Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

SKKN dạy học ngữ pháp theo hướng mới nhằm tăng hứng thú học tập phân môn tiếng việt cho học sinh trun

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (467.09 KB, 20 trang )

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRƯỜNG THPT SỐ 2 BẢO THẮNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY HỌC NGỮ PHÁP THEO HƯỚNG MỚI NHẰM TĂNG HỨNG THÚ
HỌC TẬP PHÂN MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG

Họ và tên tác giả: Trần Thị Minh Hậu
Chức vụ: TTCM
Tổ chuyên môn: Văn- Giáo dục công dân
Đơn vị Công tác: Trường THPT số 2 Bảo Thắng

Bảo Thắng, ngày 15 tháng 4 năm 2014


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
Cùng với lao động, ngôn ngữ góp phần hình thành và phát triển xã hội
loài người. Ngôn ngữ là một sáng tạo kì diệu của loài người, là phương tiện giao
tiếp phổ biến nhất và thuận lợi nhất. Ngôn ngữ còn là công cụ tổ chức quá trình
tư duy, giúp cho tư duy phát triển. Mặt khác, ngôn ngữ còn là một trong những
yếu tố cơ bản cấu thành dân tộc, duy trì và phát triển truyền thống văn hoá của
dân tộc. Tiếng Việt là sản phẩm của dân tộc Việt, góp phần duy trì sự thống nhất
quốc gia, chiến thắng mọi âm mưu chia cắt của bất cứ thế lực thù địch nào.
Từ vựng là vật liệu của ngôn ngữ nhưng nếu chỉ có một vốn từ vựng thì
chưa thể giao tiếp. Muốn giao tiếp cần phải biết kết hợp từ thành những đơn vị ở
bậc lớn hơn theo những quy tắc kết hợp nhất định. Vì vậy, để rèn luyện kĩ năng
nghe, đọc, nói, viết của học sinh không thể không dạy học ngữ pháp.
Việc dạy học ngữ pháp trong nhà trường là một vấn đề vô cùng quan
trọng nhằm không chỉ trang bị cho học sinh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo ngôn ngữ


mà còn góp phần giáo dục tư tưởng, phát triển tư duy và nâng cao tính tích cực,
tự giác của học sinh. Bởi vì người ta chỉ có thể tư duy bằng cách kết hợp khái
niệm thành phán đoán mà phán đoán chỉ có thể diễn đạt bằng câu.
Vậy để việc giảng dạy ngữ pháp trong nhà trường phổ thông đạt được hiệu
quả không chỉ có sự hướng dẫn tìm hiểu của người thầy mà cần đến hoạt động
tích cực của người học sinh. Vậy là người giáo viên đứng lớp sẽ phải áp dụng
phương pháp giảng dạy ngữ pháp vào việc giảng dạy như thế nào để mang lại
hiệu quả cao nhất? Đó cũng là một vấn đề mà Tôi luôn trăn trở và suy nghĩ bấy
lâu nay. Bởi xét trong thực tế hiện nay trình độ nhận thức của học sinh không
đồng đều, việc vận dụng các quy tắc ngữ pháp vào tiếp nhận và sản sinh văn bản
chưa được hiệu quả. Do vậy, việc tổ chức điều khiển của người thầy trong từng
tiết dạy là vô cùng quan trọng.
Với những lý do trên, tôi thấy giáo viên dạy môn Ngữ văn cần phải có
cách hướng dẫn cụ thể về cách học cho học sinh để nâng cao chất lượng dạy và
học. Và đây cũng là lý do để Tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm trong
việc giảng dạy phần ngữ pháp trong phân môn tiếng Việt của Trường THPT.
Qua đây nhằm giúp giáo viên nâng cao thêm về chuyên môn của mình trong
việc giảng dạy tiếng Việt, học sinh có thể lĩnh hội tốt hơn kiến thức về phân
môn tiếng Việt để vận dụng linh hoạt trong giao tiếp cũng như quá trình tạo lập
văn bản.
II.Mục đích nghiên cứu.
Việc chọn nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:
Áp dụng phương pháp dạy học ngữ pháp vào trong chương trình môn ngữ văn
của trường THPT để cung cấp cho học sinh một cách có hệ thống những đơn vị
2


kiến thức cơ bản về từ loại, cú pháp, ngữ pháp văn bản, giúp học sinh vận dụng
những đơn vị kiến thức đó một cách chủ động, sáng tạo vào nghe, đọc, nói, viết.
Đồng thời, nhằm kích thích, củng cố và phát triển năng lực tư duy, sự sáng tạo

