Tải bản đầy đủ (.docx) (87 trang)

Một số giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động tại công ty cơ khí chính xác số I Thanh Xuân Hà Nội.docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (370.48 KB, 87 trang )

Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Muốn phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, chủ yếu phải dựa vào
nâng cao năng suất lao động. Chính vì vậy, việc đưa ra các giải pháp để
nâng cao năng suất lao động là vấn đề luôn được quan tâm từ trước tới
nay.
Trước đây, Nhà nước ta rất quan tâm đến việc sử dụng chỉ tiêu
năng suất lao động để đánh giá chất lượng của các cơ sở kinh tế quốc
dân. Nhưng, từ khi đổỉ mới cơ chế kế hoạch hoá, chỉ tiêu năng suất lao
động ít được chú ý đến, tình hình này làm cho những nghiên cứu tính
toán của các chỉ tiêu năng suất lao động trong ngành cơ khí nói riêng
cũng như toàn nền kinh tế nói chung có phần bị sao nhãng. Vài năm gần
đây nhu cầu đánh giá, xác định hiện trạng của sự phát triển chung nền
kinh tế cũng như trong ngành cơ khí nước ta trong quan hệ giao lưu hợp
tác quốc tế mở rộng, thì các chỉ tiêu năng suất lao động trong ngành cơ
khí đã bước đầu được quan tâm nghiên cứu một cách toàn diện hơn.
Với tinh thần đó sau quá trình thực tập tại công ty cơ khí chính xác
số I, em mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng suất
lao động tại công ty cơ khí chính xác số I Thanh Xuân Hà Nội’’.
Do quá trình thực tập có hạn, bản chuyên đề của em không tránh
khỏi những thiếu sót, hạn chế mong thầy cô giáo, ban lãnh đạo công ty
thông cảm và đóng góp ý kiến để bài viết được hoàn thiện hơn.
Nội dung của chuyên đề gồm những phần sau:
Phần I: Những lý luận cơ bản về năng suất lao động.
Phần II: Phân tích năng suất lao động tại công ty CKCXI.
Phần III: Một số giải pháp nâng cao năng suất lao động tại công
ty.
1
PHẦN I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
I. KHÁI NIỆM NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ TĂNG NĂNG SUẤT


LAO ĐỘNG.
1. Khái niệm năng suất lao động.
Theo Các Mác thì năng suất lao động là “sức sản xuất của lao động cụ thể
có ích’’
(1)
. Năng suất lao động thể hiện kết quả hoạt động sản xuất có ích của
con người trong một đơn vị thời gian nhất định. Năng suất lao động phản ánh
hiệu quả sử dụng lao động sống tron
C
g quá trình sản xuất và được biểu hiện
bằng số lượng sản phẩm sản xuất trong một đơn vị thời gian lao động hoặc
bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Quan niệm truyền thống về năng suất chủ yếu là hướng vào đầu vào, tập
trung hướng vào các yếu tố đầu vào như lao động, vốn trong đó lao động sống
là yếu tố trung tâm. Vì vậy, ở nhiều nước, nhiều khi người ta đồng nhất năng
suất với năng suất lao động.
Theo Uỷ ban năng suất thuộc hội đồng năng suất Châu Âu thì “năng suất
là một trạng thái tư duy. Nó là thái độ nhằm tìm kiếm để cải thiện những gì
đang tồn tại. Có một sự chắc chắn rằng, con người hôm nay có thể làm việc
tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay. Hơn nữa, nó đòi hỏi
những cố gắng phi thường không ngừng để thích ứng với các hoạt động kinh
tế trong những điều kiện luôn luôn thay đổi, luôn ứng dụng những lý thuyết
và phương pháp mới. Đó là một sự tin tưởng chắc chắn trong quá trình tiến
triển của loài người”
(2)
.
Đây là một khái niệm trừu tượng, nhấn mạnh đến mặt chất và phản ánh
tính phức tạp của năng suất với các đặc trưng : năng suất được hiểu rộng hơn,
như là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh tế-xã hội. Quan niệm này
C(1). C. Mác. Tư bản quyển 1. T

1
. NXB Sự thật. H nà ội, 1960 - trang 26
Luận văn tốt nghiệp
đòi hỏi mối quan hệ lợi ích người lao động-doanh nghiệp-người tiêu dùng.
Tác động tổng hợp cuả năng suất lao động là hoàn thiện chất lượng cuộc sống
con người. Lợi ích từ năng suất được phân chia tốt hơn cho chủ sở hữu, người
lao động và khách hàng.
2. Tăng năng suất lao động.
Tăng năng suất lao động “sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất của
lao động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động,
một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra
một hàng hoá, sao cho số lượng lao động
h
ít hơn mà lại có được sức sản xuất
ra nhiều giá trị sử dụng hơn’’
(3)
.
II. PHÂN LOẠI NĂNG SUẤT
Việc phân loại năng suất phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, có
hai cách phân loại chủ yếu sau:
1. Căn cứ vào tính chất, năng suất chia thành ba loại: tổng năng suất,
năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất bộ phận.
a. Tổng năng suất.
Phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa tổng đầu ra và tổng đầu vào của tất cả các
yếu tố sản xuất. Chỉ tiêu này phản ánh trạng thái tổng quát về năng suất mà
không đi sâu phân tích đóng góp của từng yếu tố riêng và được tính theo công
thức sau:
Pt =Qt/ (L+C+R+Q)
Trong đó:
Pt là tổng năng suất.

