Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

Chuong 5 tác ĐỘNG của TÌNH HÌNH THẾ GIỚI CUỐI THẾ kỷ XIX, đầu THẾ kỷ XX đối với CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (196.28 KB, 21 trang )

CHƯƠNG IV
TÁC ĐỘNG CỦA TÌNH HÌNH THẾ GIỚI CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU
THẾ KỶ XX ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Chủ nghĩa Mác- Lênin khẳng định cách mạng mỗi nước luôn là một bộ phận
của cách mạng thế giới, vận động và phát triển theo xu thế chung của thời đại. Cách
mạng Việt Nam vận động và phát triển trong sự vận động và chung của thời đại.
I. SỰ XÂM CHIẾM VÀ KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA CHỦ NGHĨA
ĐẾ QUỐC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ
1- Sự xâm chiếm và khai thác thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, những tiến bộ kỹ thuật đã làm cho lực
lượng sản xuất tăng lên nhanh chóng và biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội. Nước Anh
sau cách mạng tư sản là nước có chế độ chính trị quân chủ lập hiến. Hai Đảng của
giai cấp tư sản là Đảng Bảo thủ và Đảng tự do thay nhau cầm quyền ở Anh. Anh
xâm chiếm Ai Len đầu tiên, sau đó chiếm Ấn Độ, Singapo, Malaixia, Ápgani
xtan…. Anh là cường quốc số một về xâm chiếm thuộc địa. Tính đến năm 1914,
nước Anh có diện tích thuộc địa là 33 triệu km2 với dân số là 400 triệu người.
Pháp là cường quốc đế quốc số hai. Năm 1881, Pháp bắt đầu chiếm Tuynidi
và đến 1890 đã chiếm 3/4 diện tích châu Phi. Cùng thời gian đó Pháp xâm lược
Đông Dương. Diện tích thuộc địa của Pháp là 10 triệu km 2 với dân số là 60 triệu
người.
Do những thuận lợi tài nguyên, dân cư, chế độ đồn điền và mở rộng thị
trường, giai cấp tư sản đã nền kinh tế Mỹ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX phát triển
rất nhanh. Năm 1894, sự tập trung tư bản và tập trung sản xuất ở Mỹ lên rất cao.
Các ngành công nghiệp lớn lần lượt rơi vào tay các nhà tư bản kếch xù và liên minh


với nhau thành các tơ-rốt như “vua dầu lửa” Rốccơpheolơ và “vua sắt thép”
Mogân, “vua đường sắt” Vanđócbin. Sản phẩm công nghiệp của Mỹ đứng đầu thế
giới, gấp đôi nước Anh và bằng nửa các nước Tây Âu gộp lại. Các trùm tư bản tài
chính kếch sù tập trung ở phố U-ôn, Niu-ooc chi phối nền kinh tế Mỹ. Do sinh sau


các cường quốc tư bản khác nên tư bản Mỹ có rất ít thị trường thế giới. Cuối thế kỷ
XIX, sau khi kinh tế phát triển, Mỹ hung hăng vươn ra Thái Bình Dương, xâm
chiếm thuộc địa. Năm 1898 gây chiến với Tây-Ban-Nha chiếm Phi-Líp-Pin, can
thiệp vào Trung Quốc, chiếm Cu Ba, can thiệp vào các nước Mỹ la tinh, cùng với
Nhật gây chiến tranh Nga-Nhật năm 1905...v.v. Mỹ ngày càng hung hăng trong
việc kích động phân chia lại thị trường thế giới.
Nước Đức sau khi thống nhất (18-1-1871), kinh tế tư bản chủ nghĩa phát
triển rất nhanh. Sản xuất công nghiệp Đức nhanh chóng vượt Pháp, vượt Anh, vươn
lên đứng đầu Châu Âu và xếp thứ hai thế giới, sau Mỹ. Năm 1913 sản lượng gang
thép của Đức đã gấp đôi Anh. Các công ty độc quyền lớn ở tất cả các ngành công
nghiệp quan trọng của Đức đã ra đời. Độc quyền than đá Rainisơ Vexphalen kiểm
soát tới 95% sản lượng than đá toàn quốc...v.v. Đức là một liên bang do hoàng đế
phong kiến đứng đầu. Các quí tộc phong kiến Đức cấu kết chặt chẽ với tư bản độc
quyền để tranh đua vũ trang và xâm lược thuộc địa. Chủ nghĩa quân phiệt, hiếu
chiến là tính chất điển hình của chủ nghĩa đế quốc Đức. Chúng giáo dục tư tưởng
sùng bái bạo lực, nêu ra thuyết người Đức là chủng tộc siêu việt và rất hung hăng
đòi chia lại thị trường thế giới.
Nhật gây chiến tranh với Nga năm 1905...v.v. Mỹ, Nhật hung hăng kích
động phân chia lại thị trường thế giới.
Năm 1876, các tư bản châu Âu chiếm 10,8% lãnh thổ châu Phi, đến năm
1900 chúng đã chiếm được 90,4%. Tính đến năm 1914, tất cả các nước Á, Phi đã
trở thành thuộc địa của tư bản phương Tây. Tổng số 6 nước Anh, Pháp, Nga, Đức,
Nhật, Mỹ đã chiếm 65 triệu km2 và thuộc địa của 6 nước đó gấp 2,5 lần Châu Âu…
2


