nghiên cứu - trao đổi
ThS. Nguyễn Văn Cừ *
T
rong bài Một số suy nghĩ về nguyên
tắc xác định cha, mẹ và con trong giá
thú theo pháp luật Việt Nam, đăng trên
Tạp chí luật học số 5 năm 1999, chúng tôi
đ nêu và phân tích về sự cần thiết phải quy
định vấn đề xác định cha, mẹ và con trong
pháp luật; việc xác định cha, mẹ và con
trong giá thú theo hệ thống pháp luật
HN&GĐ của Nhà nớc ta từ năm 1945 đến
nay. Đặc biệt là nội dung nguyên tắc suy
đoán pháp lí xác định cha, mẹ và con trong
giá thú - theo Điều 28 Luật HN&GĐ 1986.
Kể từ khi Luật HN&GĐ năm 2000 của
Nhà nớc ta có hiệu lực pháp luật
(1/1/2001), quá trình áp dụng những quy
định của chế định xác định cha, mẹ, con tại
chơng VII (từ Điều 63 đến Điều 66) cho
đến nay còn có một số vấn đề cha cụ thể.
Những quy định về xác định cha, mẹ, con
trong giá thú tại Điều 63 Luật HN&GĐ
năm 2000 vẫn kế thừa nội dung Điều 28
Luật HN&GĐ 1986. Vấn đề xác định cha,
mẹ, con ngoài giá thú xét về luật nội dung
vẫn cha đợc quy định đầy đủ, rất khó áp
dụng trong thực tế.
Bài viết này chúng tôi bàn về vấn đề xác
định cha, mẹ và con ngoài giá thú theo Luật
HN&GĐ Việt Nam.
1. Con ngoài giá thú là con mà cha mẹ
không phải là vợ chồng trớc pháp luật
hoặc cha mẹ ăn ở, chung sống với nhau nh
vợ chồng nhng việc kết hôn cha đợc uỷ
ban nhân dân công nhận, ghi vào sổ kết
hôn.(1)
Nh vậy, trờng hợp sinh con ngoài giá
thú có thể là ngời mẹ không có chồng mà
sinh con; ngời mẹ có chồng nhng đ
ngoại tình và thụ thai với ngời khác mà
sinh con; hoặc hai bên nam nữ ăn ở, chung
sống với nhau nh vợ chồng và có con với
nhau; cũng có thể là trờng hợp hai vợ
chồng đ li hôn, phán quyết li hôn của tòa
án đ có hiệu lực pháp luật, sau đó họ lại
tái hợp chung sống với nhau mà cha
đăng kí kết hôn lại theo thủ tục luật định,
nếu ngời phụ nữ sinh con trong trờng hợp
này thì đó là con chung ngoài giá thú của
hai ngời không phải là vợ chồng trớc
pháp luật. Con ngoài giá thú có thể là con
chung, cũng có thể là con riêng của một
bên cha, mẹ.
1.1. Chế độ HN&GĐ trong x hội
phong kiến thực dân ở nớc ta trớc đây đ
thực hiện chính sách phân biệt đối xử sâu
sắc giữa các con trong gia đình: Giữa con
đẻ với con nuôi, giữa con trai với con gái,
giữa con chung với con riêng và đặc biệt là
giữa con trong giá thú với con ngoài giá
thú. Con trong giá thú (còn gọi là con chính
thức); con ngoài giá thú (tức là con ngoại
* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội
Tạp chí luật học - 9
nghiên cứu - trao đổi
hôn) còn gọi là con hoang, con t sinh,
con ngoại tình hoặc con loạn luân. Nếu
là con ngoại tình hoặc con loạn luân, thông
thờng không thể đợc thừa nhận; sự thừa
nhận nếu có sẽ tuyệt đối vô hiệu(2). Theo
quy định của pháp luật, ngời con ngoại
tình hoặc con loạn luân sẽ không đợc phép
tha kiện trớc tòa án để truy tìm phụ hệ
hoặc mẫu hệ của mình. Quy định này thật
bất công đối với ngời con ngoài giá thú.
Luật và lệ dới chế độ phong kiến, thực dân
coi khinh ngời phụ nữ đ sinh con ngoài
giá thú.
