Tải bản đầy đủ (.pdf) (57 trang)

tìm hiểu căn cứ tà thiết (lnbp) trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.72 MB, 57 trang )

1.
TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM LỊCH SỬ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Tên ñề tài:

TÌM HIỂU CĂN CỨ TÀ THIẾT (LN-BP) TRONG
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
Ngành học: Sư phạm Lịch sử

Giáo viên hướng dẫn
Th.S Khoa Năng Lập

Sinh viên thực hiện
Nông Thị Hoa
MSSV: 6060928
Lớp: SP. Lịch Sử K32

Cần Thơ – Năm 2010


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

LỜI CẢM ƠN
Luân văn tốt nghiệp chuyên nghành Sư phạm Lịch sử là một môn học phần nằm
trong chương trình ñào tạo nghành Cử nhân sư phạm Lịch sử của Trường ðại học Cần
Thơ. ðể củng cố lại những kiến thức ñã học ñược trong quá trình học tập và những
thông tin bổ ích tích lũy ñược từ thực tế cuộc sống.Trong quá trình nghiên cứu ñề tài
tôi ñã nhận ñược sự giúp ñỡ tận tình của quý thầy cô trong Bộ môn Lịch sử, cũng như


những thầy cô ñã tận tình giảng dậy và truyền ñạt cho tôi những kiến thức, những kinh
nghiệm thực tế trong suốt bốn năm ngồi trên giảng ñường của Trường ðại học Cần
Thơ.
Nay ñề tài ñã hoàn thành, bằng tất cả tấm lòng của mình tôi xin ñược:Gởi lời
cảm ơn sâu sắc ñến thầy Khoa Năng Lập ñã tận tình hướng dẫn và tạo mọi ñiều kiện
thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành ñề tài này.
Chân thành cảm ơn quí thầy cô trong Bộ môn Lịch sử ñã tận tình dẫn dắt tạo mọi ñiều
kiện tốt nhất cho chúng tôi học tập, tìm hiểu, cọ sát với thực tế trong chuyến thực tế
chuyên môn.
Chân thành cảm ơn Trung tâm học liệu Trường ðại học Cần Thơ, thư viện
Khoa Sư phạm, thư viện Thành phố Cần Thơ và cơ quan Bảo tàng huyên Lộc Ninh –
tỉnh Bình Phước (sự giúp ñỡ của anh Hiến) ñã cung cấp cho tôi những nguồn tư liệu
quí giá ñể tôi có thể hoàn thành tốt ñề tài luận văn của mình.
Xin chân thành cảm ơn Gia ñình (Cha, Mẹ) tôi và bạn bè ñã giúp ñỡ, ñóng góp
ý kiến ñể tôi có thể hoàn thành tốt ñề tài nghiên cứu của mình.
Tuy rất cố gắng nhưng ñây là một mảng ñề tài mới, nên sẽ không tránh khỏi
những sai sót do thông tin, tài liệu liên quan ñề tài còn vẫn còn hạn chế, ñiều kiện xâm
nhập còn ít. Vì vậy, rất mong nhận ñựợc những ý kiến ñóng góp quí báu của thầy cô
cùng các bạn sinh viên ñể luận văn ñược hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

-1-

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước


PHẦN I: MỞ ðẦU
1.LÝ DO CHỌN ðỀ TÀI
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ñã ñể lại cho dân tộc ta nhiều bài học
kinh nghiệm quí giá. ðó là những bài học về xây dựng hậu phương kháng chiến. Hậu
phương là một trong những nhân tố thường xuyên quyết ñịnh thành bại của cuộc chiến
tranh. Như V.I.Lênin từng nói: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách thật sự, phải có
một hậu phương ñược tổ chức vững chắc”. Tiếp thu học thuyết quân sự của chủ nghĩa
Mác-Lênin và kế thừa truyền thống ñấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, trong quá
trình lãnh ñạo kháng chiến, ðảng ta luôn ñặt vấn ñề xây dựng căn cứ ñịa (hậu phương)
lên hàng ñầu, vận dụng sáng tạo ñiều kiện ñịa lý của Việt Nam, từ ñó sức mạnh của
dân tộc ñã tăng lên gấp bội, ñã ñánh bại kẻ thù là một cường quốc, giàu mạnh và sừng
sỏ như ñế quốc Mỹ.
Theo quan ñiểm của ðảng ta, “Căn cứ ñịa cách mạng là những vùng giải phóng
xuất hiện trong vòng vây ñịch, cách mạng dựa vào ñó ñể tích lũy và phát triển lực
lượng về mọi mặt, tạo thành những trận ñịa vững chắc về chính trị, quân sự, kinh tế,
văn hóa, lấy ñó làm nơi xuất phát ñể mở rộng ra, cuối cùng tiến lên ñánh bại kẻ thù lớn
mạnh, giải phóng hoàn toàn ñất nước. Căn cứ ñịa là nơi ñứng chân của cách mạng,
ñồng thời là chỗ dựa ñể xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, ñẩy mạnh ñấu tranh
vũ trang cách mạng; trên ý nghĩa ñó, nó cũng là hậu phương của chiến tranh cách
mạng”. Trên cơ sở lí luận ñó, căn cứ ñịa ñã ñược phát triển mạnh mẽ, rộng khắp toàn
miền Nam, góp phần ñặc biệt quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống Mỹ.
Miền ðông Nam Bộ là chiến trường tranh chấp giữa ta và ñịch trong cuộc chiến
tranh của miền Nam, vì vậy, trong suốt 21 năm Mỹ - Ngụy ñã dồn về ñây những nỗ
lực cao nhất ñể ñè bẹp cuộc kháng chiến, nhưng cuối cùng lực lượng của ta ñã giành
thắng lợi, kết thúc chiến tranh ngay trên ñịa bàn này. Trong thắng lợi ñó, hẳn nhiên có
vai trò to lớn của các căn cứ ñịa với tư cách là những hậu phương kháng chiến tại chỗ.
Nên các căn cứ ñịa ñã ñược xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò như thế nào trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ trên ñịa bàn? ðã có một số ñề tài nghiên cứu lịch sử quân
sự và căn cứ ñịa ở Miền ðông Nam Bộ.

Căn cứ ñịa Tà Thiết (Lộc Ninh – Bình Phước), là căn cứ của Quân ủy và Bộ
Chỉ Huy Miền trong giai ñoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nó ñã góp phần
ñóng góp vào sự thắng lợi trong cuộc kháng chiến, nó là một căn cứ của Miền ðông
Nam Bộ. Căn cứ ñịa Tà Thiết (Lộc Ninh – Bình Phước), là nơi tôi sinh ra và lớn lên.
Ai sinh ra và lớn lên cũng yêu dấu và khắc sâu tuổi thơ mình, nơi ñây ñã nuôi dưỡng
tôi nên người, tôi muốn ñóng góp một phần nhỏ bé vào sự “Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà
Thiết (Lộc Ninh, Bình Phước) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. ðó
là lý do mà tôi chọn ñề tài này.
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

-2-

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

2. MỤC ðÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ðỀ TÀI
Với ñề tài “Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (Lộc Ninh, Bình Phước) trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước” sẽ giúp tôi nâng cao khả năng tìm hiểu,
nghiên cứu cũng như khả năng phân tích tổng hợp. ðặc biệt giúp tôi có ñược một nền
tảng cho công tác nghiên cứu phục vụ cho nghề nghiệp sau này. Thông qua quá trình
thực hiện ñề tài giúp tôi có cái nhìn ñúng ñắn hơn, khoa học hơn khi xem xét hay
nghiên cứu một vấn ñề nào ñó. Ở mức ñộ tìm hiểu, ñề tài này không chỉ giúp tôi củng
cố lại kiến thức cơ bản, mà còn bổ sung cho tôi một khối lượng kiến mới ñủ sâu, ñủ
rộng ñể có thể lý giải, ñánh giá ñược vấn ñề ñặt ra một cách khách quan nhất, sâu sát
nhất, dù ở một khía cạnh nào ñó vẫn chưa thật sự trọn vẹn như mục tiêu ñã ñề ra.
Thông qua ñề tài nghiên cứu tôi muốn giới thiệu về Căn cứ ñịa Tà Thiết ở Lộc Ninh Bình Phước, về lịch sử hình thành và vai trò của căn cứ trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước, ñồng thời ñó sẽ rút ra một số ñặc ñiểm về việc xây dựng căn cứ và
hứơng phát triển và bảo vệ Căn cứ. ðó là mục ñích thực tiễn mà ñề tài muốn hướng

ñến.

3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong ñề tài này, tôi chủ yếu tập trung trình bày các vấn ñề thuộc “lịch sử xây
dựng và vai trò của căn cứ ñịa Tà Thiết trong giai ñoạn cuối của cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước”. ðề tài ñề cập về:
Quá trình xây dựng: từ cuối năm 1972 ñến ñầu năm 1973, các hoạt ñộng sau
khi xây dựng xong và những hoạt ñộng ñến khi chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi,
chính quyền Sài Gòn sụp ñổ và miền Nam hoàn toàn giải phóng vào ngày 30 – 4 –
1975.
ðồng thời ñề tài cũng phân tích vai trò của Bộ Chỉ Huy Miền trong việc xây
dựng tạo thế, tạo lực cho cuộc tổng tiến công nổi dậy Mùa Xuân 1975, từ ñó ñã ñánh
ñổ Ngụy quân, Ngụy quyền giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất ñất nước.
Không gian ñề cập của ñề tài là huyện Lộc Ninh – Bình Phước (tỉnh Bình Long
cũ).

4. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Do tầm quan trọng của vấn ñề hậu phương – căn cứ ñịa trong chiến tranh, ñề
tài này ñã ñược sự quan tâm nghiên cứu của các cơ quan va nhiều tác giả khác từ nhiều
năm nay.
Trước ñây, sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, vấn ñề hậu phương và
căn cứ ñịa có ñiều kiện ñược ñúc kết kinh nghiệm, xây dựng những lý luận cơ sở ban
ñầu. Trong tác phẩm “Ngọn cờ giải phóng” (NXB sự thật H.1960) Bác Hồ ñã dành
một vài trang nói về vấn ñề này, ñưa ra những khái niệm ñầu tiên mang tính hướng
dẫn.
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

-3-

SVTH: Nông Thị Hoa



Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ñóng góp thêm nhiều cơ sở thực tiễn quí
báu .
ðề tài cũng ñược ñề cập nhiều hơn trong các tác phẩm: “Căn cứ Quân ủy và Bộ
Chỉ Huy Miền trong chiến tranh chống Mỹ (1954 - 1975) (Trần Thị Nhung chủ biên –
NXB Quân ñội nhân dân H.1996, sở văn hóa thông tin Sông Bé), Căn cứ ñịa ở Miền
ðông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975) (luận án tiến sĩ – Trần
Thị Nhung năm 2001), Lịch sử Bộ Chỉ Huy Miền (1961 - 1976) (Hồ Sơn ðài Chủ biên
– nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội – năm 2004)
Bộ Tư Lệnh Miền (Hồ Sĩ Thành-Trần Thị Nhung – NXB trẻ - năm 2005).Với
ñề tài này tôi ñã dựa trên những tác phẩm này mà ñúc rút ra những mục tiêu mà ñề tài
cần phân tích làm rõ như Lịch sử hình thành và vai trò của Căn cứ ñịa Tà Thiết trong
kháng chiến chống Mỹ.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong khi thực hiện ñề tài, tôi ñã sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với
phưong pháp Logic. Coi ñây là những phương pháp chủ yếu. Bênh cạnh ñó, tôi cũng
sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp ñể xác ñịnh tính chính xác của các
tài liệu, làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu. Các phương pháp này ñược coi trọng
trong khi nghiêm cứu về Căn cứ ñịa Tà Thiết ở Lộc Ninh - Bình Phước. Ngoài ra còn
sử dụng phương pháp ñiền dã, và sử dụng phương pháp liên nghành, kế thừa thành quả
của các bộ môn khoa học khác: ñịa lý quân sự, chính trị học, dân tộc học, ñồ bản… ñể
nghiên cứu và trình bày ñề tài.