Ở các nước đó, với mức độ khác nhau, giai cấp tư sản ngày càng đi vào con đường
phản động. Những đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc đã hình thành.
Nghiên cứu sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh phát triển ở
mức độ cao, chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. V.I. Lê nin đã tổng kết, nêu

ra 5 đặc trưng của quá trình đó:
Một là, sự tập trung sản xuất và tập trung tư bản ở mức độ cao, tạo ra các tổ
chức độc quyền, đóng vai trò quyết định trong nền kinh tế quốc gia.
Hai là, sự thống nhất tư bản công nghiệp với tư bản ngân hàng trong các hoạt
động kinh doanh hình thành các trùm tư bản tài chính.
Ba là, xuất khẩu tư bản ra nước ngoài dười dạng cho vay hoặc đầu tư xây
dựng nhà máy, bóc lột lao động thuộc địa ngày càng mạnh mẽ.
Bốn là, liên minh giữa các tổ chức độc quyền để phân chia thị trường thế
giới.
Năm là, các đế quốc lớn phân chia xong thế giới, sau đó lại tiếp tục đấu tranh
với nhau để đòi chia lại.
Cuộc chiến tranh giữa Tây Ban Nha và Mỹ năm 18 là cuộc chiến tranh đế
quốc đầu tiên. Tiếp theo đó là cuộc chiến tranh Anh- Bôơ (1899- 1902), chiến tranh
Nga- Nhật (1904-1905) … các đế quốc đang tích cực chuẩn bị để xâu xé thế giới.
2. Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và Đông Dương
Sự xâm chiếm và khai thác thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, đã làm cho tính
chất xã hội và cơ cấu giai cấp- xã hội các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam,
thay đổi nhanh chóng. Mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn xã hội trong các thuộc địa
ngày càng gay gắt. Thế giới đang nổi lên nhiều mâu thuẫn lớn nhưng cơ bản nhất là
giữa đế quốc với đế quốc và mâu thuẫn giữa đế quốc với các dân tộc thuộc địa.
Chiến tranh thế giới đang đến gần.

3


Từ năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, năm 1863 uy hiếp chiếm
Cămpuchia. Đến ngày 25-8-1883, thực dân Pháp ép triều Nguyễn ký Hiệp ước
Hácmăng gồm 27 điều khoản thừa nhận Pháp được toàn quyền thống trị Việt Nam.
Hiệp ước này gồm 27 khoản, trong đó triều đình Huế công nhận Nam kỳ là thuộc
địa của Pháp, phần còn lại đặt dưới sự “bảo bộ” của Pháp. Việt Nam chia làm 3 kỳ.

Từ Bình Thuận vào Nam bộ, tức Nam kỳ là thuộc địa của Pháp, từ Ninh thuận đến
Đèo Ngang, thuộc miền Trung theo chế độ nửa bảo hộ, từ Đèo Ngang ra Bắc, theo
chế độ bảo hộ. Nhà Nguyễn bị tước bỏ hoàn toàn quyền ngoại giao với các nước.
Ngày 6-6-1884, thực dân Pháp tiếp tục ép triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp
ước Patơnốt, gồm 19 khoản, nội dung căn bản giống như hiệp ước năm 1883. Nước
Pháp được toàn quyền trong mọi quan hệ đối ngoại ở Việt Nam. Các tỉnh Hà Tĩnh,
Nghệ An, Thanh Hoá được sát nhập vào Trung Kỳ đặt dưới sự bảo hộ của Pháp.
Ngoài ra, ngày 9-6-1885, thực dân Pháp và nhà Thanh còn ký một bản Hiệp ước
Thiên Tân, trong đó nhà Thanh thừa nhận Pháp thống trị Việt Nam. Ngày 26-61887, Pháp và Mãn Thanh ký công ước hoạch định biên giới Việt- Trung trên bộ và
vùng vịnh hai nước. Năm 1893, Pháp hoàn thành công cuộc bình định ở Lào, hoàn
thành chiếm toàn bộ Đông Dương. Như vậy đến cuối thế kỷ XIX, Việt Nam và
Đông dương hoàn toàn thành thuộc địa của Pháp.
II. CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT ( 1914-1918) VÀ HẬU QUẢ CỦA

1. Chiến tranh thế giới thứ nhất ( 1914-1918)
Chiến tranh thế giới thứ nhất là chiến tranh giữa các nước đế quốc, lôi cuốn
quần chúng tham gia phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản cầm quyền. Các nước
đế quốc mới hình thành như Mỹ, Đức, Nhât có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn
nhưng có rất ít thuộc địa. Các nước đế quốc Anh, Pháp, Nga có nhiều thuộc địa.
Đức là nước rất tích cực chuẩn bị chiến tranh nhằm phân chia lại đất đai thế giới.

4


Mâu thuẫn do quy luật phát triển không đều về kinh tế và chính trị giữa các
nước tư bản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa; mâu thuẫn tranh giành thuộc địa giữa
các đế quốc với nhau đã không thể khắc phục nổi ngoài con đường dùng bạo lực
chiến tranh chia lại thế giới. Từ cuối thế kỷ XIX, Châu Âu đã có hai liên minh quân
sự lớn. Một bên là các nước phe Đồng minh gồm Đức, Áo, Hung, sau thêm Thổ,
Bun-ga-ri... Một bên là phe Hiệp ước gồm Anh, Pháp, Nga, sau thêm Nhật, Italia…

Hai tập đoàn này đã tăng cường chạy đua vũ trang, chuẩn bị chiến tranh.
Ngày 28-7-1914, Áo, Hung được Đức hỗ trợ tuyên chiến đánh Xéc-bi để trả
thù cho đại diện chính phủ Áo bị ám sát ở Bôxnia. Nga tuyên bố ủng hộ Xécbi.
Ngày 1-8-1914, Đức tuyên chiến với Nga và Pháp. Nhân đó Anh, Nga, Pháp tuyên
chiến với Đức, Áo, Hung. Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ.
Giai đoạn đầu, Đức chủ trương đánh nhanh thắng nhanh nhưng phải đối phó
trên hai mặt trận cùng một lúc. Chiến sự giữa hai phe năm 1914 ở trạng thái cầm
cự. Giai đoạn 2, từ năm1915-1916 chiến sự lan rộng toàn thế giới. Cả hai bên đều
lâm vào tình trạng khủng hoảng. Giai đoạn 3, Từ tháng 4-1917, Mỹ nhảy vào tham
chiến, tấn công Đức. Chiến sự năm 1917-1918 chuyển biến nhanh chóng. Các mắt
xích yếu nhất trong hệ thống đế quốc đã xuất hiện. Cách mạng xã hội chủ nghĩa
tháng Mười năm 1917 ở Nga bùng nổ và thắng lợi. Ngày 18-7-1918, quân đội Anh,
Pháp chuyển sang tiến công. Ngày 9-11-1918 cách mạng tư sản thắng lợi ở Béc-lin.
Đức trở thành nước cộng hoà tư sản. Ngày 11-11-1918, Đức phải ký quyết định đầu
hàng vô điều kiện.. Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc.
2. Hậu quả của chiến tranh thế giới thứ nhất
Chiến tranh thế giới thứ nhất kéo dài hơn 4 năm, từ 7-1914 đến 11-1918.
Đây là cuộc chiến tranh có quy mô to lớn và tàn phá dữ dội nhất trong lịch sử thế
giới đến bấy giờ. 36 nước đã tham chiến với 70 triệu người tham gia lực lượng vũ
trang. Tổng số 10 triệu người bị chết trận, 20 triệu người bị thương, tàn phế, tổng
thiệt hại vật chất lên tới 338 tỷ đô la Mỹ.
5


