Tải bản đầy đủ (.doc) (123 trang)

Tích hợp văn và tiếng việt trong dạy học môn ngữ văn 6 trung học cơ sở luận văn thạc sỹ ngữ văn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (504.02 KB, 123 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ HƯNG

TÍCH HỢP VĂN VÀ TIẾNG VIỆT TRONG DẠY
HỌC MÔN NGỮ VĂN 6 TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC

VINH - 2011


2

MỤC LỤC


3

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trước xu thế phát triển của ngành khoa học công nghệ và thông tin
trên toàn thế giới, ngành giáo dục đã đổi mới chương trình, nội dung,
phương pháp dạy học cho phù hợp với xu thế phát triển của thời đại nhằm,
đưa nền giáo dục nước nhà lên ngang hàng với các nước tiên tiến trong khu
vực và trên thế giới.
Cùng với việc đổi mới các môn khoa học khác, việc đổi mới dạy và


học văn học và tiếng Việt ở nhà trường phổ thông trở thành một nhu cầu
rất cần thiết, góp phần giúp người học lĩnh hội được tri thức một cách
khoa học và tinh tế.
Bàn về vấn đề đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, nghị quyết
40/2000/QH 10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khóa X đã
khẳng định mục tiêu của việc đổi chương trình giáo dục phổ thông lần này
là “ xây dựng nội dung chương trình, phương pháp cuả giáo dục, sách phổ
thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng
yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình
độ giaó dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới”
và “ việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục
tiêu, yêu cầu về nội dung phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học
quy định trong luật giáo dục; khắc phục những hạn chế của chương trình,
sách giáo khoa, tăng cường tính thực tiễn kĩ năng thực hành, năng lực tự
học; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành
tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học
sinh. Bảo đảm sự thống nhất, kế thừa và phát triển của chương trình giáo
dục, tăng cường tính liên thông giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề
nghiệp, giáo dục đại học; thực hiện phân luồng trong hệ thống giáo dục
quốc dân để tạo sự cân đối về cơ cấu nguồn nhân lực; bảo đảm sự thống về
chuẩn kiến thức và kỹ năng, có phương án vận dụng chương trình sách
giáo khoa phù với hoàn cảnh và điều kiện của các địa bàn khác nhau. Đổi
mới nội dung chương trình ,SGK, phương pháp dạy và học, thực hiện đồng
bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi


4

cử, chuẩn hóa trường sở, đào tạo, bồi dưỡng của giáo viên và công tác quản

lý giáo dục”. [6, tr.16].
Việc đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học đối với
bộ môn Ngữ văn là nhằm hạn chế những bất cập của cách dạy học truyền
thống. Dựa trên cơ sở đó để phát huy những ưu điểm của phương pháp dạy
học mới góp phần đạt hiệu quả cao trong việc đổi mới giáo dục.
Chương trình đã định hướng phương pháp, mục tiêu dạy và học phù
hợp với từng cấp học và điều kiện xã hội mới là nhằm phát huy được tính
tích cực chủ động, sáng tạo rèn luyện kỹ năng vận dụng vào thực tiễn, phát
triển năng lực người học. Yêu cầu người học có đủ khả năng vận dụng
kiến thức một cách tổng hợp để giải quyết vấn đề cuộc sống đặt ra.
Tình hình dạy học văn, tiếng Việt trong nhà trường phổ thông nói
chung và ở THCS nói riêng trong nhiều năm qua đã đạt được nhiều những
ưu điểm nhất định, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về cả nội dung và phương
pháp dạy. Chương trình còn nặng về lý thuyết, hệ thống các đơn vị và khái
niệm tiếng Việt quá nặng nề mà còn thiếu tính thống nhất, đồng bộ. Về
phương pháp dạy học tuy đã được cải tiến và áp dụng trong nhà trường phổ
thông trong nhiều năm qua nhưng thực tế việc dạy học ở trường phổ thông
vẫn chưa thoát được cách dạy truyền thống nó còn nặng nề về thuyết minh
và minh họa các đơn vị kiến thức, ít chú ý đến việc tổ chức hoạt động cho
học sinh để chiếm lĩnh kiến thức. Học sinh vẫn phải nghe giảng và ghi
chép thụ động nặng nề và nhàm chán. Kiến thức bị nhồi nhét, chưa phát
huy được vai trò tư duy sáng tạo khoa học của học sinh.
Những hạn chế này hiện tượng phổ biến trong nhà trường phổ thông
nhất là ở trường THCS. Những mặt hạn chế này dẫn đến kết quả học tập
của học sinh chưa thực hiện được nâng cao về trình độ. Để khắc phục
những hạn chế đó thì giáo viên Ngữ văn phải nắm vững kiến thức về
phương pháp dạy học quan điểm tích hợp mà chương trình biên soạn SGK
lựa chọn và đề ra.
Trong các phương pháp hiện nay, phương pháp dạy học tích hợp góp
phần khắc phục những hạn chế của việc dạy và học phù hợp với cuộc sống

hiện đại. Tích hợp làm cho việc dạy và học tiết kiệm được thời gian, lồng
ghép được nhiều nội dung dạy học mà vẫn mang lại hiệu quả nhận thức
cao, chương trình tích hợp phải có phương pháp dạy học phù hợp, giữa các


5

phân môn, mỗi bài học nó đều chứa có mối quan hệ liên thông đó là khai
thác chung một văn bản.
Nhưng thực tế người giáo viên Ngữ văn THCS vẫn chưa thoát khỏi
cách dạy học tách rời giữa các phân môn. Điều đó nó đòi hỏi ở người giáo
viên Ngữ văn phải có năng lực thật sự và nắm vững phương pháp. Dạy làm
sao vẫn giữ được bản sắc riêng của từng phân môn, mà vẫn hòa nhập được
các phân môn khác nhau để hình thành tri thức, năng lực, kỹ năng tổng hợp
cho học sinh.
Dạy học theo phương pháp tích hợp, tránh được những biểu hiện cô
lập, tách rời từng phương diện tri thức, đồng thời còn phát triển ở người
học tư duy biện chứng, khả năng thông hiểu vận dụng kiến thức một cách
linh hoạt vào yêu cầu cuộc sống. Từ đó giúp cho học sinh nắm vững kiến
thức một cách chuyên sâu và có hệ thống hơn. Chính vì thế, nó đòi hỏi
người giáo viên dạy học môn Ngữ văn phải hiểu rõ được ưu điểm tính tích
hợp trong các phân môn. Trong phân môn Tiếng Việt thể hiện quan hệ
đồng trục của các kiến thức kỹ năng tiếng Việt, đồng thời nó thể hiện trong
quan hệ giữa tiếng Việt và mảng kiến thức văn học, thiên nhiên, con người,
xã hội. Các phân môn này nó quan hệ mật thiết với nhau và cùng hướng tới
việc hình thành cho học sinh khả năng cảm thụ, phân tích, bình giảng văn
học và có kỹ năng hoạt động giao tiếp trong xã hội.
Dạy học hai phân môn Văn và Tiếng Việt theo phương pháp tích
hợp trong chương trình Ngữ văn 6, chúng ta cần phải định hướng cho học
sinh thấy được mối quan hệ mật thiết giữa hai phân môn. Dạy phân môn