6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Phần I: Mở ðầu
Phần II: Nội Dung

Chương 1:Vị trí ñịa lý và cư dân ở Lộc Ninh thời kỳ trước 1975
Chương 2: Quá trình hình thành căn cứ ñịa Tà Thiết
Chương 3: Vai trò của căn cứ ñịa Tà Thiết trong kháng chiến chống Mỹ
cứu nước
Phần III: Kết Luận

GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

-4-

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

PHẦN II:NỘI DUNG
Chương 1: VỊ TRÍ ðỊA LÝ VÀ CƯ DÂN Ở LỘC NINH THỜI KỲ
TRƯỚC 1975
1.1. Vị trí ñịa lý huyện Lộc Ninh và căn cứ ñịa Tà Thiết.
1.1.1. Vị trí ñịa lý huyện Lộc Ninh
Vị trí ñịa lý:
Lộc Ninh là huyện thuộc tỉnh Bình Long (nay Bình Phước) phía Bắc và Tây
Bắc giáp Camphuchia, phía Nam giáp An Lộc, phía ðông Bắc giáp Phước Long.
Huyện Lộc Ninh có quốc lộ 13 và là ñoạn cuối ñường 559 (hay còn gọi là
ñường mòn Hồ Chí Minh), quốc lộ 13 là con ñường huyết mạch nối giữa trung khu thủ
ñô Sài Gòn của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa với các tỉnh Thủ Dầu Một, Bình
Long, và biên giới nước bạn Camphuchia.
Huyện Lộc Ninh có ñường biên giới Camphuchia dài khoảng 120 km. ðây là
một ñiều kiện rất thuận lợi ñể Lộc Ninh trở thành trung tâm thương mại với vùng biên
giới với nước bạn Camphuchia. Vì trước ñây có tuyến ñường sắt Dĩ An – Lộc Ninh từ

ga ðồng Tâm kéo dài ñến vùng biên giới Camphuchia.
Cư dân sống ở ñây gồm nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống: Kinh, Tà Mun,
M.Nông, STiêng…
ðịa hình:
Lộc Ninh có dạng ñịa hình núi thấp có ñộ cao tuyệt ñối từ 300 – 600 m, các núi
này ñược hình thành từ những núi lửa cũ hoặc núi sót rải rác thuộc phần cuối dãy
Trường Sơn từ Tây Nguyên ñổ xuống. Dạng này ở Lộc Ninh ít, chủ yếu ở Lộc Ninh có
dạng ñịa hình ñồi và ñồi thấp. ðây là kiểu ñịa hình bóc mòn – tích tụ, ñộ cao từ 100 –
300 m so với mặt nước biển. Bề mặt lượn sóng, ñỉnh ñồi thường bằng phẳng, sườn
thường dốc và thoải, xen giữa chúng là các vùng ñất phẳng có ñộ cao từ 100 – 200 m.
Khí hậu:
Lộc Ninh có khí hậu nhiệt ñới gió mùa cận xích ñạo với hai mùa rõ rệt là mùa
khô và mùa mưa.
Nhiệt ñộ trung bình năm khoảng 25,8oC – 26,2oC, thấp nhất từ 21,5oC – 22oC
và cao nhất là từ 31,7oC – 32oC. Biên ñộ dao ñộng nhiệt ñộ giữa các tháng khoảng
0,7oC – 3,0o C, chênh lệch giữa ngày và ñêm cao nhất là từ 7oC - 9oC.
Thời gian nắng nhiều nhất vào các tháng 2,3,4 và ít nắng nhất vào các tháng
7,8,9.

GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

-5-

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Mùa mưa từ tháng 5 – 11, mùa nắng từ tháng 11 – 5 năm sau, tháng ít mưa nhất
là 1,2,3. Do chế ñộ mưa theo mùa nên biên ñộ dao ñộng về ñộ ẩm không khí giữa mùa

mưa và mùa khô khá cao. Và ñộ ẩm lúc cao nhất là 88,2% so với tháng có ñộ ẩm thấp
nhất là 16%.
Tài nguyên ñất:
Huyện Lộc Ninh có diện tích ñất tự nhiên là 1.240,48 km2.
ðất ở Lộc Ninh có rất nhiều loại khác nhau, và gồm các loại ñất như sau: ñất
phù sa, ñất xám, ñất ñen, ñất dốc tụ, ñất xói mòn trơ sỏi ñá, ñất sông hồ, ñất vàng ñỏ
(ñất ñỏ trên bazan) là loại ñất chiếm phần nhiều diện tích ñất tự nhiên của huyện. Loại
ñất này có tầng phong hóa khá dày, thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp
lâu năm như cây cao su, cây ñiều, hồ tiêu, càphê và các loại cây ăn quả khác. Do ñó
khi người Pháp trồng cao su ở Việt Nam, thì các nhà tư bản Pháp ñã ñầu tư lập ñồn
ñiền Cao su ở ñây. Năm 1911 thì cho ra ñời Công ty Cao su Viễn ðông (CEXO:
Socíeté des Caoutechoues d’Extrême-Orient), và Lộc Ninh có ñồn ñiền cao su Lộc
Ninh.
Các loại ñất kém chất lượng khác như ñất dốc tụ, ñất xói mòn trơ sỏi ñá chỉ
chiếm rất ít diện tích tự nhiên của huyện.
Tài nguyên sinh vật:
Rừng ở Lộc Ninh thuộc loại rừng cây thưa họ dầu, rụng lá theo mùa, là loại
rừng thứ sinh, hệ thực vật là hệ thực vật ñặc trưng của rừng mưa nhiệt ñới vô cùng
phong phú, nhiều tầng, nhiều lớp từ các loại dây leo, cây ký sinh, cây bụi. Những khu
rừng già nguyên sinh với nhiều loại gỗ quý như cho giá trị kinh tế cao như cẩm lai,
giáng hương, gõ ñỏ, sao, bằng lăng, căm xe, cỏ dầu…, có nhiều cây dược liệu quý,
dùng làm thuốc trị bệnh như vàng ñắng, nhân trần, sa nhân, mã tiền, ñỗ trọng, ngũ gia
bì, sâm ñất…, và nhiều loại tre, nứa, lồ ô, lá buông, song, mây, dùng làm nhà ở và
dụng cụ gia ñình. Ngoài ra còn có nhiều loại dây, củ dùng ñể chế biến thành bột ăn
như củ nần, củ chụp, củ mài, củ năng, củ nho, hạt gấm, hạt buông và nhiều loại lá rau
như lá diếp, ñọt mây, lá cơm nguội…
Rừng còn là tài nguyên nuôi dưỡng nhiều loại thú quý hiếm như voi, cọp, bò
rừng, heo rừng, trâu rừng, nhím, cheo, chồn, rắn, khỉ, thỏ, gà rừng nhiều loài chim và
côn trùng có ích và gây hại…
Sông Sài Gòn ñựơc bắt nguồn từ vùng ñồi núi Tây Bắc Lộc Ninh, chảy qua tỉnh

với chiều dài khoảng 150 km, diện tích lưu vực khoảng hơn 300 km2.
1.1.2. ðặc ñiểm ñịa lý vùng căn cứ ñịa Tà Thiết
Căn cứ ñịa Tà Thiết là một vùng rừng cây thứ cấp, rộng 16 ha nằm ở phía tây
nam thị trấn Lộc Ninh, cách thị trấn Lộc Ninh 17 km ñường chim bay, cách trung tâm
căn cứ Bà Chiêm – Sóc Con Trăng ở phía tây nam 17 km, nằm gần sát về phía bắc lộ
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

-6-

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

17, cách ngã ba ðồng Tâm (trên ñường quốc lộ 13) khoảng 13 km, có thể coi ñây là
khu vực cực ñông của khu B. Và cách biên giới Camphuchia 5km
Khí hậu ở ñây tương ñối ổn ñịnh hơn so với các căn cứ ở Tây Ninh. Là một khu
rừng rộng 16 ha, nên trong căn cứ ñịa có rất nhiều các loại gỗ quý như giáng hương,
gõ ñỏ, khơ nia, sao, sến, bằng lăng…và các loài ñộng vật như gà rừng, heo rừng, nhím,
… các loại cây, lá rau dùng làm món ăn như măng tre, nứa, lồ ô,và các loại rau củ ăn
ñược như tàu bay, lá giang, lá diếp, củ mài, củ chụp, củ nho…Bìa rừng là các trảng
trống, các ruộng lúa của các cư dân sinh sống của vùng này.
Cư dân sinh sống ở ñây chủ yếu là người dân tộc ít người như Stiêng,M’Nông,
Khmer…Nhưng rất thưa thớt, chỉ vài chục hộ gia ñình.
ðất ở ñây tương ñối bằng phẳng, là các loại ñất xám, ñất vàng ñỏ, ñất phù sa cổ
…Bên cạnh ñó Tà Thiết còn có tài nguyên khoáng sản ñáng lưu ý là mỏ ñá vôi lớn. ðó
là nguồn nguyên liệu cho việc sản xuất xi măng, cao lanh, ñá xây dựng, sét, gạch
ngói…
1.2. ðặc ñiểm cư dân ở Lộc Ninh Và căn cứ ñịa Tà Thiết
Lộc Ninh trước ñây là một tổng của huyện Hớn Quản – tỉnh Thủ Dầu Một. Năm

1938 tổng Lộc Ninh có 6 làng. Năm 1957 khi Bình Long ñược thành lập thì Lộc Ninh
là một trong hai quận của tỉnh Bình Long. Lúc ñó quận Lộc Ninh có 18 xã với 95 ấp.
Năm 1960, do hợp nhất một số xã nên quận Lộc Ninh còn 10 xã. Năm 1976, huyện
Lộc Ninh thuộc tỉnh Sông Bé mới thành lập. Năm 1977, huyện Lộc Ninh cùng với hai
huyện khác là Chơn Thành và Hớn Quản hợp nhất thành huyện Bình Long. Huyện Lộc
Ninh ñược tái lập theo Quyết ñịnh số 34-CP của hội ñồng chính phủ ngày 9 tháng 2
năm 1987 trên cơ sở tách một số xã của huyện Bình Long và Phước Long. Ngày 20
tháng 2 năm 2003, huyện Bù ðốp ñược thành lập lại trên cơ sở tách một phần huyện
Lộc Ninh. Do ñó diện tích huyện Lộc Ninh giảm từ 1.240,48 km2 xuống còn 863 km2.
1.2.1. Truyền thống ñấu tranh bảo vệ quyền sống của cộng ñồng cư dân
Cư dân Lộc Ninh gồm các tộc người cùng sinh sống như Stiêng, Khmer,
M’Nông, … ðó là dân bản ñịa sinh sống lâu ñời ở ñây. Bên cạnh ñó là người Kinh từ
miền Bắc di cư vào làm phu ñồn ñiền Cao su Lộc Ninh thời 1911. Họ là những người
ñược Pháp mộ phu vào làm việc trong các ñồn ñiền cao su, còn gọi những người công
nhân này với tên là Contract, lúc này Lộc Ninh còn là một tổng của huyện Hớn Quản tỉnh Thủ Dầu Một (xưa 1938).
Khi người Pháp thử nghiệm trồng thành công cây cao su ở Nha Trang… từ ñó
người Pháp bắt ñầu tìm các vùng ñất ñể lập ñồn ñiền cao su. Lúc này tại Lộc Ninh
ñược người Pháp chú ý ñến, và sau khi trồng thử nghiệm thành công ở Vườn ươm Ông
Yêm (Bến Cát - Thủ Dầu Một), thì tư bản Pháp lập ñồn ñiền cao su ở các vùng ñất ở
Thủ Dầu Một. Năm 1911, công ty cao su Viễn ðông (CEXO: Socíeté des
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