Qt là tổng đầu ra.
h(2). Tạp chí Năng suất lao động
3
L là nhân tố lao động.
C là nhân tố đầu vào.
R là nguyên liệu thô.
Q là những hàng hóa và những dịch vụ khác.
b. Năng suất bộ phận
Chỉ tiêu này thường dùng để đánh giá sự đóng góp của từng nhân tố riêng
biệt.
Năng suất bộ phận = đầu ra (gộp hoặc ròng)/(một nhân tố).
Có hai loại năng suất bộ phận quan trọng nhất là năng suất lao động và
năng suất vốn.
c. Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).
Đây là chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng tổng hợp các
yếu tố đầu vào. Về bản chất, TFP là năng suất được tạo nên do tác động của
các nhân tố vô hình (thay đổi cơ cấu sản xuất, đổi mới công nghệ nâng cao
chất lượng lao động, cải tiến quản lý và cải tiến tổ chức…) thông qua sự biến
đổi của các nhân tố hữu hình (đặc biệt là lao động và vốn). Đó là kết qủa sản
xuất tạo ra thêm ngoài phần đóng góp của các yếu tố sản xuất được sử dụng.
Theo quan điểm phát triển, TFP phản ánh hiệu suất đích thực của nền
kinh tế. Một nền kinh tế phát triển khi đạt được tổng mức đầu ra lớn hơn tổng
mức đầu vào. Song nếu mức lớn hơn đó chỉ dựa vào đơn thuần vào sự gia
tăng của các yếu tố đầu vào thì nền kinh tế đó tuy phát triển song chưa có hiệu
suất. Do vậy, một nền kinh tế phát triển có hiệu suất khi tổng mức tăng của
đầu ra lớn hơn rất nhiều so với tổng các phần tăng của các yếu tố đầu vào.
2. Căn cứ vào phạm vi
a. Năng suất lao động cá biệt.
Năng suất lao động cá biệt phản ánh hiệu quả của lao động sống, và
thường đo bằng khối lượng đầu ra trên một giờ lao động. Năng suất lao

Luận văn tốt nghiệp
động cá biệt ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu chuẩn sống và hầu hết các doanh
nghiệp đều chấp nhận trả công lao động theo năng suất cá biệt hoặc theo
mức độ thực hiện của từng cá nhân.
b. Năng suất của doanh nghiệp.
Năng suất của doanh nghiệp là tỷ số giữa tổng đầu ra của doanh nghiệp
với tổng đầu vào có điều chỉnh hệ số lạm phát trong một khoảng thời gian
nhất định. Vì thế, cạnh tranh scủa doanh nghiệp phụ thuộc vào chi phí và chất
lượng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Chi phí thấp với chất lượng cao
của sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra tạo ra sự cạnh tranh của doanh
nghiệp.
c. Năng suất quốc gia.
Năng suất quốc gia phản ánh tổng giá trị sản xuất trên một lao động ở một
nước cụ thể. Năng suất quốc gia tạo ra sức mạnh kinh tế của một đất nước và
là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá tiêu chuẩn sống. Năng suất quốc gia là
chỉ số của nền kinh tế quốc dân nói chung và chỉ số để so sánh giữa các nước.
III. NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN.
1. Mối quan hệ giữa năng suất và hiệu quả kính tế
Hiệu quả được hiểu là mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào. Hiệu
quả là phạm trù rộng bao trùm mọi vấn đề. Hiệu quả của các hoạt động kinh
tế cuả doanh nghiệp không chỉ phản ánh thông qua các chỉ tiêu tài chính mà
bao gồm cả các kết quả xã hội mà nó mang lại. Hiện nay, theo khái niệm của
các nước, khái niệm năng suất rộng hơn và sẽ bao trùm cả hiệu quả. Năng
suất được hiểu hai mặt là hiệu quả và tính hiệu quả. Hiệu quả là nói về mức
độ sử dụng các nguồn lực và tính hiệu quả của chi phí hay hiệu qủa của việc
khai thác, huy động sử dụng các nguồn lực đầu vào, nó gắn với lợi nhuận hơn.
Tính hiệu qủa chủ yếu đề cập đến mặt chất của đầu ra như tính hữu ích, mức
độ thoả mãn người tiêu dùng, mức độ bảo đảm các yêu cầu về xã hội.
Đối với các doanh nghiệp, tăng năng suất là phạm trù rộng hơn hiệu
quả, bao gồm đồng thời việc hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả sử dụng và

5
nguồn lực để tăng lợi nhuận lẫn việc mở rộng số lượng và chủng loại hàng
hoá, nâng cao không ngừng chất lượng và dịch vụ của hàng hoá nhằm tăng
thoả mãn của hàng hoá đối với người tiêu dùng và cả xã hội. Nâng cao năng
suất cần thiết phải bảo đảm sử dụng nhiều lao động hơn với chất lượng lao
động cao hơn.
2. Mối quan hệ giữa năng suất và khả năng cạnh tranh.
Quan hệ giữa năng suất và khả năng cạnh tranh là mối quan hệ nhân
quả, tác động qua lại lẫn nhau.
Trong mối quan hệ năng suất và cạnh tranh thì năng suất là cơ sở cho
cạnh tranh lâu dài và bền vững. Năng suất có tác động mạnh tới khả năng
cạnh tranh do:
Tài sản cạnh tranh kết hợp với quá trình cạnh tranh tạo ra khả năng
cạnh tranh.
Trước kia, người ta coi khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào lợi thế so
sánh về tài nguyên và nhân lực. Điều này không thể giải thích được tại sao
những nước có nguồn tài nguyên nghèo nàn nhưng khả năng cạnh tranh lại
cao. Vì vậy khả năng cạnh tranh cần tạo ra từ năng lực quản lý, sử dụng tối ưu
các nguồn lực.
Do giữa năng suất và khả năng cạnh tranh có mối quan hệ qua lại nên
khả năng cạnh tranh cũng có tác động ngược trở lại. Khi tài sản và quá trình
được quản lý một cách có hiệu quả, nhờ đó chuyển thành năng suất cao hơn,
chi phí lao động trên một đơn vị GDP giảm xuống trong khi sản phẩm vẫn đạt
hoặc vượt mức đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Khả năng cạnh tranh tăng lên phụ thuộc vào cả hai yếu tố giảm chi phí
và tăng mức thỏa mãn nhu cầu. Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất
phản ánh khả năng cạnh tranh là chi phí lao động cho một đơn vị sản phẩm
hoặc trong giá trị gia tăng.
Việc tăng khả năng cạnh tranh lại tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở
rộng thị phần, tăng quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm và trình độ tay