của học sinh. Bồi dưỡng cho học sinh năng khiếu thẩm mĩ, lòng tự hào, ý thức
tôn trọng giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Học sinh sẽ tiếp thu lĩnh hội kiến thức trong phân môn tiếng Việt một
cách đơn giản nhất, nhanh nhất, từ đó có thể vận dụng giải quyết các câu hỏi
phần Đọc- hiểu theo dạng đề câu hỏi Pisa chính xác, hiệu quả.
III.Đối tượng nghiên cứu:
Là giáo viên đang tham gia công tác giảng dạy môn Ngữ văn ở THPT nên
Tôi chỉ xin đề cập đến việc dạy- học phần ngữ pháp trong phân môn tiếng Việt
của trường THPT.
IV. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm:
Học sinh lớp 11 Trường THPT số 2 Bảo Thắng.
V. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng nắm bắt về cách học tiếng Việt của học sinh qua
khảo sát. Qua quá trình giảng dạy để rút ra kinh nghiệm cho bản thân.
Dự giờ, thăm lớp để học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp.
Tham khảo các tài liệu có liên quan đến phương pháp dạy học tích cực
trong môn Ngữ văn, phương pháp dạy học môn tiếng Việt.
VI. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu.
- Thời gian: Từ đầu năm học (Tháng 9/2013 – tháng 4/ 2014).
- Phạm vi: Học sinh lớp 11 Trường THPT số 2 Bảo Thắng.
VII. Số liệu khảo sát
Khối 11:
- 40% học sinh điểm dưới trung bình.
- 60% học sinh điểm trên trung bình.

3


B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận thực tiễn

Dạy học ngữ pháp phải đảm bảo một số nguyên tắc sau: Nguyên tắc
hướng vào hoạt động giao tiếp, nguyên tắc gắn lí thuyết với thực hành,
nguyên tắc trực quan, nguyên tắc kết hợp các vấn đề ngữ pháp trong mối
quan hệ hữu cơ giữa nội dung và hình thức ngữ pháp, nguyên tắc kết hợp
giữa phát triển ngôn ngữ với phát triển tư duy.
1.Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp:
Ngữ pháp là lĩnh vực trừu tượng và khái quát nhưng các khái niệm và quy
tắc ngữ pháp được đúc rút ra từ thực tế hoạt động ngôn ngữ. Mục đích của việc
dạy học ngữ pháp nói riêng và tiếng Việt nói chung không chỉ nhằm mục đích
cung cấp các khái niệm và quy tắc ngữ pháp mà để nâng cao năng lực sử dụng
tiếng Việt cho học sinh. Do vậy, dù muốn hay không, người GV luôn phải đảm
bảo nguyên tắc giao tiếp khi dạy học ngữ pháp.
- Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu:
+ Ngữ liệu dùng để hình thành khái niêm và quy tắc ngữ pháp phải là
những ngữ liệu được lấy từ thực tiễn giao tiếp sinh động, chuẩn mực. Các ngữ
liệu trong sách giáo khoa chủ yếu được lấy ngay trong các văn bản ở trong bài
học.
+ Học sinh vận dụng những tri thức và kĩ năng ngữ pháp vào giao tiếp tức
là vận dụng vào phân tích, lĩnh hội và sản sinh được các sản phẩm lời nói để đạt
được mục đích giao tiếp.
2. Nguyên tắc gắn lí thuyết với thực hành:
Nguyên tắc này không chỉ được quán triệt trong dạy thực hành mà còn
chi phối cả việc dạy lí thuyết. Hệ thống tri thức lí thuyết ngữ pháp phải tập trung
vào các quy tắc, các thao tác hoạt động trong thực hành giao tiếp.
3. Nguyên tắc trực quan:
Nguyên tắc này có thể thực hiện thông qua các hình thức sau:
- Sử dụng ngữ liệu rút từ thực tế giao tiếp sinh động. Trong chương trình,
các ngữ liệu đều lấy từ những văn bản văn học được tuyển chọn, có tính điển
hình cao của thực tiễn giao tiếp sinh động.
- Ngôn ngữ của GV trong giờ dạy học phải chuẩn mực, đặc biệt là chuẩn

mực về ngữ pháp và phải đảm bảo tính văn hoá. GV cũng phải chú ý điều chỉnh,
chuẩn mực hoá lời nói của HS trong giờ học Ngữ văn và học các môn học khác.
- Sử dụng các mô hình cấu trúc, bảng biểu tổng kết, so sánh, tranh ảnh, sử
dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.

4


4. Nguyên tắc tiếp cận các vấn đề ngữ pháp trong mối quan hệ hữu
cơ giữa nội dung và hình thức ngữ pháp:
Các đơn vị và các hiện tượng ngữ pháp luôn là sự thống nhất giữa nội
dung và hình thức ngữ pháp. Việc chú trọng đến mối quan hệ này chẳng những
5


