Tải bản đầy đủ (.pdf) (189 trang)

mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng việt nam thời kỳ 1945 – 1975

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.14 MB, 189 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Hồng

MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT
TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
THỜI KỲ 1945 – 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Hồng

MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT
TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
THỜI KỲ 1945 – 1975
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 03 13

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ VĂN ĐẠT

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014



LỜI CAM ĐOAN

Đề tài Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam thời kỳ
1945 - 1975 là công trình nghiên cứu và biên soạn của riêng tôi trong thời gian theo
học lớp Cao học khóa 23, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam tại Trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung đề tài trước Hội đồng bảo vệ luận văn.

Tác giả

Lê Thị Hồng


LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn Khoa Lịch sử và Phòng Sau Đại học Trường Đại
học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá
trình học tập tại trường.
Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ts. Lê Văn Đạt, Thầy đã nhiệt tình giúp
đỡ em trong quá trình tìm tài liệu và làm luận văn.


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1

Chương 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ CÁC HÌNH THỨC MẶT TRẬN
DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG CÁCH MẠNG VIỆT
NAM........................................................................................................ 7
1.1. Cơ sở lý luận ..................................................................................................... 7
1.2. Bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và những
tiền đề, điều kiện cho sự ra đời của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt
Nam ................................................................................................................ 18
1.3. Các hình thức tổ chức Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cách mạng
Việt Nam ........................................................................................................ 21
Tiểu kết chương 1...................................................................................................... 28
Chương 2. MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG KHÁNG
CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 1954) ...................................................................................................... 30
2.1. Mặt trận Dân tộc thống nhất trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chính
quyền nhân dân (9/1945 – 12/1946)............................................................... 30
2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử và nhu cầu, chủ trương mở rộng Mặt trận đoàn
kết dân tộc ................................................................................................ 30
2.1.2. Mặt trận Việt Minh và Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam góp phần
xây dựng và bảo vệ chính quyền ............................................................. 36
2.2. Mặt trận Dân tộc thống nhất thực hiện nhiệm vụ của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược (12-1946 đến 7-1954) .................................. 49
2.2.1. Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp và yêu cầu mở rộng


Mặt trận Dân tộc Thống nhất ................................................................... 49
2.2.2. Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt góp phần giành thắng lợi bước
đầu của cuộc kháng chiến (1946 - 1950) ................................................. 52
2.2.3. Mặt trận Liên Việt góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi
hoàn toàn (1951 - 1954)........................................................................... 59
Tiếu kết chương 2...................................................................................................... 69
Chương 3. MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG KHÁNG

CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954 - 1975) ........................... 71
3.1. Bối cảnh tình hình và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam sau Hiệp định
Giơnevơ 1954 ................................................................................................. 71
3.2. Mặt trận Dân tộc thống nhất thực hiện nhiệm vụ của cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước....................................................................................... 73
3.2.1. Mặt trận Liên Việt hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình ....................... 73
3.2.2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây
dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh thống nhất nước
nhà ........................................................................................................... 76
3.2.3. Mặt trận Dân tộc thống nhất miền Nam với sự nghiệp chống Mỹ,
cứu nước (1960 - 1975) ........................................................................... 96
Tiểu kết chương 3.................................................................................................... 140
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 151


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

- MTDTTN

: Mặt trận Dân tộc Thống nhất

- HLHQDVN

: Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam

- MTTQVN

: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam


- MTDTGPMNVN

: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt
Nam

- CPCMLTCHMNVN

: Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam

- VNDCCH

: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

- LMCLLDTDC&HBVN

: Liên minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và
Hòa bình Việt Nam

- Nxb

: Nhà xuất bản


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trải qua lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã đúc
kết được nhiều truyền thống quý báu. Trong đó, đoàn kết đã trở thành một trong

những truyền thống nổi bật nhất; là cội nguồn sức mạnh to lớn, đảm bảo cho dân tộc
tồn tại và phát triển, xây dựng đất nước, chống chọi với thiên tai, địch họa, chiến
thắng thù trong giặc ngoài, giữ vững non sông đất nước.
Phát huy truyền thống vẻ vang đó, ngay từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt
Nam - trung thành với lợi ích dân tộc đã tập hợp, đoàn kết toàn dân trong MTDTTN
mà hình thức đầu tiên là Hội phản đế đồng minh. Kể từ đó đến nay, trong lịch sử
cách mạng Việt Nam, không có thời kỳ nào vắng tổ chức Mặt trận. Thắng lợi vĩ đại
của cách mạng tháng Tám năm 1945 gắn liền với sự nghiệp của các tổ chức Mặt
trận thời kỳ này, đặc biệt là Mặt trận Việt Minh.
Trên cơ sở phát huy vai trò đó, cùng với những bài học kinh nghiệm được rút
ra trong quá trình xây dựng và phát triển công tác Mặt trận trong giai đoạn trước,
MTDTTN trong thời kỳ 1945 - 1975 đã có những đóng góp vô cùng to lớn để đưa
đến thắng lợi của hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta: kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
(1954 - 1975).
Lịch sử Việt Nam có lẽ hiếm có thời kỳ nào chứa đựng nhiều biến động,
thăng trầm như thời kỳ 1945 - 1975. Cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp chưa
kết thúc, đế quốc Mỹ đã lăm le nhảy vào. Chưa bao giờ dân tộc Việt Nam lại phải
đối đầu với những kẻ thù mạnh đến vậy. Song cuối cùng, thắng lợi đã thuộc về nhân
dân Việt Nam. Nguyên nhân của những kỳ tích ấy thì có rất nhiều, nhưng nổi bật là
vai trò của MTDTTN. MTDTTN đã có vai trò lịch sử quan trọng, là một nhân tố
quyết định làm nên thắng lợi của dân tộc ta. Vì vậy, để có thể hiểu một cách sâu sắc
về lịch sử Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975 không thể không tìm hiểu về MTDTTN.
Những hoạt động của MTDTTN, trực tiếp hay gián tiếp, đều có chi phối quan trọng
đến tiến trình của lịch sử Việt Nam thời kỳ này.