Văn thì chúng ta phải bắt đầu từ ngôn từ và thông qua ngôn từ để phục vụ
trực tiếp cho văn học. Thông qua văn bản để khai thác ngữ liệu phục vục
cho việc dạy học tiếng Việt.
Sự kết hợp hài hòa giữa hai phân môn này sẽ tạo được hiệu quả cao
trong quá trình tổ chức dạy học Văn và Tiếng Việt.
Việc dạy học môn Ngữ văn 6 THCS theo hướng tích hợp, tuy đã có
những kết quả khả quan nhưng không tránh khỏi những khó khăn, vướng
măc, nhất là đối với giáo viên.
Vì thế mà việc nghiên cứu phương pháp dạy học theo hướng tích
hợp được xem là những ván đề cần đặt ra và yêu cầu tiếp tục giải quyết.
Lựa chọn đề tài nghiên cứu “Tích hợp Văn và tiếng Việt trong dạy học


6

môn Ngữ văn 6 trung học cơ sở”, chúng tôi muốn góp phần vào việc tìm
hiểu phương pháp dạy học tích hợp nói riêng và việc đổi mới phương pháp
dạy học môn Ngữ văn ở trung học cơ sở nói chung.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

2.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề tích hợp
Trong quá trình đổi mới giáo dục, việc dạy học tích hợp là vấn đề
được các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam và trên thế giới đặc biệt
quan tâm.
Phương pháp dạy học tích hợp đã được xây dựng và áp dụng trong
chương trình các môn học nói chung ở trong nhà trường phổ thông và
THCS nói riêng.
Trên thế giới việc nghiên cứu và thực thi môn học tích hợp đã được
bắt đầu “từ những năm 1960 đến 1974 đã có 208 chương trình môn khoa
học liên quan tích hợp ở những mức độ khác nhau từ liên môn, kết hợp đến

tích hợp hoàn toàn theo chủ đề (trong số 392 chương trình đã đã được
điều tra) ” [25, tr.22]. Từ những năm 90 trở lại đây, quan điểm dạy học tích
hợp được phổ biến rộng rãi trên thế giới tiêu biểu có X aVier Ro e Giers
với cuốn” Khoa sư phạm hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà
trường” NXB Giáo dục đã giúp người đọc lý giải những khái niệm xung
quanh quan điểm tích hợp, đồng thời chỉ rõ những ảnh hưởng của khoa sư
phạm tích hợp đối với chương trình SGK, kiến thức học sinh đã lĩnh hội.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu giảng dạy tích hợp các môn khoa học
được đề ra từ những năm 40, 50 của thế kỷ XX, các cuốn sách:
“ Việt Nam văn sử yếu” của Dương Quảng Hàm
“ Giảng văn chinh phụ ngâm” của Đặng Thai Mai.
Các cuốn sách đã viết theo tinh thần tích hợp. Đến những năm 60 đã
bước đầu được nghiên cứu, nhưng vẫn chưa được phổ biến.
Cuối những năm 80, đặc biệt từ những năm 90 trở lại đây, vấn đề
xây dựng môn học tích hợp đối với các môn học xã hội ở tiểu học và trung
học cơ sở đã được quan tâm. Ở trung học, từ năm 1991, trung tâm nghiên
cứu nội dung và phương pháp giáo dục phổ thông đã tổ chức nghiên cứu
thể nghiệm vấn đề tích hợp đã được nghiên cứu thể nghiệm và năm 1996,
mới chính thức đưa vào dạy các môn xã hội và tự nhiên.


7

Năm 1995 - 1996, một nhóm chuyên gia của liên minh châu Âu,
cùng với cán bộ thuộc trung tâm nghiên cứu giáo dục phổ thông đã biên
soạn SGK tự nhiên và xã hội theo tinh thần tích hợp. Ở trung học cơ sở,
năm 1993, kết quả nghiên cứu về tích hợp các môn xã hội đã được thông
báo trong hội nghị tập huấn quốc gia về chiến lược chương trình trung học
đầu thế kỷ XXI. Vấn đề tích hợp luôn được tập trung nghiên cứu và thử
nghiệm đã đạt được những kết quả nhất định. Kết quả nghiên cứu này đã

được đưa vào thí điểm dạy học từ năm 1999 - 2000.
Trong những năm qua với sự nỗ lực nghiên cứu và thể nghiệm vấn
đề tích hợp các môn khoa học xã hội của nghành giáo dục đã đạt được
những thành quả nhất định. Vấn đề chủ yếu về phương pháp dạy học theo
quan điểm tích hợp về cơ bản đã được giải quyết.
Tuy vậy, trong điều kiện xây dựng chương trình và SGK còn những
mặt hạn chế, đội ngũ giáo viên thật sự chưa trang bị một cách đầy đủ để
dạy theo phương pháp tích hợp, tinh thần đổi mới theo phương pháp dạy
học tích chưa được phát triển một cách sâu rộng, nên vấn đề này luôn là
yêu cầu cần được đặt ra và tiếp tục phải giải quyết đối với ngành giáo dục
thế giới nói chung và ngành giáo dục Việt Nam nói riêng.
2.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề tích hợp trong dạy học môn Ngữ văn
Từ những năm 1960, ở nước ta việc nghiên cứu giảng dạy tích hợp
các môn học đã được đề ra nhưng chưa được phổ biến. Những thông tin về
việc dạy học tích hợp ở Việt Nam đã có rải rác, các bài viết trên sách báo
và tạp chí chuyên ngành.
Các tài liệu nghiên cứu về vấn đề tích hợp chỉ là gợi ý, những định
hướng chung. Có thể kể ra các tài liệu sau đây:
Đào Trọng Quang với bài “ Biên soạn SGK theo quan điểm tích hợp
cơ sở lý luận và một số kinh nghiệm”. Tạp chí nghiên cứu Giáo Dục,
11/1997. Đã đề cập hai vấn đề chính:
- Bản chất sư phạm tích hợp gồm những quan điểm cơ bản; những
khái niệm và phương pháp cơ bản.
- Những cơ sở của việc biên soạn SGK theo quan điểm tích hợp
gồm:
Phương pháp và mô hình tích hợp.


8


Chương trình.
Một số nguyên tắc tạo điều kiện tích hợp trong SGK.
Một số kỹ thuật tích hợp.
Biên soạn các đơn vị nội dung (bài học).
Nguyễn Văn Đường với bài “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn bậc
trung học cơ sở ”, đăng trên Tạp chí Giáo dục số 46/2002, đã trình bày cơ
sở lý luận, cơ sở thực tiễn của dạy học tích hợp, phương pháp vận dụng
tích hợp trong dạy học Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở …
Nguyễn Thị Hồng Vân với bài “Xây dựng hệ thống câu hỏi tích hợp
một yêu cầu quan trọng trong dạy học Ngữ văn chương trình THCS mới”
đã nêu lên các vấn đề về:
- Tầm quan trọng của câu hỏi trong dạy học đối với việc lĩnh hội
kiến thúc và rèn luyện kỹ năng của học sinh.
- Xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học môn Ngữ văn.
- Tiếng Việt ở trường THCS điểm nổi bật là tính tích hợp của
chương trình dạy học theo quan điểm tích hợp ”Vừa chú ý đến giảng dạy
dạy những tri thức và khái niệm đặc thù cho phân môn; vừa tìm ra khai
thác những yếu tố chung giữa các phân môn để ghóp phần hình thành và
rèn luyện những tri thức và khái niệm cho học sinh” [21, tr.28].
- Cần xây dựng hệ thống câu hỏi tích hợp tương ứng với yêu cầu tích
hợp của chương trình, SGK, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả.
Nguyễn Minh Phương - Cao Thị Thặng đã nghiên cứu vấn đề “Xu
thế tích hợp môn học trong nhà trường phổ thông ”, đã nêu lên những vấn
đề cơ bản sau:
- Một số vấn đề chung như: Khái niệm quan điểm tích hợp, chương
trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp, ưu điểm và nhược điểm theo
quan điểm tích hợp.
- Xu thế tích hợp môn học ở nước ngoài.
- Xây dựng môn học theo quan điểm tích hợp ở Việt Nam, ở bậc tiểu
học và THCS.