-7-

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Caoutechoues d’Extrême-Orient) ra ñời ñặt trụ sở tại Lộc Ninh. Từ ñó ñồn ñiền cao su

ñã cột chặt số phận làm phu nhọc nhằn khổ sai của hơn 20.000 ñồng bào Miền Bắc,
Miền Trung, và 5000 ñồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Stiêng bản ñịa.
Những cư dân miền bắc, miền trung hầu hết là nông dân bị bần cùng hoá, họ
ñến từ các tỉnh như Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Nam ðịnh và một số ở ngoại
thành Hà Nội.
Những người công nhân này họ bị bóc lột hết sức tàn bạo ñến nổi có câu ca
rằng:
Cao su ñi dễ khó về
Khi ñi trai tráng khi về bủng beo.
Cuộc sống của họ chỉ toàn là:
Cá hôi gạo mục quanh năm
Vẫn chưa ñầy bụng ñói nằm rừng cây.
Với chính sách tàn bạo của thực dân Pháp ñối với người công nhân Contract, ta
thấy ñược bản chất thâm ñộc của chúng. ðiều kiện tự nhiên, môi trường làm việc,
cùng với sự bóc lột sức lao ñộng ở các ñồn ñiền cao su ñược xem là “Trần gian ñịa
ngục là ñây; ðồn ñiền ñất ñỏ nơi tây giết người”. Khi ðảng Cộng Sản Việt Nam ra
ñời năm 1930, từ ñó thu hút hàng vạn công nhân trong các ñồn ñiền cao su ñầu tranh
chống lại chế ñộ hà khắc của giới chủ, từng bước tiếp thu ñường lối cách mạng, cùng
nhân dân cả nước ñấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân. Mà cụ thể có thể nói
ñến là sau cuộc ñấu tranh của công nhân ñồn ñiền cao su Dầu Tiếng (cuối 1932), và
phong trào ñấu tranh của công nhân cao su Phú Riềng, công nhân cao su Lộc Ninh ñã
tổ chức những cuộc ñấu tranh quyết liệt (năm 1935). Tại ñồn ñiền Lộc Ninh các công
nhân tiến bộ ñứng ra lập Ban ñại diện và tổ chức bãi công, biểu tình ñấu tranh với chủ
ñồn ñiền, phản ñối việc hạ lương, ñòi giảm giờ làm, ñấu tranh ñòi hưởng lương như
cũ, có 1000 người vừa công nhân và cả người thượng tham gia, họ cùng nhau cầm gậy
gộc, giáo mác, xà gạc, cung tên...cùng nhau kéo ñến văn phòng chủ sở. Năm 1938, 300
công nhân các làng bãi công ñưa ra yêu sách; gồm 4 nội dung: Tăng lương cho công
nhân, thi hành ngày làm việc 8 giờ /ngày, giảm phần cạo lót từ 400 cây xuống còn 350
cây ngày, công nhân ốm ñau phải có thuốc.
Cuộc ñấu tranh của công nhân ñồn ñiền Lộc Ninh tuy có ñổ máu, nhưng cũng

ñã giành ñược những thắng lợi nhất ñịnh. Buộc chủ ñồn ñiền phải thực hiện một số
yêu sách mà công nhân ñưa ra. Chính chế ñộ thuộc ñịa của Pháp ñã làm cho quan hệ
thống trị và bị trị trong ñồn ñiền cao su Thủ Dầu Một nói chung và Lộc Ninh nói riêng,
ñã mang nặng màu sắc hân thù. Càng bị bóc lột, càng bị ñối sử dã man thì lòng hận thù
của công nhân cao su ñối với thực dân và tay sai càng cao ñộ. ðằng sau cái nổi niềm

GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

-8-

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

“bán thân ñổi mấy ñồng xu, thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng” là sự mâu thuẫn dân
tộc và giai cấp, cái mầm mống của quy luật ñấu tranh.
ðến năm 1944, chi bộ ñảng ñầu tiên ở Lộc Ninh ñã ra ñời. Năm 1945, công
nhân phu ñồn ñiền cao su Lộc Ninh ñã nổi dậy và ñấu tranh giành chính quyền, dưới
sự chỉ ñạo của Chi Bộ ðảng. Từ việc chi bộ ðảng ñầu tiên ra ñời (1944), các phong
trào ñấu tranh của công nhân, nông dân,… ñã từng bước phát triển và ñi theo con
ñường ñấu tranh chống Pháp và sau này là kháng chiến chống Mỹ.
Trong kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ, công nhân và nông dân là
cơ sở cách mạng ñáng tin cậy, là ñội quân chủ lực trên ñịa bàn. Nhiều chiến công nổi
tiếng trong kháng chiến chống Mỹ như trận Lộc Ninh vào mùa hè 1972, ñã ghi nhận
những ñóng góp to lớn của những người dân và ñội ngũ công nhân cao su nơi ñây. ðặc
ñiểm cư dân ở Lộc Ninh nói riêng và cư dân Bình Long nói chung họ là những con
người anh hùng của tổ quốc, họ ñã dám dấn thân vào sự nghiệp giải phóng dân tộc,
giác ngộ cách mạng hòa quyện với giác ngộ dân tộc. ðây cũng là thời kỳ hội tụ trong
ñội ngũ công nhân, nhân dân giác ngộ cách mạng nơi ñây, từ nhiều năm trước nay ñã

ñược phát huy và tỏa sáng.
1.2.2. Truyền thống văn hóa của Cư dân
Cư dân bản ñịa ở ñây là các dân tộc ít người như Stiêng, M’Nông, Khmer,
…Bên cạnh các cư dân bản ñịa, còn có cư dân người kinh là những người phu ñồn
ñiền ñược tư bản Pháp mộ vào làm phu ñồn ñiền, từ những năm 1911 khi công ty Viễn
ðông (CEXO: Socíeté des Caoutechoues d’Extrême-Orient) thành lập, và mộ ñược
218.000 người. ðồng thời ñó còn có các cư dân là người JaVa (Inñônêxia), Mãlai…
cũng tới ñây sinh sống và khai thác mủ cao su cho tư bản Pháp, ngày nay con cháu họ
vẫn còn sinh sống tại Lộc Ninh.
Những người kinh từ các tỉnh của ñồng bằng và trung du bắc bộ như Hải
Dương, Hà Nam, Thái Bình, Bắc Giang, Lạng Sơn, và các tỉnh ngoại thành Hà Nội,
vào làm phu ñồn ñiền, họ ra ñi vì phải tìm kế sinh nhai là thế, cùng ra ñi với họ là nếp
sống và cách sinh hoạt của chính quê hương mình. Cho nên từ ñây nét ñặc sắc về văn
hóa của họ rất giống với nét văn hóa của những cư dân miền bắc.
Về ñời sống tâm linh của người dân ở ñây, thì tục thờ cúng tổ tiên là chủ yếu.
Hầu hết các cư dân ñều là phật tử: dường như ở làng nào của huyện Lộc Ninh cũng có
chùa, phật tử di lễ chùa vào ngày rằm và các ngày lễ lớn của phật giáo như Lễ Vu
Lang, Lễ Phật ðản,…
Bên cạnh ñó người dân còn có tục thờ Mẫu và Thờ ðức Thánh Trần (Trần
Hưng ðao), ñây là một loại hình văn hóa của ñồng bằng bắc bộ, mà khi rời bỏ nơi
chôn nhau cắt rốn nhưng người phu cao su ñã mang theo vào vùng ñất ñỏ miền ñông
ñầy hứa hẹn (Lộc Ninh). Nên có thể nói người dân nơi ñây thường “tháng tám giỗ cha
tháng ba giỗ mẹ”. Các làng ở Lộc Ninh ñều tổ chức kỉ niệm ngày Thánh Mẫu ñào thai
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

-9-

SVTH: Nông Thị Hoa



Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

hóa kiếp, có tổ chức rước kiệu Thánh Mẫu và tổ chức làm lễ kỉ niệm ngày mất của
ðức Thánh Trần.
Cứ vào ngày mùng 3/3 âm lịch hàng năm thì làm giỗ cho Thánh Mẫu. Kiệu
Thánh Mẫu ñược rước quanh làng; Kiệu xuất phát từ chùa trong làng – nơi ñặt linh vị
của Thánh Mẫu sau ñó rước một vòng quanh làng trước khi về yên vị lại chùa làng,
ñám rước là nam thanh nữ tú trong làng. Theo sau là các cụ và các thành phần khác
sinh sống tại làng. Lễ vật trong ñám rước là hoa quả trái cây, xôi …Có một ban tế lễ
ñược dân làng bầu ra ñể trị sự: Sau các nghi thức tế lễ là các nghi thức lên ñồng của
các hầu bóng, hầu ñồng.
Còn ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm, thì những người lớn tuổi trong ban tế lễ
tới chùa ñể làm lễ. Lễ vật cúng ðức Thánh Trần là hoa quả trái cây, xôi, gà, nhang
ñèn…Chủ lễ là người lớn tuổi có hiểu biết về các nghi thức tế lễ. Các thành phần khác
trong làng thứ tự thắp nhang cầu khấn ðức Thánh.
Các lễ tết: như tết Nguyên ðán và các ngày rằm, Tết ðoan Ngọ (mùng 5 tháng
5 âm lịch) ñược tổ chức theo truyền thống: ðó là gói bánh chưng, bánh tét trong ngày
tết Nguyên ðán, cúng trái cây nhang ñèn và ñồ mã như ở miền bắc. Ngày 23-12 thì
cúng cá chép ñể ñưa Ông Táo về trời…Các ngày rằm thì cúng trái cây, hoa, ñèn, xôi,
gà ñược duy trì ñều ñặn.. Tín ngưỡng của cư dân Lộc Ninh là một loại hình tín ngưỡng
tổng hợp trên cơ sở ñặc trưng tín ngưỡng của người Việt miền bắc, tức là tín ngưỡng
ña thần; vừa thờ ông, bà, Tổ tiên lại thờ Mẫu, thờ các vị anh hùng dân tộc như ðức
Thánh Trần, thờ ðức Phật, thờ thổ công, thờ thổ ñịa…
1.2.3. Các hoạt ñông và sinh hoạt ñời sống khác của cư dân Lộc Ninh
Trong dịp tết thì các trò chơi dân gian ñược tổ chức như: ði cà kheo, kéo co,
chọi gà,…Các ngày rằm thì lên chùa thắp nhang cầu phúc, cầu an, cầu duyên xin quẻ
cầu duyên, hầu ñồng, hầu bóng.
Trong sinh hoạt hàng ngày, thì cách sinh hoạt ăn, ở mang nét văn hóa ñặc trưng
giống với cư dân miền Kinh Bắc.
ðó là nét ñặc trưng của cư dân người Kinh ở Lộc Ninh, còn ñối với cư dân bản

ñịa thì họ sinh hoạt có nhiều nét ñặc trưng riêng của mình, nhưng bên cạnh cái nét
riêng ñó cũng có những nét ñã ñược giao thoa với nét văn hóa của cư dân người Việt.
Nét ñặc trưng riêng biêt của các cư dân là tộc người thiểu số như Stiêng,
M’Nông…
Người Stiêng và người M’Nông sống rất gần gũi với nhau. Riêng người Stiêng
có những nét riêng biệt như họ theo chế ñộ phụ hệ, hôn nhân thì lấy người khác họ
nhau. Người Stiêng sống ñịnh cư thành từng phum, sóc, mỗi sóc có già làng. Trang
phục của họ rất ñơn giản, nữ quấn vay, nam ñóng khố, mùa ñông thì họ khoác thêm
một tấm vải ñể chống rét, người Stiêng ñể tóc dài và búi sau gáy, tai xâu lỗ, hoa tai
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 10 -

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

bằng gỗ hay ngà voi, và thường xăm minh, xăm mặt với những hoa văn ñơn giản. Mọi
người nam, nữ, già, trẻ ñều thích ñeo các loại vòng, trẻ em còn nhỏ ñeo lục lạc ở hai cổ
chân.
Người Stiêng quan niệm vạn vật hữu linh, tin vào sức mạnh huyền bí của sấm,
sét, trời ñất, mặt trăng, mặt trời, tính chất thiêng liêng và quyền uy của thần ñược quy
ước bằng vật hiến sinh màu trắng: Gà trắng, heo trắng, trâu trắng. ðồng bào tính tuổi
bằng mùa làm nương rẫy.
Người Stiêng thích âm nhạc, nhạc cụ thường thấy nhất là bộ chiêng 6 cái,
chiêng không ñược gõ ở nhà, trừ ngày lễ ñâm trâu, chiêng dùng trong hội lễ, cả trong
bộc lộ tình cảm, hòa giải xích mích giữa các gia ñình.
Ngoài chiêng còn có cồng, khèn bầu cũng ñược ñồng bào yêu thích, cuối mùa
khô ñồng bào hay chơi thả diều.