Luận văn tốt nghiệp
nghề người lao động được nâng cao, tăng khả năng đầu tư vào mở rộng sản
xuất. Nhờ đó lại tạo điều kiện cho tăng năng suất và nó lại tiếp tục làm tăng
khả năng cạnh tranh. Đây là mối quan hệ trong trạng thái phát triển không
ngừng.
3. Mối quan hệ giữa năng suất với tăng trưởng kinh tế và việc làm.
Nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là tăng năng suất và tăng việc làm.
Thực tế cho thấy, nếu không có khả năng tổ chức phát triển tốt, tăng năng suất
không dẫn đến giảm việc làm. Hầu hết các nước có trình độ năng suất cao lại
là những nước giải quyết tốt vấn đề việc làm. Mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế với tăng năng suất và việc làm như sau:
GDP = (GDP/Việc làm)*Việc làm.
Do GDP/Việc làm = Năng suất lao động
Vì vậy GDP= Năng suất lao động*Việc làm
Từ đó, ta cũng có thể biểu hiện tăng trưởng kinh tế qua công thức sau:
Tăng trưởng kinh tế = tăng năng suất lao động + tăng việc làm
Trên phạm vi quốc gia, sự thay đổi năng suất không chỉ phản ánh sự
thay đổi đầu ra trên một lao động trong từng khu vực kinh tế mà còn thể hiện
sự chuyển đổi cơ cấu lao động theo hướng từ tái phân bố lao động từ những
khu vực có năng suất thấp đến các khu vực có năng suất cao.
Trong doanh nghiệp, sự thay đổi phản ánh trong: thay đổi sản phẩm, lao
động, thị phần.
4. Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương.
Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương là một chỉ số rất cơ
bản và là thước đo hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp. Về nguyên
tắc, tốc độ tăng năng suất lao động của doanh nghiệp phải lớn hơn tốc độ tăng
tiền lương bình quân. Bởi vì:
a. Do yêu cầu tăng cường khả năng cạnh tranh.
7
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm được thể hiện thông qua tổng mức

chi phí lao động bình quân cho một đơn vị sản phẩm (ULC). Nâng cao năng
suất lao động sẽ cho phép giảm chi phí bình quân cho một đơn vị sản phẩm.
ULC = tổng chi phí lao động/tổng sản phẩm
Chia cả tử và mẫu cho số lao động bình quân ta có:
ULC = (tổng chi phí lao động/lao động)/ (tổng sản phẩm/lao động)
= Mức tiền lương bình quân/năng suất lao động
Từ đó ta có:
Tốc độ tăng mức chi phí lao động/sản phẩm = (tốc độ tăng tiền lương)
– (tốc độ tăng năng suất lao động)
Để tăng tính cạnh tranh, thì (tốc độ tăng chi phí lao động/sản phẩm) < 0
hay ta có:
Tốc độ tăng năng suất lao động > tốc độ tăng tiền lương
b. Năng suất lao động chỉ là một bộ phận của tổng năng suất chung.
Một mặt, tăng năng suất lao động có phần đóng góp của người lao động
như nâng cao trình độ lành nghề, nâng cao kiến thức, tổ chức kỷ luật, sáng
tạo…Tuy nhiên, năng suất lao động cá nhân và xã hội còn tăng lên do các
nhân tố khách quan khác (áp dụng kỹ thuật mới, sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên…). Như vậy, tốc độ tăng năng suất lao động rõ ràng có khả năng
khách quan lớn hơn tốc độ tăng của tiền lương bình quân.
c. Do yêu cầu của tích luỹ.
Yêu cầu tốc độ tăng tiền lương thấp hơn tốc độ tăng năng suất lao động
còn thể hiện mối quan hệ lớn nhất trong xã hội. Đó là quan hệ giữa đầu tư và
tiêu dùng. Chúng ta biết rằng, phát triển kinh tế dựa trên hai yếu tố là tăng số
thời gian làm việc và tăng năng suất lao động thông qua việc tăng cường cơ
Luận văn tốt nghiệp
sở vật chất kỹ thuật. Điều này đòi hỏi sản phẩm làm ra không phải đem toàn
bộ dùng để nâng cao tiền lương thực tế mà còn phải tích lũy càng cao thì tốc
độ tăng năng suất lao động càng cao.
Tóm lại, trong phạm vi nền kinh tế quốc dân cũng như nội bộ doanh
nghiệp, muốn hạ giá thành sản phẩm, tăng tích lũy thì cần duy trì tốc độ tăng

năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân. Nhưng mối
quan hệ giữa tốc độ tăng (∆t) năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền
lương bình quân bao nhiêu là hợp lý, lại còn phụ thuộc vào một số điều kiện
kinh tế và chính sách tiền lương của từng thời kỳ, từng ngành và doanh
nghiệp cụ thể và được xác định bằng công thức sau đây.
∆t = (I
tl
-1)/ (I
w
– 1)
Trong đó : ∆t : là số % tiền lương bình quân tăng lên khi 1% năng suất
lao động tăng lên.
I
Tl
: Là chỉ số tiền lương giữa 2 thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC.
I
W
: là chỉ số năng suất giữa 2 thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC.
IV. CÁC CHỈ TIÊU TÍNH NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG.
Có nhiều loại chỉ tiêu tính năng suất lao động. Lựa chọn chỉ tiêu nào
phụ thuộc vào điều kiện của từng doanh nghiệp. Có ba loại chỉ tiêu chủ yếu
sau: năng suất lao động tính bằng hiện vật; năng suất lao động tính bằng giá
trị; năng suất lao động tính bằng thời gian lao động.
1. Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng hiện vật.
Là chỉ tiêu dùng sản lượng hiện vật của từng loại sản phẩm để biểu hiện
mức năng suất lao động cuả một công nhân hoặc một công nhân viên.
Công thức tính: W = Q/ T
9
Trong đó:
W là mức năng suất lao động một công nhân hay một công nhân viên.