2

Mặt khác, vấn đề MTDTTN cũng là đối tượng của không chỉ khoa học lịch

sử mà còn đối với lĩnh vực chính trị. Những bài học về tập hợp lực lượng quần
chúng, về cách phối hợp hoạt động để phát huy sức mạnh của toàn thể dân tộc mãi
mãi là những bài học quý giá và luôn mang tính thời sự nóng bỏng. Nghiên cứu về
MTDTTN, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm để phục vụ cho công tác xây dựng
và bảo vệ đất nước trong giai đoạn hiện nay là việc làm cần thiết.
Hơn thế nữa, MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời kỳ này, tự nó cũng
là một đối tượng nghiên cứu rất quan trọng trong mảng đề tài nghiên cứu về lịch sử
Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975 nói chung. Bản thân việc nghiên cứu đề tài này cũng
không nằm ngoài mục đích hiểu rõ, hiểu sâu thêm về vấn đề MTDTTN trong lịch sử
Việt Nam, để từ đó có thể hoàn thiện thêm về tri thức lịch sử Việt Nam 1945 1975.
Riêng đối với công tác giảng dạy, hiện nay quá trình dạy học bộ môn Lịch sử
Việt Nam ở các trường phổ thông nói chung và môn Đường lối cách mạng của
Đảng Cộng sản Việt Nam ở các trường Cao đẳng và Đại học nói riêng còn thiếu sự
toàn diện. Đó là, thường xem nhẹ các lĩnh vực kinh tế - xã hội, các tổ chức chính trị
- xã hội trong đó có vấn đề MTDTTN, mà chủ yếu chú trọng lĩnh vực chính trị quân sự. Vì vậy, nắm vững và truyền đạt được những kiến thức về MTDTTN cho
người học sẽ góp phần giúp giáo viên giảng dạy đạt kết quả tốt hơn. Do đó, khi
nghiên cứu về MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975, tôi cũng
mong muốn góp một phần nhỏ trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn Lịch
sử Việt Nam cũng như môn Đường lối cách mạng Việt Nam hiện nay theo hướng
toàn diện hơn.
Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Mặt trận Dân tộc thống
nhất trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975” làm đề tài luận văn thạc sỹ
lịch sử của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về vấn đề MTDTTN trong lịch sử Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975
không phải là một đề tài nghiên cứu mới, các nhà nghiên cứu lịch sử đã đề cập khá
nhiều đến mảng đề tài này, trực tiếp cũng như gián tiếp. Tuy nhiên, một công trình


3


chuyên sâu và đầy đủ về vấn đề này, cho đến nay vẫn chưa được xuất bản.
Các công trình mang tính chất đại cương như Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến
nay, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2000; Đại cương lịch sử Việt
Nam, tập 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội của các tác giả Lê Mậu Hãn (chủ biên), Trần Bá
Đệ, Nguyễn Văn Thư, xuất bản năm 2003; Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập: từ
nguyên thủy đến 2000 của Trương Hữu Quýnh và những tác giả khác, xuất bản năm
2003…đều trình bày những nét lớn của lịch sử Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975 nói
chung. Các công trình này, đều nhìn nhận thấy sự quan trọng của MTDTTN đối với
sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhưng do đây là những công trình mang
tính chất đại cương, các tác giả không thể trình bày vấn đề này một cách chi tiết và
chuyên sâu.
Các công trình Mặt trận dân tộc thống nhất là gì? của tác giả Viễn Trình,
Nxb Sự thật, xuất bản năm 1957; Mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt
Nam của tác giả Nguyễn Công Bình, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm
1963; Vài nét tư liệu về Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, Báo cứu quốc, số
28, tháng 1-1977; Lược sử Mặt trận dân tộc thống nhất của Ủy ban trung ương
MTTQVN, Nxb Sự thật, xuất bản năm 1991…đều là những công trình nghiên cứu
về MTDTTN trong cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu về mặt
thời gian của các công trình này là khá rộng lớn, do đó chưa đi sâu nghiên cứu được
một cách chi tiết về MTDTTN trong thời kỳ 1945 - 1975.
Công trình Về mặt trận dân tộc thống nhất của Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật,
Hà Nội, xuất bản 1972 và những bài viết của các tác giả khác đăng trên các báo và
tạp chí như: Quá trình tiến hành công tác Mặt trận của Đảng ta, Tạp chí nghiên
cứu lịch sử số 139, 1971 của tác giả Văn Tâu; Nhận thức và thực tiễn của vấn đề
xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 2, 1991 của
tác giả Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Văn Khánh; Hồ Chí Minh hoàn thiện về đường lối
chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Mặt trận dân tộc thống nhất, Tạp chí nghiên
cứu lịch sử, số 2, 1992 của tác giả Lê Mậu Hãn…là những công trình nặng về
phương diện lý luận trong việc tìm hiểu về MTDTTN trong cách mạng Việt Nam.