Bên cạnh những nét văn hóa trên người Stiêng còn có các tục khác như tang
ma, cưới hỏi cũng rất ñáng chú ý. Về tục cưới hỏi thì do sống theo chế ñộ phụ hệ nên
người ñàn ông cai quản việc gia ñình, các chàng trai có quyền kén vợ. Khi ñược cả hai
gia ñình ñồng ý, mỗi bên cử một nhân chứng dự lễ cưới. Người này làm lễ buộc chỉ cổ
tay cho ñôi trai gái, sợi dây có giá trị như là sự chứng giám của thần linh, lễ ñược cử
hành trước hai họ. Tiếp ñó là lễ cưới. Nhà trai mời thân bằng quyến thuộc hai họ tới dự
lễ, ăn, uống. Nhà gái cũng ñáp lễ làm cỗ mời lại. Sau hai bữa tiệc, việc cưới xin có thể
coi là kết thúc nghi lễ, cô dâu về nhà chồng. Tuy nhiên, chàng trai phải nộp sính lễ rất
nặng, trong ñó có một nô lệ, nếu nghèo không có sính lễ, chàng trai phải ở rễ.
Tục cười hỏi là thế, còn tục tang ma thì khi gia ñình nào có người chết, gia ñình
ñó mời bà con tới ăn, uống, sau ñó mọi người cùng nhau vô rừng ñốn gỗ về ñể ñẻo
quan tài. Khi người chết ñã ñược ñặt vào quan tài, tang quyến lại cùng bà con trong
sóc ăn uống hai, ba ngày nữa mới cử hành ñưa ñám. Khi ñem chôn cất thì họ chia gia
tài cho người ñã chết các vật dụng như soong nồi, cuốc, xẻng …
Mộ người Stiêng ñược ñắp cao, bốn góc có bốn trụ ñược chạm khắc tinh xảo,
và có lợp mái làm nhà mồ, mộ phần ñược người sống chăm săn sóc.
Người M’Nông sống theo chế ñộ mẫu hệ, con cái theo họ mẹ, trong gia ñình
người vợ giữ vai trò chính, nhưng người chồng không bị phân biệt ñối xử, họ sống tôn
trọng nhau, cha, mẹ già thường ở vời con gái út.Cách ăn mặc thì ñàn ông ñóng khô,ở
trần. ðàn bà M’Nông thì mặc váy quấn buông dài trên mắt cá chân. Thanh niên nam
nữ thường mặc áo chui ñầu, khố váy, áo màu chàm thẫm trang trí hoa văn ñẹp mắt.
Theo nếp cũ, ñến tuổi trưởng thành người M’Nông phải cà răng mới ñược yêu
ñương lấy vợ, lấy chồng. Phong tục cưới xin gồm 3 bước chính là dạm hỏi, lễ ñính
hôn, lễ cưới. Sau khi cưới chàng rễ thường ở nhà vợ, nhưng cũng có nơi ñôi vợ chồng
trẻ ở phía nào là tùy thỏa thuận của hai gia ñình.
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 11 -

SVTH: Nông Thị Hoa



Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Người M’Nông thích nhiều con, nhất là con gái, sinh con sau một năm
mới ñược ñặt tên chính thức.
Trong tang lễ ñồng bào có tập quán ca hát, gõ chiêng trống bên áo quan
suốt ngày ñêm. Sau khi hạ huyệt, ñồng bào dung cây, que, và lá cây trải kín
miệng hố rồi mới ñắp ñất lên trên, qua 7 ngày hoặc 1 tháng, gia chủ làm lễ ñoạn
tang.
Người M’Nông có rất nhiều thần linh liên quan ñến cuộc sống của
mình,trong ñó thần lúa giữ vai trò ñặc biệt quan trọng, hàng năm cùng với việc
canh tác, người M’Nông thực hiên các nghi thức nhằm giữ gìn thần lúa, cầu
mong bội thu, như cúng lúa mới, và lễ hội ñâm trâu…
Song song với những nét văn hóa ñặc trưng, của những tộc người sinh
sống ở Lộc Ninh, họ còn ñược tiếp thu những tinh hoa về văn hóa của nước Pháp
như về Tôn Giáo, hay cách ăn mặc, nếp sống. Từ ñó có thể nói rằng cư dân ở Lộc
Ninh có nét văn hóa rất phong phú.
Về phương diện văn hóa tinh thần thì họ ñã tiếp thu giáo lý Thiên chúa
giáo, và các loại hình giải trí khác.
Giáo dục thì ñược học theo chương trình của chế ñộ Sài Gòn, học ở các
nhà thờ theo từng làng với cấp tiểu học thứ tự là lớp năm, lớp tư, lớp ba, lớp nhì,
lớp nhất.
ðặc trưng cư dân ở Lộc Ninh là một phức hợp của quá trình giao lưu và
tiếp thu văn hóa, vừa văn hóa bản ñịa, văn hóa phương tây, mà trước hết là văn
hóa Pháp và sau ñó là của Mỹ. Trong thời gian từ lúc Pháp ñến (năm 1911) ñến
năm 1972 nhân dân Lộc Ninh nói chung và những người công nhân, lực lượng
giác ngộ cách mạng nói riêng ñã trãi qua rất nhiều sự biến cố của lịch sử. Từ ñấu
tranh, giác ngộ, cách sinh hoạt ăn ở, tín ngưỡng…
Từ ñó mà thấy ñược những nét ñặc trưng văn hóa, sự ñoàn kết trong ñấu

tranh mà người dân và chi bộ ðảng ở ñây ñã giành ñược quyền tự do vào ngày 7
tháng 4 năm 1972, dưới sự chỉ ñạo của ðảng Cộng Sản và lực lượng quân ñội ta.
Lộc Ninh ñã ghi thêm những chiến công vẻ vang của lịch sử.

GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 12 -

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Chương 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CĂN CỨ TÀ THIẾT
2.1. Bối cảnh lịch sử và nhu cầu xây dựng căn cứ ñịa Tà Thiết
Từ sau cuộc tiến công và nổi dậy ñồng loạt tết Mậu Thân (1968), ñã giáng một
ñòn quyết ñịnh làm thất bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Mỹ buộc phải
xuống thang chiến tranh chủ trương “phi Mỹ hóa” cuộc chiến tranh ở Việt Nam và
ngồi vào bàn ñàm phán với ta tại Paris. Chiến lược chiến thuật của Mỹ bị khủng hoảng
nghiêm trọng, từ ñó chúng phải thay chiến lược “tìm diệt” bằng chiến lược “quét và
giữ”, khả năng huy ñộng tìm lực cho chiến tranh Việt Nam của Mỹ quá cao và ngày
càng bị hạn chế rõ rệt. Tâm lý thất bại phổ biến trong quân Mỹ và ngụy, ý chí xâm
lược của giới cầm quyền Mỹ bước ñầu bị lung lay, phong trào chống chiến tranh của
nhân dân Mỹ lên cao. Nhưng Mỹ vẫn ngoan cố khôi phục và phát triễn lực lượng quân
Mỹ lên cao nhất (3-1969) là 550.000 tên, tăng viện trợ cho ngụy tới trên 1 tỷ ñôla, từ
ñó ñã làm cho tinh thần quân ngụy ñược trấn an hơn.
ðến ñầu năm 1969 ñịch bước ñầu thực hiện kế hoạch bình ñịnh cấp tốc, vùng
giải phóng của ta bị thu hẹp, bộ ñội chủ lực miền cà các phân khu chỉ huy còn một bộ
phận ñóng ñược ở vùng ven. Phần lớn phải di chuyển lên vùng trung tuyến hoặc biên
giới, quân dân Miền Nam lâm vào tình cảnh khó khăn nhất. ðịch tập trung vào việc

gom dân “lập ấp chiến lược” lấn ñất,… dùng bom pháo hủy diệt, xe tăng xe bọc thép
chà ñi sát lại những vùng ven ñô. Với tình hình ñó ta gặp rất nhiều khó khăn, ngược lại
với ta thì lực lượng quân ngụy phấn chấn hơn, cộng thêm Nichxon lên làm tổng thống
ñã thực hiện kế hoạch “phi Mỹ hóa” dần ñiều chỉnh thành chiến lược “Việt Nam hóa
chiến tranh”, dùng quân ngụy thay cho vai trò của lính Mỹ ñể tiếp tục chiến tranh. Báo
chí Phương tây gọi mỉa mai là “thay màu da cho xác chết”, không những thế Mỹ còn
lợi dụng sự mâu thuân giữa Liên Xô và Trung Quốc, ñể tranh thủ hai nước này ngừng
viện trợ cho ta, tiến ñến cô lập cách mạng Việt Nam và cả ðông Dương.
Trước âm mưu ñó của Mỹ và trong tình thế cách mạng Việt Nam ñang ñối mặt.
Tháng 5 năm 1969 bộ chính trị họp và ñã ra nghị quyết xác ñịnh nhiệm vụ trước mắt
của toàn ðảng, toàn quân, toàn dân: Phát huy thắng lợi ñã ñạt ñược, tiếp tục ñẩy mạnh
tổng công kích, tổng khởi nghĩa, ñẩy mạng ba mũi giáp công, kết hợp với ñấu tranh
ngoại giao. Ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị, phát triển chủ lực tiến
công một cách toàn diện lực lượng và mạnh mẽ, làm thất bại các mục tiêu và biện
pháp chiến lược phòng ngự của ñịch, ñánh bại âm mưu của ñịch ñể nhằm kết thúc
chiến tranh trên thế mạnh và chủ trương “Phi Mỹ hóa” chiến tranh của chúng. Từ ñó
mà Bộ Chỉ Huy Miền xác ñịnh tầm quan trọng của chiến trường rừng núi Miền ðông
Nam Bộ, cần khắc phục những khó khăn về bảo ñảm vật chất, giữ vững bàn ñạp có lợi,
sử dụng hợp lý chủ lực kết hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ ñể liên tục tiến công
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 13 -