Q là tổng sản lượng tính bằng hiện vật.
T là tổng số công nhân hoặc công nhân viên.
Ưu điểm cuả chỉ tiêu này là biểu hiện mức năng suất lao động một cách
cụ thể, chính xác, không chịu ảnh hưởng của sự biến động về giá cả, có thể so
sánh mức năng suất lao động giữa các doanh nghiệp hoặc các nước khác nhau
theo một loại sản phẩm được sản xuất ra.
Tuy nhiên, chỉ tiêu này cũng có một số nhược điểm như: chỉ có thể sử
dụng để tính cho một loại sản phẩm nhất định nào đó, không thể làm chỉ tiêu
tổng hợp cho nhiều loại sản phẩm khác nhau. Chỉ tiêu này không dùng để tính
cho sản phẩm dở dang được.
2. Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng giá trị.
Chỉ tiêu này dùng sản lượng tính bằng tiền (theo giá trị cố định)của tất
cả các loại sản phẩm thuộc doanh nghiệp (hoặc ngành) sản xuất ra để biểu
hiện mức năng suất lao động của một công nhân (hoặc một công nhân viên).
Công thức tính:
W =Q/T
Trong đó:
W là mức năng suất lao động của công nhân (hay một công nhân viên)
tính bằng tuổi.
Q là tổng sản lượng tính bằng tiền.
T là tổng số công nhân (hoặc công nhân viên).
Chỉ tiêu này có ưu điểm là có thể dùng tính cho các loại sản phẩm khác
nhau, khắc phục được nhược điểm của chỉ tiêu tính bằng hiện vật. Chỉ tiêu
này được áp dụng cho các cấp doanh nghiệp và quốc gia, có thể dùng để so
Luận văn tốt nghiệp
sánh mức năng suất lao động giữa các doanh nghiệp sản xuất, giữa các ngành
với nhau.
Tuy nhiên chỉ tiêu này cũng có một số nhược điểm như không khuyến khích
tiết kiệm vật tư và dùng vật tư rẻ, chịu ảnh hưởng của cách tính tổng sản
lượng theo phương pháp phân xưởng. Nếu lượng sản phẩm hiệp tác với ngoài

nhiều, cơ cấu sản phẩm thay đổi sẽ làm sai lệch mức năng suất lao động của
doanh nghiệp. Dùng chỉ tiêu này trong trường hợp cấu thành sản phẩm sản
xuất không thay đổi hoặc thay đổi ít vì cấu thành sản xuất sản phẩm thay đổi
sẽ làm thay đổi mức và tốc độ tăng năng suất lao động.
3. Chỉ tiêu tính năng năng suất lao động bằng thời gian lao động.
Chỉ tiêu này dùng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm (hoặc hoàn thành một công việc) để biểu hiện năng suất lao động.
Công thức tính là:
L=T/Q
Trong đó L là lượng lao động của sản phẩm (tính theo đơn vị thời gian).
T là thời gian lao động đã hao phí.
Q là số lượng sản phẩm.
Thời gian lao động đã hao phí được tính bằng cách tính thời gian hao
phí của các bước công việc, các chi tiết của sản phẩm và được phân chia
thành: lượng lao động công nghệ (L
cn
), lượng lao động chung(L
ch
), lượng lao
động sản xuất (L
sx
),lượng lao động đầy đủ (LL
đđ
)và được biểu hiện theo công
thức sau:
L
ch
= L
cn
+ L

pv
L
sx
= L
ch
+ L
qvs
LL
đđ
= L
sx
+ L
ql
L
đđ
= L
cn
+ L
pv
+ L
pvs
+ L
ql
11
Trong đó, L
pv
là lượng lao động phục vụ quá trình công nghệ, L
qvs

lượng lao động phục vụ quá trình sản xuất, L

ql
là lượng lao động quản lý sản
xuất bao gồm lượng thời gian lao động hao phí của cán bộ kỹ thuật, nhân viên
quản lý doanh nghiệp và các phân xưởng, tạp vụ, chữa cháy, bảo vệ.
Chỉ tiêu này có ưu điểm là thể hiện một cách rõ ràng thời gian lao động
hao phí của từng bước công việc cũng như từng chi tiết sản phẩm.
Tuy nhiên, nhược điểm của nó là công việc thống kê để xác định thời
gian hao phí cho từng bước công việc, từng chi tiết sản phẩm là rất khó. Chỉ
tiêu này không dùng để tính cho năng suất lao động của một ngành hay một
doanh nghiệp có nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Ngoài ba loại chỉ tiêu chủ yếu trên, còn có một số loại chỉ tiêu tính
năng suất lao động khác. Tuy nhiên, mức độ phổ biến của nó chưa rộng. Việc
lựa chọn chỉ tiêu nào là tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và thực tế từng
doanh nghiệp.
V. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG.
Có những cách phân loại khác nhau về các yếu tố tác động tới năng
suất lao động. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất lao động có thể được chia
thành ba nhóm sau: các yếu tố gắn liền với con người và quản lý con người;
các yếu tố gắn liền với phát triển và sử dụng các tư liệu sản xuất; các yếu tố
gắn liền với điều kiện thiên nhiên.
Chúng ta phải thừa nhận rằng, máy móc hiện đại là yếu tố mạnh mẽ
nhất làm tăng năng suất lao động. Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội
thường bắt đầu từ sự thay đổi và phát triển của công cụ sản xuất, lấy máy móc
thay thế cho lao động thủ công, lấy máy móc hiện đại thay thế cho các náy
móc cũ.
Cùng với quá trình phát triển và sử dụng các tư liệu sản xuất, trình
độ sáng chế và sử dụng các đối tượng lao động ngày một được nâng cao, các
nguyên vật liệu mới với các tính năng đa dạng, tiện lợi và hữu ích hơn ngày
một xuất hiện nhiều thay thế cho các nguyên vật liệu cũ đã kéo theo sự gia
Luận văn tốt nghiệp