Các công trình này đã thể hiện một cách chi tiết về quan điểm xây dựng MTDTTN


4

dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự hình thành và hoạt động của
MTDTTN trong các giai đoạn cụ thể mà chưa nghiên cứu sâu, chi tiết về MTDTTN
trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975. Hơn nữa, bản thân các bài viết trên
các báo và tạp chí chủ yếu là các công trình nghiên cứu tương đối nhỏ, chưa thể
trình này vấn đề này một cách khái quát và hệ thống.
Các công trình như: Sự thành lập và phát triển của Mặt trận Việt Minh của
Ban tuyên huấn Việt Minh - Liên Việt chiến khu VI, Tổng bộ Việt Minh xuất bản
năm 1949; Mặt trận Việt Minh của tác giả Nguyễn Thành, Nxb Sự thật, Hà Nội,
xuất bản năm 1991; Chung một bóng cờ (Về Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam) của tác giả Trần Bạch Đằng (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
xuất bản năm 1993; Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1960-1977),
của các tác giả Hà Minh Hồng, Trần Nam Tiến, Nxb Tổng hợp, Tp HCM, xuất bản
năm 2010; Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam trong sự nghiệp cách mạng Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2010…lại là những công trình
nghiên cứu về Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, MTDTGPMNVN, do vậy
không thể bao quát hết được vấn đề MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời kỳ
1945 - 1975.
Nhìn chung, tất cả các công trình nêu trên đã quan tâm nghiên cứu đến
MTDTTN nói chung cũng như MTDTTN trong thời kỳ 1945 - 1975. Tuy nhiên, các
công trình chỉ nghiên cứu một khía cạnh của toàn bộ mảng đề tài này. Do đó, thực
hiện đề tài, tôi hy vọng có thể kế thừa những thành quả của các công trình nghiên
cứu đi trước để có thể tổng hợp, khái quát lại một cách toàn diện và hệ thống hơn
vấn đề này.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Lịch sử Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975 là một bức tranh sinh động và rộng
lớn. Vấn đề mà luận văn đặt ra chỉ nhằm tìm hiểu một khía cạnh nhỏ trong mảng
nghiên cứu về lịch sử Việt Nam. Luận văn chỉ tập trung tìm hiểu về sự ra đời, quá
trình hoạt động và những đóng góp của MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời
kỳ 1945 - 1975.


5

3.2. Nhiệm vụ của đề tài
Trong điều kiện thời gian có hạn và nguồn tư liệu còn hạn chế, luận văn đặt
ra nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Cơ sở lý luận, bối cảnh lịch sử và những tiền đề, điều kiện cho sự ra đời của
MTDTTN trong cách mạng Việt Nam; các hình thức tổ chức MTDTTN ở nước ta
từ 1930 đến nay.
- Sự ra đời, quá trình hoạt động và những đóng góp của MTDTTN trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954).
- Sự ra đời, quá trình hoạt động và những đóng góp của MTDTTN trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975).
- Tính chất, đặc điểm và một số bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng
MTDTTN trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta.
4. Đóng góp của luận văn
Không tham vọng đưa lại điều gì mới mẻ mang tính phát hiện nhưng với tinh
thần làm việc nghiêm túc và khoa học, khi thực hiện đề tài “Mặt trận Dân tộc thống
nhất trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975”, luận văn mong muốn có
những đóng góp nhất định:
- Luận văn trình bày một cách khái quát về bối cảnh ra đời, quá trình hoạt
động của MTDTTN trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ xâm lược.
- Luận văn góp phần làm sáng rõ hơn những đóng góp to lớn của Mặt trận

đối với cách mạng Việt Nam trong trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ xâm lược.
- Bước đầu rút ra đặc điểm, tính chất và những bài học kinh nghiệm về
MTDTTN Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
- Luận văn tập hợp nguồn tư liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng
dạy và học tập vấn đề MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975.
5. Nguồn tư liệu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm, tập hợp, khai
thác tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, kế thừa nghiêm túc các nguồn tài liệu có liên


6

quan. Nguồn tài liệu này gồm:
- Tài liệu của Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.
- Văn kiện Đảng toàn tập; Văn kiện các Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất
thời kỳ 1945 - 1975; Hồ Chí Minh Toàn tập.
- Các công trình nghiên cứu chuyên đề về MTDTTN tại Thư viện Tổng hợp;
Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; Thư viện Khoa học xã hội…
- Các sách, hồi ký của các vị lãnh đạo Đảng, chính quyền, Mặt trận trong hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
- Đề tài còn sử dụng khá nhiều các nguồn tư liệu từ các báo và tạp chí khoa
học có viết về MTDTTN.
- Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng một số tư liệu từ sách điện tử và internet. Đây
là một nguồn tài liệu vô cùng phong phú. Tuy vậy, chúng tôi rất cẩn thận trong quá
trình khai thác nguồn tư liệu này.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận của việc nghiên cứu là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh
- Phương pháp nghiên cứu: trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử

dụng phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic, đồng thời sử
dụng các phương pháp chuyên ngành như phương pháp sưu tầm, phân tích, tổng
hợp tài liệu…
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục. Nội dung chính của luận văn có cấu
trúc thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở hình thành và các hình thức Mặt trận Dân tộc thống
nhất trong cách mạng Việt Nam
Chương 2. Mặt trận Dân tộc thống nhất trong kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
Chương 3. Mặt trận Dân tộc thống nhất trong kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước (1954 - 1975)


7

Chương 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ CÁC HÌNH THỨC
MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG CÁCH
MẠNG VIỆT NAM
1.1. Cơ sở lý luận
Đại đoàn kết dân tộc trong MTDTTN là một tư tưởng lớn, nội dung lớn của
đường lối cách mạng đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định ngay từ khi Đảng
vừa mới ra đời. Chủ trương đó được xây dựng dựa trên cơ sở kế thừa, phát triển
truyền thống đoàn kết của dân tộc ta; kết hợp một cách tài tình, khéo léo những
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân và đoàn
kết dân tộc; đặc biệt là những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc trong MTDTTN.
Thứ nhất, MTDTTN Việt Nam được xây dựng dựa trên truyền thống đoàn kết,
nhân nghĩa của cộng đồng dân tộc; những kinh nghiệm, tư tưởng tập hợp lực lượng
dân tộc để dựng nước, cứu nước của các thế hệ yêu nước, cách mạng tiền bối.