đáp ứng về nhu cầu nhận thức các vấn đề ngữ pháp mà còn đáp ứng cả những
nhu cầu sử dụng.
5. Nguyên tắc kết hợp giữa phát triển ngôn ngữ với phát triển tư duy:
Ngôn ngữ là công cụ để tư duy, tư duy là hiện thực trực tiếp của ngôn
ngữ. Hai lĩnh vực này không hề mâu thuẫn mà trái lại có quan hệ thúc đẩy nhau
cùng phát triển.
Phải chú ý rèn luyện các thao tác tư duy, phẩm chất tư duy trong quá trình
dạy tiếng. Phải làm cho học sinh thông hiểu ý nghĩa các đơn vị ngôn ngữ, gắn
từ, câu, đoạn văn với nội dung hiện thực mà chúng phản ánh đồng thời phải thấy
được giá trị của chúng trong hệ thống ngôn ngữ.
II.Thực trạng
Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy, tôi cũng như các đồng nghiệp trong
tổ chuyên môn đều nhận thấy một thực tế là:
- Phần lớn học sinh không có hứng thú đối với bộ môn Ngữ Văn nói
chung và với phần tiếng Việt nói riêng.

- Phần lớn các giờ dạy tiếng Việt: giáo viên chủ yếu truyền tải kiến thức
lý thuyết để học sinh tiếp thu và vận dụng vào bài tập. Tiết dạy thường khô
khan, thiếu sinh động. Học sinh chưa biết cách lĩnh hội và vận dụng linh hoạt
khi gắn vào các bài tập cụ thể. Nguyên nhân chủ yếu là do các em không có vốn
kiến thức về phần Ngữ pháp ngay từ cấp II, một phần là do ý thức học tập phân
môn tiếng Việt chưa tốt cho rằng không ảnh hưởng đến thi cử. Đó là nguyên
nhân dẫn đến tình trạng học tập chưa tốt ở phân môn này; học sinh còn nắm bắt
kiến thức một cách mơ hồ, hời hợt.
- Thực trạng trên đặt ra nhiệm vụ thiết thực cho giáo viên Ngữ Văn: phải
khiến cho học sinh có niềm yêu thích khi học tiếng Việt. Học sinh sẽ tiếp thu
lĩnh hội kiến thức trong phân môn tiếng Việt một cách đơn giản nhất, nhanh
nhất, từ đó có thể vận dụng giải quyết các câu hỏi phần Đọc- hiểu theo dạng đề
câu hỏi Pisa chính xác, hiệu quả.
III. Biện pháp cụ thể.
Khi bàn đến phương pháp cụ thể của việc dạy học ngữ pháp không
những chỉ giải quyết vấn đề dạy cái gì? mà còn cần phải giải quyết
vấn đề dạy như thế nào?. Phải làm cho học sinh nắm được bản chất
6


của các từ loại và hệ thống quy tắc ngữ pháp tiếng Việt. Phải chú ý
thực hành vận dụng các quy tắc ngữ pháp vào tiếp nhận và sản sinh
văn bản. Phải chú ý tới việc góp phần rèn luyện năng lực tư duy cho
học sinh.. Đồng thời chú ý cả việc giáo dục tư tưởng tình cảm cho học
sinh một cách tự nhiên và phù hợp.
1.Phương pháp dạy học các tri thức lí thuyết về ngữ pháp:
a, Phương pháp hình thành các khái niệm ngữ pháp:
* Bước 1: Giới thiệu bài
Có nhiều cách giới thiệu bài mới nhưng nói chung cần ngắn gọn, rõ ràng,
nêu bật được mục đích của bài học và tạo được sự tập trung, hứng thú cho

HS. Cũng có thể giới thiệu bài mới bằng cách tạo ra một tình huống có
vấn đề hay một câu chuyện về ngôn ngữ.
VD: Khi dạy tiết 72 : Thực hành về hàm ý ( Ngữ văn 12), GV có thể đưa
ra tình huống “ Một bạn học sinh đi học muộn, vừa đến cửa lớp cô giáo
liền hỏi : Bây giờ là mấy giờ rồi?” . Vậy theo em, mục đích câu hỏi của
cô giáo là gì? Học sinh sẽ phát hiện ra hàm ý trong câu hỏi của cô giáo
trong tình huống trên là phê bình bạn học sinh kia đã đi học muộn và có ý
nhắc nhở. Từ tình huống trên GV dẫn vào bài học mới.
*Bước 2: Chọn và cho học sinh tìm hiểu, phân tích ngữ liệu
Trong chương trình, ngữ liệu thường được rút ra ngay từ những văn bản được
chọn ở phân môn văn học đã nêu trước đó và có sự tương thích cao với kiểu loại
văn bản sẽ được dạy học ở phân môn làm văn. GV tuỳ theo đặc điểm của mẫu
và tri thức lí thuyết để lựa chọn một quy trình dạy học thích hợp. GV thường sử
dụng câu hỏi đàm thoại theo quy trình quy nạp. Hệ thống câu hỏi có nhiều cấp
độ, có câu hỏi trực tiếp nêu vấn đề, có câu hỏi dẫn dắt.
Các thao tác thường sử dụng ở bước này:
+ Phân tích- phát hiện: Trên cơ sở các ngữ liệu, GV sử dụng các câu hỏi định
hướng để học sinh quan sát, so sánh đối chiếu tìm ra các nét đặc trưng của khái
niệm và quy tắc mới.
+ Phân tích-chứng minh: Sau khi đã sơ bộ hình thành được tri thức mới, học
sinh cần củng cố và khắc sâu chúng. GV đưa ra các tài liệu ngôn ngữ chứa các
hiện tượng ngôn ngữ mà các em mới được học, yêu cầu các em phát hiện và
chứng minh chúng bằng việc vận dụng tri thức mới được học. Thao tác này
được lặp đI lặp lại một số lần cho đến lúc GV yên tâm là các em đã nắm vững
kiến thức và rút ra được khái niệm.
*Bước 3: Trình bày định nghĩa về khái niệm:
Để HS có thể tự mình phát biểu được định nghĩa về khái niệm, những điều GV
hướng dẫn học sinh phân tích ở bước 2 cần phải được sắp xếp theo những mối
7