Tác giả Nguyễn Gia Cầu khi bàn về “Về tiêu chí đánh giá hiệu quả
giờ dạy Văn”, đã đưa ra những tiêu chí đánh giá, kiểm tra chất lượng hiệu


9

quả giờ dạy học môn Văn ở phổ thông là khâu quan trọng quá trình dạy
học phải thể hiện các tiêu chí quan trọng, cơ bản để đánh giá hiệu quả giờ
dạy văn gồm:
- Giờ dạy phải đảm bảo kiến thức cơ bản của bài học môn học
- Giờ dạy văn phải tạo được hiệu quả tự phát triển của học sinh
- Giờ dạy văn phải hướng vào học sinh
- Giờ dạy của giáo viên phải là giờ đối thoại.
Tác giả Lê Thị Hương trong bài viết “Tích hợp kiến thức lý luận Văn
học với việc phân tác phẩm Văn học trong dạy Văn ở trường phổ thông”
đã làm nổi bật được:
- Vai trò của phương pháp dạy học tích hợp
- Dạy học tích hợp giữa phân tích tác phẩm văn học và lý luận văn học
Năm 2002 NXB Giáo dục đã giới thiệu cuốn “Đổi mới dạy học và
học môn Ngữ văn THCS” của tác giả Đỗ Ngọc Thống. Đây là cuốn sách
tập hợp tất cả các bài viết, chỉnh sửa, bổ sung và hệ thống lại nội dung đổi
mới của chương trình và SGK môn Ngữ văn đã giới thiệu trên các báo chí,
phương tiện thông tin đại chúng. Cuốn sách này đã trình bày khái quát một
số vấn đề sau đây:
- Giới thiệu về chương trình và SGK Ngữ văn theo tinh thần đổi mới.
- Giới thiệu khái quát về đổi mới phương pháp môn Ngữ văn
THCS. Từ đó có một số định hướng cụ thể về phương pháp dạy học văn.
- Đổi mới đánh giá kết quả dạy học môn Ngữ văn.
Trong phần thứ nhất cuốn sách, tác giả Đỗ Ngọc Thống có giới
thiệu về hiện trạng và phương hướng đổi mới dạy học tiếng Việt trong nhà

trường phổ thông.
Những năm gần đây, chúng ta chứng kiến sự thay đổi chương trình
hai lần. Lần thứ nhất, cải cách chương trình và SGK trung học cơ sở, được
bắt đậu từ năm 1985 - 1986. Lần thứ 2, đổi mới chương trình và sách giáo
khoa trung học cơ sở được áp dụng đại trà, từ năm học 2002 - 2003.
Trong quá trình đó đã có những tiến bước dài về đổi mới phương
pháp dạy học văn theo hướng tích hợp. Nhiều công trình nghiên cứu về tích


10

hợp của GS. Lê A, GS. Nguyễn Khắc Phi, của các nhà khoa học khác, v.v..
đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến dạy học tích hợp.
2.3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề tích hợp Văn và Tiếng Việt trong
dạy học môn Ngữ văn lớp 6 THCS
Đã có một số công trình nghiên cứu, một số bài viết đề cập đối với
vấn đề dạy học theo hướng tích hợp Văn và Tiếng Việt lớp 6 THCS.
Dưới đây là vài bài viết và công trình tiêu biểu nói về vấn đề tích
hợp Văn và Tiếng Việt.
- Cuốn “Phương pháp giảng văn dưới ánh sáng ngôn ngữ học hiện
đại”, (Đái Xuân Minh – Tủ sách Đại học sư phạm –Tài liệu lưu hành nội
bộ- 1997). Mặc dù đây là công trình nghiên cứu về phương pháp giảng văn
nhưng là phương pháp giảng văn dưới góc độ ngôn ngữ học. Trong chương
I. Dẫn luận, tác giả đã đưa ra lập luận: “Hình thức chủ yếu của một tác
phẩm văn học là ngôn ngữ. Vì tất cả cái gì hình thành ra một tác phẩm như
đề tài kết câu, tình tiết v.v... Đều được diễn ra bằng ngôn ngữ …”.
Do đó “Thoát ly yếu tố ngôn ngữ thì việc phân tích nội dung chỉ là
một sự gượng ép, méo mó, mờ nhạt. Có bám lấy ngôn ngữ mới không suy
diễn vu vơ, mới nhận thấy cái nhịp đập của trái tim, cái hơi thở của tâm
hồn, cái chất sống thực sự của nhà thơ…” [tr. 3].

Ở các chương trình sau, tác giả đã vận dụng các quan điểm ngôn ngữ
học, để phân tích giảng văn như. Chương III: Phân tích ngôn ngữ trong
giảng văn; Chương IV: Giảng nghĩa của câu và rèn luyện câu; Chương V:
Văn luật, tiết tấu.
- Tác giả Mai Xuân Miên với bài “Vài ý kiến về dạy học các biện
pháp tu từ ở trường PTTH” đã chỉ ra bản chất của hình thức tu từ và năng
lực cần có của học sinh khi phân tích tu từ học. Tác giả nêu “Dạy học biện
pháp tu từ trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật tiếng Việt ở trường
PTTH cần phải giúp học sinh phát hiện cho được cơ chế chuyển hóa giữa
chức năng định danh và khả năng biểu hiện; giữa tiền đề ngữ nghĩa vốn có
sắc thái ngữ nghĩa mới của ngôn ngữ nghệ thuật, trên cơ sở không tách rời
nội dung tư duy - xúc cảm của tác giả đối với mô tả”[18, tr.40]
- Cuốn “Tu từ học với vấn đề giảng dạy Ngữ văn” (Đinh Xuân Lạc NXB GD - 1967). Đây là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu
về phương pháp dạy học tiếng Việt, trong quá trình giảng dạy Ngữ văn.


11

Nội dung cuốn sách này nó đề cập tới việc khai thác thành từ ngữ trong bài
giảng văn.
Khi khoa học về phương pháp dạy học Ngữ văn hình thành và phát
triển, nhiều công trình của các tác giả Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi
Minh Toán, lê Phương Nga,... đã nghiên cứu về dạy học tích hợp trong
môn Ngữ văn ở trường phổ thông. Năm học 2002 - 2003, triển khai chương
trình dạy học theo xu hướng tích hợp, Ngữ văn 6 là chương trình tích hợp
đầu tiên của môn Ngữ văn trong trường THCS. Để giáo viên đứng lớp làm
quen dần với chương trình, cuốn Ngữ văn 6, tập 1 - SGV của NXB Giáo
Dục do Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên (2002). Ttrong tài liệu này trước
khi đưa ra các gợi ý giảng dạy cụ thể, các tác giả đã giới thiệu về chương
trình và SGK môn Ngữ văn THCS với ba nội dung chính:

- Chương trình Ngữ văn.
- Cấu trúc nội dung và mô hình SGK Ngữ văn.
- Một số vấn đề cần lưu ý trong việc giảng dạy các phân môn.
Ngoài ra còn một số bài viết nghiên cứu về vấn đề tích hợp dạy học
Ngữ văn lớp 6 THCS như: Lê Xuân Soạn “Suy nghĩ về vấn đề tích hợp
trong dạy học Ngữ văn lớp 6”, đăng trên Tạp chí Giáo dục số 61, tháng 4
năm 2004; Huỳnh Thị Thu Vân, “Dạy các biện pháp tu từ cho học sinh lớp
6 theo quan điểm tích hợp”, đăng trên Tạp chí Giáo dục số 72 /2007;
Nguyễn Văn Đường với bài “Về dạy học văn lớp 6 trung học cơ sở theo
hướng tích hợp”, đăng trên Tạp chí Giáo dục, số 10 năm 2001; Nguyễn
Quang Ninh, “Nội dung và phương pháp giảng dạy một số môn khoa học – Xã
hội nhân văn góp phần giáo dục nhân cách cho học sinh”, tạp chí Giáo dục số
3/ 2001 và “Tiếng Việt với việc giáo dục nhân cách cho học sinh”, Tạp chí
nghiên cứu Giáo dục số 350/2000; Đỗ Ngọc Thống, “Cấu trúc nội dung của
sách giáo khoa Ngữ văn 6”, tạp chí nghiên cứu Giáo dục số 8/2000; ....
Những tài liệu nói trên đều đề cập tới vấn đề dạy học Ngữ văn 6 theo
phương pháp tích hợp. Các tài liệu này nó giúp có được những kiến thức lý
luận tin cậy để triển khai các nội dung của luận văn “tích hợp Văn và Tiếng
Việt trong dạy học môn Ngữ văn ở lớp 6 trung học cơ sở”.
Như vậy, chúng ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài
viết đề cập đến vấn đề dạy học theo hướng tích hợp. Các tài liệu nghiên
cứu này nó đã chỉ ra được mục tiêu, cách thức, biện pháp để dạy học Văn


12

và Tiếng Việt, theo phương pháp tích hợp. Thế nhưng những tài liệu này
nó còn nặng về lý thuyết chung chung, chưa thật sự cụ thể hóa thay đổi
từng phần, từng nội dung, từng khối lớp trong nhà trường.
Do vậy, việc nghiên cứu phương pháp dạy học văn và tiếng Việt

theo hướng tích hợp ở lớp 6 THCS là một vấn đề cần thiết.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, nhằm làm
rõ hơn quan điểm tích hợp trong dạy học, tích hợp trong cơ cấu chương trình
và nội dung SGK Ngữ văn lớp 6, đề xuất được các nội dung cụ thể trong việc
giảng Ngữ văn 6 theo quan điểm tích hợp, góp phần nâng cao chất lượng
hiệu quả trong việc dạy học môn Ngữ văn 6 ở trường THCS hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ thiết thực thực nhằm phục vụ
cho dạy và học đạt hiệu quả cao trong từng giờ lên lớp và cả quá trình dạy
học theo hướng tích hợp:
- Tìm hiểu cơ sơ lý luận, cơ sở thực tiễn của dạy học tích hợp Văn và
Tiếng Việt trong môn Ngữ văn.
- Đề xuất hướng khai thác nội dung tích hợp và vận dụng phương
pháp tích hợp vào dạy một số tiết văn, tiếng Việt trong SGK Ngữ Văn 6.
- Xây dựng các thiết kế bài học phần Văn và Tiếng Việt lớp 6 nhằm
cụ thể hóa phương pháp dạy học đã nghiên cứu.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xác định ngữ liệu và các kỹ năng
dạy học tích hợp Văn học và Tiếng Việt trong chương trình Ngữ Văn 6.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Các ngữ liệu, kiến thức và kỹ năng Văn học và Tiếng Việt trong sách
giáo khoa Ngữ văn 6, được sử dụng trong thời điểm hiện nay.
Trong phạm vi đề tài luận văn, chúng tôi chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu
các vấn đề lý luận về dạy học tích hợp. Yêu cầu nội dung, phương pháp và quy
trình tích hợp Văn học và Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn 6.



13

Thiết kế một số tư liệu phục vụ cho việc dạy - học tích hợp trong
môn Ngữ văn hiện nay.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu
như sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thống kê.
Để đảm bảo phương pháp dạy học nêu ra trong luận văn có tác dụng,
chúng tôi tiến hành thưc nghiệm với học sinh THCS ở Quỳnh Liên với
nhiều đối tượng, nhiều mức độ khác nhau. Thực tiễn khách quan đó vừa
kiểm tra trình độ năng lực của học sinh,vừa chứng minh tính khả thi của
phương dạy học mà luận văn đề xuất.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Những đóng góp chính của luận văn là:
- Góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận, vấn đề tích hợp trong dạy học
Ngữ văn.
- Đề xuất được những nội dung, phương pháp, quy trình tích hợp
trong chương trình Ngữ văn 6.
- Thiết kế một số tư liệu phục vụ cho việc dạy học tích hợp môn Ngữ
văn 6 trường trung học cơ sở.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3

chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề dạy học tích hợp trong môn
Ngữ văn ở trung học cơ sở.
Chương 2: Một số vấn đề về nội dung, phương pháp và quy trình
tích hợp Văn học và Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn lớp 6.
Chương 3: Thiết kế một số bài soạn giảng phục vụ dạy học tích hợp
Văn và Tiếng Việt trong môn Ngữ văn 6 hiện hành.


14

Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP
TRONG MÔN NGỮ VĂN Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1

Một số nội dung, khái niêm cơ bản

1.1.1. Môn Ngữ văn
Từ năm 2001 - 2002 bộ Giáo Dục và Đào Tạo nước ta đã xây dựng
chương trình bộ môn Văn (Văn học - Tiếng Việt - Tập làm văn), ở cấp
THCS (bắt đầu từ lớp 6), theo quan điểm tích hợp. Vì thế mà ba phân môn
này được thống nhất thành một môn học có tên gọi là “Ngữ văn”.
Môn Ngữ văn là một môn học quan trọng trong chương trình giáo
dục phổ thông, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, hình thành nhân
cách, cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng cho người học.
Trong điều kiện hiện nay, xu hướng học tập có thay đổi, vị trí của
môn Ngữ văn đối với người học đã có sự thay đổi, nhưng môn Ngữ văn
vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông.
1.1.2. Trung học cơ sở

Theo như Điều lệ trường THCS là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ
thống giáo dục quốc dân. Trường tư cách pháp nhân, có tài khoản và con
dấu riêng.
Trường THCS có nhiệm vụ và quyền hạn đó là tổ chức giảng dạy,
học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo
dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do Bộ trưởng Giáo dục
và Đào tạo ban hành. Công khai mục tiêu, nội dung hoạt động giáo dục,
nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục. Quản lý cán
bộ, giáo viên, nhân viên theo quy định của pháp luât. Tuyển sinh và tiếp
nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý học sinh theo quy
định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục
trong phạm vi được phân công huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực
hoạt động giáo dục. Phối hợp với gia đình của học sinh, tổ chức và cá nhân
trong hoạt động giáo dục. Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham
gia hoạt động xã hội.
Là cấp học trung gian giữa tiểu học và trung học phổ thông, với một
mục tiêu khép kín. Tốt nghiệp THCS, một số lượng không nhỏ học sinh


