Tải bản đầy đủ (.pdf) (96 trang)

Lựa chọn chính sách kế toán trong bối cảnh thay đổi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (965.32 KB, 96 trang )


0

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
MỤC LỤC

Trang phụ bìa……………………………………………………….…..…..i
Lời cam đoan………………………………………………………………..ii
Danh mục các chữ viết tắt…………………………………………….……iii
Danh mục các bảng…………………………………..……………….…….iv
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ LIÊN KẾT GIỮA KẾ TOÁN VÀ
THUẾ Ở VIỆT NAM .......................................................................................5
1.1. Mục tiêu khác nhau của thuế và kế toán......................................................5

1.1.1. Mục tiêu của thuế.................................................................................................5

1.1.2. Mục tiêu của kế toán............................................................................................6

1.2. Lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế....................................................7

1.2.1. Ghi nhận doanh thu (thu nhập) trong kế toán và thuế .........................................8

1.2.2. Ghi nhận chi phí trong kế toán và thuế.............................................................11

1.3. Chính sách kế toán của doanh nghiệp........................................................16

1.3.1 Chính sách ghi nhận doanh thu...........................................................................16

1.3.2. Chính sách kế toán về TSCĐ.............................................................................17


1.3.2.1 Chính sách ghi nhận TSCĐ .........................................................................17

1.3.2.2. Chính sách khấu hao TSCĐ........................................................................20

1.3.2.3. Chính sách về sửa chữa TSCĐ ...................................................................22

1.3.3. Chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho ................................................23

1.3.3.1. Vấn đề tính giá thành của sản phẩm ...........................................................23

1.3.3.2. Xác định giá vốn của hàng xuất kho...........................................................24

1.3.3.3. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho................................................................24

1.3.4. Chính sách kế toán về chi phí đi vay .................................................................25

1.3.5. Chính sách kế toán về lợi thế thương mại .........................................................26

1.3.6. Chính sách kế toán đối với giao dịch bằng ngoại tệ ..........................................27

1.4. Lựa chọn chính sách kế toán nhằm giảm thiểu chi phí thuế thu nhập
doanh nghiệp
........................................................................................................28

Chương 2 GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................ 32
2.1 Giả thuyết.......................................................................................................32

* Đối với doanh nghiệp Nhà nước...............................................................................34

* Đối với công ty cổ phần...........................................................................................35


* Đối với doanh nghiệp tư nhân .................................................................................36

* Đối với công ty TNHH ............................................................................................36


1

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
2.2 Phương pháp nghiên cứu..............................................................................37

2.2.1. Mô hình nghiên cứu...........................................................................................37

2.2.2. Lựa chọn doanh nghiệp nghiên cứu...................................................................44

Chương 3 KIỂM NGHIỆM GIẢ THUYẾT BẰNG CÁC MÔ HÌNH ĐÃ
LỰA CHỌN....................................................................................................46
3.1. Kiểm nghiệm giả thuyết bằng mô hình đã lựa chọn .................................47

3.1.1. Đối với doanh nghiệp nhà nước.........................................................................47

3.1.1.1. Công ty Vật liệu xây dựng – Xây lắp & Kinh doanh nhà ĐN....................47

3.1.1.2. Công ty điện lực III.....................................................................................49

3.1.1.3. Công ty xăng dầu khu vực V ......................................................................50

3.1.1.4. Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5.........................................52

3.1.1.5. Công ty xây lắp và công nghiệp tàu thủy miền trung.................................53


3.1.2. Đối với Công ty cổ phần....................................................................................55

3.1.2.1 Công ty cổ phần cao su Đà Nẵng.................................................................55

3.1.2.2. Công ty cổ phần sách giáo dục tại thành phố Đà Nẵng..............................57

3.1.2.3. Công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng..................................................................58

3.1.2.4. Công ty cổ phần xi măng Hải Vân..............................................................60

3.1.2.5. Công ty cổ phần cơ điện miền trung...........................................................61

3.1.3. Đối với doanh nghiệp tư nhân Hải Sơn .............................................................64

3.1.3.1 doanh nghiệp tư nhân Hải Sơn.....................................................................64

3.1.3.2 doanh nghiệp tư nhân thương mại – dịch vụ tổng hợp Hòa Hiệp................65

3.1.3.3. doanh nghiệp tư nhân Bổn Cường..............................................................67

3.1.3.4. doanh nghiệp tư nhân Hoài Linh ................................................................68

3.1.3.5. doanh nghiệp tư nhân Hiền Thy .................................................................69

3.1.4. Đối với Công ty TNHH .....................................................................................72

3.1.4.1 Công ty TNHH Tuấn Đạt.............................................................................72

3.1.4.2. Công ty TNHH xổ số kiến thiết tỉnh Gia Lai..............................................73


3.1.4.3. Công ty TNHH Trương Thành Chung........................................................74

3.1.4.4. Công ty TNHH thương mại, ứng dụng và phát triển CN mới N.E.T .........76

3.1.4.5. Công ty TNHH Nguyễn Quang ..................................................................78

3.2. Nhận xét và kết luận.....................................................................................80

3.3 Một vài ý kiến về tính trung thực của thông tin kế toán nhằm phục vụ
cho quản lý khi có điều chỉnh lợi nhuận
............................................................88

KẾT LUẬN .....................................................................................................90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................ 91

0

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1Biến kế toán accruals ............................................................. 41
Bảng 3.1Bảng tổng hợp kết quả sau khi kiểm định bằng 2 mô hình đối
với loại hình doanh nghiệp nhà nước ................................................... 55
Bảng 3.2Bảng tổng hợp kết quả sau khi kiểm định bằng 2 mô hình đối
với loại hình công ty cổ phần................................................................ 63
Bảng 3.3Bảng tổng hợp kết quả sau khi kiểm định bằng 2 mô hình đối
với loại hình doanh nghiệp tư nhân...................................................... 71
Bảng 3.4Bảng tổng hợp kết quả sau khi kiểm định bằng 2 mô hình đối
với loại hình công ty TNHH..................................................................80