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

ñịch, tăng sức vây ép mạnh ñối với Sài Gòn. Buộc ñịch phải căng ra ñối phó, tạo ñiều
kiện cho quân ta tiêu diệt từng ñơn vị lớn và tạo những sơ hở mới trong thế bố trí

phòng ngự của ñịch trên chiến trường trọng ñiểm, ñồng thời phải từng bước mở rộng
vùng giải phóng, xây dựng căn cứ ñịa, tạo thế ñứng vững chắc và lâu dài trên hướng
này.
Tình hình trong nước là thế, nước bạn Camphuchia và Lào cũng gặp nhiều khó
khăn, trong lúc ta ñang chuẩn bị cho bước tiến công Xuân Hè 1969-1970, thì ngày 183-1970 Mỹ giật dây ñảo chính Sihanúc ñưa Lonnon lên nắm chính quyền ở
Camphuchia, nhằm tạo ra thế liên minh giữa các tập ñoàn tay sai của Cộng Hòa Miền
Nam Việt Nam, Lào và Camphuchia, tăng cường tập trung mũi nhọn vào cách mạng
Việt Nam. Trước mắt cắt ñứt hành lang tiếp vận của ta qua ñất Camphuchia.
Với ñảo chính lật ñổ chế ñộ Sihanúc, ñịch còn nhằm mở rộng chiến tranh trên
ñất Camphuchia. Tiếp tục truy diệt cơ quan ñầu não của ta ra xa và triệt phá kho tàng
của ta trên biên giới Camphuchia.
Mỹ thực hiện mục tiêu này có phần chủ quan, do ñánh giá ta là suy yếu, muốn
giành thế mạnh trên bàn ñàm phán ở Paris. ðồng thời tạo ñiều kiện kích thích thêm
tinh thần quân ngụy trên chiến trường, nhưng chính ñiều này ñã làm cho Mỹ, ngụy lâm
vào tình thế ngày càng xấu ñi. Nhất là sau thất bại trong cuộc hành quân ñường 9 –
Nam Lào, ngoài việc tiến hành cuộc ñảo chính bất ngờ này, ñịch còn âm mưu bắt sống
Bộ Chỉ Huy Miền nhưng không thành.
Tình hình Camphuchia làm cho cách mạng Việt Nam ñang khó khăn, nay lại
càng khó khăn hơn, với yêu cầu của nước bạn Camphuchia ta quyết ñịnh ñưa một bộ
phận chủ lực miền tiến công giúp bạn giải phóng vùng phía ñông sông MêKông trước
và ñánh bại các cuộc càn quét của ñịch trên dọc biên giới, bảo vệ bằng ñược căn cứ,
kho tang, phương tiện chiến lược của ta dọc theo biên giới Camphuchia – Việt Nam
(chủ yếu dọc theo tỉnh Tây Ninh).
ðồng thời ñó ta dùng một bộ phận quân chủ lực và ñịa phương tiêu diệt ñược
một số chi khu, thị trấn và một số ñồn bốt dọc biên giới ñể mở rộng bàn ñạp của ta,
cùng lúc ñó tranh thủ lực lượng quân sự và chính quyền ñịa phương tuyên bố ly khai
chính phủ Lonnon, tạo ra hình thái khởi nghĩa ở ñịa phương và giải phóng ñược một
vùng rộng lớn Camphuchia.
Tháng 9 năm 1970 Bộ Chỉ Huy Miền nhận ñịnh Mỹ mở rộng chiến tranh sang
Camphuchia hòng ngăn chặn sự chi viện của Miền Bắc và Nam. Trước tình hình như

trên, Bộ Chỉ Huy Miền ñã báo cáo với Trung ương cục xin mở ñường, mở vùng giải
phóng làm nơi ñứng chân.
Cuộc tiến công Xuân – Hè trên chiến trường B2 ñã ñạt ñược yêu cầu ñề ra,
nhưng ta giành thắng lợi về tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của ñịch, về
ñánh phá bình ñịnh trên vùng sâu, vùng yếu, các lực lượng vũ trang phần lớn bám
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 14 -

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

ñược ñiạ bàn, kìm chân và phân tán ñịch tạo ñiều kiện cho khối chủ lực miền hoàn
thành tốt nhiệm vụ trên chiến trường biên giới Camphuchia. Như trong mùa khô 1970
– 1971 lần lượt các chiến dịch hành quân ChenLa 1 và ChenLa 2 của ñịch bị thất bại
(vào ngày 4 – 12 - 1971). ðó là thắng lợi to lớn của nhân dân CamPhuChia và cả ba
nước ðông Dương, từ sau chiến dịch phản công ñường 9 – Nam Lào và chiến dịch
phản công vào vùng ðông Bắc Camphuchia. ðánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử,
việc so sánh lực lượng nay có lợi cho sự nghiệp cách mạng Camphuchia.
Ngay sau thất bại của cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của quân ngụy Sài Gòn,
ñến thất bại của cuộc hành quân ChenLa 2 của quân ngụy Lonnon “học thuyết
NichXon” ở ðông Dương và chiến lược “Việt Nam Hóa chiến tranh” của Mỹ ñã phơi
bày những nhân tố thất bại, sự thắng lợi của mùa khô 1971 trên chiến trường ðông
Dương, ñặc biệt là ở ñường 9 – Nam Lào ñã nối thông hành lang chiến lược từ Bắc Xã
Hội Chủ Nghĩa, Trung Lào, ðông Camphuchia với miền ðông Nam Bộ, có ý nghĩa
quan trọng ñối với toàn chiến trường B2. Nhất là mặt trận Tây Ninh, Bình Long trong
chiến dịch Xuân – Hè 1972.
Ta biết rằng với thắng lợi trong hai năm 1970 – 1971 ở ba nước ðông Dương

ñã tạo ra một thế thuận lợi cho kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta ở
Miền Nam. ðịch cho rằng chương trình bình ñịnh nông thôn ñã giành ñược “thắng lợi
quyết ñịnh” và dự ñoán hành ñộng của ta trong năm 1972 cũng chỉ tương tự như năm
1971, nên chúng chỉ thực hiện những yêu cầu về chính trị và ý ñồ chiến lược nhằm
thực hiện mục tiêu của Việt Nam hóa chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước ñể tạo
ñiều kiện thuận lợi cho NichXon tái ứng cử Tổng thống trong năm 1972. ðồng thời ñó
chúng tăng cường quân ngụy trên ñường 13 ñể bảo vệ An Lộc (Bình Long). Ở ðồng
Bằng Sông Cửu Long chúng tăng cường chủ yếu ở biên giới ñể ngăn chặn cuộc tiến
công của chủ lực ta và bịt hành lang trên các hướng An Giang, Kiến Tường,… liên tục
mở các cuộc hành quân lấn chiếm, ñánh phá ñịa hình, căn cứ của ta. ðể phá vỡ thế
chiến lược ñịch với ba trụ cột chính sách Việt Nam Hóa chiến tranh bằng ba quả ñấm
chiến lược:
- Quả ñấm mạnh của quân chủ lực ta, ñánh những trận tiêu diệt lớn, trên các
chiến trường thích hợp và trọng ñiểm, làm tan rã quân chủ lực Sài Gòn.
- Quả ñấm mạnh lực lượng quân sự và chính trị của ta ở ðồng Bằng ñánh bại kế
hoạch của ñịch, giành lại quyền làm chủ ở nông thôn.
- Quả ñấm mạnh ở thành thị: chủ yếu là phong trào ñấu tranh chính trị của quần
chúng làm lung lay ñến tận gốc, tiến lên ñánh ñổ chính quyền trung ương của Việt
Nam Cộng Hòa.
Bên cạnh ñó Bộ chính trị ra nghi quyết mở cuộc tiến công chiến lược 1972 trên
các hướng Miền ðông Nam Bộ, Tây Nguyên, Trị Thiên. Hình thành một cuộc tiến
công toàn Miền Nam ñể tiêu diệt lớn quân ñịch và mở rộng vùng giải phóng.
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 15 -

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước


Vào thời ñiểm cuối tháng 2 – 1972 phòng quân báo Bộ tham mưu báo cáo cho
Bộ Chỉ Huy Miền biết việc ñịch phán ñoán ta ñánh chiếm Bình Long, Phước Long.
Mặc dù ñịch bố trí rất mạnh ở miền ðông Nam Bộ và tăng quân lên biên giới,
một số ñơn vị, ñịa phương chưa thật thuận lợi, Bộ Tư Lệnh miền vẫn kiên quyết ñịnh
thực hiện quyết tâm trên, mở chiến dịch với lực lượng tương ñương cấp quân ñoàn trên
chiến trường miền ðông Nam Bộ lấy tên chiến dịch Nguyễn Huệ. ðể công tác chỉ huy
thuận lợi, Bộ Tư Lệnh miền quyết ñịnh tách một bộ phận cơ quan chỉ huy thành lập
Ban chỉ huy ñoàn 301 quy mô cấp binh ñoàn chiến dịch, tương ñương quân ñoàn tăng
cường. ðể trực tiếp chỉ ñạo chiến dịch Nguyễn Hụê trên hướng chủ yếu Lộc Ninh –
Bình Long, dọc ñường 13.
Bộ Chỉ Huy chiến dịch ñóng tại căn cứ Sóc Tà Thiết và gồm các ñồng chí chỉ
huy trực tiếp: Trần Văn Trà phó tư lệnh Miền làm tư lệnh kim bí thư ðảng ủy, ðồng
Văn Cống – phó tư lệnh, Trần Văn Phác – chính ủy, Lê Ngọc Hiền – tham mưu
trưởng, Bùi Phùng – chủ nhiệm hậu cần. Thường trực tại sở chỉ huy cơ bản của Bộ Tư
Lệnh Miền lúc này còn tư lệnh – Hoàng Văn Thái, Chính ủy – Phạm Hùng, Phó Chính
ủy – Trần ðộ, Tham Mưu trưởng Hoàng Cầm.
ðồng thời ñó ta cũng có sở chỉ huy dự bị ở vùng Lưỡi Câu thuộc huyện MêNốt
tỉnh Công – Pông – Chàm giáp biên giới Cam – Phu – Chia. Tháng 3 – 1972 thì Bộ
chỉ huy ñã chuyển tới ñây chỉ ñạo chiến dịch Nguyễn Huệ.
Chiến dịch Nguyễn Huệ là chiến dịch tiến công trên hướng phối hợp quan trọng
của cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch chủ
yếu là ñường 13, khu vực quyết chiến trên hướng này là Lộc Ninh (ñợt 1), Hớn Quản,
Chơn Thành (ñợt 2). Sau ñó phát triển về hướng Lai Khê hoặc Dầu Tiếng (Bình
Dương). Hướng thứ yếu của chiến dịch là ñường 22, khu vực quyết chiến trên hướng
này là Sa Mát, Trảng Sụp và xung quanh, sau ñó phát triển về hướng lộ 1 và tùy tình
hình sẽ phát triển về ñồng bằng khu 8 hoặc Tây Sài Gòn. Hướng Phối hợp trực tiếp là
Tây Ninh, phân khu 1; 5 và Phước Long, hướng phối hợp quan trọng là Long Khánh,
Biên Hòa phối hợp với chiến dịch tiến công của chủ lực quân khu, và các tỉnh xung
quanh Sài Gòn mở chiến dịch tổng hợp ở ñịa phương mình, nhằm tiêu diệt, tiêu hao và

làm tan rã một bộ phận quan trọng của lực lượng ñịa phương và một bộ phận chủ lực
Ngụy, Mỹ, kìm chân ñịch, tạo ñiều kiện phát triển thuận lợi cho tác chiến chủ lực, phá
rã hầu hết bộ máy kìm kẹp của ñịch, bung dân về vườn ñất cũ sản xuất, lấp lại “vùng
trắng” hình thành nhiều lõm chính trị trong các vùng ven và nội ñô, hình thành 3 vùng
liên hoàn từ phía sau ra phía trước, tạo thế bàn ñạp vững chắc cho chủ lực uy hiếp Sài
Gòn ngày càng mạnh. Dự kiến chiến dịch phát triển thắng lợi ñến mức ñộ 1, ñịch sẽ
tách ra một bộ phận (1 sư ñoàn) về ðồng Bằng Sông Cửu Long ñể hỗ trợ ñánh phá
bình ñịnh.

GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 16 -

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Cách ñánh của chiến dịch là tập trung lực lượng ñốt phá cụm cứ ñiểm Lộc Ninh
ñánh viện và sau ñó lần lượt phát triển theo ñường 13 về các ñô thị phía Nam, vừa diệt
ñiểm vừa ñánh viện (… ,chuẩn bị vũ khí, lương thực, …).
ðể chỉ ñạo, chỉ huy sát chiến trường Bộ Tư Lệnh Miền khẩn trương chuyển căn
cú từ Camphuchia về nước, kể cả các quân khu, phân khu, nhưng vẫn duy trì một bộ
phận lực lượng tiếp tục giúp bạn Camphuchia trong ñiều kiện mới (bắt ñầu xuất hiện
những mâu thuẫn ngấm ngầm ñến gay gắt và cả xung ñột vũ trang). Trong chiến dịch
Nguyễn Huệ ñiểm bắt ñầu nổ súng ở Trị Thiên và Bắc Tây Nguyên. Với chiến dịch
này lần ñầu tiên trong kháng chiến chống Mỹ, chiến trường Nam Bộ tiến hành một
chiến dịch tiến công hiệp ñồng binh chủng quy mô tương ñương cấp quân ñoàn tăng
cừơng trên ñịa bàn rộng gồm 4 tỉnh là Bình Long, Phứơc Long, Tây Ninh và Bình
Dương thuộc hướng Phòng ngự chủ yếu của ñịch ở miền ðông Nam Bộ. Chiến dịch

kéo dài trong nhiều tháng liền.
Từ ngày 1- 4 15 - 5 – 1972 sau một thời gian chuẩn bị tương ñối tốt về các
mặt, lực lượng ta ñã bí mật từ biên giới chuyển về Miền Nam hình thành thế bao vây
thọc sâu chia cắt, chiến dịch tiến công mãnh liệt và liên tục các khu vực phòng ngự của
ñịch trên ñường 22 và 11. Giành thắng lợi ở Sa Mát, ñánh thắng ñịch giòn dã ở trận
then chốt Lộc Ninh. ðập tan tuyến phòng thủ Miền ðông, ñồng thời bao vây tiến công
liên tục, tiêu diệt ñại bộ phận quân ñịch ở thị xã Hớn Quản diệt và ñánh thiệt hại nặng
quân tiếp viện, cắt ñứt hoàn toàn ñường 13. ðây còn là ñiều kiện thuận lợi cho hướng
chủ yếu. Trên hướng chủ yếu ta tập trung lực lượng (chủ yếu là sư ñoàn 5), nhằm ñánh
dứt ñiểm một vị trí tiền tiêu rất quan trọng của ñịch mở thông tuyến biên giới Việt
Nam – Camphuchia. Lần ñầu tiên Bộ Tư Lệnh Miền huy ñộng xe tăng ñột phá tấn
công hỗ trợ cho bộ binh tiêu diệt chi khu Lộc Ninh, giải phóng quận lỵ và các xã quan
trọng, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn.
Trận Lộc Ninh (từ ngày 5 – 4
7 – 4 - 1972) với sự hiệp ñồng binh chủng có
xe tăng ñột phá, ta tiêu diệt hoàn toàn chi khu, ñánh thiệt hại nặng chiến ñoàn 9, một
phần trung ñoàn 1 thiết giáp, diệt và bắt 3000 tên (1.876 tên bị bắt), bắn bị thương ñại
tá chiến ñoàn Nguyễn Công Vĩnh, thu 1.789 súng, 22 máy thông tin, 30 tấn ñạn, phá
hủy 27 xe các loại, 16 khẩu pháo, bắn rơi 24 máy bay.
Qua tình hình cách mạng ngày càng có lợi cho ta, mà ñặc biệt hơn là sau chiến
dịch Nguyễn Huệ vùng giải phóng của ta ñã ñược mở rộng, các căn cứ ñã ñược chuyển
về nước, biên giới ñược mở thông với tình hình này nên Bộ Tư Lệnh của ta từ khu căn
cứ ñịa từ Bà Chiên – Sóc Con Trăng ( Tây Ninh) về Tà Thiết - Lộc Ninh ñể chỉ ñạo sát
hơn.
2.2. Quá trình xây dựng căn cứ ñịa Tà Thiết
Sau chiến dịch Nguyễn Huệ, ñã làm thay ñổi cục diện chiến trường có lợi cho
lực lượng cách mạng cả thế và lực.
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 17 -


SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Lực lượng cách mạng ñã thực hiện ñược mở mảng, mở vùng, giành lại ưu thế
chiến tranh nhân dân mà suốt 3 năm qua chưa thực hiện ñược. Riêng ở Miền ðông,
quân giải phóng ñã ñập tan tuyến phòng thủ biên giới vùng Bắc và Tây Bắc Sài Gòn
và một bộ phận lớn trên vành ñai cao su, khôi phục nhiều vùng giải phóng có dân, tạo
thế ñứng chân vững thuận lợi cho cơ quan ñầu não B2 và các sư ñoàn chủ lực trên
chiến trường Miền ðông.
Cuối năm 1972, với tình hình có lợi cho cách mạng, nhất là sau chiến dịch
Nguyễn Huệ thắng lợi, Lộc Ninh ñã ñược giải phóng. ðể thuận lợi cho việc tiếp nhận
hậu cần theo ñường vận tải chiến lược 559, một bộ phận cục hậu cần chuyển về ñóng
căn cứ tại Cầu Trắng (cách Lộc Tấn 3 km, thuộc Lộc Ninh).
Tuy tình thế cách mạng có lợi cho ta, nhưng tình hình Miền Nam thì ngày càng
xấu ñi. Ngày 17 – 12 – 1973, ðế Quốc Mỹ ñã lật lọng nhiều ñiều thỏa thuận tại hội
nghi Paris, chúng thực hiện cuộc tập kích chiến lược bằng không quân ra Miền Bắc,
chủ yếu là thủ ñô Hà Nội và Hải Phòng. Trong khi ñó ở Miền Nam, chúng mở một
cuộc tiến công ồ ạt vùng căn cứ Bộ Chỉ Huy Miền B2 bằng máy bay B52. Bom ñã
trúng nhiều nơi xung quanh Bộ Chỉ Huy Miền, tập trung là phòng tuyên huấn, phòng
binh ñịch Ngụy vận, ñoàn văn công cục chính trị Miền, 15 cán bộ chiến sĩ ñã huy sinh.
Trận tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ ra Miền Bắc, dẫn tới chiến thắng
“ðiện biên phủ trên không”, một chiến công hiển hách mới trong lịch sử dân tộc ta.
Thất bại lớn ở Miền Bắc và tình hình ngày càng xầu ñối với ñịch trên chiến trường
Miền Nam, buộc ðế Quốc Mỹ phải chấp nhận những nội dung cơ bản của bản dự thảo
hiệp ñịnh ngày 20 – 10 – 1972 mà chúng ñịnh lật lọng.
Ngày 27 – 1 – 1973, hiệp ñịnh Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở
Việt Nam ñược ký kết và bắt ñầu có hiệu lực từ 9h ngày 28 – 1 – 1973.

Với hiệp ñịnh Paris, cuộc chiến tranh bắt ñầu chuyển sang một bước ngoặt mới
có lợi cho cách mạng, tình hình mới ñặt ra yêu cầu mới về căn cứ ñầu não B2, trong ñó
có căn cứ Bộ Chỉ Huy Miền. ðể chuẩn bị cho thời cơ mới, các cơ quan chỉ huy và lực
lựơng vũ trang, từ chủ lực ñến bộ ñội ñịa phương và du kích, phải ñứng vững trên ñịa
bàn của mình.
Ngay sau khi hiệp ñịnh Paris ñược ký kết, Trung ương cục và Bộ Chủ Huy
Miền ñã có cuộc họp với thảo luận về việc di chuyển căn cứ cho phù hợp với tình hình
mới này. Ở vùng căn cứ Miền ðông, lực lượng cách mạng ñã giải phóng hoàn toàn 3
huyện của Bình Phước (tỉnh Phước Long cũ là Bù Gia Mập; tỉnh Bình Long cũ là Lộc
Ninh, Bù ðốp), và một huyện ở Tây Ninh (Tân Biên), làm chủ phần lớn huyện Dương
Minh Châu và Châu Thành. Một vùng rộng lớn giáp biên giới Việt Nam –
Camphuchia thuộc Miền ðông Nam Bộ ñược giải phóng là một thuận lời lớn cho việc
xây dựng căn cứ. Trung ương cục quyết ñịnh trở lại căn cứ Chàng Riệc (Bắc Tây
Ninh), còn quân ủy và Bộ Chỉ Huy Miền thì về sóc Tà Thiết, nơi Bộ chỉ huy chiến
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 18 -

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

dịch Nguyễn Huệ, cơ quan tiền Phương của Bfộ Chỉ Huy Miền, ñã ñặt trụ sơ chỉ huy
từ giữa năm 1972.
Việc chọn Tà Thiết làm căn cứ Bộ Chỉ Huy Miền, có lý do vừa giống, vừa khác
những căn cứ thời trước:
+ Giống: vì Tà Thiết vẫn thuộc khu B, có những lợi thế của khu B.
+ Khác: vì Tà Thiết tiến sát ñoạn cuối ñường mòn Hồ Chí Minh hơn, thuận lợi
cho việc tiếp nhận những tiếp tế hậu cần, chiến lược và liên lạc ra Bắc.

So với vùng Bắc Tây Ninh, khí hậu của Tà Thiết cũng có phần ít khắc nghiệt
hơn. Một thuận lợi nữa, cuộc hội nghi 3 ngày (4
7 – 3 – 1973) của Trung ương cục
với tỉnh ủy Bình Phước Long, ñã nhất trí trước mắt tập trung lực xây dựng căn cứ ñịa
Bình Phứơc; trên cơ sở 3 huyện giải phóng, trong ñó có Lộc Ninh là trọng ñiểm, sẽ trở
thành “thủ phủ” của chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, nơi tiếp ñón
làm việc với phái ñoàn thuộc ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát, phái ñoàn liên hiệp
quân sự 4 bên. Căn cứ Tà Thiết có thế rừng giải phóng rộng lớn, ñồng thời có ñiều
kiện ñể nắm bắt nhanh mọi sự biến cố về chính trị, quân sự.
Việc chọn Tà Thiết cũng gây bất ngờ ñối với ñịch, vì lâu nay căn cứ của Bộ Chỉ
Huy Miền thường ñóng ở rừng sâu, nay chuyển ra ở một khu vực có dân, có rẫy (tuy
không nhiều). Cuối tháng 1 năm 1973, các ñơn vị công binh cầu ñường của Miền bắt
ñầu mở các con ñường mới cho 3 cục tham mưu, chính trị và hậu cần (Bộ Chỉ Huy
Miền) di chuyển về căn cứ Tà Thiết. Ngày 8 – 2 – 1973 các con ñường trên ñã ñược
hoàn tất.
Cùng thời gian các ñơn vị công binh làm ñường, các ñơn vị công binh công
trình ñã sửa chữa nâng cấp sở chỉ huy chiến dịch Nguyễn Huệ làm từ giữa năm 1972;
ñồng thời xây thêm một số hầm , hào cơ bản khác, ñể ñón Bộ Chỉ Huy Miền về. Các
công trình ở ñầy hầu hết ñều xây dựng theo kiểu nữa chìm nữa nổi. Các nhà ở, nhà
làm việc và hầm ngủ ñều thông với nhau. Các hội trường ñều âm xuống ñất một nữa,
các hào giao thông tỏa ra các hầm tránh bom.
Các tiểu ñoàn 42 và 40 thông tin Miền ñược giao nhiệm vụ xây dựng các chốt
trạm và tổ chức các bộ phận dẫn ñường cho các cơ quan, ñơn vị di chuyển. Các tiểu
ñoàn 38 và 44 tiếp tục ñảm trách toàn bộ công tác thông tin liên lạc từ sơ chỉ huy. Sau
khi các cơ quan, ñơn vị của Bộ Chỉ Huy hoàn tất chuyển di, các ñơn vị thông tin này
mới di chuyển về sau cùng.
Tháng 2 – 1973, ñại bộ phận cơ quan Bộ Chỉ Huy Miền bắt ñầu hành quân về
căn cứ Tà Thiết. Chỉ ñể lại một bộ phận ở Căn cứ cũ ñể bảo ñảm sự chỉ huy liên tục
với chiến trường.
Lúc này quân ủy và Bộ Chỉ Huy Miền có các ñồng chí: Phạm Hùng - Bí thư

