bóc lột trên con đường cách mạng của mình.
Chính thắng lợi to lớn này đã mở ra một đường lối cứu nước mới cho các dân
tộc bị áp bức: con đường giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới dưới ánh
sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga,
chủ nghĩa Mác - Lênin đã không ngừng được tuyên truyền một cách rộng rãi, dưới
nhiều hình thức vào các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, đây là tiền đề lý
luận quan trọng cho việc hình thành tư tưởng cách mạng tiến bộ của các nhân sỹ,
trí thức của ta cũng như các nước bị xâm lược lúc bấy giờ.
Nói về cuộc Cách mạng Tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm
châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên Trái đất.
Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn
và sâu xa như thế” [41, tr.387]. Chỉ mấy năm sau đó, nhiều chính đảng vô sản
lần lượt ra đời.Sự xuất hiện chính đảng của giai cấp công nhân đã đánh dấu
bước ngoặt cách mạng,chấm dứt một giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng về

18


đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng ở các nước thuộc địa.
Đồng thời, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng tạo ra một chuyển
biến căn bản của tình hình thế giới. Chủ nghĩa tư bản không còn tồn tại như
một hệ thống duy nhất thống trị thế giới nữa. Sự tồn tại của nhà nước xã hội
chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đã trở thành một thách thức to lớn, một thế
đối trọng đối với tư bản chủ nghĩa.
Cùng với những diễn biến của tình hình chính trị thế giới, trong thời kỳ
này các giá trị văn minh, nhất là tư tưởng chính trị phương Tây đã du nhập
vào châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Các giá trị tiến bộ như tự do,
bình đẳng, bác ái, tôn trọng quyền con người trong cách mạng tư sản ở châu
Âu được tuyên truyền đã gây nên những biến đổi sâu sắc của tầng lớp trí thức
phong kiến. Các tư tưởng của Voltaire (trong Những bức thư triết học), của
Rousseau (trong Bàn về khế ước xã hội), của Montesquieu (trong Tinh thần
pháp luật), đã được các nhà tư tưởng tiến bộ tiếp cận, nghiên cứu. Những tác
phẩm này đề cao quyền tự do cá nhân, phê phán nhà thờ, đề cao pháp quyền
(xây dựng chế độ dân chủ lập hiến, thực hiện “tam quyền phân lập”, quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân, tính thượng tôn của pháp luật…) đã làm thay
đổi nhận thức của các nhà tư tưởng trong xã hội phong kiến. Những tư tưởng
tiến bộ này được Phan Bội Châu tiếp nhận từ các nguồn sách báo tiếng Nhật
được dịch qua tiếng Trung. Các sách báo tiến bộ này khi chuyển vào Việt

Nam được gọi là Tân thư. Đánh giá về việc tiếp cận các sách báo tiến bộ của
Phan Bội Châu, sử gia người Mỹ Willian J. Duiker đã viết: “Phan Bội Châu
trong cuốn tự truyện Phan Bội Châu niên biểu từng nói rằng, trước khi xuất
dương ông đã tiếp xúc các cuốn Doanh hoàn chí lược của Từ Kế Dư (17951873), Phổ-Pháp chiến kỷ của Vương Thao (1828-1897), và Trung Đông
chiến kỷ bản mạc của Thái Nhĩ Khang (1851-1921) khiến cho ông “hiểu được
tình trạng cạnh tranh khốc liệt ở trong hoàn hải, thảm trạng quốc vong chủng

19


diệt càng kích thích trong đầu óc sâu lắm”. Ngoài ra ông cũng đã đọc các tác
phẩm Trung Quốc hồn, Mậu Tuất chính biến kỷ và những bài viết trên Tân
Dân Tùng Báo của Lương Khải Siêu. Nhiều nhà nghiên cứu thống nhất ý kiến
rằng, Phan Bội Châu đã tìm thấy sự khởi đầu cho công cuộc cách mạng của
mình từ trong các tác phẩm Tân thư có nguồn gốc Trung Quốc ấy” [22, tr. 7879].
Trước sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản đòi hỏi các quốc gia châu Á
phải tự đổi mới, thoát ra khỏi những ảnh hưởng truyền thống lạc hậu, xu
hướng canh tân đất nước là không thể tránh khỏi. Những tư tưởng lý luận tiến
bộ trong Tân thư đã đáp ứng yêu cầu đó, và thực tiễn những thành công trong
cải cách của Nhật Bản dựa trên những nền tảng lý luận này đã chứng minh
tính đúng đắn và xu hướng tất yếu cần phải cải cách. Những tư tưởng này đã
ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành tư tưởngchính trịtiến bộ của Phan
Bội Châu và các nhà yêu nước khác. Nhận xét về những ảnh hưởng này, Phan
Bội Châu viết: “Tôi từ sau khi đến Nhật Bản, từng nghiên cứu nguyên nhân
cách mệnh ngoại quốc và chính thể ưu liệt ở Đông Tây, càng nhận được lý
luận của Lư Thoa là tinh đáng lắm” [7, tr. 216].
Những biến động của tình hình kinh tế, chính trị thế giới, đặc biệt ở
Trung Quốc, Nhật Bản (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) và ở Nga (năm
1917) đã có những tác động mạnh mẽ đến việc hình thành tư tưởng chính trị
của Phan Bội Châu nói chung, tư tưởng về đảng chính trị và mô hình nhà

nước nói riêng. Diễn biến tình hình lịch sử này đã để lại cho cụ Phan nhiều
bài học quan trọng thông qua việc nghiên cứu các thành công hay thất bại,
cũng như qua hoạt động thực tiễn của cụ tại Nhật Bản, Trung Quốc. Nghiên cứu
những sự kiện lịch sử này cho chúng ta thấy được ảnh hưởng của nó đến việc hình
thành, phát triển và thay đổi tư tưởng về đảng chính trị và mô hình nhà nước của
Phan Bội Châu trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XX và những năm sau đó.

20


×