quan hệ hợp lí sao cho HS dễ nhận diện. GV nên để tự HS tự phát biểu thành
định nghĩa sau đó đối chiếu với SGK, hiệu chỉnh và phân tích ngược trở lại.
VD: Nghĩa của câu bao gồm mấy thành phần?
Em hiểu như thế nào về nghĩa sự việc ở trong câu?
 HS trả lời: Nghĩa của câu bao gồm 2 thành phần: nghĩa sự việc và nghĩa
tình thái. Nghĩa sự việc là nghĩa ứng với sự việc mà được đề cập đến ở
trong câu. Nó thường được biểu hiện nhờ các từ ngữ đóng vai trò chủ ngữ,
vị ngữ, trạng ngữ, khởi ngữ và một số thành phần phụ khác
*Bước 4: Thực hành luyện tập:
Ngữ liệu của bước nàychủ yếu sử dụng trong hệ thống bài tập thực hành, luyện
tập ngay trong SGK. Nhưng GV cũng có thể sáng tạo ra những bài tập khác phù
hợp với nội dung, mục đích thực hành củng cố. Các bài tập này chủ yếu là bài
tập nhận diện, tái tạo, sáng tạo.
b, Quy trình và phương pháp hình thành một quy tắc ngữ pháp:
Quy tắc ngữ pháp là những quy tắc cấu tạo và sử dụng các đơn vị ngữ
pháp. Trong việc dạy học các quy tắc ngữ pháp phải chú ý các yêu cầu sau:
+ Phải xác định đúng nội dung quy tắc và các khái niệm liên quan.
+ Phải xem xét, chỉ ra một cách rõ ràng các điều kiện thực hiện quy tắc.
Mỗi quy tắc chỉ có thể được thực hiện trong những điều kiện nhất định. Do đó,
dạy- học quy tắc ngữ pháp cần xác định các điều kiện thực hiện quy tắc.
VD: Quy tắc lựa chọn trật tự từ trong câu cũng phải căn cứ vào ngữ
cảnh, mục đích giao tiếp.
+ Phải chú trọng các thao tác thực hiện quy tắc.
Các quy tắc ngữ pháp cần được thực hiện hoá thành các thao tác càng
chính xác, cụ thể càng tốt. Các thao tác được thực hiện theo đúng trình tự.
2. Phương pháp dạy học thực hành ngữ pháp:
a, Mục đích, yêu cầu của dạy học thực hành:
Dạy học thực hành nhằm làm sáng tỏ và củng cố cho các khái niệm, các quy
tắc lí thuyết. Đồng thời giúp cho HS trực tiếp vận dụng những điều đã học trong

hoạt động giao tiếp, nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho HS.
Không nên quan niệm dạy học thực hành tách rời với dạy học lí thuyết. Như
vậy bài ngữ pháp sẽ sinh động và HS sẽ chủ động nắm được tri thức lí thuyết.
Đây là phần học sinh được thực hành, vận dụng những hiểu biết của mình về
văn bản vừa học để giải quyết bài tập trong sách giáo khoa và những bài tập bổ
sung khác. Học sinh có thể hoạt động cá nhân hoặc hoạt động theo nhóm tuỳ
theo dung lượng yêu cầu của câu hỏi. ở phần luyện tập giáo viên có thể dành cho
8