Một trong những đặc điểm nổi bật của lịch sử dân tộc Việt Nam là truyền
thống dựng nước gắn chặt với truyền thống giữ nước, đấu tranh xã hội - giai cấp
không tách rời đấu tranh dân tộc. Quá trình lịch sử đó đã hun đúc nên những giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc như: truyền thống yêu nước, tinh thần tự lực tự
cường, cần cù, sáng tạo trong lao động, anh dũng trong đấu tranh…và một trong
những truyền thống nổi bật nhất, một trong những nhân tố làm nên thắng lợi của
cách mạng Việt Nam đó là tinh thần đoàn kết cộng đồng, dân tộc. Trải qua hàng
nghìn năm lịch sử, truyền thống đó đã trở thành lẽ sống của mỗi người Việt Nam,
gắn chặt vận mệnh của mỗi cá nhân vào vận mệnh của cộng đồng, quốc gia, dân tộc
và hình thành nên sự cố kết cộng đồng một cách tự nhiên.
Tuy nhiên, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc không phải ngẫu
nhiên mà có. Đó là kết quả hợp thành của nhiều nhân tố về điều kiện địa lý, tự nhiên
và vị trí quan trọng của dân tộc mà những cư dân người Việt từ thuở xa xưa vừa
được thừa hưởng sự ưu đãi của đất trời, vừa phải đối mặt với những thử thách khắc


8

nghiệt của thiên tai, địch họa. Trước sự đe dọa của thiên tai, nhân dân ta phải đoàn
kết hợp quần nhau lại mới đủ sức mạnh để khai phá đất hoang thành đồng ruộng,
lập xóm làng, đắp đê chống lũ lụt, khơi kênh ngòi chống úng hạn… công cuộc lao
động gian khổ và yêu cầu hợp quần đó tạo nên sự gắn bó mật thiết giữa con người
với thiên nhiên, giữa người với người ở cùng một làng, một nước.
Đặc biệt, nước ta ở vào vị trí địa lý quan trọng của vùng Đông Nam Á, là địa
bàn chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính trị và quân sự. Cho nên, từ thời cổ
đại đến cận đại và hiện đại, Việt Nam là mảnh đất mà các thế lực bành trướng, xâm
lăng luôn luôn thèm khát và tìm mọi cách để chiếm đoạt. Trong lịch sử tồn tại và
phát triển của mình, dân tộc ta phải chống ngoại xâm rất nhiều lần với tần suất rất
cao: đã phải tiến hành gần 20 cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc cùng với hàng trăm
cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng. Họa mất nước có khi kéo dài hàng chục,

thậm chí hàng trăm năm. Thời gian chống giặc ngoại xâm cộng lại trên 12 thế kỷ.
Trên thế giới, ít có dân tộc nào phải chống ngoại xâm nhiều đến như thế.
“Hơn nữa Việt Nam phải chống ngoại xâm trong những điều kiện rất ác liệt,
trong so sánh lực lượng rất chênh lệch. Nước đi xâm lược, ngoại trừ vài ba trường
hợp như Nam Việt, Nam Hán, Xiêm là những quốc gia không lớn lắm, còn lại đều
là những đế chế lớn mạnh ở phương Đông hay những cường quốc đế quốc chủ
nghĩa trên thế giới. Trong hoàn cảnh đó, muốn chiến thắng kẻ thù lớn mạnh, Việt
Nam phải huy động sức mạnh của cả nước, của toàn dân...
Kinh nghiệm lịch sử đã chỉ rõ những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thành
công từ xa xưa đến gần đây đều là chiến tranh nhân dân yêu nước, kết hợp giữa vai
trò của quân đội chủ lực của nhà nước với sự tham gia rộng lớn của các tầng lớp
nhân dân, của cả dân tộc, phát huy tất cả sức mạnh tinh thần và vật chất của đất
nước. Ngược lại, những cuộc kháng chiến thất bại, nguyên nhân chủ yếu là, hoặc
chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, dựa vào thành lũy hoặc để mất lòng dân”[48,
tr.100]. Tức là chưa đoàn kết được các tầng lớp nhân dân đấu tranh bảo vệ độc lập
dân tộc.
Với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện địa lý đặc thù nêu trên, để tồn tại và phát
triển, các cư dân trên lãnh thổ hình chữ S từ hàng ngàn năm nay đã cố kết lại để


9

chống chọi với thiên nhiên và giặc ngoại xâm. Từ trong cuộc đấu tranh trường kỳ
đó, đã sớm nảy sinh và hình thành ý thức cộng đồng, ý thức tập thể và cao hơn là ý
thức dân tộc. Ý thức này ngấm vào máu thịt của con người Việt Nam và được trao
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, để tạo thành truyền thống đoàn kết trên nền
tảng vững chắc - chủ nghĩa yêu nước. Đoàn kết đối với các thế hệ người Việt Nam
đã trở thành một tình cảm tự nhiên “Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một
nước phải thương nhau cùng”; đã trở thành một triết lý nhân sinh: “Một cây làm
chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”; đã trở thành phép ứng xử và tư

duy chính trị: Nhà - Làng - Nước thống nhất; “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền
cũng là dân” và được đúc kết, nâng lên thành kinh nghiệm, thành phép trị nước và
đánh giặc: “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”,
“Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, nước nhà chung sức”...
Cũng chính trong quá trình dựng nước và giữ nước, cha ông ta còn tích lũy
được không ít những kiến thức, kinh nghiệm phong phú, đa dạng, thích hợp với
mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau về xây dựng, thực hiện khối đại đoàn kết dân tộc với
nhiều hình thức như: Hội nghị Diên Hồng (1284); Hội thề Lũng Nhai (1416); Hội
Duy Tân (1905); Việt Nam Quang phục Hội (1912)…Đây là một trong những nhân
tố góp phần đem đến thắng lợi cho dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ
đất nước, giành lại độc lập dân tộc.
Nhằm kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc, Nguyễn Ái
Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên được
thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930) đã vạch ra sự
cần thiết phải xây dựng một MTDTTN để đoàn kết các giai tầng trong xã hội, các tổ
chức chính trị, các cá nhân phấn đấu cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Thứ hai, chủ trương xây dựng MTDTTN của Đảng Cộng sản Việt Nam còn
xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề đoàn kết dân tộc với
tư tưởng cốt lõi: Cách mạng bao giờ cũng là sự nghiệp của đông đảo quần chúng
nhân dân.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), C.Mác - Ph.Ăngghen
sau khi phân tích quá trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa tư bản, các ông đã