Chiến tranh đã làm cho phe Đức, Áo, Hung thất bại thiệt hại nặng nề, các
nước tư bản Tây Âu đều kiệt quệ. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Ngày 18-11919, 27 nước thắng trận trong chiến tranh thế giới I đã họp Hội nghị Vécxay
(ngoại ô Pari, Pháp) để phân chia lợi lộc sau chiến tranh. Ngày 28-6-1919, Hiệp
ước Vécxay gồm 3 điều khoản chính được ký kết. Về an ninh, Đức không có vũ khí
tối tân, không có bộ tham mưu quân sự, quân đội rút còn 100.000 người. Về lãnh
thổ, Đức phải trả cho Pháp 2 tỉnh Andát và Loren, nhường khu Ôpen, Manmơđi

cho Bỉ, vùng Bắc Sơlétuýt cho Đan Mạch, vùng Potxnani và hành lang ra biển cho
Ba lan; một số vùng đất của Đức trở thành vùng đất “ uỷ trị”. Về bồi thường chi
phí: Đức phải chịu do một Uỷ ban bồi thường quy định....
Hoà ước Véc -xay là văn bản chính thức xác định phân chia lợi lộc của các
đế quốc thắng trận sau chiến tranh và tổ chức lại thế giới tư bản. Qua chiến tranh,
Mỹ giàu lên nhanh chóng vì đứng ngoài bán vũ khí cho cả hai bên. Năm 1917, Mỹ
lãi 10,7 tỷ đô la. Các nước Tây Âu trở thành con nợ của Mỹ. Sau chiến tranh Mỹ
vươn lên chi phối và xếp đặt lại thế giới tư bản có lợi cho Mỹ.
Chiến tranh đã đem lại chết chóc, đói khổ lên nhân dân các nước, kể cả các
thuộc địa. Pháp là nước tham chiến, thiệt hại tới 125 tỷ phrăng nên nhân dân Việt
Nam cũng chịu nhiều hậu quả hết sức nặng nề. Pháp trút gánh nặng chiến tranh,
tăng cường thống trị và khai thác, bóc lột, bắt lính ở thuộc địa phục vụ chiến tranh.
Chủ nghĩa đế quốc vốn có nhiều mâu thuẫn, sau chiến tranh, xuất hiện các mâu
thuẫn mới quyết liệt hơn.
Trong chiến tranh đế quốc, cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga
1917 thành công đã mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử thế giới. Quần chúng lao
động tất cả các nước trên thế giác ngộ sâu sắc những bài học của chiến tranh và
được chủ nghĩa Mác- Lênin soi đường, cách mạng tháng Mười cổ vũ, càng hướng
về cách mạng Nga tích cực đấu tranh với chủ nghĩa đế quốc. Cao trào cách mạng
thế giới phát triển.
6


III. CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THÁNG MƯỜI NGA 1917 VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ.
1. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga 1917
Đầu thế kỷ XX, Nga là một nước quân chủ chuyên chế, chủ nghĩa tư bản có
phát triển nhưng ở mức độ trung bình, những tàn tích của chế độ nông nô còn nặng
nề. Nước Nga là nơi tập trung cao độ những mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc.
Việc nước Nga tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất từ 1914 đã làm cho mâu

thuẫn giữa đế quốc Nga với các đế quốc Tây Âu thêm sâu sắc. V.I. Lê-nin đã kêu
gọi Đảng (B) cần tích cực hành động, "Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến
cách mạng”.
Đầu năm 1917, nền thống trị của Nga Hoàng lâm vào tình trạng khủng hoảng
nguy kịch. Cách mạng tháng Hai 1917 ở Nga thắng lợi. Hai chính quyền mới, ở
trung ương là chính phủ lâm thời trong tay giai cấp tư sản, ở các địa phương là các
Xôviết đại biểu công nhân và binh lính do Đảng (B) lãnh đạo ra đời. Thời cơ cách
mạng đã đến. V.I Lê-nin và Đảng Bônsêvích Nga đã chuẩn bị chu đáo cho cách
mạng.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Nga diễn ra qua hai giai đoạn. Thời kỳ đầu từ
tháng 3 đến tháng 7-1917 là thời kỳ Đảng lãnh đạo đấu tranh hoà bình, thực hiện
khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay Xô viết”. Thời kỳ từ tháng 7 đến tháng 10
là thời kỳ khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Ngày 25-9-1917 giai cấp tư sản,
chớp thời cơ, thành lập chính quyền mới do Kê-ren-xki đứng đầu và chuẩn bị đầu
hàng quân Đức. Ngày 7-10-1917, V.I. Lênin từ Phần lan bí mật về Xanh Pêtécbua.
Ngày 10-10-1917, kế hoạch khởi nghĩa vũ trang được triển khai. từ tháng 3- 1917
và đến ngày 25 tháng Mười 1917 thắng lợi ở thủ đô Pêtécbua. Ngay khi đêm đó,
Đại hội các Xô viết lần II được triệu tập thông qua hai sắc lệnh quan trọng do Lênin
soạn thảo là Sắc lệnh Hoà bình và Ruộng đất, thành lập chính quyền Xôviết do V.I
Lênin đứng đầu và tuyên bố nước Nga rút ra khỏi chiến tranh đế quốc.
7


2. Ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga 1917
a- Ý nghĩa lịch sử và bài học của cách mạng
Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga 1917 đã làm thay đổi tận gốc rễ
các quan hệ xã hội trên cơ sở bóc lột của nước Nga trước đây. Lần đầu tiên trong
lịch sử, nhà nước Xô viết- nhà nước xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh
đạo đã ra đời trên một phần sáu lục địa trái đất. Giai cấp công nhân Nga với Đảng
tiên phong của nó là Đảng (B) đã trở thành giai cấp cầm quyền. Những tiên đoán

của Mác -Ăng ghen về chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực.
Cách mạng tháng Mười Nga 1917 có ý nghĩa quốc tế phổ biến. Nó đã mở ra
một thời kỳ mới, thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế
giới, thời kỳ thắng lợi của cách mạng vô sản và ra đời các Đảng Cộng sản trên thế
giới; thời kỳ phát triển của phong trào Cộng sản và công nhân, phong trào giải
phóng dân tộc quốc tế; thời kỳ tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản.
Cách mạng tháng Mười Nga là dấu mốc thắng lợi của học thuyết Mác- Lê
nin đối với các trào lưu tư tưởng phản động và khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa
trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Nó để lại cho lịch sử cách mạng
thế giới những bài học mẫu mực về phương pháp cách mạng.
Những bài học cách mạng Tháng Mười để lại có ý nghĩa hết sức to lớn đối
với phong trào giải phóng dân tộc của các nước trê thế giới nói chung và cách
mạng Việt Nam nói riêng. Cách mạng tháng Mười Nga 1917 chỉ ra rằng, cách
mạng muốn thắng lợi phải không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng cách
mạng kiểu mới của giai cấp công nhân; có khối liên minh giai cấp công nhân và
nông dân do giai cấp công nhân lãnh đạo; phải kiên quyết sử dụng bạo lực cách
mạng chống bạo lực phản cách mạng; nắm vững và chớp thời cơ cách mạng; xây
dựng và tăng cường nhà nước vô sản, kết hợp chặt chẽ tinh thần yêu nước với tinh
thần quốc tế.

8


Sau khi cách mạng Tháng Mười nổ ra, năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã tuyên
truyền ủng hộ nước Nga Xô viết và tuyên truyền về cách mạng tháng Mười ở thủ
đô Pari. Đồng chí Tôn Đức Thắng đã kéo cờ phản chiến, cùng công nhân và thuỷ
quân Pháp khởi nghĩa trên hạm đội ở Hắc hải phản đối đế quốc Pháp và các nước
khác bao vậy, can thiệp vào nước Nga.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tháng Mười có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với số phận các dân tộc phương

Đông. Nó đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức ở châu Á, chỉ cho nhân dân các nước
thuộc địa và phụ thuộc con đường giải phóng, nêu gương tự do dân tộc thực sự”1.
b. Sự ra đời Quốc tế cộng sản và vai trò của nó
Quốc tế III- Quốc tế Cộng sản ra đời tháng 3 năm 1919, lúc đầu gồm 19
đảng cách mạng và 15 quan sát viên là sự kiện tác động mạnh mẽ đến cách mạng
thế giới và Việt Nam. Cương lĩnh của Quốc tế Cộng sản vạch ra đường lối cách
mạng triệt để và khoa học của phong trào cách mạng là lật đổ chính quyền tư sản,
giành chính quyền vô sản, thiết lập chuyên chính vô sản.
Quốc tế Cộng sản yêu cầu những Đảng nào tham gia vào Quốc tế Cộng sản
cũng phải tuân thủ 21 điều kiện do Quốc tế Cộng sản đưa ra, trong đó có điều kiện
đi theo con đường cách mạng tháng Mười Nga, lấy nền tảng tư tưởng của Đảng là
chủ nghĩa Mác, lấy tên là Đảng là Đảng Cộng sản...
Nguyễn Ái Quốc, ngay khi ở Pháp đã biết đến cách mạng tháng Mười Nga
1917. Sau 17- 12 năm 1920, Người được đọc bản Sơ thảo Luận cương về những
vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin chuẩn bị cho Đại hội II của Quốc
tế Cộng sản, đã tìm thấy ở đây cảm xúc phấn khởi, tin tưởng. Người thấy ở đây
điều cần thiết nhất. “Hỡi đồng bào bị đày đoạ đau khổ! Đây là cái cần thiết cho
chúng ta, đây là con đường để giải phóng cho chúng ta!” 2. Người khẳng định: “chỉ
1
2

Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 576.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 127.

9


có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức
và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” 3. Từ đây, Người khẳng định
muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường

cách mạng vô sản. Người đã hoàn toàn tin theo Lênin và bỏ phiếu tán thành Quốc
tế Cộng sản.
Nguyễn Ái Quốc đã dự và đọc nhiều tham luận tại các phiên họp của Đại hội
V Quốc tế cộng sản (6-1924). Sau này Người đã trở thành phái viên của Ban
Phương Đông của Quốc tế Cộng sản công tác tại Trung Quốc.
Quốc tế Cộng sản là nơi Nguyễn Ái Quốc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa
Mác - Lênin và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào yêu nước Việt
Nam. Khi Quốc tế Cộng sản được thành lập, nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của tổ chức.
Đó là nơi mà Nguyễn Ái Quốc hoạt động để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào
Việt Nam. Theo đề nghị của Người, Quốc tế Cộng sản giúp đỡ phong trào đấu
tranh của nhân dân ta; đã góp nhiều ý kiến và tiếp tục đưa những cán bộ đã được
đào tạo ở Liên Xô về nước hoạt động trong phong trào cách mạng. Quốc tế Cộng
sản đã mở trường đại học Phương Đông, đào tạo cán bộ cách mạng, tiến hành tuyên
truyền tư tưởng cộng sản, đề ra được đường lối, phương hướng và trực tiếp chỉ đạo,
giúp đỡ các nước thuộc địa và phụ thuộc, trong đó có Việt Nam đấu tranh chống
ách thống trị của thực dân Pháp.
Quốc tế Cộng sản luôn dõi theo từng bước phát triển của cách mạng Việt
Nam khi thấy ở Việt Nam có những tổ chức cộng sản, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư
yêu cầu hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng. Đảng Cộng sản Việt
Nam được thành lập, Quốc tế Cộng sản đã công nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là
một bộ phận của Quốc tế Cộng sản. Như vậy, Quốc tế Cộng sản có vai trò to lớn
trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam và đào tạo lớp cán bộ
Việt Nam yêu nước.
3

Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 128.