học sinh từ 10 - 15 phút để suy nghĩ, làm bài và trả lời câu hỏi. Giáo viên có thể
đánh giá, cho điểm ngay học sinh để khích lệ tinh thần học tập của các em.
b, Dạy học thực hành ngữ pháp thông qua các bài tập:
* Bài tập nhận diện phân tích:
- Dạng bài tập này cho sẵn một số ngữ liệu và yêu cầu phân tích, xác định, nhận
diện một số dấu hiệu của yếu tố ngữ pháp.
- Loại bài tập này có tác dụng làm sáng tỏ, củng cố và khắc sâu mở rộng hiểu
biết về một khái niệm ngữ pháp nào đó.
- Dạng bài tập này, GV lưu ý một số thao tác:
+ Xác định lại khái niệm ngữ pháp có liên quan để làm căn cứ.
+ Vận dụng vào ngữ liệu của bài tập để xác định đối tượng ngữ pháp cần nhận
diện, phân tích.
- Các bước có thể như sau:
+ Bước 1: Treo bảng phụ có chép ngữ liệu.
+ Bước 2: Gọi HS xác định yêu cầu của bài tập.
+ Bước 3: Gọi HS trình bày kết quả nhận diện.
+ Bước 4: Nhận xét, bổ sung, khái quát hoá để củng cố khái niệm.
*Bài tập tạo lập:
- Đây là loại bài tập yêu cầu HS tự mình tạo ra một sản phẩm ngôn ngữ theo
yêu cầu nào đó.

- Bài tập tạo lập có những dạng: tạo lập theo mẫu, tạo lập tiếp sản phẩm theo
những yêu cầu nhất định.
- Các bước có thể tiến hành như sau:
+ Bước 1: Yêu cầu HS đọc bài tập.
+ Bước 2: Hướng dẫn HS xác định các yêu cầu sáng tạo.
+ Bước 3: Giám sát hoạt động làm bài của HS.
+ Bước 4: Gọi một vài HS đọc bài làm sáng tạo của mình.
+ Bước 5: Các HS khác nhận xét, GV đánh giá, bổ sung, sửa chữa.
VD: GV đưa ra bài tập: Em hãy tạo ra một câu có hàm ý từ chối lời mời đi chơi
của một người bạn.
 HS trả lời: Mình phải nấu cơm.
Mình chưa làm bài tập.
*Bài tập sửa chữa:
9


+ Hướng dẫn HS phát hiện, xác định loại lỗi.
+ Hướng dẫn HS phân tích biểu hiện lỗi.
+ Yêu cầu HS chỉ ra những nguyên nhân mắc lỗi cơ bản.
+ Xác định hướng và cách sửa chữa.
+ HS khác nhận xét và đánh giá
3. Phương pháp hoạt động nhóm khi dạy ngữ pháp
Giáo viên cần phải tuân theo quy trình tổ chức dạy học theo nhóm:
+ Bước 1: Thành lập nhóm
Sau khi giáo viên nêu vấn đề cần giải quyết và những nhiệm vụ đặt ra cho
nhóm, giáo viên hướng dẫn cách thức tổ chức nhóm.
+ Bước 2: Hoạt động nhóm
Giáo viên phát phiếu hỏi hoặc nêu yêu cầu cho các nhóm, ấn định thời
gian làm việc; các nhóm nhận nhiệm vụ, sau đó bầu nhóm trưởng, thư ký, giao
trách nhiệm cho các thành viên trong nhóm nếu cần; cả nhóm tập trung giải

quyết vấn đề (nêu ý kiến, thảo luận, ghi chép) trong khi học sinh làm việc, giáo
viên nên đến từng nhóm hỗ trợ, động viên, nhắc nhở để các nhóm làm việc đảm
bảo tiến độ thời gian.

+ Bước 3: Thông báo kết quả

10


Sau khi các nhóm hoàn thành công việc giáo viên hoặc lớp trưởng điều
khiển từng nhóm lên báo cáo kết quả trên giấy lớn hoặc trình bày miệng. Các
nhóm khác bổ sung thống nhất ý kiến.

+ Bước 4: Kết luận vấn đề
11


Giáo viên tóm tắt kết quả đạt được, giúp học sinh tự nhận xét, đánh giá
quá trình làm việc.
Qua đây ta thấy giáo viên có trách nhiệm hướng dẫn và quản lý học sinh
làm việc nhóm nhằm đạt được mục tiêu và nội dung học tập. Để đạt được điều
này, trước đó giáo viên phải chuẩn bị rất kỹ phần thiết kế bài học, lựa chọn vấn
đề cần làm việc theo nhóm, và có phương án dự kiến hình thức nhóm. Tại lớp
giáo viên cần hướng dẫn kỹ cách thức tổ chức nhóm và định ra các vấn đề cần
giải quyết. Trong quá trình học sinh làm việc, giáo viên luôn luôn theo sát từng
bước hoạt động của học sinh, sẵn sàng hỗ trợ khi cần. Giáo viên cần có kết luận
vấn đề, góp ý nhận xét nhằm giúp học sinh nhận được sự đánh giá đúng mức kết
quả công việc của mình.
IV. Áp dụng soạn giáo án
Phần Tiếng Việt- Tiết 64:


Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản
A. Mục tiêu bài học:
1. Kiến thức:
- HS ôn tập, củng cố về kiến thức và cách sử dụng một số kiểu câu đã học.
2. Kỹ năng:
- Rèn cho học sinh kỹ năng sử dụng câu và kĩ năng lĩnh hội văn bản.
3. Giáo dục:
- Giáo dục cho học sinh ý thức sử dụng câu trong giao tiếp và trong quá
trình tạo lập văn bản
- HS biết giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
B. Phương pháp:
- Gợi mở, phân tích, đàm thoại, hoạt động nhóm, trình chiếu…
C. Tiến trình tổ chức giờ dạy:
1. ổn định tổ chức:
2. Kiểm tra bài cũ: Không.
3. Bài mới:
Hoạt động Giáo viên - Học sinh
HĐ1: Khởi động
- GV cho HS nhắc lại các kiểu câu đã
học.Lấy ví dụ minh hoạ.
HĐ2: HD Tìm hiểu kiểu câu bị động

Nội dung

I. Dùng kiểu câu bị động:
1.Lí thuyết:

- Em hãy cho biết thế nào là câu chủ
động? Lấy ví dụ?

- Câu chủ động là câu có chủ ngữ chỉ
12


- HSTL:
- GV nx, lấy ví dụ.

người, vật thực hiện một hoạt động
hướng vào người, vật khác (chỉ chủ thể
của hoạt động)
+Ví dụ: Mọi người yêu mến em.
- Thế nào là câu bị động?Lấy ví dụ?
- Câu bị động là câu có chủ ngữ chỉ
- HSTL
người, vật đợc hoạt động của người,
-GV nx, kq:
vật khác hướng vào
- Gv yêu cầu Hs lấy ví dụ về câu chủ (chỉ đối tượng của hoạt động)
động và tự chuyển thành câu bị động:
+ Ví dụ: Em được mọi người yêu mến
+Con mèo vồ con chuột(câu chủ
động)
->Con chuột bị con mèo vồ (bị động)
- Việc chuyển đổi câu chủ động thành
câu bị động (và ngược lại) ở mỗi đoạn
- Gv: Theo em việc chuyển đổi câu chủ văn nhằm liên kết các câu trong đoạn
động thành câu bị động (và ngược lại) văn thành một mạch văn thống nhất.
nhằm mục đích gì?
- HSTL
- Cách chuyển đổi:

+ Chuyển câu chủ động thành câu bị
động: Chuyển từ ( hoặc cụm từ) chỉ đối
tượng của hoạt động lên đầu câu và
- Qua các vdụ trên em hãy nêu cách thêm các từ bị hay được vào sau từ
chuyển đổi câu chủ động thành câu bị (cụm từ) ấy.
động và ngược lại chuyển câu bị động + Chuyển câu bị động thành câu chủ
thành câu chủ động?
động:
- HSTL, lấy vdụ
Chuyển từ (hoặc cụm từ) chỉ chủ thể
- Gv nx, khái quát:
của hoạt động lên đầu câu và bỏ đi từ
bị hay được sau từ (cụm từ) chỉ đối
tượng của hoạt động.
2. Bài tập (SGK Tr194):
- Hs đọc yêu cầu của BT1 trên máy a, Bài tập 1:
chiếu (SGKTr194)
Hắn chỉ thấy nhục, chứ yêu đương gì.
- Gv hướng dẫn cách làm.
Không, hắn chưa được một ngời đàn
- HS hoạt động cá nhân (3 phút)
bà nào yêu cả, vì thế mà bát cháo hành
- HSTL ->HSNX
của thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều.
- GV nhận xét, đánh giá.
Hắn có thể tìm bạn được, sao lại chỉ
gây kẻ thù?
*Đáp án:
- Câu bị động: Hắn chưa được một
người đàn bà nào yêu cả.

13


- Chuyển câu bị động sang câu chủ
động: Chưa một người đàn bà nào yêu
hắn cả.
- Nếu thay câu chủ động vào vị trí câu
bị động thì không sai về ngữ pháp
nhưng mạch đề tài sẽ không thống
nhất.
-HS xác định yêu cầu BT2.
- Hs suy nghĩ, trả lời.(3 phút)
- Hs nhận xét, bổ sung.
- Gv nx, đánh giá,khái quát

b, Bài tập 2: Xác định câu bị động
trong đoạn trích sau và phân tích tác
dụng của kiểu câu bị động về mặt
liên kết ý trong đoạn văn.
Hắn tự hỏi rồi lại tự trả lời: Có ai
nấu cho mà ăn đâu ? Mà còn ai nấu
cho mà ăn nữa ! Đời hắn chưa bao giờ
được săn sóc bởi một tay đàn bà.
* Đáp án
- Câu bị động: Đời hắn chưa bao giờ
đựơc săn sóc bởi một tay “đàn bà’’.
- Tác dụng: tạo nên mạch văn thống
nhất cùng đề tài với câu trước “hắn”.