10

chứng minh sự ra đời, phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản là một tất yếu lịch
sử; đồng thời chỉ ra những mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa,
sự mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trong phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa. Từ đó, C.Mác - Ph.Ăngghen đã chỉ ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp

công nhân: xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải
phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi áp bức,
bóc lột; xây dựng một chế độ xã hội mới - xã hội cộng sản văn minh.
Để hoàn thành được sứ mệnh lịch sử nói trên, giai cấp vô sản phải đoàn kết tất
cả các lực lượng tiến bộ xung quanh mình. Đặc biệt, khi giai cấp tư sản và các thế
lực áp bức, bóc lột liên minh, liên kết với nhau chống phong trào cách mạng thì các
giai cấp, tầng lớp lao động bị áp bức muốn giải phóng được cho mình phải đoàn kết,
liên minh lại với nhau, đoàn kết với giai cấp vô sản, tạo nên một mặt trận cách
mạng trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.
Bên cạnh đó, C.Mác - Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng: sự thống nhất về lợi ích
chính là cơ sở để làm nên sự thống nhất giữa vấn đề đoàn kết dân tộc và đoàn kết
giai cấp: “Muốn cho các dân tộc có thể thực sự đoàn kết lại thì họ phải có những lợi
ích chung. Muốn cho những lợi ích của họ trở thành lợi ích chung thì những quan
hệ sở hữu hiện có phải bị thủ tiêu, bởi lẽ những quan hệ sở hữu hiện có tạo điều
kiện cho một số dân tộc này bóc lột một số dân tộc khác; chỉ có giai cấp công nhân
là thiết tha với việc thủ tiêu những quan hệ sở hữu hiện tồn. Duy chỉ có mình nó
mới có thể làm được việc này”[18, tr.624].
C.Mác, Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh: vấn đề đoàn kết, tập hợp lực lượng cách
mạng, liên minh các giai cấp, các dân tộc là điều kiện cần cho thắng lợi của cách
mạng. Lực lượng của cách mạng chính là mọi thành viên trong xã hội, không phân
biệt nam nữ, dân tộc, quốc gia, đoàn kết mọi công nhân trong toàn xã hội, tất cả mọi
thành viên trong xã hội vào hiệp hội dựa trên sự hiệp tác. Không chỉ vậy, sức mạnh
của khối đoàn kết ấy không chỉ bảo đảm cho thắng lợi của giai cấp vô sản trong giai
đoạn giành chính quyền, mà nó còn bảo đảm cho thắng lợi của giai cấp vô sản trong
quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Trong liên minh ấy, giai cấp vô
sản là giai cấp tiên phong có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng. Bởi vì: “trong tất


11


cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai
cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với
sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân
nền đại công nghiệp” [18; tr.610-611].
Như vậy, những đóng góp của C.Mác, Ph.Ăngghen trên cả phương diện lý
luận và thực tiễn của vấn đề đoàn kết dân tộc là rất quan trọng. Các ông đã đặt nền
tảng để xây dựng khối liên minh công nông, đoàn kết giai cấp vô sản, đoàn kết các
dân tộc bị áp bức, tập hợp lực lượng, đưa cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đi tới
thắng lợi.
Trên cơ sở kế thừa những quan điểm của C.Mác và Ăngghen, V.I. Lênin đã
nhấn mạnh tầm quan trọng và sự cần thiết phải đoàn kết các giai cấp và tầng lớp
trong xã hội, đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản. Trong quá trình lãnh đạo
cách mạng tháng Mười Nga, V.I. Lênin cho rằng: trong cách mạng việc liên minh
giai cấp là một vấn đề to lớn. “Nếu chỉ một mình giai cấp vô sản tiến hành cuộc đấu
tranh một cách đơn độc thì đó không những là một điều dại dột mà còn là một tội ác
nữa”[21, tr.29]. Đặc biệt, V.I. Lênin còn nêu vấn đề đoàn kết những người vô sản
với nhân dân các nước bị áp bức, bóc lột nhằm chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế
quốc thành một khẩu hiệu chiến lược: “Giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên
toàn thế giới đoàn kết lại”. Đến đây, vấn đề đoàn kết đã được phát triển và mở rộng,
không những đoàn kết nhân dân trong nước mà còn phải đoàn kết với nhân dân thế
giới, nhất là các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng
của từng nước nói riêng và cho phong trào, mục tiêu cách mạng thế giới nói chung.
Tiếp thu những quan điểm đó, Quốc tế Cộng sản trong quá trình hoạt động của
mình, đã tiến hành nhiều hoạt động dù ở cấp độ “thấp” hay “hẹp” hơn Mặt trận
nhưng vẫn có ý nghĩa như là sự tập hợp lực lượng quần chúng, liên kết phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế như: “Quốc tế thanh niên”, “Quốc tế nông dân”,
“Công hội đỏ”, “Quốc tế phụ nữ”… Mô hình này của Quốc tế Cộng sản về sau đã
được lặp lại trong cấu trúc hệ thống chính trị cách mạng các nước do giai cấp vô sản
lãnh đạo. Đặc biệt là ở các nước thuộc địa và phụ thuộc - nơi mà yếu tố dân tộc còn
chiếm ưu thế, cho nên còn có điều kiện tập hợp trong Mặt trận thống nhất tất cả