10



c. Liên xô xây dựng chủ nghĩa xã hội và ảnh hưởng của nó
Từ 1917-1920, Nước Nga ở trong thời kỳ khó khăn chống can thiệp và nội
chiến. Từ 3-1921, Đại hội X, Đảng (B) Nga đã quyết định kết thúc thực hiện chính
sách Cộng sản thời chiến sang thi hành chính sách kinh tế mới. Ngày 20-12-1922,
Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa xô viết (Liên Xô) ra đời. Từ 1-1925, Liên Xô
tiến hành công nghiệp hoá đất nước. Từ tháng 12-1927 Liên Xô tiến hành tập thể
hoá nông nghiệp.
Dù mới bước đầu đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, Liên Xô đã đạt được
những thành tựu to lớn như. Nền kinh tế phát triển nhanh chónh. Các cơ sở kinh tế
dẫn đến chế độ bóc lột đã bị thủ tiêu. Trong xã hội, về cơ bản chỉ còn công nhân,
nông dân và trí thức xã hội chủ nghĩa. Trình độ văn hoá, sự giác ngộ của người dân
Liên Xô đã ở mức tiên tiến. Đất nước không còn kẻ áp bức bóc lột, người đói khổ
lầm than. Đời sống nhân dân không ngừng tăng lên làm cơ sở cho phúc lợi công
cộng cũng tăng lên nhanh chóng. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tính tự giác và tính
tích cực của người dân nâng cao. Cơ sở xã hội của chính quyền được củng cố.
Niềm tin vào Đảng vào chủ nghĩa xã hội tăng lên, nền quốc phòng Liên Xô phát
triển vững mạnh, uy tín quốc tế không ngừng tăng lên, quan hệ ngoại giao ngày
càng mở rộng.
Những thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô thực sự
biến Liên Xô thành một nước hùng mạnh, là chỗ dựa vững chắc của phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế. Từ tháng 6-1923 dến cuối năm 1924, Nguyễn Ái
Quốc đã ở Liên Xô, thực tiễn nghiên cứu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
đây và phác thảo những vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam. Tháng 6 năm
1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, Người ra sức tìm hiểu về Nhà nước
Xô Viết, ra sức tìm hiểu các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Người còn tham gia nhiều
hội nghị như Quốc tế nông dân, Quốc tế thanh niên. Từ ngày 17 - 6 đến ngày 8 - 7 1924, Người dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản. Tại Đại hội, bằng những
11


chứng cứ cụ thể về những bản số liệu, Người đã làm sáng tỏ và phát triển một số

luận điểm của Lênin về bản chất của chủ nghĩa thực dân, về nhiệm vụ của các Đảng
Cộng sản trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột và giải phóng dân
tộc ở các nước thuộc địa. Người tiếp tục phát triển và hoàn thiện thêm tư tưởng về
cách mạng giải phóng dân tộc với những nội dung tư tưởng trong những năm 20
của Người.
Một là, Người chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa thực dân là “ăn cướp” và “giết
người”. Chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa, của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động trên thế giới.
Hai là, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng thế giới.
“Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc
giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế
giới”4.
Ba là, cách mạng ở các nước nông nghiệp lạc hậu, nhân dân lao động là lực
lượng chính trong xã hội. Do vậy, cách mạng giải phóng dân tộc muốn giải phóng
được phải thu phục và lối kéo được nông dân tham gia.
Bốn là, cách mạng muốn giành được thắng lợi, trước hết phải có Đảng cách
mạng nắm vai trò lãnh đạo. Đảng muốn vững phải theo học thuyết Mác - Lênin.
Đảng phải có đội ngũ cán bộ sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục đích của Đảng.
Năm là, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân chứ không phải
việc của một người. Vì vậy, cần tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức tập hợp
quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao.
Liên xô trở thành chỗ dựa, thành nơi đào tạo lớp cán bộ đầu tiên cho cách
mạng Việt Nam. Nước Nga trở thành thành trì của phong trào cách mạng thế giới,
đã giúp đỡ cách mạng Việt Nam đào tạo những lớp người cộng sản đầu tiên, như:

4

Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 416.

12



đồng chí Trần Phú, đồng chí Lê Hồng Phong,... Đó là những người cộng sản tiên
phong của cách mạng Việt Nam sau này.
Những quan điểm trên của Người cùng các tài liệu bí mật đã được đưa theo
đường bí mật của Đảng Cộng sản Pháp về nước, truyền đến nhân dân Việt Nam, từ
đây những người yêu nước Việt Nam đã hướng theo Nguyễn Ái Quốc.
IV. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁCH MẠNG PHÁP, TRUNG QUỐC VÀ NHẬT
BẢN VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1. Ảnh hưởng của cách mạng Pháp
Chiến tranh thế giới để lại cho nước Pháp hậu quả khủng hoảng kinh tế nặng
nề. Thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời Quốc tế Cộng sản tác
động mạnh mẽ đến tình hình chính trị, xã hội Pháp. Phong trào bãi công của công
nhân Pháp vào năm 1918 phát triển thành cao trào cách mạng mạnh mẽ trong cả
nước. Những cuộc bãi công, biểu tình chính trị chống chiến tranh, ủng hộ nước Nga
Xô viết ngày càng mang tính chất quần chúng rộng rãi, lôi cuốn hàng triệu người
tham gia.Tuy nhiên phong trào cách mạng Pháp không thể tiến triển cao hơn vì
thiếu sự lãnh đạo thống nhất.
Từ năm 1918, Đảng xã hội Pháp, Đảng của giai cấp công nhân Pháp ngày
càng chia rẽ thành nhiều khuynh hướng chính trị. Sau khi Quốc tế Cộng sản thành
lập, Đảng xã hội Pháp bị phân hoá thành ba trường phái: Một số theo Quốc tế Cộng
sản, một số muốn theo Quốc tế II, số còn lại nửa chừng muốn thành lập Quốc tế hai
rưỡi. Năm 1919, Người gia nhập Đảng xã hội Pháp- một đảng tiến bộ, chủ trương
chống lại chính sách áp bức bóc lột của thực dân Pháp ở các nước thuộc địa. Thay
mặt nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Người gửi tới Hội nghị Vécxây bản
yêu sách của nhân dân Việt Nam để tố cáo tội ác của thực dân Pháp và đòi chính
phủ Pháp phải thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng cho dân tộc
Việt Nam.