1.2. Hệ thống pháp luật HN&GĐ của
Nhà nớc ta ngay từ những văn bản pháp
luật đầu tiên đ ghi nhận Ngời con hoang
vô thừa nhận đợc phép tha trớc tòa án để
truy nhận cha hoặc mẹ của mình (Điều 9
Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/05/1950 của Chủ
tịch nớc về sửa đổi một số quy lệ và chế
định trong dân luật). Với bản chất tốt đẹp
của chế độ XHCN, Nhà nớc và x hội
không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa
các con. Luật HN&GĐ 1959, 1986 và 2000
của Nhà nớc ta, trên cơ sở Hiến pháp đều
thực hiện nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của
các con. Con cái vừa là thành viên của gia
đình, vừa là thành viên của x hội, chủ nhân
tơng lai của đất nớc. Con ngoài giá thú
có quyền xin nhận cha, mẹ, kể cả trong
trờng hợp cha, mẹ đ chết (Điều 31 Luật
HN&GĐ 1986, khoản 1 Điều 65 Luật
HN&GĐ năm 2000); con ngoài giá thú
đợc cha, mẹ nhận hoặc đợc tòa án
nhân dân cho nhận cha, mẹ có mọi
quyền và nghĩa vụ nh con trong giá
10 - Tạp chí luật học
thú (Điều 32 Luật HN&GĐ năm 1986,
khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2000).
Đặc biệt, kể từ Luật HN&GĐ 1986 đến
nay, pháp luật đ công nhận quyền đợc
làm mẹ của những ngời phụ nữ đơn thân
khoản 6 Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2000
quy định: Nhà nớc, x hội và gia đình có
trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ
các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý
của ngời mẹ.(3) Theo quy định tại Điều
63, 64, 65, 66 của Luật HN&GĐ năm 2000
thì trong trờng hợp cha mẹ không thừa
nhận con thì phải có chứng cứ và phải đợc
tòa án xác định; ngời không đợc nhận là
cha, mẹ của một ngời có thể yêu cầu tòa
án xác định ngời đó là con mình; ngời
đợc nhận là cha, mẹ của một ngời có thể
yêu cầu tòa án xác định ngời đó không
phải là con mình; mẹ, cha hoặc ngời giám
hộ theo quy định của pháp luật về tố tụng
dân sự có quyền tự mình yêu cầu tòa án
hoặc đề nghị viện kiểm sát yêu cầu tòa án
xác định cha, mẹ cho con cha thành niên,
con đ thành niên mất năng lực hành vi dân
sự hoặc xác định con cho cha, mẹ mất năng
lực hành vi dân sự. Theo thẩm quyền, viện
kiểm sát nhân dân, ủy ban bảo vệ, chăm sóc
trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu
cầu tòa án xác định cha, mẹ cho con cha
thành niên, con đ thành niên mất năng lực
hành vi dân sự hoặc xác định con cho cha,
mẹ mất năng lực hành vi dân sự. Ngoài ra,
theo Luật HN&GĐ năm 2000, cá nhân, cơ
quan, tổ chức khác có quyền đề nghị viện
kiểm sát xem xét, yêu cầu tòa án xác định cha,
mẹ và con trong những trờng hợp trên.
nghiên cứu - trao đổi
2. Sự cần thiết pháp luật của Nhà nớc
phải quy định nguyên tắc suy đoán pháp lí
xác định cha, mẹ và con. Đó chính là cơ sở
pháp lí xác thực mối quan hệ pháp luật giữa
cha, mẹ và con, bảo đảm nghĩa vụ và quyền
của các bên trong quan hệ gia đình; đồng
thời đó còn là cơ sở pháp lí để tòa án giải
quyết các tranh chấp khi có yêu cầu xác
định cha, mẹ và con. Tuy nhiên, qua nghiên
cứu chế định xác định cha, mẹ, con theo hệ
thống pháp luật HN&GĐ của Nhà nớc ta,
chúng tôi nhận thấy Luật HN&GĐ 1986 lần
đầu tiên quy định nguyên tắc suy đoán pháp
lí xác định cha, mẹ cho con trong giá thú.
Với nội dung: Con sinh ra trong thời kì
hôn nhân hoặc do ngời vợ có thai trong
thời kì đó là con chung của vợ chồng.
Trờng hợp có yêu cầu xác định lại vấn đề
này thì phải có chứng cứ khác (Điều 28).
Đối với việc xác định cha, mẹ cho con
ngoài giá thú, từ Sắc lệnh số 97-SL ngày
22/05/1950, Luật HN&GĐ 1959, 1986
và cho đến nay kể cả Luật HN&GĐ năm
2000 vẫn cha dự liệu cơ sở pháp lí để xác
định cha, mẹ cho con ngoài giá thú.
Trong thực tế, trờng hợp ngời phụ nữ
sinh con ngoài giá thú, khi có tranh chấp,
ngời mẹ của đứa con ngoài giá thú hoặc
những ngời, tổ chức, cơ quan có thẩm
quyền yêu cầu tòa án xác định ngời cha
của đứa con ngoài giá thú cha thành niên
hoặc đ thành niên mà mất năng lực hành vi
dân sự... thì tòa án dựa trên những căn cứ
nào để xác thực mối quan hệ cha - con?