12

những lực lượng dân chủ trong nước để tiến hành đấu tranh cách mạng chống chủ
nghĩa đế quốc. Ngay trong Quốc tế Cộng sản - cơ quan cao nhất của phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế, ở một khía cạnh nào đó cũng mang tính chất một sự
tập hợp, đoàn kết, thống nhất, liên minh hợp tác để thực hiện những mục tiêu chung
của phong trào cách mạng thế giới. Ngay trong Quốc tế Cộng sản - cơ quan cao
nhất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, ở một khía cạnh nào đó cũng
mang tính chất một sự tập hợp, đoàn kết, thống nhất, liên minh hợp tác để thực hiện
những mục tiêu chung của phong trào cách mạng thế giới.
Trong Báo cáo chính trị của G.Dimitrop - Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế
Cộng sản năm 1920, đã tập trung chủ yếu cho cuộc đấu tranh thành lập MTDTTN
công nhân và Mặt trận thống nhất nhân dân ở các nước tư bản chủ nghĩa. Thông qua
những cấp độ hợp tác, hiệp thương, liên minh…cấp độ Mặt trận có thể được coi là
mang tính chất rộng rãi. Nó không chỉ bao trùm sự đoàn kết các lực lượng trong
nước vào sự nghiệp cách mạng nói chung của dân tộc mà còn mở rộng ra phạm vi
liên kết và đoàn kết quốc tế, cùng giúp đỡ nhau nhằm thực hiện những mục tiêu to
lớn mà nhân loại đặt ra.
Bắt đầu từ năm 1923, Quốc tế Cộng sản đã bắt tay chỉ đạo việc xây dựng
MTDTTN ở một nước cụ thể - nước Trung Hoa cách mạng. Quốc tế Cộng sản kỳ
vọng có thể rút từ thực tiễn cách mạng Trung Hoa những kinh nghiệm để áp dụng
cho phong trào cách mạng các nước khác có hoàn cảnh tương tự. Mặc dù, sự chỉ
đạo xây dựng MTDTTN ở Trung Quốc không mấy thành công, nhưng tư tưởng chỉ
đạo đó của Quốc tế Cộng sản đã có ý nghĩa rất tích cực đối với phong trào cách
mạng thế giới nói chung và nhất là phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, phụ
thuộc nói riêng.
Như vậy, do đặc điểm của thời đại mình, C.Mác và Ph.Ăngghen mới chỉ kêu
gọi đoàn kết giai cấp vô sản toàn thế giới và thực hiện liên minh công nông (sau

Công xã Pari 1871) trong đấu tranh lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa. Đến V.I.Lênin,
trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, ách
áp bức giai cấp và dân tộc đã diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, tư tưởng liên minh
công nông của C.Mác được V.I.Lênin và Quốc tế Cộng sản mở rộng ra trên quy mô


13

toàn thế giới với khẩu hiệu nổi tiếng: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp
bức đoàn kết lại”. Song, do chưa đánh giá đầy đủ về vấn đề dân tộc, nhất là vấn đề
dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, tư tưởng về đoàn kết dân tộc trong
MTDTTN vẫn chưa được V.I.Lênin và Quốc tế Cộng sản đặt ra một cách hệ thống,
cụ thể và đầy đủ.
Nhưng những đóng góp của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Quốc tế Cộng
sản về vấn đề đoàn kết dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về phương diện lý
luận và thực tiễn. Các ông đã đặt nền tảng để xây dựng khối liên minh công nông,
đoàn kết giai cấp vô sản, đoàn kết các dân tộc bị áp bức; tập hợp lực lượng, đưa
cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đi tới thắng lợi. Đó là những cơ sở lý luận quan
trọng để Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam hình thành và xây dựng nên
chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng MTDTTN nhằm đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, việc xây dựng MTDTTN ở nước ta còn dựa trên những quan điểm của
Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết trong MTDTTN.
Trên cơ sở kết hợp tài tình và khéo léo chủ nghĩa Mác - Lênin với tinh hoa
truyền thống văn hoá dân tộc, nhất là truyền thống đoàn kết; chắt lọc tinh hoa văn
hoá nhân loại; trải qua thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú và sinh động,
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhận thức được sự cần thiết phải thực hiện đoàn
kết dân tộc; đã nhìn thấy sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc, nguồn động lực to lớn
của nhân dân Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước. Nhưng với Người,

đại đoàn kết dân tộc không chỉ dừng lại ở quan niệm, ở những lời kêu gọi, hiệu triệu
mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, phải trở thành khẩu hiệu hành động
của toàn Đảng, toàn dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật
chất, trở thành lực lượng vật chất có tổ chức và tổ chức đó chính là MTDTTN.
Những quan điểm của Hồ Chí Minh về MTDTTN vô cùng phong phú và đa
dạng, từ việc khẳng định vị trí, vai trò, tác dụng, tầm quan trọng của Mặt trận, đến
các vấn đề chiến lược, sách lược, nguyên tắc, phương pháp lập MTDTTN. Tuy
nhiên, trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ nêu lên những quan điểm cơ bản nhất của


14

Người về MTDTTN. Đây sẽ là cơ sở lý luận cực kỳ quan trọng để Đảng Cộng sản
Việt Nam hình thành đường lối xây dựng và phát triển MTDTTN trong quá trình
lãnh đạo cách mạng.
Một là, một trong những cống hiến có giá trị của Người trước hết đó là đã xác
định đúng đắn vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đoàn kết dân tộc nói chung và đoàn
kết trong MTDTTN nói riêng.
Theo Hồ Chủ tịch, muốn cách mạng giành thắng lợi thì phải thực hiện đại
đoàn kết dân tộc. Từ quan niệm đoàn kết thông thường mang tính đạo đức, ứng xử
đã được Người nâng lên thành quan điểm, nguyên tắc chiến lược mang tính quy luật
của cách mạng Việt Nam:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công”[59, tr.607].
Giải thích về nguồn gốc sức mạnh của dân tộc Việt Nam, Người nêu rõ: “Sức
mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của
nhân dân Việt Nam” [61; tr.607]. Người coi đoàn kết là lực lượng vô cùng to lớn, là
lực lượng mạnh nhất của chúng ta để chống lại những thế lực xâm lược lớn mạnh
hơn rất nhiều về vật chất. Nhưng muốn đại đoàn kết dân tộc thì phải tổ chức quần
chúng thành MTDTTN rộng rãi. Sự hình thành khối đại đoàn kết dân tộc là một tất