15

vào các trường dạy nghề hoặc trực tiếp tham gia vào vào lao động sản xuất,
một số lớn tiếp tục học ở các cấp cao hơn ở cấp học này.
Chương trình THCS nó vừa chuẩn bị đầy đủ cho học sinh đi vào cuộc
sống, vừa tạo tiềm lực cho các em tiếp tục học lên tiếp. Vì vậy, trình độ học
vấn của cấp này vừa có tính phổ thông tương đối hoàn chỉnh, cơ bản phân
hóa. Cho nên dạy học môn Ngữ văn này cần phải tổ chức dạy theo hướng tích
hợp và phải đảm bảo được trình độ tương đối của từng phân môn.
1.1.3. Tích hợp
Tích hợp là một khái niệm rộng, ở mỗi lĩnh vực khoa học khác nhau

cũng được hiểu và ứng dụng khác nhau.
Trong dạy học, tích hợp được hiểu là sự “phối kết hợp các tri thức
của một số môn học có những nét chính tương đồng vào một lĩnh vực
chung, thường là những chủ đề, những kiến thức nguồn. Nói cách khác,
tích hợp là những phương thức phối hợp tối ưu các quá trình học tập một
cách riêng rẽ các môn học, các phân môn học khác nhau đáp ứng mục tiêu,
mục đích và yêu cầu cụ thể khác nhau” [4, 10].
Tích hợp trong môn Ngữ văn được hiểu là sự kết nối tri thức và kỹ
năng giữa ba phân môn Văn - Tiếng Việt - Tập làm văn và trong từng phân
môn, từng vấn đề cụ thể. Đó chính là “ hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai
thác giá trị của các tri thức công cụ từng phân môn trên cơ sở một phân môn
(hoặc một số) văn bản có vai trò như là kiến thức nguồn ” [1, 5].
- Nội dung tích hợp:
Tích hợp là một vấn đề lớn không riêng gì đối với môn Ngữ văn.
Thế nhưng môn Ngữ văn có những thuận lợi nhất định để thực hiện sớm
hơn. Trên thực tế, việc dạy học đối với môn văn ở trường phổ thông, trên
thế giới cũng như ở Việt Nam từ nhiều thập kỷ trước đây, nhiều giáo viên
đã giảng văn, tiếng Việt, tập làm văn theo hướng tích hợp một cách tự phát
tự nhiên, thiếu hệ thống cho nên việc dạy học theo hướng tích hợp chưa đạt
được hiệu quả cao.
Theo quan điểm tích hợp thì giữa ba phân môn Văn học, Tiếng Việt
và Tập làm văn phải hòa thành một chỉnh thể thống nhất. Cả ba phân môn
này đều dựa vào một văn bản chung để khai thác, hình thành kiến thức là
rèn luyện kỹ năng theo yêu cầu của mỗi phần, hệ thống kiến thức kỹ năng


16

của ba phần liên quan chặt trẽ với nhau, tác động làm sáng tỏ cho nhau,
tránh được những chồng chéo và thiếu thống nhất.

Tích hợp trong môn Ngữ văn THCS nó có sự khác biệt với trung học
phổ thông và ở tiểu học. Tích hợp ở THCS đó là giữa các phân môn thâm
nhập, hòa lẫn vào nhau, nhưng vẫn đảm bảm được đặc trưng của từng phân
môn. Do đó tổ chức dạy học Ngữ văn ở chương trình THCS theo hướng
tích hợp, nhưng phải đảm bảo tính độc lập tương đối của từng phân môn.
 Về phân môn Văn học:
Mỗi tác phẩm văn học đều phải lấy ngôn ngữ làm vật liệu biểu hiện,
tuy nhiên ở mỗi thể loại, ngôn ngữ của nó có những đặc trưng riêng. Vì
thế, khi giảng dạy các tác phẩm văn học theo thể loại chính là một phương
diện lớn của việc giảng dạy tác phẩm văn học trong sự thống nhất giữa nội
dung và hình thức.
Chương trình được biên soạn theo quan điểm tích hợp thể hiện ở
việc các tác phẩm văn học được lựa chọn và sắp xếp theo thể loại tác
phẩm, tương ứng với trục kiểu văn bản của tập làm văn, bao gồm bốn thể
loại lớn: Tác phẩm tự sự, tác phẩm trữ tình, tác phẩm chính luận và kịch.
 Về Tiếng Việt và Tập làm văn:
Đây là những phần có điều kiện tích hợp triệt để hơn. Phần Tiếng
Việt và Lập làm văn lấy kiểu văn bản làm trục chính ở hai phân môn này
nó có điều kiện tích hợp một cách triệt để hơn. Chúng quy tụ vào việc tiếp
tục hình thành và hoàn thiện các kỹ năng nghe, nói, viết đã được chuẩn bị ở
bậc Tiểu học và kỹ năng tạo lập văn bản thuộc các kiểu văn tự sự, miêu tả,
lập luận, biểu cảm về các đề tài thuộc văn học hoặc sinh hoạt xã hội cho
học sinh.
Đối với phân môn Tiếng Việt và Tập làm văn thì với phân môn Văn
học chính là nguồn ngữ liệu tốt nhất cho việc dạy học tiếng Việt và tập làm
văn.
Ở phần Văn nó có thể làm ngữ liệu cho giờ tập làm văn và tiếng
Việt. Tuy nhiên, khi phân tích văn bản, chúng ta không thể không điểm qua
tất cả các ngữ liệu đó mà cần phải pháp hiện ra những đơn vị ngôn ngữ
trong văn bản mang tín hiệu tập trung, tiêu biểu nhất có mối quan hệ đồng

quy giữa các phần trong bài học để phân tích, hướng vào sự kết nối tri thức
thực sự giúp cho học sinh hiểu sâu sắc hơn bài học.


17

- Quan điểm tích hợp:
Đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề tích hợp, về quan điểm
tích hợp: Có ý kiến cho rằng “tích hợp là sự tổ hợp hay sự phối hợp các
môn học với nhau, hay có ý kiến lại cho rằng tích hợp là sự lắp ghép một
cách cơ giới, một phép cộng đơn thuần giữa các môn học” [32, 15] và thực
tế đã cho chúng ta thấy ở các nước có nền giáo dục phát triển, họ đã nghiên
cứu và xây dựng để kết hợp những môn học, ngành khoa học tự nhiên và
xã hội, của các môn học như Toán, Sinh, Sử, Địa, Giáo dục công dân thành
một môn học mới.
Như vậy, chúng ta không nên quan niệm “tích hợp” là một phương
pháp dùng để rút bớt môn học, hoặc giảm tải kiến thức. Tích hợp ở đây
chính là sự hòa nhập, sự kết hợp một cách hữu cơ và có hệ thống. Tích hợp
“Một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu quá trình dạy học
riêng rẽ, các môn học, các phân môn khác nhau theo những hình thức, mô
hình, cấp độ khác nhau. Nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu
cầu khác nhau ” [24, 6] Quan điểm tích hợp đó nó đem lại cho chúng ta sự
hiểu biết một cách sâu sắc, một cái nhìn sâu rộng trong việc biên soạn
chương trình, đặc biệt là sự vận dụng vào phương pháp dạy học tốt hơn.
Dạy học theo quan điểm tích hợp thì đầu tiên người giáo viên phải hiểu, đó
chính là sự hợp nhất, là sự hòa trộn vào nhau trong nhiều môn học, học cái
này thông qua cái kia và ngược lại.
Vì thế, cho nên sự xuất hiện các quan điểm như quan điểm đa môn,
nội môn hay quan điểm liên môn, nội môn, quan điểm xuyên môn…
Những quan điểm này nó đều xuất phát từ nền tảng quan điểm tích hợp.