Trờng hợp ngời mẹ sinh con ngoài
giá thú vì lí do nào đó nh mặc cảm với gia
đình, x hội hoặc không có điều kiện kinh
tế để chăm sóc, nuôi dỡng con hoặc do tác
động tâm lí thù ghét ngời đàn ông bạc
tình... đ bỏ con, ngời khác hoặc các tổ
chức x hội theo chức năng đ nhận nuôi
dỡng đứa trẻ. Sau này, ngời mẹ có yêu
cầu xin nhận lại con, vậy phải dựa trên
những căn cứ nào để chứng tỏ chính ngời
mẹ đó đ sinh ra đứa trẻ.
Con ngoài giá thú có quyền yêu cầu xác
định cha, mẹ kể cả trong trờng hợp cha,
mẹ của mình đ chết. Vậy, trờng hợp
ngời con ngoài giá thú khi đ thành niên
có quyền đứng nguyên đơn yêu cầu tòa án
xác định một ngời đ chết là cha, mẹ của
mình thì họ phải dựa trên các căn cứ nào
theo quy định của pháp luật?
Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật
HN&GĐ năm 2000 của Nhà nớc ta cũng
mới chỉ dừng lại ở việc quy định về quyền
yêu cầu tòa án xác định cha, mẹ, con(4).
Điều quan trọng cần thiết là nhà làm luật dự
liệu căn cứ pháp lí để suy đoán quan hệ mẹ
- con, cha - con ngoài giá thú. Thực tiễn xét
xử nhiều năm qua cho đến nay, khi nảy sinh
vụ kiện xác định cha, mẹ, con ngoài giá thú
tại tòa án đ thiếu cơ sở pháp lí để giải
quyết loại án kiện này. Bên cạnh đó, do tính
chất phức tạp của loại án kiện này vì ngời
đàn ông đợc khai là cha của đứa con
ngoài giá thú do tác động tâm lí, sợ ảnh
hởng đến danh dự, uy tín, tiền bạc nên
thờng trốn tránh trách nhiệm, không tự
nguyện nhận con ngoài giá thú mà kiên
quyết từ chối mối liên hệ cha - con. Do vậy,
đ gây nhiều khó khăn trong việc điều tra,
xét xử loại án kiện này. Trớc đây, khi giải
quyết loại án kiện này, có trờng hợp tòa án
Tạp chí luật học - 11
nghiên cứu - trao đổi
đ yêu cầu thẩm định về nhóm máu hoặc
xem xét sự giống nhau về hình thức bên
ngoài giữa ngời đàn ông đợc khai là cha
của đứa trẻ với đứa trẻ ngoài giá thú đó, nếu
xét thấy giữa họ có trùng nhóm máu hoặc
rất giống nhau về hình thức thì tòa án có thể
suy đoán giữa họ có mối liên hệ cha, con,
theo quan niệm giỏ nhà ai quai nhà nấy.
Tại thông t số 15-DS ngày 27/9/1974 của
TANDTC trớc đây hớng dẫn đờng lối
xử li hôn, một vài loại tranh chấp về dân sự,
HN&GĐ đ hớng dẫn tòa án nhân dân các
cấp dựa vào một số chứng cứ để giải quyết
loại việc truy nhận cha cho con nh sau:
1. Trong thời gian có thể thụ thai đứa
con, ngời đàn ông đợc khai là cha của
đứa trẻ và ngời mẹ đứa trẻ đ công nhiên
chung sống với nhau nh vợ chồng.
2. Hai ngời đ thơng yêu nhau, hứa
hẹn kết hôn với nhau và trong thời gian có
thể thụ thai đứa con, đ ăn nằm với nhau
nh vợ chồng, rồi sau khi có con, bỏ không
cới nữa.
3. Ngời mẹ đ bị ngời này hiếp dâm,
cỡng dâm trong thời gian có thể thụ thai
đứa con.
4. Sau khi sinh con, ngời này đ chăm
nom, săn sóc đứa con nh là con của mình.
5. Có những th từ do ngời này viết
xác nhận đứa con do ngời mẹ sinh ra là
con của họ.
Theo hớng dẫn trên đây của TANDTC,
vấn đề suy đoán quan hệ cha - con ngoài
giá thú đợc hiểu là: Tính từ ngày ngời mẹ
sinh con ngoài giá thú, suy ngợc trở về
thời kì mà ngời mẹ có khả năng thụ thai
đứa con (khoảng thời gian từ 180 ngày đến
12 - Tạp chí luật học
300 ngày trớc ngày ngời mẹ sinh con),
nếu ngời đàn ông nào đ có quan hệ sinh lí
với ngời mẹ của đứa con ngoài giá thú
đúng vào thời kì thụ thai này thì có cơ sở để
suy đoán họ là cha của đứa con ngoài giá
thú đó.