yếu và sự ra đời của MTDTTN cũng là một tất yếu lịch sử. Toàn dân tộc chỉ trở
thành lực lượng to lớn, có sức mạnh vô địch trong đấu tranh bảo vệ và xây dựng Tổ
quốc khi được tập hợp, tổ chức lại thành một khối vững chắc, được giác ngộ về mục
tiêu chiến đấu chung và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn. Nếu
không được như vậy thì quần chúng nhân dân dù có đông tới hàng triệu, hàng trăm
triệu con người thì cũng chỉ là một số đông không có sức mạnh. Về tầm quan trọng
của tổ chức nói chung, các hội, đoàn nói riêng trong việc tập hợp, huy động sức
mạnh dân tộc, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Người không có tổ chức thì cũng như chiếc
đũa lẻ loi, ai bẻ cũng gãy. Người có đoàn thể thì cũng như chiếc đũa cột thành một
bó, không ai bẻ gãy được.
Nhờ tư tưởng nhất quán và chính sách Mặt trận đúng đắn, Đảng ta và Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công khối đại đoàn kết dân tộc trong MTDTTN


15

rộng rãi, đưa cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn. Hồ Chí Minh
viết: “Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm cách mạng tháng Tám
thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập
lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc.
Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân ta giành được thắng lợi
trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc”[59, tr.604].
Hai là, theo Hồ Chí Minh, MTDTTN là một hình thức tập hợp quần chúng
rộng rãi, đại diện cho đại đa số quần chúng, đại diện cho quyền lợi dân tộc.
Hồ Chí Minh cho rằng: “Từ Nam đến Bắc, ai là người tán thành hòa bình,
thống nhất, độc lập, dân chủ thì chúng ta sẵn sàng đoàn kết với họ, thật thà hợp tác
với họ, dù từ trước tới nay họ đã thuộc phe phái nào”[57, tr.49]. Mặt trận là nơi tập
hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, thực hiện thêm bạn, bớt thù, tập trung mũi

nhọn đấu tranh vào kẻ thù nguy hiểm nhất. Tùy theo từng thời kỳ, căn cứ vào yêu
cầu và nhiệm vụ cách mạng, Cương lĩnh và Điều lệ của MTDTTN có thể có những
nét khác nhau, tên gọi của MTDTTN theo đó, cũng có thể khác nhau. Song thực
chất chỉ là một, đó là một tổ chức chính trị, xã hội rộng lớn của nhân dân Việt Nam
- nơi quy tụ, tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái,
các tổ chức và cá nhân yêu nước ở trong và ngoài nước, phấn đấu vì mục tiêu chung
là độc lập dân tộc, thống nhất của Tổ quốc, tự do và hạnh phúc của nhân dân.
Thành lập MTDTTN là để thực hiện đại đoàn kết toàn dân, song khối đại đoàn
kết đó chỉ có thể thực hiện bền chặt và lâu dài khi có sự thống nhất cao độ về mục
tiêu và lợi ích. Mục đích chung của MTDTTN được Hồ Chí Minh xác định cụ thể
phù hợp với từng giai đoạn cách mạng nhằm bảo đảm những lợi ích tối cao của dân
tộc, lợi ích của nhân dân lao động và quyền thiêng liêng của mỗi con người.
Ba là, MTDTTN là khối đại đoàn kết chặt chẽ, lâu dài, đoàn kết thật sự, chân
thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Giữa các thành viên của khối đại đoàn kết dân tộc, bên cạnh những điểm
tương đồng vẫn có những điểm khác nhau cần phải bàn bạc để đi đến nhất trí; bên


16

cạnh những nhân tố tích cực vẫn có những nhân tố tiêu cực cần phải khắc phục. Để
giải quyết vấn đề này, Người nói: “Đoàn kết thực sự nghĩa là mục đích phải nhất trí
và lập trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thật sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu
tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên
lập trường thân ái, vì nước, vì dân. Tóm lại, muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì toàn
dân cần đoàn kết lâu dài, đoàn kết thực sự và cùng nhau tiến bộ”[58, tr.137].
Bốn là, MTDTTN phải được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công nông - trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
MTDTTN là thực thể của tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, nơi quy tụ mọi con
dân nước Việt. Song đó không phải là một tập hợp lỏng lẻo, ngẫu nhiên, tự phát của
quần chúng nhân dân mà là một khối đoàn kết chặt chẽ, có tổ chức trên nền tảng

khối liên minh công - nông - trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây là nguyên tắc
cốt lõi trong chiến lược đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, nó hoàn toàn khác với tư
tưởng đoàn kết, tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam trước đó.
Người chỉ rõ, sở dĩ phải lấy liên minh công - nông làm nền tảng “vì họ là
người trực tiếp sản xuất tất cả mọi tài phú làm cho xã hội sống. Vì họ đông hơn hết,
mà cũng bị áp bức bóc lột nặng nề hơn hết. Vì chí khí cách mạng của họ chắc chắn,
bền bỉ hơn của mọi tầng lớp khác”[57, tr.214]. Nhưng Người cũng lưu ý, trong khi
nhấn mạnh vai trò nòng cốt của liên minh công nông, cần chống lại khuynh hướng
chỉ coi trọng củng cố khối liên minh công nông mà không thấy vai trò và sự cần
thiết phải mở rộng đoàn kết với các tầng lớp khác, nhất là với tầng lớp trí thức. Làm
cách mạng phải có trí thức và tầng lớp trí thức rất quan trọng đối với cách mạng.
Cho nên công, nông, trí cần đoàn kết chặt chẽ thành một khối thống nhất.
Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là công việc của toàn dân tộc, song nó chỉ có
thể được củng cố và phát triển vững chắc khi được Đảng lãnh đạo. Sự lãnh đạo của
Đảng đối với Mặt trận vừa là vấn đề mang tính nguyên tắc, vừa là một tất yếu bảo
đảm cho Mặt trận tồn tại, phát triển và có hiệu lực trong thực tiễn. Bởi vì chỉ có
chính Đảng của giai cấp công nhân được vũ trang bởi chủ nghĩa Mác - Lênin mới
đánh giá đúng được vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, mới vạch ra
được đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn để lôi kéo, tập hợp quần chúng