Khi nền giáo dục Việt Nam, đặc biệt quan điểm tích hợp thì quan
điểm nhìn nhận về bộ môn phải có sự thay đổi. Vấn đề quan niệm vai trò
của văn học và sự tương tác giữa các môn học đã được chú trọng, tiếp nhận
về mặt lý luận và lồng ghép ở mức độ thấp cho nên việc xây dựng chương
trình và SGK theo quan điểm tích hợp vẫn còn là vấn đề chưa được nghiên
cứu một cách đầy đủ.
- Phương pháp tích hợp:
Trong quá trình nghiên cứu chương trình ngôn ngữ Ngữ văn THCS,
chúng ta thấy với cách cấu tạo chương trình đã tạo được những tiền đề cho
giáo viên dạy học theo hướng tích hợp. Thông qua chương trình dạy học


18

văn, giáo viên có thể dùng ngữ liệu của phân môn này. Để chuẩn bị ngữ
liệu cho tiết tập làm văn và tiếng Việt. Ngược lại trong quá trình dạy học
tiếng Việt và tập làm văn, lại giúp cho học sinh vận dụng vào việc tìm hiểu,
phân tích các bài văn, bài thơ…trong dạy văn. Các phân môn được hòa
nhập vào nhau, để tạo thành một chỉnh thể thống nhất, Nhưng nó vẫn đảm
bảo được tính riêng của từng phân môn. Đối với chương trình THCS, nó
đặt ra một phương pháp, với sự kết hợp biện chứng giữa thiết kế bài giảng
với thiết kế tiết. Trong cấu trúc của thiết kế bài không phải thiết kế thực thi
mà chỉ là thiết kế định hướng cho thiết kế tiết theo hướng tích hợp ngang,
tích hợp đồng tâm và hệ thống có tính thực thi.
Việc đầu tiên thiết kế bài cần đem lại mục tiêu của từng bài, gồm có
mục tiêu năng lực, nói, đọc, viết cần đạt được trong bài đó.
Tiếp đến là sự gợi ý các biện pháp tích hợp ngang giữa các tiết trong
bài theo ba câu hỏi:
 Văn bản: Từ đặc trưng của đọc – hiểu văn bản tạo điều kiện gì cho
tiết dạy tiếng Việt, cho tiết tập làm văn?

 Tiếng Việt: Từ đặc trưng một tiết ngôn ngữ có thể tận dụng gì ở
các tiết đọc - hiểu văn bản và tạo các dữ kiện gì cho việc rèn luyện diễn đạt
trong tiết tập làm văn?
 Tập làm văn: Củng cố tri thức và kỹ năng đã được học ở các tiết
đọc - hiểu văn bản và tiết tiếng Việt. Với đặc trưng là môn học thực hành
tổng hợp về văn bản và tiếng Việt như thế nào?
Sau đó thiết kế bài cần có sự gợi ý về phương pháp tích hợp. Khi
dạy phân môn dựa trên cơ sở vận dụng nội dung tích hợp đã được phân tích
ở những yêu cầu trước đó. Cuối cùng thiết kế bài cần sự gợi ý về phương
pháp tích hợp đồng tâm và phương pháp tích hợp hợp dọc ở các tiết dạy.
Dựa trên cơ sở thiết kế đó, người giáo viên cần phải biết lựa chọn
phương thức tích hợp trong tiết học. Việc chọn phương thức tích hợp phải
phụ thuộc vào nội dung mức độ, thời điểm tích hợp và năng lực sư phạm
của người giáo viên. Dựa trên cơ sở phương pháp tích hợp đó để chúng ta
có thể sử dụng một số cách tích hợp như:
 Tích hợp thông qua câu hỏi của nội dung tích hợp: Đây là một yêu
cầu quan trọng trong dạy học Ngữ văn chương trình THCS mới.


19

 Tích hợp thông qua lời bình giảng của giáo viên: Về những nội
dung có liên quan đến ba phần trong Ngữ văn như tổng kết việc dạy một
văn bản, giáo viên tổng kết những yếu tố về giá trị nội dung, nghệ thuật, tư
tưởng của tác phẩm.
 Tích hợp thông qua bài tập về nhà: Đây là điều kiện thuận lợi nhất
để giáo viên tiến hành phương pháp tích hợp sau khi học song một tiết,
hoặc học xong cả bài, giúp học sinh nắm vững kiến thức của từng phân
môn, vừa vận dụng kiến thức ấy để tích hợp trong việc rèn luyện kỹ năng
nghe - đọc - nói - viết.

Như vậy dựa trên phương pháp tích hợp này nó tạo điều kiện thuận
lợi cho Giáo viên và học sinh dạy - học một cách tốt nhất.
- Hướng tích hợp:
Dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp có nghĩa là chúng ta phải định
hướng tư tưởng dạy học trên cơ sở liên môn, thống nhất ba phân môn,
thành một Ngữ văn. Trong một chương trình, một quyển SGK. Cần được ý
thức một cách thường trực, tự giác của mỗi giáo viên, học sinh, phải được
chuyển thành các phương pháp, biện pháp hình thức tích hợp cụ thể, khoa
học, hiệu quả của từng thể loại, từng cụm bài, từng bài, từng tiết… Tránh
rập khuôn hình thức, máy móc. Không coi đó là phương pháp duy nhất
trong dạy văn mà chỉ là phương hướng hữu hiệu ở thời đại khoa học công
nghệ hiện nay và tương lai.
Dạy học trong nhà trường THCS đã quen với những lối giảng dạy
tách rời từng phân môn, còn giảng dạy các phân môn đó như tổ chức thống
nhất, trong đó mỗi phân môn vừa giữ bản sắc riêng, vừa hòa nhập với nhau
hình thành nên tri thức và năng lực, kỹ năng riêng, vừa hòa nhập với nhau
để hình thành nên tri thức và năng lực, kỹ năng Ngữ văn thống nhất ở học
sinh là một việc làm mới mẻ.
Do vậy, cần phải có sự nỗ lực lớn để đưa ra những định hướng về
phương pháp dạy học hiện đại vào nền giáo dục nước ta. Đó là “trong khi
đảm bảo việc giảng dạy cho học sinh những tri thức và kỹ năng đặc thù cho
phân môn còn phải tìm ra những yếu tố đồng quy giữa ba phân môn khác.
Đây là định hướng quyết định phương pháp dạy môn Ngữ văn trong
chương trình này. Bởi văn học là nghệ thuật ngôn từ, cho nên yếu tố ngôn
từ nghệ thuật là điểm đồng quy chung của cả ba phân môn. vấn đề là người


20

dạy có ý thức về chúng, triệt để khai thác đúng hay không, chứ không phải

áp đặt từ bên ngoài. Không chỉ tiếng Việt phải khai thác các yếu tố tiếng
Việt cấu tạo nên tác phẩm, mà cả văn học, khi giảng dạy những tri thức, kỹ
năng riêng của mình cũng phải từ các yếu tố của ngôn ngữ mà xác định các
tri thức, kỹ năng làm văn, không chỉ giảng dạy cách thức làm bài văn, mà
còn phải rèn luyện cách dùng từ, đặt câu.
Mặt khác, khi giảng dạy các tri thức, kỹ năng của tiếng Việt, làm
văn, phải giúp học sinh thấy được hiệu quả nghệ thuật của cách dùng từ,
đặt câu. Khái niệm ngôn ngữ cần được hiểu rộng theo cách hiểu của ngôn
ngữ học thế giới: Ngôn ngữ không chỉ gồm âm, từ ngữ, cú pháp mà cả văn
bản để phản ánh hiện thực… Như vậy, định hướng của phương pháp giảng
dạy mới theo quan điểm tích hợp là tận dụng tri thức và kỹ năng về tiếng
Việt để tạo lập và giải mã văn bản, rồi từ việc dạy tạo lập, giải mã văn bản
để củng cố và phát triển các tri thức và kỹ năng khi học tiếng Việt” [6, tr.43
tr.44] Dựa trên cơ sở định hướng giảng dạy theo hướng tích hợp nói trên,
chúng ta cần phải biết cách tách nhỏ những yêu cầu giảng dạy từng phân
môn thật chi tiết và khoa học, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của học
sinh. Với việc tách nhỏ như thế để có thể phối hợp chúng với nhau trong
một bài học.
1.1.4. Ngữ liệu
Ngữ liệu là đơn vị ngôn ngữ chứa đựng đặc trưng của khái niệm cần
xây dựng, được lựa chọn để phân tích thiết lập khái niệm, quy tắc ngôn
ngữ.
Từ khái niệm trên, chúng ta thấy rằng ngữ liệu được coi là những
đơn vị ngôn ngữ mẫu, chuẩn, chứa đựng đặc trưng của khái niệm cần tìm.
Vì vậy mà khi lựa chọn mẫu để thực hiện phương pháp phân tích ngôn ngữ
người giáo viên cần phải chú ý đến một số yêu cầu về mẫu như sau:
Ngữ liệu được giáo viên lựa chọn cho việc thực hiện phương pháp
phân tích ngôn ngữ cần phải đảm bảo tính tư tưởng. Nghĩa là, ngữ liệu ấy
phải đảm bảo giáo dục tư tưởng, đạo đức, giáo dục sự kính trọng, yêu mến
tiếng Việt, ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Vì thế, cần phải