Bảng 3.5Bảng xác định mức độ điều chỉnh lợi nhuận của loại hình... 83
doanh nghiệp nhà nước.........................................................................83
Bảng 3.6Bảng xác định mức độ điều chỉnh lợi nhuận của loại hình... 84
Công ty cổ phần..................................................................................... 84
Bảng 3.7Bảng xác định mức độ điều chỉnh lợi nhuận của loại hình... 85
Doanh nghiệp tư nhân...........................................................................85
Bảng 3.8Bảng xác định mức độ điều chỉnh lợi nhuận của loại hình... 86
Công ty TNHH....................................................................................... 86


1

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta đang tồn tại rất nhiều các loại hình doanh nghiệp, với
mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có nhiều chiến lược kinh doanh và các
nguồn thông tin tài chính khác nhau nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên
ngoài, mà các thông tin tài chính này do kế toán cung cấp. Chính vì vậy
thông tin kế toán cung cấp ngày càng phát huy tính hữu hiệu trong việc
ra quyết định của các đối tượng có liên quan và báo cáo tài chính là
công cụ thể hiện thông tin này. Báo cáo tài chính được lập dựa trên cơ
sở của chuẩn mực kế toán, các thông tư hướng dẫn mà các chuẩn mực
kế toán luôn tạo khoảng không tự do cho các doanh nghiệp lựa chọn,
tùy theo từng bối cảnh, thời điểm mà doanh nghiệp có thể làm “đẹp”
hơn thông tin trên báo cáo tài chính hoặc “lau chùi” các nội dung cần
thiết để đạt được mục tiêu mang tính chủ quan của họ. Vì thế, có nhiều
động cơ thôi thúc các nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận mà các đối

tượng sử dụng thông tin không thể nhận ra, một trong những động cơ
đó là khi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) thay đổi thuế suất giảm
từ 28% năm 2008 xuống còn 25% năm 2009. Điều này càng có cơ hội
thúc đẩy các nhà quản trị thực hiện quản trị lợi nhuận để tiết kiệm chi
phí thuế thu nhập doanh nghiệp. Vì vậy, việc nhận dạng có hay không
hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị và kỹ thuật điều chỉnh
như thế nào để các đối tượng sử dụng thông tin có được nguồn thông
tin chính xác nhằm đưa ra quyết định là một vấn đề rất có ý nghĩa.

2

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về sách, báo, internet và các
tài liệu tham khảo khác, tôi thấy có một số tác giả đã đề cập đến vấn đề
này, song chỉ dừng lại ở việc đưa ra các mô hình ở khía cạnh lý thuyết
để chỉ ra các doanh nghiệp có xu hướng vận dụng chính sách kế toán để
điều chỉnh lợi nhuận nhưng chưa kiểm nghiệm mô hình này bằng số
liệu thực tế và chưa đưa ra cách thức điều chỉnh có thể vận dụng bởi các
nhà quản trị.
Nhận thấy được ý nghĩa thiết thực trong việc nghiên cứu hành vi
điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp, tôi đã chọn đề tài “ Lựa
chọn chính sách kế toán trong bối cảnh thay đổi thuế suất thuế thu
nhập doanh nghiệp” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Khi luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định giảm thuế suất
thuế thu nhập doanh nghiệp từ 28% năm 2008 xuống còn 25% năm
2009 thì có khả năng các doanh nghiệp sẽ điều chỉnh giảm lợi nhuận
chịu thuế để tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Để
điều chỉnh lợi nhuận, các doanh nghiệp sẽ vận dụng một cách khéo léo
các chính sách kế toán được quy định bởi chuẩn mực kế toán và sự vận

dụng này sẽ ảnh hưởng đến số liệu trình bày trên báo cáo tài chính của
doanh nghiệp trong kỳ. Báo cáo tài chính không những là nguồn cung
cấp thông tin cho các đối tượng bên trong mà còn cung cấp thông tin
cho các đối tượng khác bên ngoài như cơ quan thuế, các nhà đầu tư, các
chủ nợ, các tổ chức tín dụng,…Chính vì vậy việc nghiên cứu sự vận
dụng chính sách kế toán trong điều kiện thay đổi thuế suất thuế thu
nhập doanh nghiệp sẽ phần nào làm rõ hơn “chất lượng” hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp (thông qua chỉ tiêu lợi nhuận), qua đó giúp cho

3

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
các đối tượng sử dụng thông tin có liên quan đánh giá khách quan hơn
kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó đưa ra quyết
định đúng đắn.
Lấy số liệu thực tế để minh chứng có hay không hành vi điều
chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị qua bốn loại hình doanh nghiệp,
gồm: doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân
(DNTN), công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH).
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn này nghiên cứu một số vấn đề về cơ sở lý luận của sự
liên kết giữa thuế và kế toán, các chính sách kế toán, đồng thời đi sâu
vào phân tích số liệu và đưa ra các kỹ thuật có thể vận dụng để điều
chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị.
Luận văn xem xét, đánh giá có hay không việc điều chỉnh lợi
nhuận và mức độ điều chỉnh lợi nhuận như thế nào đối với bốn loại
hình doanh nghiệp, bao gồm: doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần,
doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn. Do đó số liệu
cần thu thập là báo cáo tài chính, cụ thể là báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp

trong 2 năm 2007 và 2008.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lý
luận và thực tiễn, thu thập số liệu, vận dụng các mô hình đã nghiên cứu
để kiểm chứng số liệu và đưa ra kết luận.