HĐ3: HD dùng kiểu câu có khởi II, Dùng kiểu câu có khởi ngữ:

ngữ:
1, Lý thuyết:
- Khởi ngữ là thành phần câu đứng
- Em hiểu khởi ngữ là gì?Lấy ví dụ trước chủ ngữ để nêu lên đề tài được
minh hoạ?
nói đến trong câu.
- HSTL.
- Trước khởi ngữ, thường có thêm các
- GV nx, kq:
quan hệ từ về, đối với.
*Ví dụ:
+ Làm bài, anh ấy cẩn thận lắm.
( Khởi ngữ: làm bài)
-GV đưa ra ví dụ, Hs phân tích thành + Về các thể văn trong lĩnh vực văn
phần khởi ngữ.
nghệ, chúng ta có thể tin ở tiếng ta,
không sợ nó thiếu giàu và đẹp.
(Kn: Về các thể văn trong lĩnh vực
văn nghệ)
2, Bài tập:(SGK Tr194-195)
-HS đọc yêu cầu của bài tập.
a, Bài tập 1:
- Gv hướng dẫn cách làm.
Phải cho hắn ăn tí gì mới được.
14


- Hs hoạt động nhóm theo bàn ( 5 phút)
- Gọi 2,3 nhóm trình bày.
- Các nhóm khác nx, bổ sung.

- GV nx, đgiá.

Đang ốm thế thì chỉ ăn cháo hành, ra
được mồ hôi thì là nhẹ nhõm người
ngay đó mà… Thế là vừa sáng thị đã
chạy đi tìm gạo. Hành thì nhà thị may
lại còn. Thị nấu bỏ vào cái rổ, mang
ra cho Chí Phèo.
* Đáp án:
- Câu có khởi ngữ: Hành thì nhà thị
may lại còn.( Kn: hành)
- So sánh với câu tương đương về
nghĩa: Nhà thị may lại còn hành.
+ Hai câu tương đương về nghĩa.
+ Khi sử dụng câu có khởi ngữ sẽ có
tác dụng nhấn mạnh chủ đề “ hành” và
tạo ra sự liên kết chặt chẽ với câu
trước

- HS nêu yêu cầu của bài tập.
- HS suy nghĩ, trả lời (3 phút)
- HS khác nhận xét.
- Gv nhận xét, giải thích.

b, Bài tập 2: Lựa chọn câu văn thích
hợp nhất để dùng vào vị trí bỏ trống
trong đoạn văn sau:
Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách
khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai
bím tóc dày, tương đối mềm, một cái

cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn.
|…|
A- Các anh lái xe nhận xét về mắt tôi:
“Cô có cái nhìn sao mà xa xăm !”
B- Mắt tôi được các anh lái xe bảo là :
“Cô có cái nhìn sao mà xa xăm !”
C- Còn mắt tôi thì các anh lái xe
bảo :“Cô có cái nhìn sao mà xa xăm !”
D- Mắt tôi theo lời các anh lái xe là có
cái nhìn xa xăm.
* Đáp án: C ( chọn kiểu câu có khởi
ngữ)

HĐ4 :HDdùng kiểu câu có trạng
ngữ chỉ tình huống
III. Dùng kiểu câu có trạng ngữ chỉ
tình huống
1, Lý thuyết:
- Trạng ngữ là thành phần như thế nào? - Trạng ngữ là thành phần phụ bổ sung
Vị trí của trạng ngữ trong câu?
ý nghĩa cho nòng cốt câu về thời gian,
-HSTL.
địa điểm, phương tiện, nguyên nhân,
15


cách thức, mục đích…
- Trạng ngữ có thể đứng ở đầu câu,
giữa câu, cuối câu.
- Thành phần trạng ngữ còn có vai trò

gì nữa trong đoạn văn, bài văn ?
- Trạng ngữ còn có tác dụng nối kết
- HSTL.
các câu, các đoạn với nhau, góp phần
- GV kq:
làm cho đoạn văn, bài văn được mạch
lạc.

- Gv nêu yêu cầu của bài tập.
- Hs làm bài(3 phút)
- Hs trả lời -> nhận xét.
- Gv nhận xét, đánh giá.

2, Bài tập (SGK Tr195-196)
a, Bài tập 1:
Thị nghĩ bụng : hãy dừng yêu để hỏi
cô thị đã.
Thấy thị hỏi, bà già kia bật cười. Bà tưởng cháu bà nói đùa.
*Đáp án:
-Thấy thị hỏi: nằm ở vị trí đầu câu, có
cấu tạo là cụm động từ.
- Chuyển: Bà già kia thấy thị hỏi, bât
cười.
(Thay đổi về cấu tạo ngữ pháp:có hai
vị ngữ)
- Sử dụng câu văn ban đầu thì câu nối
tiếp về ý với câu trước sẽ logíc, rõ ràng
hơn.

- Hs đọc yêu cầu của bài tập 2.