13



Khoảng đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc vào Đảng xã hội Pháp. Khi được
hỏi vì sao vào Đảng này, Người trả lời: Chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh
vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng
Pháp: tư do, bình đẳng, Bác ái. Vào Đảng xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc có dịp gần
gũi và hoạt động với các nhà chính trị nổi tiếng của Pháp như Mácxen Casanh, Pôn
Vayăng- Cutuyrie, Lêông Bơlum…
Sau ngày 17-7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc tác phẩm Sơ thảo lần thứ nhất
những luận cương về những vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin và
tin theo Lênin và Quốc tế III. 22 giờ ngày 29-12-1920, tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp tại thành phố Tua, Nguyễn Ái Quốc cùng
những người phái tả bỏ phiếu tán thành Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), tuyên bố
tách ra khỏi Đảng xã hội Pháp, thành lập Đảng Cộng sản Pháp.
Hành động bỏ phiếu ủng hộ Quốc tế III là sự kiện đánh dấu bước nhảy vọt
trong tư tưởng chính trị của Nguyễn Ái Quốc. Từ lập trường yêu nước chuyển sang
lập trường vô sản, từ một người Việt Nam yêu nước trở thành người cộng sản và là
người đảng viên cộng sản Việt Nam đầu tiên. Sự kiện đó cũng mở ra cho cách
mạng giải phóng dân tộc Việt Nam một giai đoạn phát triển mới “giai đoạn gắn
phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân
Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước
đến với chủ nghĩa Mác - Lênin”5.
Từ năm 1921, hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc tiếp
tục học tập để bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước của mình. Giữa năm 1921
tại Pháp, Người sáng lập ra Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa để tiến hành tuyên
truyền đường lối vào các hoạt động của hội, Nguyễn Ái Quốc cùng những người
trong hội sáng lập ra tờ báo “Người cùng khổ”. Năm 1925, Người cho in tác phẩm
“Bản án chế độ thực dân Pháp” ở Pari.
Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi
mới, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 127.

5

14


Tham dự ba Đại hội của Đảng Cộng sản Pháp, Đại I (1921), Đại hội II
(1922). Đậi hội III (1923), với tư cách là Trưởng tiểu ban Đông Dương của Đảng
Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã góp phần quan trọng vào việc tố cáo tội ác của
thực dân Pháp ở các thuộc địa, đồng thời tuyên truyền tư tưởng Mác - Lênin, xây
dựng mối quan hệ gắn bó gữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp
với các nước thuộc địa và phụ thuộc.
2. Ảnh hưởng của cách mạng Trung Quốc
Trung Quốc, nước láng giềng với Việt Nam nên ảnh hưởng của cách mạng
Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam là rất to lớn. Những năm cuối thế kỷ
XIX, các nước đế quốc Anh, Đức, Mỹ, Pháp... tranh nhau xâu xé Trung Quốc. Đầu
thế kỷ XX, từ một quốc gia phong kiến độc lập, Trung Quốc trở thành một nước
nửa thuộc địa. Xã hội Trung Quốc đúng như Phan Bội Châu đã khẳng định: “Mãn
triều Trung Quốc và Nguyễn triều Việt Nam cùng một phường chó chết như nhau
mà thôi". Chính quyền phong kiến Trung Quốc, về đối nội thì tăng cường đàn áp,
về đối ngoại thì nhu nhược. Khi kinh tế tư bản xâm nhập, kinh tế- xã hội Trung
Quốc có những biến chuyển. Trong xã hội xuất hiện tầng lớp công thương có tư
tưởng cách tân đất nước.
Ngày 10-10 năm 1911, cách mạng Tân Hợi bùng nổ và thắng lợi, lập ra nước
cộng hoà Trung Hoa dân quốc. Chính phủ lâm thời Nam Kinh được thiết lập do
Tôn Trung sơn đứng đầu. Ngay sau đó, được sự giúp đỡ của các nước đế quốc và
phái tư sản lập hiến, Viên Thế Khải, một quan đại thần nhà Thanh ép Tôn Trung
Sơn từ chức, ép vua Phổ Nghi nhà Thanh thoái vị và lên làm Tổng thống nắm chính
quyền. Cuộc cách mạng Tân Hợi thất bại chứng tỏ hạn chế của giai cấp tư sản
Trung Quốc không thể lãnh đạo được cách mạng đi tới thắng lợi cuối cùng.
Do ảnh hưởng của cách mạng Tân Hợi. Phan Bội Châu về Trung Quốc lập ra

Việt Nam quang phục hội (1912), với ý định tập hợp lực lượng rồi kéo quân về
nước võ trang bạo động đánh Pháp, giải phóng dân tộc. Chủ trương bạo động của
15