4

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn này có ý nghĩa thực tiễn giúp các đối tượng sử dụng
thông tin có được (luồng) thông tin chính xác nhằm đưa ra các quyết
định.
Qua phân tích số liệu thực tế để đi đến kết luận có hay không
việc điều chỉnh lợi nhuận và mức độ điều chỉnh như thế nào đối với bốn
loại hình doanh nghiệp nhằm kiểm nghiệm lại các mô hình lý thuyết đã
được học và tìm hiểu.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục và tài liệu tham
khảo, luận văn gồm có ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về sự liên kết giữa thuế và kế toán ở
Việt Nam
Chương 2: Giả thuyết và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Kiểm nghiệm giả thuyết bằng các mô hình đã lựa chọn.





5

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ LIÊN KẾT GIỮA
KẾ TOÁN VÀ THUẾ Ở VIỆT NAM
1.1. Mục tiêu khác nhau của thuế và kế toán
Thuế và kế toán phục vụ mục đích khác nhau, có mục tiêu khác
nhau và được dựa trên các nguyên tắc khác nhau. Giữa mục tiêu của kế
toán và mục tiêu về thuế mặc dù đều tập trung vào đo lường hàng năm
lợi nhuận của các doanh nghiệp, nhưng động cơ đo lường khác nhau.
Các khái niệm và các nguyên tắc kế toán không phải luôn luôn tương
thích với các nguyên tắc được sử dụng trong lĩnh vực thuế. Vì kế toán
có kim chỉ nam là luật kế toán, các chuẩn mực kế toán, các thông tư
hướng dẫn thực hiện. Thuế do nhà nước ban hành các luật thuế, hướng
dẫn chế độ nộp thuế. Sự khác biệt trong các kết quả hoặc trong những
phương pháp áp dụng phải được chấp nhận.
1.1.1. Mục tiêu của thuế
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, Nhà nước sẽ
không tồn tại và đứng vững nếu không có nguồn thu. Bất kỳ đơn vị tổ
chức sản xuất, kinh doanh nào cũng phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
cho Nhà nước. Thông qua các luật thuế để xác định lợi nhuận chịu thuế
tạo ra các công bằng thu nhập giữa các tổ chức có thu nhập cao và các
tổ chức có thu nhập thấp, nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách quốc gia
để có nguồn chi tiêu cho các hoạt động công cộng, chia sẻ lợi ích thu
nhập cho cộng đồng và góp phần tích cực mang lại công bằng và an
sinh xã hội. Nhờ có thuế Nhà nước mới có nguồn giải quyết những khó
khăn trong xã hội mà mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp không thể giải


6

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
quyết được. Bên cạnh việc mang lại công bằng và an sinh xã hội Nhà
nước còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giao lưu, mở rộng quan hệ
quốc tế với các nước bên ngoài, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp ngày càng
phát triển bền vững và đi lên.
1.1.2. Mục tiêu của kế toán
Kế toán với bản chất là hệ thống cung cấp thông tin, kiểm tra tình
hình và sự biến động về tài sản trong doanh nghiệp, kế toán trở thành
công cụ quản lý quan trọng. Thông qua các khái niệm và các nguyên tắc
áp dụng nhằm xác định lợi nhuận kế toán và cung cấp thông tin chính
xác, đầy đủ và kịp thời về tình hình tài chính của các doanh nghiệp
thông qua các báo cáo tài chính thể hiện trên các mặt:
- Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp: Kế toán đảm báo cung
cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin cho nhà quản lý để điều
hành, lập kế hoạch chỉ đạo sản xuất kinh doanh. Kế toán đảm bảo phản
ánh chính xác số hiện có và tình hình biến động của tài sản, tiền vốn
của doanh nghiệp. Từ đó góp phần giúp cho doanh nghiệp quản lý chặt
chẽ tài sản và sử dụng hiệu quả tiền vốn. Kế toán là phương tiện tính
toán kinh tế thúc đẩy chế độ hạch toán kế toán của doanh nghiệp.
- Đối với các nhà đầu tư, nhà cung cấp, nhà tín dụng, các chủ nợ:
Kế toán đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin nhằm giúp cho
các đối tượng này đưa ra quyết định có đầu tư hay không đầu tư, có cho
vay hay không cho vay.
- Đối với cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan thuế: Kế toán xác
định chính xác nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước, kiểm tra
việc chấp hành các chế độ kinh tế tài chính và tình hình thực hiện nghĩa
vụ đối với Nhà nước.


7

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
Nếu trong một doanh nghiệp đội ngũ kế toán còn non trẻ, thiếu
kinh nghiệm sẽ gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp như hạch toán
chi phí sai lệch, ghi nhận doanh thu chưa chính xác,….sẽ dẫn đến tình
trạng tạo ra lãi hoặc lỗ sai lệch. Từ đó, ảnh hưởng đến tình hình tài
chính của doanh nghiệp làm cho doanh nghiệp mất phương hướng kinh
doanh dẫn đến phá sản.
1.2. Lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế
Do mục tiêu của kế toán và thuế khác nhau nên cách thức đo
lường lợi nhuận cũng khác nhau, cụ thể:
Lợi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ trước khi trừ
thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo qui định của chuẩn mực
kế toán và chế độ kế toán.
Lợi nhuận kế toán =
Doanh thu và thu
nhập theo quy
định của kế toán
-
Chi phí theo quy
định của kế toán
Công thức 1.1
Từ công thức 1.1, cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán
bao gồm doanh thu (thu nhập) và chi phí theo quy định của kế toán.
Thu nhập chịu thuế là thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
của một kỳ được xác định theo quy định của luật thuế thu nhập doanh
nghiệp hiện hành.
Thu nhập chịu

thuế TNDN
=
Doanh thu và thu
nhập theo quy
định của thuế
-
Chi phí theo quy
định của thuế
Công thức 1.2