chọn ngữ liệu trong các tác phẩm có tính nghệ thuật và tính tư tưởng nhằm
hình thành nhạy cảm ngôn ngữ và trình độ văn hóa cao cho học sinh. Thế
nên trong SGK đã chọn “thần dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn
ở” trong “ con Rồng cháu Tiên” làm ngữ liệu là rất hợp lý.


21

Ngữ liệu càng ngắn gọn, chứa đựng nhiều nội dung lý thuyết cần
giảng, càng dễ quan sát, càng thuận lợi cho việc phân tích. Chúng ta không
nên máy móc vận dụng khái niệm tích hợp trong việc lựa chọn mẫu. Nghĩa
là, ngữ liệu đó không cần phải nằm trong tác phẩm mà chúng ta vừa dạy ở
tiết trước. Chẳng hạn, khi tìm ngữ liệu cho việc thiết lập khái niệm từ của
bài học “Từ và cấu tạo từ của tiếng Việt” (Ngữ văn lớp 6 - tập 1), ta nên
chọn một trong hai câu “cô giáo em tre trẻ, dạy em hát rất hay” hoặc “thần
dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở”, ngắn gọn, chưa đủ tư
tưởng lý thuyết, kiến thức cần giảng. Với hai mẫu trên nó đều chứa ba dấu
hiệu, ba đơn vị từ vựng thuộc phạm vi từ mà chúng ta cần cung cấp cho
học sinh trong bài học, từ đơn, từ láy, từ ghép.
Ngữ liệu cần phải đảm bảo tính thẩm mỹ, đảm bảo tính giáo dục cho
các em biết nhìn nhận, biết thưởng thức đánh giá cái đẹp một cách đúng
đắn. Mặt khác ngữ liệu đòi hỏi phải gọn gàng để đảm bảo thời lượng cho
từng thao tác, từng phần của bài giảng.
1.1.5. Hoạt động dạy học
Trong hoạt động dạy học môn Ngữ văn gồm có các bước tiến hành
hoạt động sau :
- Hoạt động khởi động: Hoạt động này nó thường được thực hiện
vào đầu giờ học. Với việc thực hiện là ôn lại bài cũ, giới thiệu bài mới và
tạo tâm thế, hứng thú học tập cho học sinh khi bước vào bài học mới. Hoạt
động khởi động vào bài học nó tùy thuộc vào nội dung bài học mới, vào vị

trí bài mới trong chương trình, vào điều kiện thiết bị dạy học mà giáo viên
đã chuẩn bị với những bài học tiếp nối bài trước có thể khởi động bằng một
trò chơi ôn bài cũ và kiến thức, kỹ năng bài mới.
Trên cơ sở này để giáo viên nhắc lại kiến thức, kỹ năng đã học và
yêu cầu thực hiện kiến thức kỹ năng mới .
- Hoạt động thực hiện những mục tiêu cơ bản của tiết học:
Hoạt động này thực hiện vào thời gian chính của giờ học. Gồm các
hoạt động học tập của học sinh với tư cách là chủ thể của giờ học và hoạt
động của giáo viên với tư cách là người tổ chức, hướng dẫn học sinh học
tập.
- Hoạt động kết thúc bài học:


22

Là những hoạt động như tổng kết những nội dung cốt lõi của bài
học, vận dụng kiến thức và kỹ năng mới vào thưc tế sử dụng ngôn ngữ của
học sinh.
Giáo viên thực hiện việc giao nhiệm vụ lại ôn bài cũ và chuẩn bị bài
mới cho học sinh.
1.1.6. Nội dung dạy học, phương pháp, quy trình dạy học
- Nội dung dạy học:
Với tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp.
Nội dung dạy học môn Ngữ văn ở cấp THCS nói chung và Ngữ văn 6 nói
riêng đã có sự thay đổi cơ bản phù hợp với xu thế phát triển trong thời đại
hiện nay đó là: “ Lựa chọn và đưa vào một số văn bản tác phẩm hay hơn,
tiêu biểu và phù hợp hơn do yêu cầu tích hợp, đồng thời bỏ đi một số văn
bản không còn phù hợp với yêu cầu của chương trình và SGK trong giai
đoạn mới.
 Lược bỏ những nội dung phức tạp, những kiến thức quá chuyên

sâu (nhất là tiếng Việt) không mang lại ích dụng nhiều cho học sinh.
 Tăng cường thực hành ứng dụng bằng cách chú trọng phần câu
hỏi, bài tập rèn luyện và hệ thống lại bài đọc thêm cho học sinh cho học
sinh tự tìm hiểu, tự đọc.
 Tăng cường gắn bó với cuộc sống bằng cách đưa vào một số văn
bản có nội dung gần gũi với cuộc sống hiện tại, một số vấn đề cấp thiết mà
cả cộng đồng dân tộc và thế giới quan tâm.
 Xem lại hệ thống câu hỏi, cấp độ dạng loại, số lượng và chất
lượng của các câu hỏi nhằm phục vụ tốt cho việc đổi mới dạy học.
 Tăng cường kênh hình nhằm tạo nên sự cân đối, hài hòa với
kênh chữ, trong điều kiện kinh tế hiện nay, có thể trình bày sách đẹp
hơn” [8, 14 -15].
- Phương pháp dạy học :
Theo định nghĩa từ cuốn “Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục
THCS môn Ngữ văn” thì: Phương pháp dạy học là cách thức hành động
của Giáo viên và học sinh trong những hình thức cụ thể. Cách thức và hình
thức không tách rời nhau một cách độc lập (Phương pháp dạy học là
những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong


23

những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt được mục tiêu dạy học).
Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức, thông qua đó và
bằng cách đó giáo viên và học sinh lĩnh hội những hiện thực tự nhiên và xã
hội xung quanh trong điều kiện học tập cụ thể.
- Quy trình dạy học:
Quy trình dạy học là sự mô tả cấu trúc tuần tự các bước trong quá
trình dạy học, quy định thời gian, tiến trình lô gíc hành động, hay quy trình
dạy học chính là các bước dạy học được tiến hành một cách tuần tự lý luận,

cho đến phương pháp dạy học.
1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề dạy học tích hợp trong môn Ngữ
Văn ở trung học cơ sở
1.2.1. Mối quan hệ giữa các khoa học liên ngành
Môn Ngữ văn trước hết là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội do
đó nó có tầm quan trọng đặc biệt trong việc giáo dục quan điểm, tư tương
và tình cảm cho học sinh.
Môn Ngữ văn còn là môn học thuộc nhóm công cụ, nó quan hệ chặt
chẽ và tác động đến các môn học khác và các môn học khác củng cố có thể
góp phần học tốt môn Ngữ văn. Điều đó nêu bật tính thực hành, hạn chế lý
thuyết gắn với đời sống. Hơn nữa môn Ngữ văn còn có mối quan hệ khá
mật thiết với các môn học thuộc nhóm nghệ thuật. Các môn Văn, Sử, Địa,
Giáo dục công dân được xếp vào nhóm khoa học xã hội nhân văn, các
môn này thuộc nhóm khoa học liên ngành và được trình bày riêng trong
SGK. Nhưng giữa các môn học này bao giờ nó cũng có mối quan hệ
khăng khít hỗ trợ cho nhau. Chẳng hạn khi chúng ta dạy môn Văn thì có
thể sử dụng, vận dụng cả kiến thức, kỹ năng của hai môn Lịch sử, Địa lý để
phục vụ cho giờ dạy văn học. Như khi dạy bài “Bình Ngô đại cáo, Việt
Bắc, Nhật ký trong tù” thì chúng ta phải sử dụng các kiến thức liên quan
đến môn Lịch sử, Địa lý để dạy. Ngược lại môn Lịch sử, Địa lý thì chúng
ta cũng phải sử dụng kiến thức, kỹ năng Văn học để dạy học .
1.2.2. Mối quan hệ giữa văn học và ngôn ngữ
Có nhiều cách diễn đạt về mối quan hệ giữa văn học và ngôn ngữ
như:
- Văn học là nghệ thuật ngôn từ.


24

- Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học (Mac Xim Gooc Ki)

- Ngôn ngữ là phương tiện thứ nhất của văn học.
- Ngôn ngữ là chất liệu của văn học.
Tác phẩm văn học là một chỉnh thể bao gồm nhiều yếu tố như: Chủ
đề, tư tưởng, kết cấu, ngôn ngữ, hình tượng, nhân vật, cốt truyện… Trong
đó ngôn ngữ là yếu tố mang tính vật chất, được sử dụng như là chất liệu
của văn học.
Phân biệt giữa các chất liệu và phương tiện nghệ thuật. Chất liệu là
nói đến yếu tố vật liệu vật chất hàng đầu và cốt yếu nhất. Quan hệ giữa văn
học và ngôn ngữ tiếng Việt là quan hệ “Tuy hai mà một, tuy một mà hai”,
tiếng Việt là công cụ, văn là nội dung, mục đích, sử dụng tiếng thành thạo,
nghệ thuật đến một mức độ nào đó thì thành văn. Sự thống nhất hữu cơ,
biện chứng giữa ngôn ngữ tiếng Việt và văn học, xét về cấu trúc, sẽ tạo nên
một chỉnh thể tác phẩm văn chương.
Do đó, khi giảng dạy tác phẩm văn học trong nhà trường chúng ta
không thể tách rời ngôn ngữ với văn học. Từ năm 1973, cố thủ tướng Phạm
Văn Đồng đã từng nhắc nhở chúng ta là: Phải suy nghĩ, phải tìm tòi, phải
sáng tạo, phải xây dựng một phương pháp dạy văn học thích hợp, đem lại
những hiệu quả tốt… Từ những kinh nghiệm trong dạy học văn hàng chục
năm qua, chúng ta càng nhận thấy rõ được mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn
ngữ và văn học. Bởi vì trong mỗi tác phẩm trong mỗi tác phẩm nghệ thuật
có giá trị đều là sự đúc kết của hai cấu trúc ngôn ngữ và văn học.
Do vậy chỉ có dựa vào cấu trúc ngôn ngữ mới phát hiện được một
cách có căn cứ cấu trúc văn học của tác phẩm.
1.2.3. Quan điểm tích hợp trong biên soạn chương trình, nội dung
và sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay
1.2.3.1. Quan điểm tích hợp trong biên soạn chương trình
Bộ sách giáo khoa Ngữ văn (thí điểm) ở bậc THCS bắt đầu được
triển khai theo chương trình (thí điểm). Ban hành kèm theo quyết định số
2434/QĐ ngày 8/7/1999 của Bộ trưởng Giáo dục và đào tạo tất cả chương
trình (thí điểm), lần này đều được cải tiến mạnh theo hướng tích hợp,giảm

tải tăng thực hành gắn với đời sống.


25

-Thứ nhất: Trước hết quan điểm tích hợp thể hiện ở tên gọi môn học.
Nếu ở bậc Tiểu học đang gọi là Tiếng Việt, ở THPT đang gọi là Tiếng Việt
và Văn học. Chương trình và SGK thí điểm cấp THCS gọi là Ngữ văn.
Từ lâu Tiếng Việt và Văn là hai bộ phận nhưng thực tế THCS đã
hình thành đang được sử dụng gọi là ba phân môn. “Tập làm văn thường
được ghép vào Tiếng Việt “song từ lâu đã là vùng tranh chấp” giữa Văn và
Tiếng Việt” [28, 821]. Như vậy trên tinh thần quan điểm đổi mới tích hợp
ranh giới rạch ròi giữa ba phân môn ấy không còn nữa. “Theo quan điểm
tích hợp “triệt để”, phải hóa thành “nhất thể”, tuy vậy, nói “không có ranh
giới rõ rệt” [28, 821]. Đây là cách nói dựa trên căn cứ đã được nghiên cứu
khoa học. Chương trình nói rõ quan điểm tích hợp Việt Nam hiện nay
“chưa thể áp dụng một cách triệt để, giảng dạy theo quan điểm tích hợp
không phủ định việc dạy các tri thức, kỹ năng riêng của từng phân môn,
vấn đề là làm thế nào phối hợp các tri thức, kỹ năng thuộc từng phân môn
thật nhuần nhuyễn” [25, 15]. Mục đích nhằm làm cho học sinh nắm được
những kiến thức, hình thành được thái độ, năng lực và kỹ năng, mục tiêu
phải “Cố gắng tìm ra sự đồng quy giữa ba phân môn, càng đậm nét càng
tốt. Để qua đó mà thực hiện quan điểm tích hợp” [28, 822].
-Thứ hai: Nổi bật rõ quan điểm tích hợp là sự thay đổi về tính chất
và chức năng của văn bản được đưa vào SGK hầu hết các văn bản đều là
tác phẩm văn chương có hư cấu, tỷ lệ văn nghị luận rất ít. Mục tiêu của
chương trình thí điểm cũng như phương hướng tích hợp đòi hỏi học sinh
phải tiếp xúc với các loại đa dạng hơn và tất cả đều gọi chung là văn bản.
Đáng chú ý là vị trí, chức năng của văn bản không chỉ phục vụ cho việc
dạy Văn mà còn phục vụ cho cả việc dạy Tiếng Việt và Tập làm văn, nói

cách khác, trục cơ bản và duy nhất để dựa vào đó tiến hành sự tích hợp là
hệ thông văn bản.
Những cơ sở của việc biên soạn chương trình theo hướng tích hợp:
 Phải tôn trọng chương trình hiện hành, tiếp cận từ nội dung. Chúng
ta phải biến đổi những nội dung đó để thỏa mãn các năng lực, sau đó soạn
thảo các mục tiêu tích hợp của năm học. Đó là cách biến đổi chương trình
hiện hành theo quan điểm tích hợp, khi có khả năng xây dựng chương trình
hoàn toàn theo quan điểm tích hợp (chương trình tiếp cận theo mục tiêu tích
hợp). Xuất phát từ mục tiêu tích hợp của năm học, để xây dựng các năng lực
cần hình thành trong năm học, từ đó xác định các mục tiêu riêng lẻ.


×