ông không được thắng lợi. Phan Bội Châu là người có tư tưởng dân chủ tư sản đầu
tiên ở Việt Nam.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất các nước đế quốc càng tăng cường xâm
chiếm Trung Quốc. Phong trào đấu tranh chống đế quốc và phong kiến của nhân
dân Trung Quốc bùng lên mạnh mẽ. Mở đầu là phong trào Ngũ tứ (4-5-1919) thu
hút đông đảo trí thức công nhân, nông dân cả nước Trung Quốc nổi dậy chống đế
quốc và phong kiến. Cuối cùng chính phủ Bắc Kinh phải nhượng bộ, đồng ý ký hoà
ước. Phong trào Ngũ tứ là phong trào văn hoá nhưng chứng tỏ giai cấp công nhân
Trung Quốc đã lớn mạnh, là lực lượng độc lập. Nó thực sự chuẩn bị những tiến đề
chính trị cho chủ nghĩa Mác- Lênin kết hợp với phong trào công nhân, chuẩn bị cho
sự ra đời của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Lớp người Trung Quốc tiếp xúc đầu tiên với chủ nghĩa Mác- Lênin là Lý Đại
Chiêu. Cuối năm 1918, ông đã tổ chức truyền bá về cách mạng Tháng Mười Nga
và chủ nghĩa Mác- Lênin vào Trung Quốc. Những năm 1918 - 1919, những người
cộng sản Trung Quốc đã thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác và xuất bản
nhiều tờ báo đã ra đời. Ngày 1 tháng 7 năm 1921, 12 đại biểu, thay mặt cho các tiểu
tổ cộng sản đã đến Thượng Hải dự Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời đã phát động phong trào đấu tranh của công
nhân cả nước mạnh mẽ. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng Cộng sản
Trung Quốc (7 năm 1922) ra Cương lĩnh của Đảng. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã
giúp Tôn Trung Sơn thành lập chính phủ cách mạng ở Quảng Đông (tháng 3-1923).
Tháng 10 năm đó, ông ra bản Tuyên ngôn cải tổ Quốc dân đảng, đưa ra dự thảo đề
cương của Đảng với ba chính sách lớn là liên Nga, thân Cộng và giúp đỡ công
nông. Tháng 1-1924, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Quốc dân đảng được
triệu tập thông qua Cương lĩnh, Điều lệ mới và nhiều biện pháp nhằm cải tổ Quốc

dân đảng. Chủ nghĩa Tam dân (dân quyền, dân sinh, dân trí) của Quốc dân đảng về
cơ bản trở thành cơ sở chính trị cho việc hợp tác Quốc Cộng. Được sự giúp đỡ của
16


Liên Xô và Quốc tế Cộng sản, Tôn Trung Sơn lập ra trường quân sự Hoàng Phố,
làm nòng cốt xây dựng quân đội cách mạng. Tháng 3 năm 1925, Tôn Trung Sơn
mất.
Từ tháng 7 năm 1926, quân cách mạng Trung Quốc tiến hành chiến tranh
Bắc phạt. Ngày 12- 4- 1927, ở Thượng Hải, Tưởng Giới Thạch phá vỡ hợp tác
Quốc Cộng, gây chính biến phản cách mạng giết hại nhiều công nhân và đảng viên
cộng sản. Đến 15-7, tập đoàn Tưởng Giới Thạch giành được toàn bộ chính quyền ở
Nam Kinh. Chính phủ này trở thành kẻ đại diện cho quyền lợi của địa chủ, tư sản
mại bản Trung Quốc. Chiến tranh Bắc phạt của quân cách mạng kết thúc với thất
bại nặng nề.
Ngày 11-12-1927, Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo khởi nghĩa Quảng
Châu, lập ra được Quảng Châu Công xã, sau đó bị Tưởng Giới Thạch đàn áp- cuộc
nội chiến cách mạng lần thứ nhất thất bại. Đó là cuộc tổng diễn tập của lực lượng
cách mạng Trung Quốc cho cách mạng sau này.
Quảng Châu một trung tâm cách mạng của Trung Quốc, quê hương Tôn Dật
Tiên với chủ nghĩa Tam dân có sự thu hút đặc biệt với các nhà yêu nước Việt Nam
Do ảnh hưởng của cách mạng Trung Quốc, nhất là của Công xã ở Quảng Châu, mà
Việt Nam Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học đã ra đời căn bản giống với Quốc
dân Đảng ở Trung Quốc. Mặc dù thất bại và có những hận chế nói lên tư tưởng dân
chủ tư sản không đủ khả năng cũng như vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam,
nhưng Việt Nam Quốc dân đảng cũng đã có ý nghĩa lịch sử to lớn trong lịch sử
cách mạng Việt Nam.
Một số thanh niên yêu nước Việt Nam đã tham gia các tổ chức yêu nước
“Tâm tâm xã” ở Quảng Châu. Ngày 19-6- 1924, người thanh niên Phạm Hồng Thái
đã ném bom ám sát Méclanh, toàn quyền Pháp ở Đông Dương. Việc không thành,

nhưng tiếng bom Phạm Hồng Thái đã làm thức tỉnh hàng triệu người Việt Nam yêu
nước, thu hút sự quan tâm của dư luận thế giới, làm cho đế quốc Pháp kinh hoàng.
17


Đánh giá sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc viết, tiếng bom Phạm Hồng Thái “như
tiếng chim én báo hiệu mùa xuân”.
Tháng 12 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu với vai trò là đặc
phái viên của Quốc tế Cộng sản. Người bắt đầu tìm hiểu về tình hình hoạt động của
những người Việt Nam yêu nước ở đây. Người gửi thư cho đoàn chủ tịch Quốc tế
Cộng sản (18-12-1924), “Tôi đến Quảng Châu vào giữa tháng 12. Tôi đã gặp ở đây
vài ba nhà quốc gia Việt Nam trong số đó có người xa rời xứ sở hai mươi năm
nay...” 6. Sau khi tìm hiểu, Người đã chon lựa những thanh niên tích cực nhất trong
“Tâm tâm xã”, tổ chức, giác ngộ và tuyên truyền họ trên cơ sở lập ra nhóm Cộng
sản đoàn (tháng 2 – 1925) gồm có Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn,...
Tháng 6 năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh
niên, và phái người của Hội về nước lựa chọn đưa một số thanh niên tích cực sang
Quảng Châu để huấn luyện, đào tạo và bồi dưỡng về chính trị.
Trong thời gian khoảng ba năm, Hội đã tổ chức được trên 10 lớp học đào tạo
được 75 hội viên. Nội dung học khá rộng bao gồm kiến thức cả về lý luận và thực
tiễn, về phương pháp cách mạng của Tôn Dật Tiên, cách mạng Tháng Mười Nga.
Nguyễn Ái Quốc còn cử người đi học tại trường Đại học Phương Đông ở Liên Xô
và trường quân sự Hoàng Phố ở Trung Quốc. Kết thúc lớp huấn luyện, cán bộ được
cử về nước hoạt động trong quần chúng nhân dân để tuyên truyền, vận động và xây
dựng cơ sở của hội.
Ngoài việc đào tạo đội ngũ cán bộ, Nguyễn Ái Quốc còn cho xuất bản tờ báo
Thanh niên là cơ quan ngôn luận cuả Hội. Bằng nhiều con đường, báo Thanh niên
đã được truyền về nước và được các tầng lớp nhân dân yêu nước hăng hái tìm đọc.
Nhờ đó, các tư tưởng cách mạng được truyền bá mạnh mẽ trong công nhân, góp
phần quan trọng vào việc chuẩn bị ra đời đảng của giai cấp công nhân.