8

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
Từ công thức 1.2, cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập chịu
thuế bao gồm doanh thu (thu nhập) và chi phí theo quy định của thuế.
Giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế có sự khác biệt.
Nguyên nhân xảy ra sự chênh lệch này là do có sự khác biệt về đo
lường doanh thu, chi phí của kế toán và của thuế. Từ đó xác lập mức độ
liên kết giữa kế toán và thuế.
Kế toán ghi nhận doanh thu, thu nhập và chi phí dựa vào chuẩn
mực kế toán và chế độ kế toán. Thuế ghi nhận doanh thu, thu nhập và
chi phí dựa vào luật thuế TNDN của nhà nước. Giữa quy định của
chuẩn mực kế toán và quy định của luật thuế có sự giống và khác biệt
tương đối. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp chưa hiểu một cách đúng đắn
giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế, ranh giới vùng liên kết
giữa kế toán và thuế được xác định chưa rõ ràng. Chính vì thế, khi cơ
quan thuế kiểm tra báo cáo tài chính của doanh nghiệp không chấp
thuận và đề nghị xuất toán những chi phí mà cơ quan thuế cho rằng
không được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế bao gồm: các khoản chi
phí không đủ chứng từ hợp lý hợp lệ, các chính sách được quy định bởi

chuẩn mực kế toán nhưng không được quy định bởi luật thuế.
1.2.1. Ghi nhận doanh thu (thu nhập) trong kế toán và thuế
Kế toán ghi nhận doanh thu và thu nhập dựa trên nguyên tắc phù
hợp, còn thuế ghi nhận doanh thu và thu nhập chủ yếu dựa vào các
chứng từ hợp pháp. Vì vậy, có các khoản doanh thu, thu nhập được ghi
nhận theo quy định của kế toán nhưng không phù hợp với quy định của
luật thuế TNDN, nên phải điều chỉnh lại theo luật thuế TNDN. Hoặc
các khoản doanh thu, thu nhập được ghi nhận tính thuế TNDN trong
năm nhưng chưa đủ điều kiện để ghi nhận doanh thu, thu nhập theo chế

9

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
độ kế toán. Các chỉ tiêu này có thể làm tăng hoặc làm giảm tổng lợi
nhuận trước thuế trên báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp.
Cụ thể như sau:
1.2.1.1. Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp đã viết hóa đơn bán hàng
và đã thu tiền bán hàng nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho
người mua. Theo quy định của chuẩn mực kế toán, trị giá số hàng này
chưa được coi là tiêu thụ và không được ghi nhận là doanh thu bán
hàng mà chỉ được theo dõi như một khoản người mua ứng trước tiền
cho doanh nghiệp, khi thực giao hàng cho người mua mới được ghi
nhận doanh thu bán hàng trong kỳ. Theo quy định của luật thuế thu
nhập doanh nghiệp, trường hợp đã viết hóa đơn bán hàng, không quan
tâm đến việc hàng đã giao cho người mua hay chưa đều được xác định
là doanh thu tính thuế trong kỳ.
1.2.1.2. Trường hợp cho thuê tài sản có nhận trước tiền cho thuê nhiều
năm: Doanh thu trong năm ghi nhận theo kế toán đảm bảo nguyên tắc
phù hợp tức là doanh thu trong năm được ghi nhận bằng tổng số tiền
cho thuê chia cho số năm trả tiền trước. Hay nói cách khác, doanh thu

được ghi nhận là số tiền nhận của một năm. Còn doanh thu để tính thuế
TNDN trong trường hợp này, theo quy định của luật thuế các doanh
nghiệp có thể lựa chọn một trong hai cách tính: doanh thu phân bổ cho
số năm trả trước (phần này tương tự quy định của chuẩn mực kế toán),
hoặc xác định theo doanh thu trả tiền một lần. Trong trường hợp doanh
nghiệp xác định theo doanh thu trả tiền một lần thì số chênh lệch doanh
thu này là một khoản điều chỉnh tăng doanh thu để tính thu nhập chịu
thuế.

10

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
1.2.1.3. Trường hợp doanh nghiệp có phát sinh bán hàng dưới hình
thức trao đổi tương tự về bản chất và giá trị. Theo quy định của chuẩn
mực kế toán, việc trao đổi này không được coi là khoản giao dịch tạo ra
doanh thu. Theo quy định của luật thuế TNDN thì khoản thu này được
coi là doanh thu để tính thu nhập chịu thuế.
1.2.1.4. Trường hợp doanh nghiệp phát sinh các khoản giảm trừ doanh
thu bao gồm: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị
trả lại. Theo quy định của chuẩn mực kế toán toàn bộ các khoản giảm
trừ này được phép trừ khỏi doanh thu bán hàng trong kỳ để xác định
doanh thu thuần nhằm xác định kết quả. Theo luật thuế TNDN các
khoản giảm trừ này không được loại trừ khỏi doanh thu để tính thu
nhập chịu thuế. Vì theo luật thuế TNDN cho rằng, các khoản giảm trừ
này không đủ chứng từ hợp pháp để giảm trừ doanh thu nhằm xác định
thu nhập chịu thuế.
1.2.1.5. Trường hợp doanh nghiệp phát sinh lãi do đánh giá lại các
khoản nợ phải trả, nợ phải thu tại thời điểm cuối năm tài chính. Theo
thông tư 201 ban hành ngày 15/10/2009 của BTC, các khoản nợ ngắn
hạn (1 năm trở xuống) có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập báo cáo tài

chính thì không hạch toán vào chi phí hoặc doanh thu tài chính mà để
số dư trên báo cáo tài chính, đầu năm sau ghi bút toán ngược lại để xoá
số dư. Đối với chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh do việc đánh giá lại
số dư cuối năm của các khoản nợ dài hạn (trên 1 năm) có gốc ngoại tệ
tại thời điểm lập báo cáo tài chính thì được xử lý như sau: Với các
khoản nợ phải thu dài hạn bằng ngoại tệ, công ty phải đánh giá lại số dư
cuối năm của các loại ngoại tệ, sau khi bù trừ, chênh lệch tăng được
hạch toán vào doanh thu tài chính (TK515) trong năm. Với các khoản