- Hs hoạt động nhóm bàn ( 3 phút)
- Gọi 2, 3 nhóm trả lời.
- Gv nhận xét, đánh giá.

b, Btập 2: ở vị trí đoạn văn dưới đây,
tác giả đã lựa chọn câu nào trong số
các kiểu câu nêu ở dưới ? Hãy giải
thích sự lựa chọn đó.
“- Em thắp đèn lên chị Liên nhé ?

- Hẵng thong thả một lát nữa cũng
được. Em ra ngồi đây với chị kẻo ở
trong ấy muỗi”
A- Khi nghe tiếng An, Liên đứng dậy
trả lời:
B- Liên nghe tiếng An, Liên đứng dậy
trả lời:
16


C- Nghe tiếng An, Liên đứng dậy trả
lời:
D- Liên nghe tiếng An, đứng dậy trả
lời:
*Đáp án: C (Kiểu câu có trạng ngữ
chỉ tình huống: tạo sự liên kết chặt chẽ
về ý với các câu văn trong đoạn văn)

HĐ5: HDTổng kết về việc sử dụng III. Tổng kết về việc sử dụng ba kiểu
ba kiểu câu trong văn bản

câu trong văn bản
- Thành phần chủ ngữ trong câu bị
động, thành phần khởi ngữ và trạng
- Gviên cho Hs tổng kết về việc sử ngữ chỉ tình huống đều có vị trí đầu
dụng ba kiểu câu trong văn bản theo hệ câu.
thống câu hỏi trong sgk.
- Các thành phần trên thường thể hiện
- HSTL
nội dung thông tin đã biết từ những câu
- GV khái quát.
đi trước trong văn bản.
- Việc sử dụng ba kiểu câu trên có tác
dụng liên kết ý, tạo mạch lạc trong văn
bản.
D, Củng cố, dặn dò:
- GV yêu cầu HS nhắc lại các kiểu câu
vừa học.
- Giáo viên khái quát lại nội dung bài
bằng sơ đồ tư duy.
Nhận xét về việc học tập của học sinh,
tuyên dương tinh thần học tập của học
sinh.
- Về nhà làm và xem lại các bài tập đã
chữa. Chuẩn bị bài tiếp theo : Tình yêu
và thù hận
E, Rút kinh nghiệm giờ dạy:

17



.

V.Kết quả khảo sát sau khi áp dụng
Khối 11:
- 88% học sinh điểm dưới trung bình.
- 12% học sinh điểm trên trung bình
C. KẾT LUẬN
Qua quá trình giảng dạy và trao đổi với bạn bè đồng nghiệp. Tôi thấy việc
áp dụng phương pháp dạy học mới một cách hiệu quả vào giảng dạy phần ngữ
pháp trong chương trình Ngữ văn là vô cùng cần thiết. Như trong Chương 1 điều 14 của Luật Giáo dục năm 2005 đã nêu: " Nhà giáo giữ vai trò quyết định
trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục". Trong chiến lược phát triển giáo dục
năm 2001 đến 2010 cũng đã nêu: "Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo
dục, chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng
dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người
học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy
phân tích tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính
chủ động, tính tự chủ của học sinh trong quá trình học tập, hoạt động tự quản
trong nhà trường và tham gia các hoạt động xã hội".
Dựa trên những yếu tố trên và qua việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
vào giảng dạy. Tôi thấy học sinh đã có sự tiến bộ rất nhiều trong giờ học, chủ
động lĩnh hội kiến thức của mình theo hướng tích cực, có hứng thú say mê trong
học tập, hiểu bài ngay trên lớp.
Vì vậy, là một giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn Tôi cũng xin đưa ra một
vài kinh nghiệm trên để bạn bè đồng nghiệp có thể tham khảo, áp dụng vào việc
giảng dạy phần ngữ pháp trong môn Ngữ văn của Trường THPT cho tốt và đạt
được kết quả cao hơn. Trong quá trình viết bài không thể tránh khỏi những thiếu
sót nên tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp, ban ngành và đồng
nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Bảo Thắng, ngày 15 tháng 04 năm 2014

Người viết

18


Trần Thị Minh Hậu

D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy môn Ngữ văn THPT.
2. Sách giáo khoa và sách giáo viên môn Ngữ văn 10, 11, 12.
3. Thiết kế bài giảng môn Ngữ văn 10, 11.
4. Phương pháp dạy học tiếng Việt.

E.MỤC LỤC
A .PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ................................................

Trang 2 đến trang 3

B.NỘI DUNG ĐỀ TÀI.......................................................Trang 4 đến trang 17

I. Cơ sở lí luận………………………………………..Trang 4 đến trang 6
II. Thực trạng vấn đề………………………………….Trang 6
III. Biện pháp cụ thể …………………… …………….Trang 7 đến trang 12
IV. áp dụng soạn giáo án............................................... Trang 12 đến trang 17
V.Kết quả sau áp dụng………………………………… .Trang 18
C. KẾT LUẬN…………………………………………………..Trang 18
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………Trang 19
E. MỤC LỤC.....................................................................Trang 19

19



20



×