tăng năng suất lao động xã hội ngày một cao, khoảng cách giữa năng suất lao
động trước kia và ngày nay càng một xa hơn.
Con người và quản lý con người tác động rất lớn đến năng suất lao
động. Để đạt năng suất tối đa cần tạo ra môi trường tốt nhất cho phối hợp giữa
quản lý, lao động và yếu tố công nghệ. Mối quan hệ đó bản thân nó là kết quả
của năng suất. Xây dựng tốt mối quan hệ giữa người quản lý và người lao
động, hình thành tinh thần quản lý mới trong đó luôn tôn trọng và khuyến
khích tính tự chủ, sáng tạo của lực lượng lao động tao ra sức mạnh tổng hợp
phát huy hiệu quả của các yếu tố sản suất, đặc biệt là con người.
Cũng như quản lý, lao động là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất tác
động tới năng suất lao động. Năng suất của mỗi quốc gia, ngành và doanh
nghiệp phụ thuộc vào trình độ văn hóa, chuyên môn, tay nghề, kỹ năng và
năng lực của đội ngũ lao động. Nêú không có sự phối hợp phát triển tốt nguồn
nhân lực thì các yếu tố vốn, công nghệ khó có thể phát huy tác dụng.
Trong một doanh nghiệp, khi xét đến các nhân tố tác động tới năng suất
lao động thì người ta thường đề cập đến các nhân tố như:
+ Biến động về mức và tốc độ năng suất lao động qua một số năm.
+ Kết cấu công nhân viên ảnh hưởng tới năng suất lao động của doanh
nghiệp như thế nào.
+ Khả năng giảm lượng lao động của sản phẩm để tăng năng suất lao
động được thực hiện như thế nào (bao gồm khả năng giảm lượng lao động
năm thực hiện so với kế hoạch và khả năng giảm lượng lao động hao phí cho
một triệu đồng giá trị sản lượng).
+ Khả năng sử dụng hợp lý thời gian lao động công nhân để tăng năng
suất lao động (bao gồm việc sử dụng quỹ thời gian lao động ngày, tháng và
năm).
+ Phân tích quan hệ giữa tốc độ tăng năng suất lao động và tăng tiền
lương bình quân qua một số năm.
13
Ngoài ra, người ta có thể dùng một số nhân tố khác để phân tích về

năng suất lao động của doanh nghiệp. Việc phân tích những nhân tố nào là tùy
thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp và tùy thuộc vào mục đích
nghiên cứu.
Các yếu tố gắn liền với điều kiện thiên nhiên ảnh hưởng không nhỏ
tới năng suất lao động. Sự ảnh hưởng của yếu tố này tới năng suất lao động là
một khách quan. Điều kiện thiên nhiên của mỗi quốc gia khác nhau rất khác
nhau và tác động đến năng suất lao động cũng không giống nhau. Điều kiện
đó tạo ra những thuận lợi và khó khăn riêng và con người cần phát huy lợi thế
và hạn chế sự ảnh hưởng không có lợi của tự nhiên. Điều kiện khí hậu nóng
lạnh khác nhau đã tạo ra những sản phẩm khác nhau với giá trị không giống
nhau. Nếu như đất đai ảnh hưởng đến nông nghiệp rất lớn, tạo ra năng suất và
chủng loại cây trồng khác nhau thì sự giàu có về tài nguyên khoáng sản và địa
hình thuận lợi đã tạo điều kiện rất tốt cho công nghiệp khai khoáng với giá
thành rẻ hơn và năng suất khai thác cao hơn.
Con người đã khai thác những nguồn năng tiềm tàng của tự nhiên để
phục vụ cho cuộc sống với hiệu quả khai thác và sử dụng ngày càng cao. Và
việc hạn chế những tác hại của tự nhiên cũng đã được tiến hành từ khi xuất
hiện loài người. Tuy nhiên, con người vẫn chưa ngăn ngừa hoàn toàn được sự
tác hại của tự nhiên đối với sản xuất, cũng như chưa thể khai thác hết tiềm
năng của tự nhiên. Vì vậy, sự tác động của tự nhiên tới năng suất lao động vẫn
tồn tại một cách khách quan.
Luận văn tốt nghiệp
PHẦN II
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CƠ KHÍ CHÍNH XÁC SỐ I THANH XUÂN HÀ NỘI
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG SUẤT LAO
ĐỘNG TẠI CÔNG TY.
1. Quá trình hình thành và phát triển.
1.1. Quá trình hình thành, phát triển và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của