11

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
nợ phải trả dài hạn bằng ngoại tệ, công ty phải đánh giá lại số dư cuối
năm của các loại ngoại tệ, sau khi bù trừ, chênh lệch giảm được hạch
toán vào doanh thu tài chính. Theo quy định của luật thuế TNDN các
khoản lãi chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản nợ phải
thu, nợ phải trả mà thời hạn nợ từ 12 tháng trở xuống mới được tính vào
doanh thu hợp lý để tính thu nhập chịu thuế.
1.2.1.6. Trường hợp doanh ngiệp có hoạt động xây lắp: Doanh thu của
hợp đồng xây dựng theo kế toán được xác định bao gồm: Doanh thu
ban đầu được ghi nhận theo hợp đồng và các khoản tăng, giảm khi thực
hiện hợp đồng. Ngoài ra, còn có các khoản tiền thưởng và các khoản
thanh toán khác nếu các khoản này có khả năng làm thay đổi doanh thu
và có thể xác định được một cách đáng tin cậy. Doanh nghiệp có thể ghi
nhận doanh thu theo tiến độ hợp đồng xây dựng tùy thuộc vào việc ước
tính % công việc hoàn thành. Theo quy định của luật thuế, doanh thu
của hoạt động xây lắp để tính thu nhập chịu thuế là giá trị công trình,
giá trị hạng mục công trình nghiệm thu bàn giao hoặc giá trị khối lượng
xây dựng, lắp đặt nghiệm thu bàn giao.
1.2.2. Ghi nhận chi phí trong kế toán và thuế

Tương tự như trường hợp ghi nhận doanh thu, thu nhập. Trường
hợp ghi nhận chi phí theo quy định của chuẩn mực kế toán và thuế cũng
có sự giống và khác biệt tương đối. Điều này làm cho lợi nhuận kế toán
và thu nhập chịu thuế có sự chênh lệch. Cụ thể như sau:
1.2.2.1. Đối với chi phí khấu hao TSCĐ: Theo quy định của chuẩn mực
kế toán, khi doanh nghiệp trích khấu hao TSCĐ thì toàn bộ khoản này
được tính vào chi phí trong kỳ để xác định lợi nhuận kế toán. Quy định
luật thuế TNDN số khấu hao doanh nghiệp đã trích và tính vào chi phí

12

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
sản xuất kinh doanh trong kỳ tính thuế không được tính vào chi phí hợp
lý để tính thu nhập chịu thuế trong các trường hợp sau:
+ Số khấu hao trích vượt mức quy định của chế độ quản lý, sử
dụng và trích khấu hao TSCĐ được quy định theo quyết định
206/2003/QĐ - BTC): Đối với các doanh nghiệp áp dụng phương pháp
khấu hao đường thẳng, có hiệu quả kinh tế cao được trích khấu hao
nhanh đối với máy móc thiết bị để nhanh chóng đổi mới công nghệ
nhưng tối đa không quá 2 lần mức trích khấu hao theo phương pháp
đường thẳng. Do đó, khi doanh nghiệp trích khấu hao tính vào chi phí
sản xuất kinh doanh cao hơn mức khấu hao quy định thì số khấu hao đã
trích vượt không được xác định vào chi phí hợp lý để tính thuế TNDN.
+ Số khấu hao TSCĐ dùng trong sản xuất, kinh doanh không có
hóa đơn, chứng từ hợp pháp và các giấy tờ khác chứng minh tài sản
thuộc quyền sở hữu của cơ sở kinh doanh (trừ trường hợp TSCĐ đi thuê
tài chính)
+ Số khấu hao của các TSCĐ đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn
còn sử dụng cho sản xuất, kinh doanh
1.2.2.2. Đối với chi phí lãi vay: Theo quy định của chuẩn mực kế toán,

toàn bộ các chi phí lãi vay trong kỳ được tính vào chi phí sản xuất kinh
doanh để xác định lợi nhuận kế toán. Ngoại trừ các khoản lãi vay đầu
tư, mua sắm TSCĐ được vốn hóa vào giá trị tài sản. Theo quy định tại
khoản 7, điều 5 nghị định số 164/2003/NĐ-CP chi tiết thi hành luật thuế
thu nhập doanh nghiệp, thì chi phí trả lãi vay vốn của các đối tượng
khác không phải vay của ngân hàng, tổ chức tín dụng được khống chế ở
mức tối đa không quá 1,2 lần mức lãi suất cho vay của ngân hàng
thương mại có quan hệ thanh toán với doanh nghiệp tại thời điểm nhận

13

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
tiền vay vốn theo hợp đồng vay đã ký kết. Ngoài ra, các khoản chi phí
lãi vay để góp vốn pháp định, vốn điều lệ của các doanh nghiệp đều
không được tính vào chi phí hợp lý để xác định thu nhập chịu thuế. Do
đó, phần trả lãi tiền vay phải trả cho các tổ chức, cá nhân không phải là
ngân hàng, tổ chức tín dụng vượt trên mức không chế và phần chi phí
lãi vay để góp vốn pháp định, vốn điều lệ mà doanh nghiệp đã tính vào
chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ tính thuế thì không được chấp
thuận bởi chi phí hợp lý để tính thuế.
1.2.2.3. Đối với các khoản chi phí tiền phạt về vi phạm hành chính như
tiền phạt vi phạm giao thông; phạt vi phạm chế độ đăng ký kinh doanh;
phạt vi phạm hành chính về thuế,…Theo quy định của chuẩn mực kế
toán, các khoản chi phí này căn cứ vào các biên lai, chứng từ nộp phạt
doanh nghiệp ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
Nhưng đối với quy định của luật thuế TNDN, các khoản chi phí này
không được tính vào chi phí hợp lý để tính thu nhập chịu thuế. Do đó,
làm phát sinh chênh lệch giữa chi phí được ghi nhận vào chi phí sản
xuất kinh doanh trong kỳ và chi phí hợp lý để tính thu nhập chịu thuế.
1.2.2.4. Đối với chi phí tiền lương, tiền công: Theo quy định của chuẩn