17

vào khối đại đoàn kết trong Mặt trận, biến tiến trình cách mạng thành ngày hội thật
sự của quần chúng. Chính vì vậy, Người luôn xác định, mối quan hệ giữa Đảng và
Mặt trận là mối quan hệ máu thịt. Không có Mặt trận, Đảng không có lực lượng,
không thể thực hiện được những nhiệm vụ cách mạng; không có sự lãnh đạo của
Đảng, Mặt trận không thể hình thành, phát triển và không có phương hướng hoạt
động đúng đắn.
Để lãnh đạo Mặt trận, Đảng phải có chính sách Mặt trận đúng đắn, phù hợp

với từng giai đoạn, từng thời kỳ cách mạng; phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng
của đại đa số nhân dân. Người viết: “Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan
trọng. Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách
mạng”[59; tr.605]. Đảng phải dùng phương pháp vận động, giáo dục, thuyết phục,
nêu gương, lấy lòng chân thành để đối xử, cảm hóa, khơi gợi tinh thần tự giác, tự
nguyện, hết sức tránh gò ép, quan liêu mệnh lệnh trong việc xây dựng Mặt trận.
Năm là, Hồ Chí Minh cho rằng: MTDTTN không phải là sách lược tạm thời
mà là một chiến lược cơ bản, lâu dài của cách mạng.
Đó là quan điểm rất cơ bản của Hồ Chủ tịch về MTDTTN. Xuất phát từ quan
điểm đoàn kết lâu dài với mọi người yêu nước và tiến bộ, Người khẳng định: “trong
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa,
MTDTTN vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam” [59;
tr.605]. Do vậy, Người không ngừng kêu gọi, nhắc nhở tất cả những ai có tinh thần
dân tộc, yêu nước cần phải được quy tụ lại trong MTDTTN. Người không chỉ kêu
gọi các tầng lớp nhân dân đoàn kết, mà còn hô hào, động viên mọi người tích cực
tham gia vào các tổ chức, đoàn thể của Mặt trận hoặc làm một việc gì đó, dù to, dù
nhỏ miễn là có ích cho công cuộc cứu nước và xây dựng Tổ quốc.
Như vậy, không chỉ là người đề xướng và tuyên truyền, giáo dục tư tưởng,
quan điểm về đại đoàn kết trong MTDTTN mà Người còn trực tiếp chỉ đạo và xây
dựng các tổ chức Mặt trận, từ Hội phản đế Đồng minh - hình thức tổ chức Mặt trận
đầu tiên đến các hình thức tổ chức tiếp theo như: Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên
Việt, MTTQVN, MTDTGPMNVN và LMCLLDTDC&HBVN. Đồng thời, Người
còn tự nêu gương sáng về thực hành đoàn kết và đoàn kết đã trở thành một phẩm


18

chất nổi bật trong đạo đức cách mạng của Người. Bằng cả tư tưởng và hành động,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực sự trở thành linh hồn, là kiến trúc sư và là hiện thân
của khối đại đoàn kết dân tộc trong MTDTTN.

Những tư tưởng của Người về xây dựng MTDTTN là tài sản vô cùng quý
báu của dân tộc ta, là cơ sở tư tưởng, lý luận cho việc xây dựng và phát triển
MTDTTN Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh của dân tộc cho độc lập,
thống nhất của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân.
1.2. Bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và những tiền
đề, điều kiện cho sự ra đời của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, ở Việt Nam triều đình nhà Nguyễn bước vào giai đoạn
khủng hoảng sâu sắc. Đấu tranh giai cấp trong nước phát triển giữa hai lực lượng cơ
bản của xã hội: nông dân và phong kiến. Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân
nổi lên từ Bắc chí Nam, từ đồng bằng đến miền núi, làm cho chế độ phong kiến thối
nát bị lay chuyển đến tận gốc rễ. Nông dân đã tỏ rõ là một động lực cơ bản thúc đẩy
xã hội phát triển.
Trước âm mưu và hành động xâm lược của thực dân Pháp, triều đình nhà
Nguyễn đã không có những biện pháp cứng rắn để bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Nước Việt Nam trở thành thuộc địa của đế quốc Pháp. Mâu thuẫn xã hội chủ yếu
nhất là giữa đế quốc Pháp với toàn thể dân tộc Việt Nam, nhưng mâu thuẫn sâu sắc
vốn có giữa nông dân với phong kiến vẫn tồn tại. Trải qua hai chương trình khai
thác thuộc địa do thực dân Pháp tiến hành ở Đông Dương đã làm cho tính chất xã
hội nước ta thay đổi - một xã hội thuộc địa đang hình thành với một cơ cấu xã hội
mới đan xen, chồng chéo với những tôn giáo, đẳng cấp, những tập tục, lề thói đa
dạng…trên nền tảng một xã hội truyền thống đang tan rã. Lúc này, muốn giải phóng
được dân tộc thì điều kiện quyết định chính là sự đồng tâm hiệp lực, đoàn kết hết
thảy mọi người Việt Nam yêu nước không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân
tộc…cùng nhau đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc.
Chính vì vậy, ngay từ khi thực dân Pháp mới đặt chân lên xâm lược nước ta, phong
trào yêu nước đã diễn ra mạnh mẽ khắp mọi miền đất nước, thu hút đông đảo các
tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến với tinh



×