Công ty.
* Quá trình hình thành và phát triển.
Công ty cơ khí chính xác số I có trụ sở chính ở số 275 đường Nguyễn
Trãi quận Thanh Xuân – Hà Nội. Điện thoại liên lạc: 8584387 và 8581694
Tổng diện tích mặt bằng nhà máy là 21750 m
2
. Trong đó, diện tích văn
phòng và cửa hàng là 5950 m
2
, diện tích kho và nhà xưởng là 15800 m
2
.
Công ty cơ khí chính xác số I là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc
Tổng công ty máy động lực, máy nông nghiệp thuộc bộ công nghiệp, có tư
cách pháp nhân thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh độc lập, được mở tài
khoản tại ngân hàng, có con dấu riêng theo quyết định của Nhà nước.
Trên cơ sở nhà máy cơ khí điện ảnh sát nhập với phân xưởng thuỷ lực
của nhà máy công cụ số I. Công ty cơ khí chính xác được mang tên thành lập
theo quyết định số 1091- CL/CB ngày 04/12/1978 của bộ trưởng bộ cơ khí
luyện kim.
Các giai đoạn phát triển của công ty:
Từ năm 1962-1978, công ty chuyên sản xuất máy chiếu phim, sản xuất
phụ tùng máy chiếu.
15
Từ năm 1979-1995, công ty chuyên sản xuất quạt điện, sản xuất tủ hồ
sơ, tủ văn phòng, sản xuất két bạc, sản xuất phụ tùng, linh kiện xe máy.
* Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty:
Mục đích hoạt động của công ty là thông qua các hoạt động sản xuất
kinh doanh, từ đó khai thác có hiệu quả các nguồn vốn, vật tư, nguyên liệu,
nhân lực phục vụ sản xuất tiêu dùng trong nước và hướng tới xuất khẩu. Từ

năm 1979 đến nay, công ty đã có nhiều sản phẩm đa dạng:
Các loại quạt như: quạt bàn, quạt cây, quạt treo tường, quạt hút công
nghiệp.
Sản xuất động cơ, phụ tùng cơ khí, các sản phẩm ngành điện nhằm đáp
ứng nhu cầu thị trường tạo công ăn việc làm cho người lao động và tăng
doanh thu cho công ty.
Sản xuất bơm thuỷ lực, bơm nước, các phụ kiện lắp đặt ngành nước.
Dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng phương tiện vận tải đường bộ và kinh doanh
xe máy.
Các sản phẩm khác như: nhựa, bao bì, bàn nâng hạ xe máy…. giúp cho
công ty chủ động sản xuất kinh doanh ngay cả khi thị trường có biến động.
Công ty tổ chức lại hệ thống kinh doanh tiêu thụ sản phẩm để phù hợp
với yêu cầu của xu hướng của thời đại mới: mở rộng thị trường tiêu thụ, đổi
mới phương pháp kinh doanh đưa hàng đến tận các đại lý, các hộ tiêu thụ, tổ
chức hội nghị khách hàng, tổ chức dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng sau bán hàng.
Đẩy mạnh công tác thị trường, thông tin quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, tham
gia hội chợ, triển lãm kinh tế kỹ thuật.
1.2. Hoạt động sản xuất kinh doanh và những thuận lợi khó khăn.
1.2.1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm 1996-2001.
Công ty là một doanh nghiệp Nhà nước làm ăn độc lập tự hạch toán. Từ
khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, do có sự thay đổi nên công ty
Luận văn tốt nghiệp
đã gặp không ít khó khăn nhưng nhờ sự quyết tâm, đồng sức đồng lòng của
các cán bộ và lao động trong công ty. Nhờ vậy, công ty đã dần vượt qua
những khó khăn bước đầu. Kết qủa sản xuất kinh doanh của công ty những
năm gần đây được đánh giá qua một số chỉ tiêu chủ yếu trong biểu dưới đây:
KẾT QỦA SẢN XUẤT KINH DOANH QUA CÁC NĂM 1996-2001
Biểu số 1
Chỉ tiêu Đơn
vị

1996 1997 1998 1999 2000 2001
1. Giá trị tổng sản lượng Triệu
đồng
1830
0
1400
0
1660
0
1970
0
2080
0
2300
0
2. Tổng doanh thu Triệu
đồng
1460
0
1103
0
1420
0
1520
0
1700
0
2000
0
3. Tổng số CNV, trong đó: Ngườ

i
580 498 462 402 430 450
a. Lao động quản lý, CM,
KT
Ngườ
i
178 170 125 90 90 94
b. Công nhân sản xuất Ngườ
i
402 328 337 312 340 356
4. Tổng quỹ tiền lương Ngườ
i
2100 2100 2200 2300 2400 2600
5. Nộp ngân sách Triệu
đồng
231 435 649 856 1133 1300
6. Lợi nhuận Triệu
đồng
-
1352
-814 -152 3 30 100
7. NSLĐ bình quân (7=1/3,
7=2/3)
Triệu
đồng
25,1
7
22,1
4
30,7

3
37,8
1
39,5
3
44,4
4
17
8. NSLĐ bình quân 1 công
nhân sản xuất (8=1/3b,
hoặc 2/3b)
Triệu
đồng
36,3
2
33,6
2
42,1
4
48,7
2
50 56,1
8
9.Tiền lương bình quân
(9=4/3)
Triệu
đồng
3,62 4,22 4,76 5,72 5,58 5,77
Nguồn: báo cáo tài chính cuối năm của công ty
Từ bảng trên ta thấy: nhìn chung giá trị tổng sản lượng tăng đều qua