mực kế toán toàn bộ các khoản tiền lương, tiền công doanh nghiệp tính
trả cho người lao động được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh
trong kỳ. Theo quy định tại khoản 1, điều 6 của luật thuế TNDN các
doanh nghiệp trả lương theo hợp đồng lao động nhưng không thực hiện
đúng chế độ hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật về lao động
thì không được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh hợp lý để tính thu
nhập chịu thuế.

14

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
1.2.2.5. Đối với các khoản chi tiền ăn giữa ca: Tại các doanh nghiệp có
chi tiền ăn giữa ca cho người lao động thì toàn bộ khoản chi phí này
được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh để xác định lợi nhuận
kế toán. Theo quy định của luật thuế TNDN, doanh nghiệp được tính
vào chi phí hợp lý các khoản chi tiền ăn giữa ca cho mỗi người lao
động nhưng mức chi cho mỗi người không vượt quá mức lương tối
thiểu do nhà nước quy định.
1.2.2.6. Đối với các khoản chi trang phục: Tại các doanh nghiệp có quy
định mặc trang phục đồng nhất tại nơi làm việc, chi phí may trang phục
cho cán bộ công nhân viên trong đơn vị được hạch toán vào chi phí sản
xuất, kinh doanh trong kỳ. Tuy nhiên, đối với quy định luật thuế TNDN
chỉ tính vào chi phí hợp lý để tính thu nhập chịu thuế ở mức chi tối đa
cho mỗi người lao động không vượt quá 500.000 đồng/năm. Do đó, đối
với các doanh nghiệp đã hạch toán vào chi phí các khoản chi trang phục
vượt quá mức quy định trên, thì làm phát sinh chênh lệch giữa chi phí
để tính lợi nhuận kế toán và chi phí để tính thu nhập chịu thuế.Từ đó,
làm cho lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế có sự chênh lệch.
1.2.2.7. Đối với các doanh nghiệp phát sinh lỗ do đánh giá lại các
khoản nợ phải trả, nợ phải thu tại thời điểm cuối năm tài chính. Theo

thông tư 201 ban hành ngày 15/10/2009 của BTC, đối với chênh lệch tỷ
giá hối đoái phát sinh do việc đánh giá lại số dư cuối năm của các
khoản nợ ngắn hạn (1 năm trở xuống) có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập
BCTC thì không hạch toán vào chi phí hoặc doanh thu tài chính mà để
số dư trên BCTC, đầu năm sau ghi bút toán ngược lại để xoá số dư. Đối
với chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh do việc đánh giá lại số dư cuối
năm của các khoản nợ dài hạn (trên 1 năm) có gốc ngoại tệ tại thời

15

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
điểm lập BCTC thì được xử lý như sau: Với các khoản nợ phải thu dài
hạn bằng ngoại tệ, công ty phải đánh giá lại số dư cuối năm của các loại
ngoại tệ, sau khi bù trừ, chênh lệch giảm được hạch toán vào chi phí tài
chính trong năm. Với các khoản nợ phải trả dài hạn bằng ngoại tệ, công
ty phải đánh giá lại số dư cuối năm của các loại ngoại tệ, sau khi bù trừ,
chênh lệch tăng tỷ giá hối đoái thì hạch toán vào chi phí tài chính trong
năm và được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh
nghiệp. Trường hợp hạch toán chênh lệch tỷ giá hối đoái vào chi phí
làm cho kết quả kinh doanh của công ty bị lỗ, thì có thể phân bổ một
phần chênh lệch tỷ giá cho năm sau để công ty không bị lỗ nhưng mức
hạch toán vào chi phí trong năm ít nhất cũng phải bằng chênh lệch tỷ
giá của số dư ngoại tệ dài hạn phải trả trong năm đó. Số chênh lệch tỷ
giá còn lại sẽ được theo dõi và tiếp tục phân bổ vào chi phí cho các năm
sau nhưng tối đa không quá 5 năm. Theo quy định của luật thuế TNDN
chỉ có các khoản lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản
nợ phải thu, nợ phải trả mà thời hạn nợ từ 12 tháng trở xuống mới được
tính vào chi phí hợp lý để tính thu nhập chịu thuế.
1.2.2.8. Đối với các khoản chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, chi
hoa hồng môi giới,…Theo quy định của chế độ tài chính, các khoản chi

này nếu có hóa đơn chứng từ hợp lệ được tính vào chi phí sản xuất,
kinh doanh theo số thực chi. Theo quy định tại khoản 11, điều 5 nghị
định số 164/2003/NĐ – CP chi tiết thi hành luật thuế thu nhập doanh
nghiệp, các khoản chi phí này nếu có hóa đơn, chứng từ hợp pháp gắn
với kết quả kinh doanh được tính vào chi phí hợp lý nhưng không vượt
quá 10% tổng các khoản chi phí theo quy định từ khoản 1 đến khoản 10
của điều 5 nghị định số 164/2003/NĐ – CP. Ngoài ra, đối với các hoạt