Quân ủy; Trần ðộ - phó Bí thư; Tư lệnh - Hoàng Văn Thái (ñang công tác ở ðồng
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 19 -

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Bằng Sông Cửu Long); Phó Tư lệnh - Lê ðức Anh, Nguyễn Thị ðịnh, ðồng Văn
Cống và Nguyễn Hữu Xuyến; Tham mưu trưởng - Dương Minh Châu; Cục trưởng
cục hậu cần – Bùi Phùng; Cục trưởng cục chính trị - Trần Văn Phác. ðồng chí Trần
Văn Trà ñược cử làm trưởng phái ñoàn quân sự chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền
Nam Việt Nam tại ban liên hiệp quân sự 4 bên.
Theo phương thức như những năm trước, công binh ñảm trách xây dựng các
hạng mục công trình cơ bản, còn lại các ñại ñội của tiểu ñoàn bảo vệ 180 và cán bộ ,
chiến sĩ các phòng, ban, trường ñào tạo bệnh xá … tự xây dựng nơi ăn, ở của mình,
nên một căn cứ ñầu não lớn giữa rừng ñã nhanh chóng hình thành. Cuối quý 1 năm
1973 tất cả các trong Bộ Chỉ Huy Miền và các ñơn vị trực thuộc ñã ổn ñịnh xong nơi
ăn, ở của mình.
Những tháng ñầu năm 1973, mặc dù hiệp ñinh Paris về chấm dứt chiến tranh,
lập lại hòa bình ñã có hiệu lực, nhưng chính quyền Thiệu vẫn liên tục xua quân Ngụy
tấn công lấn chiếm vùng giải phóng. Có nơi, có lúc, mật ñộ bom, ñạn, phi pháo còn ác
liệt hơn cả năm 1972. Huyện Lộc Ninh tuy “thủ phủ ” của Chính phủ lâm thời Cộng
Hòa Miền Nam Việt Nam, nơi thường xuyên ñón tiếp các phái ñoàn Ba Lan, Hung –
ga – ri, Inñô – nê – xia, Ca – na – ña, trong ủy ban quốc tế, nơi ñặt trụ sở Ban liên hiệp
4 bên, vậy mà riêng năm 1973 cũng ñã bị 2 lần quân Ngụy ném bom (tháng 3 và tháng
5 năm 1973). ðặc biệt trận ném bom ngày 12 – 5 – 1973 ñã dội thẳng xuống thị trấn
Lộc Ninh, Chợ Lộc Tấn phá hủy nhiều nhà cửa, trong ñó có cả nhà tiếp ñón khách, sát

hại nhiều dân thường.
Như vậy, chiến tranh vẫn tiếp tục ác liệt, không nơi nào ñược coi là an toàn dù
chiến trường chỉ còn quân Ngụy, cũng chưa loại trừ khả năng quân Mỹ trở lại, tuy khả
năng ñó là ít. ðồng thời ñó, việc viện trợ phải rút toàn bộ quân chiến ñấu, thượng viện
và hạ viện Mỹ cắt giảm ngân sách viện trợ cho Ngụy quyền, quân ngụy bị căng kéo
trên toàn chiến trường; khả năng tấn công và lùng sục sâu vào vùng giải phóng của
chúng bị giảm sút.
Như vậy, căn cứ ñịa Tà Thiết cần phải giữ những yếu tố bí mật và kiên cố như
những năm kháng chiến ác liệt; ñồng thời ñó có thể lợi dụng sự suy giảm khả năng tấn
công bằng bộ binh của ñịch ñể tạo thuận lợi hơn trong sinh hoạt và làm việc. Vì thế mà
căn cứ Tà Thiết ñã ñược xây dựng theo hướng ñó, toàn bộ căn cứ nằm ở phía bắc
ñường 17. ðây là một ñường nhỏ từ ngã ba ðồng Tâm trên ñường 13 nối sang Tà Vét
(giáp biên giới Việt Nam – Cam phuchia), ở ñó có ñường be nối sang Trung ương cục.
Căn cứ Bộ Chỉ Huy Miền ñược chia làm hai khu vực: vòng trong và vòng ngoài.
Vòng trong gồm Bộ Tư Lệnh, một số nhà khách ñể ñón tiếp các ñồng chí lãnh
ñạo Trung ương cục sang làm việc và các cơ quan chủ yếu của Bộ Tham Mưu (văn
phòng tác chiến, quân báo, tổ chức ñộng viên). Cục chính trị, cơ quan chủ nhiệm hậu
cần, khu vực này tập trung dọc theo hai phía Tây và ðông suối Khơlay, ở xung quanh
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 20 -

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

sóc Tà Thiết. Từ khi Bộ Chỉ Huy Miền về ñóng ở ñây, nhân dân gọi khu vực này là
“rừng chính phủ”. Cách gọi ñó chứng tỏ nhân dân hiểu rõ ñây là căn cứ ñầu não quan
trọng, nhưng không ai ñể lộ bí mật.

Vòng ngoài của căn cứ dịch về hai xã Lộc Thành – Lộc Tấn, gồm có các bộ
phận xung quanh Bộ Chỉ Huy, Bộ Tham Mưu, Cục chính trị, Cục hậu cần (riêng cục
hậu cần ñóng ở Cầu Trắng, gần Ngã ba Lộc Tấn). Nhiều cơ quan khác trực thuộc các
cục như các trường huấn luyện, bệnh viện, thông tin, … ở rải rác xung quanh và xa
hơn.
Nhà ở trong căn cứ ñược xây cất quây quần thành từng khu vực, ở mỗi khu vực,
các nhà cách nhau không quá xa như trước, chỉ từ 50m ñến 200m. Hầu hết các nhà ñều
làm nữa chìm nữa nổi, phần lớn ñược bố trí gần bìa các trảng ñể thoáng. Riêng nhà của
Tư Lệnh Trần Văn Trà thì ñược xây dựng thành nhà sàn, nằm ra giữa trảng trống,
trông giống như tất cả các nhà dân xung quanh. ðể ngụy trang và ñể lấy bong mát,
anh, em bảo vệ trồng thêm xung quanh nhà nhiều cây ăn trái: Bưởi, Cam, Quýt
…Dưới chân nhà sàn, cạnh suối Khơlay trong vắt chảy qua anh, em ñào một cái ao
nuôi cá. ðối với Tư lệnh Trần Văn Trà ngôi nhà sàn này là nơi thoải mái hơn cả trong
những năm tháng dài sống ở các căn cứ.
Trong các loại nhà, hội trường Miền ñược xây dựng biệt lập, xa căn cứ, vì ñây
là nơi hội họp với cán bộ, chiến sĩ từ nhiều ñịa phương về, dễ bị lộ bí mật.
Tùy với mỗi loại nhà, công binh trực tiếp xây dựng hoặc hướng dẫn xây dựng
các loại hầm, hào thích hợp ñi kèm. Ví như nhà của Tư lệnh hoặc của các cán bộ cao
cấp nhất của Bộ Chỉ Huy Miền và Trung ương cục, thì cạnh nhà thường có hai hầm kề
nhau, một hầm mái bằng ñể làm việc, khi tình hình ác liệt, có thể nghỉ ngơi ngay tại
ñây và một hầm chữ A thấp hơn ñể trú ẩn, tiếp theo là một giao thông hào nối ra ngoài,
các nhà dùng ñể hội họp như nhà giao ban và hội trường thì hầu như bốn phía ñều có
giao thông hào chạy ra các hầm chữ A, hình chữ chi. Nhà của các phòng ban thuộc 3
cục thường mỗi nhà ñi kèm một hầm trú ẩn chữ A và giao thông hào. Riêng quân y và
thông tin, do nhu cầu một diện tích rộng ñể hoạt ñộng, nên vẫn sử dụng hầm mái bằng.
Tuy số lượng máy bay do thám trên không gảm hẳn sau khi Mỹ rút, nhưng các ñơn vị
thông tin vẫn chấp hành nghiêm quy tắc bảo mật: sau khi làm việc xong, các lọai máy
ñều phải ñem vào các hầm bảo vệ. Hầm chứa máy và nơi hoạt ñộng của thông tin cũng
phải ñặt cách xa Ăng – ten hàng km ñể ñánh lạc hướng dò tìm của ñịch. Dù xây dựng
trong rừng hay ngoài trảng trống, nhà và hầm ñều nép mình dưới bóng cây, ñặc biệt

dưới các bụi le ñan cài, chằng chịt, máy bay ñịch khó phát hiện.
Khi ở căn cứ Bà Chiên – Sóc Con Trăng, ñể vào ñược khu vực vòng trong chỉ
có một con ñường ñộc ñạo. Nay các cục vòng ngoài ñều có các con ñường cắt rừng
vào trung tâm. Một số con ñường vẫn là ñường mòn, chỉ rộng vừa ñủ một chiếc xe
honña chạy, hai bên ñường ñào nhiều hố trú ẩn cá nhân và các hầm chữ L ñể che giấu,
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 21 -

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

bảo vệ thương binh nếu bất ngờ bị oanh tạc, một số ñường khác, ñược công binh sửa
chữa và mở rộng thành ñường lớn, xe tải có thể chạy ñược, ñể thuận tiện cho việc
chuyên chở, di chuyển các vật tư, thiết bị, hàng hóa ra vào căn cứ. ðó là các ñường Tà
Thiết ñi Khe ðồn, ñường 17 nam căn cứ, ñường 14 từ Bù ðốp ñi ngã ba Lộc Tấn,
ñường 13 ñoạn Lộc Tấn ñi ngã Ba Nghì,…
Tuy là ta ñã ký kết hiệp ñịnh Paris ngày 27 – 1 – 1973, nhưng Mỹ, Ngụy vẫn
tìm mọi cách phá hoại. Cho dù thế nhưng căn cứ ñia Tà Thiết vẫn ñược xây dựng trong
tình hình ñó, nên các lực lượng quân ta vừa bảo vệ vùng căn cứ, vừa bảo vệ hai huyện
mới ñược giải phóng là Lộc Ninh và Bù ðốp, ñồng thời ñó phải ñảm bảo việc xây
dựng căn cứ phải hoàn tất trong năm 1973.
2.3. Căn cứ ñịa Tà Thiết trong những năm cuối của cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước
Từ khi Bộ Tư Lệnh chuyển từ căn cứ Bà Chiêm – Sóc Con Trăng về Tà Thiết,
thì nhiệm vụ của lực lượng bấy giờ là phải vừa xây dựng căn cứ, vừa phải ñối phó với
việc phá hoại Hiệp ñịnh Paris của ñịch. ðồng thời ñó vừa phải xây dựng lực lượng,
tích trữ lương thực chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa và nổi dậy mùa xuân 1975.