các năm. Giá trị tổng sản lượng năm 2001 tăng tuyệt đối so với năm 1996 là
4700 triệu đồng, tăng tương đối là 25,68%. Giá trị tổng sản lượng năm 2001
tăng tuyệt đối so với năm 2000 là 2200 triệu đồng, tăng tương đối là 10,58%.
Tổng doanh thu năm 2001 tăng tuyệt đối so với năm 1996 là 5400 triệu đồng,
tăng tương đối là 36,99%. Tổng doanh thu năm 2001 so với năm 2000 tăng
tuyệt đối là 3000 triệu đồng, tăng tương đối là 17,65%.
Giá trị tổng sản lượng và doanh thu đều tăng dần qua các năm và tốc độ
tăng khá cao, trung bình từ 10% trở lên, mặc dù số lượng lao động giảm dần
qua các năm. Năm 2000 giảm 130 lao động so với năm 1996, tổng số cán bộ
công nhân viên năm 1999 giảm so với năm 1996 là 78 người. Lý do công ty
mở rộng sản xuất mua những máy móc hiện đại thay thế những máy móc cũ
kỹ lạc hậu, khấu hao tàu sản thì lớn, tống nguyên vật liệu, tốn điện. Với sự
đầu tư đó, công ty vừa tăng doanh thu giá trị tổng sản lượng, vừa tiết kiệm
được chi phí để sản xuất sản phẩm. Nhưng từ năm 2000, tăng lên 28 lao động
so với năm 1999, năm 2001 tăng 20 lao động so với năm 2000 do công ty
tuyển thêm những lao động có tay nghề, trình độ cao để đáp ứng được yêu
cầu đổi mới công nghệ sản xuất của công ty.
Giá trị tổng sản lượng và tổng doanh thu tăng qua các năm qua nhưng
lợi nhuận của công ty thu được ở mức thấp, thậm chí trong ba năm 1996-
1998, công ty còn làm ăn thua lỗ. Nhất là năm 1996, công ty bị thua lỗ cao
nhất là 1352 triệu đồng. Nhưng từ năm 1999-2000, lợi nhuận của công ty đã
có chiều hướng tăng lên khá nhanh. Năm 1999, lợi nhuận của công ty là 3
Luận văn tốt nghiệp
triệu đồng, đến năm 2001 tăng hơn 10 lần. Nguyên nhân là do năm 1996-
1997, công ty chưa kịp thời đổi mới nên sản phẩm không cạnh tranh được với
sản phẩm ngoại nhập từ Thái Lan, Trung Quốc. Nhưng từ năm 1999-2001,
công ty đã bắt đầu làm ăn có hiệu quả do sản phẩm đã được đổi mới, cải tiến
cạnh tranh được với sản phẩm ngoại nhập và dần lấy lại được uy tính của
công ty.
Năng suất lao động bình quân một công nhân viên năm 2001 so với

năm 1996 tăng tuyệt đối là 19,27 triệu đồng, tăng tương đối là 76,55%. Năm
2001 so với năm 2000 tăng tuyệt đối là 4,91 triệu đồng, tăng tương đối là
12,42%. Chứng tỏ rằng quá trình đầu tư đổi mới, áp dụng khoa học, kỹ thuật
của công ty rất hiệu quả, năng suất lao động bình quân tăng rất cao, nhất là
năm 2001 so với năm 1999 tăng 100,72%.
Về tiền lương bình quân một công nhân viên năm 2001 so với năm
1996, tăng tuyệt đối là 2,15 triệu đồng, tăng tương đối là 59,39%. Năm 2001
so với năm 2000 tăng tuyệt đối là 0,19 triệu đồng, tăng tương đối là 3,4%. Tiền
lương bình quân của một lao động tăng dần qua các năm, đời sống của người
lao động được cải thiện.
Tốc độ tăng tiền lương bình quân định gốc năm (2001 so với năm
1996) tăng một lượng tuyệt đối là 2,15 triệu đồng, tăng tương đối là 59,39%
nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất lao động định gốc với số tuyệt đối là 19,27
triệu đồng, số tương đối là 76,55%. Cụ thể là 59,39%<76,55%. Như vậy, công
ty đã đảm bảo tốt nguyên tắc trả lương, tức là tốc độ tăng tiền lương bình
quân định gốc nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất lao động bình quân.
Ngoài thu nhập từ sản xuất kinh doanh, công ty còn có thêm nguồn thu
nhập khác từ: cho thuê phân xưởng, toà nhà cho thuê. Công ty còn có thêm
nguồn vốn và tăng thu nhập cho người lao động: năm 2000 là 500 triệu đồng,
năm 2001 là 700 triệu đồng nên đời sống của người lao động cũng được cải
thiện. Năm 2000, thu nhập bình quân của một lao động là 6,74 triệu đồng,
năm 2001, thu nhập bình quân của một lao động là 7,33 triệu đồng.
19
Như vậy, công ty đã có những hoạt động với những tín hiệu đáng mừng
nhưng chưa thật rõ ràng, vững chắc. Trong những năm tới cần sự cố gắng
nhiều hơn nữa của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong công ty. Phải đồng
sức đồng lòng đưa công ty phát triển phù hợp với tiến trình toàn cầu hoá.
1.2.2. Thuận lợi và khó khăn của công ty.
* Thuận lợi:
Công ty là một đơn vị vừa quản lý vừa sản xuất kinh doanh nên một

nửa sản lượng được ổn định bằng vốn giao dế hoạch. Còn lại công ty sản xuất
theo đơn đặt hàng.
Sản phẩm làm ra công ty phải chịu trách nhiệm bán hàng, tự hạch toán
chính điều này tạo ra sự độc lập của công ty.
Công ty có bề dày hơn 30 năm kinh nghiệm xây dựng và phát triển trên
một địa bàn ổn định là khu vực nội thành. Nằm trong trung tâm khu vực kinh
tế, thuận lợi trong việc phân phối các mặt hàng.
Đội ngũ cán bộ công nhân viên lâu năm, nhiều kinh nghiệm trong việc
sản xuất kinh doanh.
Công ty được sự quan tâm của các cấp các ngành chủ quản.
* Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi, công ty còn gặp nhiều khó khăn như:
Về vấn đề vốn sản xuất thì công ty vẫn thiếu, phải đi vay thêm ở bên
ngoài.
Các sản phẩm của công ty mang tính chất thời vụ, công ty cần mở rộng
các sản phẩm hơn nữa.
Máy móc thiết bị phần lớn là rất cũ, sử dụng từ lâu, muốn đổi mới lại
gặp khó khăn về vốn.
Trình độ văn hoá của công nhân nói chung là chưa cao.
2. Một số đặc điểm chủ yếu của công ty ảnh hưởng đến năng suất lao
Luận văn tốt nghiệp
động.
2.1. Đặc điểm về quá trình công nghệ.
Hiện nay, công ty có bảy phân xưởng chính: Phân xưởng cơ khí II,
phân xưởng cơ khí I, phân xưởng gò dập, phân xưởng động cơ, phân xưởng
sơn tĩnh điện, phân xưởng lắp ráp, phân xưởng cơ điện.
Công ty chuyển sang sản xuất kinh doanh hàng hoá trong điều kiện cơ
sở vật chất chưa được đầu tư thiết bị đổi mới. Hầu hết thiết bị đã xuống cấp,
công nghệ trở nên lạc hậu, năng suất lao động kém, cơ sở hạ tầng xuống cấp
nghiêm trọng. Đời sống của người lao động gặp không ít khó khăn đã ảnh