16

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
động kinh doanh thương nghiệp, tổng chi phí hợp lý xác định mức
khống chế không bao gồm giá vốn của hàng bán ra.
1.3. Chính sách kế toán của doanh nghiệp
Chính sách kế toán của doanh nghiệp là những nguyên tắc, cơ sở
và các phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong
quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính.
Lựa chọn chính sách kế toán là việc chọn lựa có cân nhắc nằm
trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán về các nguyên tắc, cơ sở và các
phương pháp kế toán mà doanh nghiệp có thể áp dụng trong các trường
hợp khác nhau nhằm phục vụ cho mục đích chủ quan của nhà quản trị.
Các chính sách kế toán của doanh nghiệp phân thành các loại sau:
1.3.1 Chính sách ghi nhận doanh thu
Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ thực hiện trong nhiều
kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của giao dịch trong từng kỳ được
thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành. Theo phương pháp này,
doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần
công việc đã hoàn thành. Phần công việc hoàn thành được xác định theo
một trong ba phương pháp tùy thuộc vào bản chất của dịch vụ:
+ Đánh giá phần công việc hoàn thành

+ So sánh tỷ lệ % giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với
tổng khối lượng công việc phải hoàn thành
+ Tỷ lệ % chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để
hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ.

17

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
Phần công việc hoàn thành không phụ thuộc vào các khoản thanh toán
định kỳ hay các khoản ứng trước của khách hàng.
Một trong ba phương pháp xác định phần công việc hoàn thành
để ghi nhận doanh thu trong kỳ phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan
của nhà quản trị. Các nhà quản trị có thể ghi nhận tăng doanh thu trong
kỳ so với thực tế bằng cách đánh giá phần công việc hoàn thành, tỷ lệ
% giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với khối lượng công việc
phải hoàn thành hoặc tỷ lệ % chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí
ước tính để hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ tăng lên.
Hoặc ngược lại có thể ghi nhận doanh thu giảm đi. Việc xác định mức
doanh thu ghi nhận trong kỳ sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán trong
kỳ, từ đó có thể làm cho lợi nhuận kế toán tăng lên hoặc giảm đi.
1.3.2. Chính sách kế toán về TSCĐ
TSCĐ thường là bộ phận chủ yếu trong tổng tài sản và đóng vai
trò quan trọng trong việc thể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Vì vậy, việc xác định một tài sản có được ghi nhận là TSCĐ hay là một
khoản chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ sẽ có ảnh hưởng đáng kể
đến báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3.2.1 Chính sách ghi nhận TSCĐ
a) Đối với TSCĐ hữu hình
Để ghi nhận là TSCĐ hữu hình đơn vị phải xác định mức độ chắc
chắn của việc thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, dựa trên các bằng

chứng hiện có tại thời điểm ghi nhận ban đầu và phải chịu mọi rủi ro
liên quan. Khi xác định các bộ phận cấu thành TSCĐ hữu hình, doanh
nghiệp phải áp dụng các tiêu chuẩn TSCĐ hữu hình cho từng trường

18

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
hợp cụ thể. Doanh nghiệp có thể hợp nhất các bộ phận riêng biệt không
chủ yếu như: khuôn đúc, công cụ, khuôn dập và áp dụng các tiêu chuẩn
TSCĐ hữu hình vào tổng giá trị đó. Các phụ tùng và thiết bị phụ trợ
thường được coi là tài sản lưu động và được hạch toán vào chi phí khi
sử dụng. Các phụ tùng chủ yếu và các thiết bị bảo trì được xác định là
TSCĐ hữu hình khi doanh nghiệp ước tính thời gian sử dụng chúng
nhiều hơn một năm. Nếu phụ tùng và thiết bị bảo trì chỉ được dùng gắn
liền với TSCĐ hữu hình và việc sử dụng chúng là không thường xuyên
thì chúng được hạch toán là TSCĐ hữu hình riêng biệt và được khấu
hao trong thời gian ít hơn thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu
hình liên quan.
Trong từng trường hợp cụ thể, có thể phân bổ tổng chi phí của tài
sản cho các bộ phận cấu thành của nó và hạch toán riêng biệt cho mỗi
bộ phận cấu thành. Trường hợp này được áp dụng khi từng bộ phận cấu
thành tài sản có thời gian sử dụng hữu ích khác nhau, hoặc góp phần tạo
ra lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp theo những tiêu chuẩn quy định
khác nhau nên được sử dụng các tỷ lệ và các phương pháp khấu hao
khác nhau. Ví dụ, một thân máy bay và động cơ của nó cần được hạch
toán thành hai TSCĐ hữu hình riêng biệt, có tỷ lệ khấu hao khác nhau,
nếu chúng có thời gian sử dụng hữu ích khác nhau.
b) Đối với TSCĐ vô hình
Doanh nghiệp cần phân biệt các chi phí ban đầu liên quan đến
TSCĐ vô hình, chi phí nào được ghi tăng nguyên giá, chi phí nào ghi

tăng chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Việc phân biệt này ảnh
hưởng đến chi phí phát sinh trong kỳ, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận
trong kỳ của doanh nghiệp có thể làm cho lợi nhuận trong kỳ của doanh

19

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
nghiệp tăng lên hoặc giảm đi. Ngoài những chi phí phát sinh liên quan
trực tiếp từ khâu thiết kế, triển khai, xây dựng đến khâu chuẩn bị đưa tài
sản vào trạng thái sử dụng được ghi nhận vào nguyên giá TSCĐ. Trong
đó, chi phí của giai đoạn triển khai được ghi nhận là TSCĐ vô hình nếu
thỏa mãn được 7 điều kiện:
- Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và
đưa tài sản vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán;
- Doanh nghiệp dự định hoàn thành tài sản vô hình để sử dụng
hoặc để bán;
- Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình đó;
- Tài sản vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương
lai;
- Có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực
khác để hoàn tất các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vô
hình đó;
- Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong
giai đoạn triển khai để tạo ra tài sản vô hình đó;
- Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo
quy định cho TSCĐ vô hình.
Trong 7 điều kiện để ghi nhận chi phí giai đoạn triển khai vào
nguyên giá TSCĐ vô hình, tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà
quản trị, có thể lựa chọn thỏa mãn 7 điều kiện này. Hoặc không thỏa
mãn 1 trong 7 điều kiện này, nhưng nếu không thỏa mãn 1 trong 7 điều

kiện trên thì toàn bộ chi phí phát sinh trong giai đoạn này được ghi
nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ. Điều này ảnh hưởng
trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận của doanh nghiệp. Các chi phí