Ta biết rằng sau khi Hiệp ñịnh Paris ñược ký kết ñầu năm 1973, vấn ñề kết thúc
chiến tranh ñược tính ñến, có thể kết thúc chiến tranh bằng con ñường ñấu tranh hòa
bình, cũng có thể kết thúc bằng bạo lực vũ trang, nhưng bất luận theo con ñường nào
thì cũng phải quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, lực lượng cách mạng muốn
chiến thắng ñược ñến cần phải có thế và có lực.
Giữa năm 1973, sau khi rời chức trưởng phái ñoàn quân sự Chính phủ cách
mạng lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, ñồng chí Trần Văn Trà trở lại căn cứ
ñịa Tà Thiết tiếp tục công việc ở Bộ Chỉ Huy, sau ñó làm tư lệnh Miền thay cho ñồng
chí Hoàng Văn Thái ra Hà Nội.
Một trong những vấn ñề hàng ñầu trong xây dựng thế và lực của cách mạng, là
vấn ñề phải xây dựng vững chắc vùng giải phóng nói chung và các căn cứ nói riêng,
xây dựng vững mạnh cả về mặt quân sự, chính trị, văn hóa, xã hội.
Ở giai ñoạn này thì cách mạng Miền Nam cũng ñã tích trữ lương thực bằng
cách thu mua lương thực của dân trong nước và của Cam – Phu – Chia, nhằm cứu trợ
cho hơn 30.000 việt kiều ở Cam – Phu – Chia về và cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân ñủ
ăn. Vì hầu hết cơ sở vật chất của Cục hậu cần ñều còn nằm ở căn cứ cũ chưa chuyển
về kịp. Việc thu mua lương thực với Cam – Phu – Chia gặp nhiều khó khăn, vì lúc này
tập ñoàn Pôn Pốt – Yêng-xa-ry ñang nắm quyền ở ñây.
Từ cuối 1972, khi chuyển về Lộc Ninh, Cục hậu cần ñã chủ trương chuyển
hướng thu mua về Miền Nam, ñặc biệt là ở ðồng bằng Sông Cửu Long. Song do
những tháng ñầu năm 1873 quân Ngụy dốc toàn lực ra tấn công lấn chiếm vùng giải
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 22 -

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước


phóng, bao vây phong tỏa kinh tế cách mạng nên việc thu mua hậu cần bị giảm sút.
Căn cứ và vùng giải phóng ñều ñứng trước khó khăn lớn: Thiếu lương ăn. Ngày 30 – 4
và 1 – 5 – 1973, thường vụ ðảng ủy họp, xác ñịnh nhiệm vụ trọng tâm cấp thiết của
Hậu cần miền là phải tạo ñược nguồn lương thực, ñể thực hiện ñược ñiều này có 3 biện
pháp: Tiếp tục thương lượng thu mua ở Cam – Phu – Chia, mở rộng thu mua ở Việt
Nam và tăng cường sản xuất tự túc lương thực, thực phẩm. Ở căn cứ Bộ Chỉ Huy Miền
tất cả các cục, phòng, ban và các ñơn vị ñều tham gia khai phá ñất hoang trồng cây
lương thực, rau xanh, chăn nuôi. Cán bộ chiến sĩ Cục Hậu Cần Miền miệng nói tay
làm ñi ñầu làm gương, từ tháng 5 – 1973 ñều lao vào công tác thu mua, sản xuất sôi
nổi như bước vào một chiến dịch lớn. Ở vùng giải phóng Lộc Ninh – Bù ðốp, bộ ñội
ñịa phương tích cực tháo gỡ bom, mìn, giải phóng ñất, giúp dân khai hoang mở ñất,…
Cấp ủy, ủy ban nhân dân hai huyện cung cấp cho nhân dân giống khoai, mì, hạt bắp,…
Trung ương cục gởi tặng nhân dân 1.000 tấn, gạo, muối, thuốc men. Cán bộ các cơ
quan, ban nghành, bộ ñội và nhân dân ñều tham gia lao ñộng trong các “tổ ñoàn kết
sản xuất”. Công nhân cao su Lộc Ninh xưa nay chỉ quen việc trồng và cạo mủ, lương
thực do chủ ñồn ñiền cung cấp hàng tháng, nay cũng thay ñổi tập quán, tích cực tham
gia sản xuất tự túc lương thực. Trên vùng ñất mới trãi qua chiến sự ác liệt, bom ñạn
ñịch còn vung vãi khắp nơi, làm ra hạt bắp, củ khoai ñôi khi phải bằng máu, nhưng
không có gì ngăn trở ñược mọi người quyết tâm làm ra nhiều lương thực xây dựng
vùng giải phóng.
ðến tháng 3 năm 1973, công tác tạo nguồn lương thực của Hậu Cần Miền ñã
ñạt ñược những kết quả bước ñầu. Chỉ tính riêng trong quý, tỉ lệ thu mua lương thực
trong nước chiếm tới 80% khối lượng hàng, với 8.003 tấn lương thực, 365 tấn muối.
Diện tích ñược khai hoang phục hóa tăng trước 1.630 ha. ðến quý IV 1973 sản lượng
thu mua thóc gạo, xăng dầu tiếp tục tăng gấp ñôi quý III, …Tình trạng thiếu thốn
lương thực ở căn cứ và vùng giải phóng dần dần bị ñẩy lùi. Không những thế hậu cần
Miền còn tích trữ ñủ lương thực cần thiết cho các hoạt ñộng theo yêu cầu của Bộ Chỉ
Huy Miền.
Tuy ñạt ñược những kết quả ñó, nhưng việc thu mua trong giai ñoạn này còn có
những khó khăn. ðể ñạt ñược yêu cầu trên, miền Bắc chuyển vào theo ñường 559

những khối lượng vật chất lớn, chỉ tính từ tháng 1 ñến tháng 9 năm 1973 khôi lượng
hàng ñã gấp 4 lần năm 1972. Dự kiến trong năm 1974 khối lượng hàng chuyển vào
còn lớn hơn. Việc phải tiếp thu, bảo quản và sử dụng khối lượng hàng khổng lồ này,
cộng với công tác xây dựng cơ bản ñang tăng nhanh, ñòi hỏi Bộ Chỉ Huy Miền phải có
sự ñổi mới về tổ chức. Liên tục trong hai tháng 8 và 9 năm 1973. Bộ Chỉ Huy Miền ñã
ra quyết ñịnh về việc thành lập hai phòng mới trực thuộc Cục Hậu Cần: Phòng quản lý
xăng xe và Phòng kiến thiết cơ bản. Các ñoàn hậu cần khu vực cũng ñược ñiều chỉnh
và bố trí lại, sắp xếp thành 9 ñoàn hậu cần (200, 210, 220, 235, 340, 500, 770, 814) và
một trung ñoàn vận tải ô tô. Binh chủng công binh ñược thành lập thêm 2 tiểu ñoàn
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 23 -

SVTH: Nông Thị Hoa


Tìm hiểu Căn cứ ñịa Tà Thiết (LN – BP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

công binh công trình ( tiểu ñoàn 743 và tiểu ñoàn 745). Tháng 11 năm 1973, ñể công
binh và hậu cần có thể kết hợp chặt chẽ trong công tác xây dựng cơ bản căn cứ. Bộ chỉ
huy miền chuyển giao các ñơn vị công binh công trình 743 và B5/315 sang trực thuộc
Cục Hậu Cần. Không chỉ có công binh công trình, các tiểu ñoàn công binh cầu ñừơng
(276, 278, 739) cũng kết hợp chặt chẽ với hậu cần, xây dựng mạng ñường giao thông
vận tải trong khu vực căn cứ, có trục dường dọc, ñường ngang, bảo ñảm nối liền từ
phía sau ra phía trước, ñi xuống các quân khu và vùng ven. ðặc biệt cuối năm 1973, ñã
củng cố và mở rộng ba tuyến hành lang vận chuyển chủ yếu, vừa ñảm bảo thế trận hậu
cần, vừa ñảm bảo khả năng vươn xa ra các chiến trường từ căn cứ ñầu não. ðó là các
tuyến vận chuyển dọc ñịa bàn phía ñông từ Lộc Ninh, Bù ðốp xuống ñoàn Hậu Cần
814 (ñông, ñông nam Sài Gòn) nối với Quân khu 6, Quân khu 7, tuyến ñường vận
chuyển phía tây từ Lộc Ninh qua ñoàn hậu cần 220, 230 ( Bắc và tây nam Sài Gòn)

xuống Quân khu 8, Quân khu 9, tuyến ñường vận chuyển phía bắc từ Lộc Ninh và
ñoàn hậu cần 235 (bắc và tây bắc Sài Gòn) tới vùng ven Sài Gòn.
Việc thu mua và tích trữ lương thực là thế, bên cạnh ñó cách mạng Miền Nam
còn phải lo ñối phó với sự phá hoại Hiệp ñịnh Paris và việc tái chiếm các vùng giải
phóng mà ta ñã lấy ñược trong chiến dịch Nguyễn Huệ.
Việc phá hoại ấy thể hiện rõ là trong năm 1973, Ban liên hiệp 4 bên ñã 2 lần bị
Ngụy ném bom ( tháng 2 và tháng 5 – 1973), ðặc biệt là trận ném bom ngày 12 – 5 –
1973 ñã dội thẳng xuống thị trấn Lộc Ninh, chợ Lộc Tấn, Phá hủy nhiều nhà cửa,
trong ñó có nhà tiếp ñón khách, sát hại nhiều dân thường …
Và âm mưu tái chiếm lại Lộc Ninh:
Trong mùa khô 1973 – 1974, tin tức tình báo chuyển về: Quân ñoàn 3 Ngụy
ñang chuẩn bị kế hoạch tái chiếm Lộc Ninh. Bộ Chỉ Huy Miền phân tích tình hình,
nhận ñịnh: trong thời kỳ “chiến tranh cục bộ”, ngoài lực lượng Ngụy, quân Mỹ ñã sử
dụng 3 sư ñoàn: Sư ñoàn bộ binh 1 “Anh Cả ðỏ”, sư ñoàn 25 “Tia Chớp Nhiệt ðới”
và sư ñoàn “Kỵ Binh Bay” số 1 cũng không tiêu diệt ñược căn cứ Miền. Nay ñể ñánh
chiếm Lộc Ninh, quân Ngụy không dám chỉ dùng sư ñoàn 5, mà phải có sự tham gia
của các sư ñoàn 18, 25, các ñơn vị biệt ñộng quân và dù của quân ñoàn 3. Nhưng các
sư ñoàn này ñều ñang lo phòng thủ Sài Gòn, lo củng cố các tuyến ngăn chặn. ðặc biệt
sư ñoàn 5 phụ trách hướng quan trọng Bắc Sài Gòn, ñối diện với quân chủ lực và vùng
giải phóng lớn của cách mạng, nên càng khó tự do hành ñộng. ðịch có thể ñiều quân ở
các vùng chiến thuật I, II, IV về, nhưng sẽ rất khó khăn hoặc không tập trung ñược
nhiều, vì toàn bộ quân Ngụy ñều phải căng ra ñể thực hiện chiến thuật sống còn của
Thiệu “không ñể mất một xã, ấp nào”.
Trên cơ sở phân tích tình hình như vậy, Bộ Chỉ Huy Miền chủ trương: Không
rút sư ñoàn chủ lực nào về giữ Lộc Ninh, mà ngược lại, tăng cường các hoạt ñộng
quân sự trên toàn chiến trường, ñưa lực lượng ngày càng áp sát Sài Gòn, buộc ñịch
GVHD: Th.S Khoa Năng Lập

- 24 -


SVTH: Nông Thị Hoa


×