hưởng không nhỏ đến quá trình lao động.
2.2. Đặc điểm cơ cấu tổ chức.
Công ty có cơ cấu tổ chức theo chức năng mà giám đốc là người điều
hành cao nhất và chịu trách nhiệm cho từng phòng ban. Trưởng phòng ban có
kế hoạch cụ thể xuống từng phân xưởng, từ đó chi tiết đến từng người lao
động.
Mối quan hệ giữa các phòng ban trong công ty: quan hệ giữa các phòng
ban và đơn vị trong công ty là mối quan hệ ngang bằng, chịu sự lãnh đạo trực
tiếp của Đảng uỷ và giám đốc trong công ty. Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ
và quyền hạn của mình các phòng ban chủ động giải quyết công việc mỗi khi
được giám đốc giao. Giữa các phòng ban có sự phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau
trong công tác, cung cấp số liệu, hồ sơ liên quan đến các mặt hoạt động của
công ty. Những nhiệm vụ giám đốc giao có liên quan đến các phòng ban đề có
sự trao đổi, bàn bạc.
Cơ cấu tổ chức của công ty: bảng trang bên.
Chức năng và nhiệm vụ của từng phòng ban: là một doanh nghiệp Nhà
nước, hạch toán kinh tế độc lập. Công ty quản lý theo một cấp, đứng đầu là
giám đốc công ty và hai phó giám đốc.
21
- Giám đốc công ty: là người lãnh đạo cao cấp nhất của công ty, có
quyền quyết định mọi quá trình hoạt động của công ty và chịu trách nhiệm
chung,phụ trách chung, điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty. Giám đốc do bộ trưởng bộ công nghiệp bổ nhiệm.
- Phó giám đốc kỹ thuật: giúp giám đốc trong công tác sản xuất, kỹ
thuật, chỉ đạo và điều hành các phân xưởng bộ phận sản xuất và các sản phẩm
bảo đảm đúng quy cách và chất lượng.
- Phó giám đốc hành chính: giúp giám đốc trong hoạt động kinh doanh
như khâu tiêu thụ sản phẩm và chăm la đời sống cán bộ công nhân viên.
- Phòng tổ chức lao động tiền lương: có nhiệm vụ bố trí sắp xếp lao động
trong công ty. Lên kế hoạch về số lượng lao động cần thiết trong công ty, trình

độ tay nghề của lao động trong công ty. Thực hiện chấm công hàng
SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ CÔNG TY
Ghi chú: → Quan hệ trực tiếp
↔ Quan hệ phối hợp
tháng để trả lương cho công nhân và chế độ chính sách của Nhà nước về lao
động tiền lương.
- Phòng kế hoạch: có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch sản xuất, ký hợp
đồng mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cung ứng vật tư sản xuất, công tác
quản lý hệ thống kho bán thành phẩm nội bộ và mua ngoài.
- Phòng kỹ thuật: thiết kế và chế tạo sản phẩm, xây dựng quy trình
công nghệ, áp dụng khoa học kỹ thuật cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm,
huấn luyện nông cao tay nghề công nhân.
- Phòng kinh doanh: tạo lập thị trường tiêu thụ, giới thiệu và quảng cáo
sản phẩm, quản lý hệ thống kho thành phẩm và tổ chức hệ thống bán buôn
bán lẻ.
- Phòng kế toán tài chính: quản lý tài sản của công ty. Tạo nguồn vốn
phục vụ sản xuất, sử dụng tài chính doanh nghiệp đúng chế độ. Thống kê sản
xuất kinh doanh, báo cáo theo quy định của công ty và Nhà nước, phân tích
hoạt động kinh tế giảm giá thành nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đảm
bảo cho sự phát triển của công ty.
- Văn phòng giám đốc: chịu trách nhiệm trong công tác xây dựng sơ
bản, chống nóng, chống giột, chống ngập, y tế, khám chữa bệnh chăm lo sức
khoẻ công nhân viên, công tác vệ sinh công nghiệp, vệ sinh môi trường, tổ
chức ăn giữa ca, công tác văn phòng, công tác văn thư.
- Phòng bảo vệ: bảo vệ sản xuất, giữ gìn an ninh trật tự trong công ty,
phòng ngừa kẻ xấu phá hoại. Bảo vệ chính trị nội bộ, phòng chống cháy nổ,
các tệ nạn xã hội và các công tác quốc phòng.
2.3 Đặc điểm nhân lực.
Năm 2002, tổng số cán bộ công nhân viên công ty là 458 người. Trong
đó, có 362 người là công nhân sản xuất trực tiếp, còn lại 96 người là cán bộ

quản lý, chuyên môn, kỹ thuật. Công nhân sản xuất trong công ty 100% là
công nhân kỹ thuật được đào tạo nghề cơ bản, ra trường hầu hết đạt bậc 3/7.

×