20

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
khác phát sinh đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp
nhưng không được ghi nhận vào nguyên giá TSCĐ vô hình thì được ghi
nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ. Bao gồm: chi phí thành
lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhận viên và chi phí quảng cáo phát
sinh trong giai đoạn trước hoạt động của doanh nghiệp mới thành lập,
chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chi phí chuyển dịch địa điểm được
ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ hoặc được phân bổ
dần vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian tối đa không quá 3
năm. Đối với các khoản chi phí đã được doanh nghiệp ghi nhận là chi
phí để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ trước đó thì không được tái
ghi nhận vào nguyên giá TSCĐ vô hình.
1.3.2.2. Chính sách khấu hao TSCĐ
a) Đối với khấu hao TSCĐ hữu hình: Giá trị phải khấu hao của TSCĐ
hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng
hữu ích của chúng. Phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích
kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp. Số khấu hao của từng kỳ
được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng
được tính vào giá trị của các tài sản khác, như: Khấu hao TSCĐ hữu
hình dùng cho các hoạt động trong giai đoạn triển khai là một bộ phận
chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ vô hình (theo quy định của chuẩn
mực TSCĐ vô hình), hoặc chi phí khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho
quá trình tự xây dựng hoặc tự chế các tài sản khác. Có 3 phương pháp
khấu hao TSCĐ bao gồm:

+ Phương pháp khấu hao đường thẳng
+ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần

21

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
+ Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm
Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong 3 phương pháp trên để
tính và trích khấu hao TSCĐ. Tùy thuộc vào đặc điểm của TSCĐ, hoạt
động sản xuất kinh doanh và mục đích của doanh nghiệp mà doanh
nghiệp có thể lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp. Bởi lẽ việc
trích khấu hao TSCĐ sẽ được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh
trong kỳ. Do đó, lựa chọn phương pháp khấu hao sẽ cho phép dịch
chuyển lợi nhuận giữa các niên độ. Cụ thể như doanh nghiệp áp dụng
phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần sẽ làm gia tăng chi phí,
giảm lợi nhuận trong những năm đầu, hoặc áp dụng phương pháp khấu
hao đường thẳng sẽ làm cho phần khấu hao được ghi nhận vào chi phí
liền đều qua các năm sử dụng,…
b) Đối với khấu hao TSCĐ vô hình: Giá trị phải khấu hao của TSCĐ vô
hình được phân bổ một cách có hệ thống trong suốt thời gian sử dụng
hữu ích ước tính hợp lý của nó. Thời gian tính khấu hao của TSCĐ vô
hình tối đa là 20 năm. Việc tính khấu hao được bắt đầu từ khi đưa
TSCĐ vô hình vào sử dụng. Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ vô
hình có thể vượt quá 20 năm khi có những bằng chứng tin cậy. Việc
trích khấu hao TSCĐ vô hình được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh
doanh trong kỳ. Do vậy, lựa chọn phương pháp khấu hao và ước tính
thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ sẽ ảnh hưởng đến giá trị khấu hao
cần trích lập từ đó ảnh hưởng đến chi phí trong kỳ báo cáo.
Doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian
sử dụng hữu ích ước tính của tài sản, nếu trong suốt thời gian sử dụng

hữu ích của TSCĐ vô hình, doanh nghiệp xét thấy có thể thay đổi cách
thức ước tính về lợi ích kinh tế trong tương lai mà doanh nghiệp dự tính

22

Nguyễn Thị Minh Trang, LV thạc sỹ, 2010
thu được. Do đó, có thể thay đổi phương pháp khấu hao. Ví dụ: Phương
pháp khấu hao theo số dư giảm dần phù hợp hơn phương pháp khấu hao
đường thẳng. Ngoài ra, nếu thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài
sản khác biệt lớn so với các ước tính trước đó thì thời gian khấu hao
phải được thay đổi tương ứng. Ví dụ: Thời gian sử dụng hữu ích có thể
tăng lên do đầu tư thêm chi phí làm tăng năng lực của tài sản so với
năng lực hoạt động được đánh giá ban đầu.
Tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể doanh nghiệp có thể lựa
chọn thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng hữu ích của
tài sản, việc lựa chọn này nằm trong giới hạn cho phép. Tuy nhiên, nó
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí ghi nhận trong kỳ để xác định lợi
nhuận kỳ báo cáo.
1.3.2.3. Chính sách về sửa chữa TSCĐ
Để duy trì năng lực hoạt động cho TSCĐ trong suốt thời gian sử
dụng doanh nghiệp cần phải sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ. Có hai loại
sửa chữa TSCĐ đó là sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn, với mỗi loại sửa
chữa sẽ phát sinh chi phí sửa chữa. Tuy nhiên, chi phí sửa chữa này
được hạch toán vào chi phí khác nhau ứng với mỗi loại sửa chữa. Từ đó
sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ báo cáo.
a) Đối với sửa chữa nhỏ TSCĐ: là loại sửa chữa có mức độ hư hỏng
nhẹ, thời gian sửa chữa ngắn, chi phí sửa chữa phát sinh ít. Do vậy, toàn
bộ chi phí sửa chữa doanh nghiệp hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh
doanh trong kỳ.
b) Đối với sửa chữa lớn: là loại sửa chữa có mức độ hư hỏng nặng, thời

gian sửa chữa dài, chi phí sửa chữa phát sinh nhiều. Vì thế nếu doanh

×