6

Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 8.

18


Cũng tại Trung Quốc Nguyễn Ái Quốc đã xuất bản cuốn sách “Đường cách
mệnh”, vốn tập hợp những bài giảng của Người trong các lớp huấn luyện chính trị
ở Quảng Châu. “Tác phẩm Đường cách mệnh của Nguyễn Ái Quốc đã đóng vai trò
như cuốn làm gì của Lênin trong phong trào cách mạng Nga”7.
Cách mạng Trung Quốc trong giai đoạn này đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng
chính trị của những nhà yêu nước Việt Nam đương thời. Sự xuất hiện của một số
khuynh hướng cách mạng Việt Nam đã là một bước tiến của lịch sử dân tộc, song
bước chuyển biến đó đánh dấu sự chuyển biến về chất trong phong trào cách mạng
Việt Nam. Đó là sự phấn đấu không mệt mỏi của những người Việt Nam yêu nước
ở Trung Quốc.
3. Ảnh hưởng của cách mạng tư sản Nhật bản
Sau thời gian dài phát triển chế độ phong kiến, đến giữa thế kỷ XIX, Nhật
bản bắt đầu bị các tư bản phương Tây xâu xé. Mâu thuẫn trong lòng xã hội phong
kiến Nhật bản ngày càng gay gắt. Nửa sau thế kỷ XIX, sản xuất hàng hoá đã phát
triển ở Nhật. Sau cuộc cách mạng tư sản (1868), nước Nhật dưới thể chế quân chủ
lập hiến Minh Trị, đã thực hiện chương trình Canh tân toàn diện đất nước. Chương
trình cải cách diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, kinh tế, giáo dục và đối
ngoại kéo dài hơn 10 năm. Kết quả là nước Nhật đã nhanh chóng phát triển theo
con đường tư bản chủ nghĩa.
Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Nhật bản đứng về phía Anh, Pháp Nga
chống lại Đức và nhảy vào xâu xé Trung Quốc và thu được khá nhiều lợi ích. Nhật
bản nhanh chóng thành cường quóc đế quốc ở Châu Á.

Công cuộc cải cách Minh Trị ở Nhật bản có ảnh hưởng lớn đến một số nhà
yêu nước Việt Nam, đặc biệt là với Phan Bội Châu. Ông đã nghiên cứu mô hình và
con đường đi của cách mạng Nhật, chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ
yếu là Nhật Bản, để đánh Pháp dành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo
7

Côbêlép (e.v): Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học Mát - xcơ - va, 1979, tr. 121, bản tiếng Nga.

19


mô hình quân chủ lập hiến của Nhật. Tháng 5/1904, Phan Bội Châu cùng với
Cường Để và trên hai mươi người yêu nước họp bí mật, lập ra Duy Tân hội. Mục
đích là khôi phục nước Việt Nam độc lập.
Ông tổ chức phong trào Đông Du (1906-1908), cầu viện Nhật Bản. Ông hy
vọng, Nhật Bản là nước đồng văn, đồng chủng sẽ giúp cho du học sinh Việt Nam
đào tạo về văn hoá, quân sự cần thiết, sau sẽ giúp về các mặt khác cho công cuộc
đánh Pháp và kiến thiết đất nước. Phong trào Đông du phát triển khá nhanh. Thực
dân Pháp, một mặt tiến hành khủng bố trong nước, mặt khác tiến hành cấu kết với
Nhật trục xuất Phan Bội Châu và tất cả người yêu nước Việt Nam ra khỏi nước
Nhật. Mặc dầu thất bại nhưng phong trào Đông Du còn ảnh hưởng lớn đến phong
trào yêu nước Việt Nam. Đa số lớp thanh niên yêu nước Việt Nam sang học ở Nhật
trở về Việt Nam và sang Trung Quốc hoạt động đã mang theo tư tưởng cải cách
dân chủ tư sản vào Việt Nam. Một số về Quảng Châu, Trung Quốc hoạt động trở
thành những hạt giống cho cách mạng Việt Nam sau này.
Tóm lại, tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã tác động mạnh
mẽ và sâu sắc tới xã hội và cách mạng Việt Nam. Nó không chỉ làm biến đổi tình
hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam mà còn làm cho các phong trào yêu nước
và phong trào công nhân Việt Nam phát triển. Ảnh hưởng mạnh mẽ và nổi bật nhất
là cách mạng tháng Mười Nga 1917 và chủ nghĩa Mác- Lênin. Sự kiện này tác

động trực tiếp và sâu sắc tới con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc và quyết
định xu thế phát triển cho cách mạng Việt Nam. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc tìm thấy
con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc và làm cho khuynh hướng cách mạng vô
sản từ giữa những năm hai mới của thế kỷ XX trở thành khuynh hướng chủ đạo của
cách mạng Việt Nam. Hoàn cảnh kinh tế xã hội với các ảnh hưởng quốc tế nêu trên
thành nhân tố quan trọng cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam.

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
6. V.I Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, tập 17, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1973.
7. V.I Lênin: Toàn tập, tập 36, Nxb Tiến bộ, Mát - xcơ - va, Hà Nội, 1987.
8. V.I Lênin: Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mát - xcơ - va, Hà Nội, 1987.
9. V.I Lênin: Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mát - xcơ - va, Hà Nội, 1987.
10. V.I Lênin: Toàn tập, tập 47, Nxb Tiến bộ, Mát - xcơ - va, Hà Nội, 1987.
11. Hồ Chí Minh về Lênin và cách mạng Tháng Mười, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1985.
12. Côbêlep (e.v). Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học Mát - xcơ - va, 1979.

21




×