Thực tế xét xử loại án kiện truy nhận
cha cho con ngoài giá thú cho thấy do
nhiều vấn đề tác động, ngời đàn ông sau
khi có con ngoài giá thú với một ngời phụ
nữ nào đó thờng trốn chạy trách nhiệm với
mẹ con đứa trẻ. Khi phát sinh vụ kiện tại
tòa án, ngời đàn ông đó (thờng là bị đơn)
đ bằng mọi thủ đoạn để che giấu sự thật
khách quan, không thừa nhận có quan hệ
cha - con hoặc nguỵ biện bằng đủ mọi cách
để khớc từ đứa con ngoài giá thú đó. Điều
quan trọng trong công tác điều tra, thu thập
và đánh giá chứng cứ để chứng tỏ một thực
tế khách quan là có hay không có mối quan
hệ cha - con ngoài giá thú. Đối với loại án
kiện này, khi giải quyết, tòa án phải rất thận
trọng, có thể kết hợp nhiều biện pháp nh
tham khảo d luận x hội về mối quan hệ
giữa hai bên nam nữ (ngời đàn ông đợc
khai là cha của đứa trẻ với ngời mẹ của
đứa trẻ ngoài giá thú); ý kiến của gia đình
và những ngời thân thích của đơng sự;
thẩm định trên cơ sở y học nh thẩm định
về máu, khả năng có con của đơng sự và
đặc biệt là yêu cầu thẩm định về gien để
chứng tỏ mối liên hệ cha - con để bảo đảm
quyền lợi của đơng sự, nhất là quyền lợi
của ngời con ngoài giá thú. Cần quan tâm
bảo đảm quyền lợi của cả hai bên: Nếu
ngời đàn ông đợc khai là cha của đứa trẻ
ngoài giá thú mà sự thực họ không phải là
nghiên cứu - trao đổi
cha của đứa trẻ đó, họ bị buộc phải nhận
l nh trách nhiệm cha - con họ đ bị
oan, sẽ ảnh hởng đến danh dự, uy tín và
tài sản của họ (cũng cần đề phòng trờng
hợp vì mục đích nào đó, một ngời phụ nữ
có thai với ngời đàn ông này nhng lại
khai cho ngời đàn ông khác).
Nếu ngời đàn ông đó chính là cha của
đứa trẻ ngoài giá thú nhng lại không đợc
xác định có mối quan hệ cha - con thì
quyền lợi của hai mẹ con đứa trẻ ngoài giá
thú không đợc bảo đảm trớc pháp luật. Vì
vậy, chỉ xác định mối quan hệ cha - con khi
có những cơ sở, chứng cứ xác thực chứng tỏ
về mối liên hệ đó; phán quyết chính xác của
toà án mới bảo đảm đợc quyền lợi của các
đơng sự, của đứa con ngoài giá thú, tạo sự
thuận lợi trong công tác thi hành án sau này
và nh vậy góp phần ổn định mối quan hệ
cha mẹ và con trong đời sống x hội, cũng
nh giải quyết ổn thoả các vấn đề liên quan
nh về cấp dỡng, thừa kế...
3. Qua nghiên cứu vấn đề xác định cha,
mẹ và con ngoài giá thú theo Luật HN&GĐ
Việt Nam từ năm 1945 đến nay, kể cả Luật
HN&GĐ năm 2000 của Nhà nớc ta cũng
vẫn cha có quy định nguyên tắc suy đoán
pháp lí xác định cha, mẹ và con ngoài giá
thú. Đối với việc xác định cha, mẹ và con
trong giá thú đ đợc quy định tại Điều 63
Luật HN&GĐ năm 2000 là dựa vào thời kì
hôn nhân hợp pháp của cha mẹ. Đối với
trờng hợp con ngoài giá thú, vì cha mẹ của
ngời con không có thời kì hôn nhân,
không phải là vợ chồng trớc pháp luật, nhà
làm luật cần dự liệu cơ sở pháp lí để suy
đoán quan hệ mẹ - con, cha - con ngoài giá
thú. Các điều 64, 65, 66 của Luật HN&GĐ
năm 2000 chỉ dừng lại ở việc quy định
quyền của các đơng sự, cơ quan, tổ chức
yêu cầu tòa án hoặc đề nghị viện kiểm sát
yêu cầu tòa án xác định cha, mẹ, con, kể cả
con trong và con ngoài giá thú. Các văn bản
của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền hớng
dẫn áp dụng những quy định của Luật
HN&GĐ năm 2000, trong đó vấn đề xác
định cha, mẹ, con ngoài giá thú vẫn cha
đợc hớng dẫn cụ thể và đầy đủ.
Tại mục 5 (b) của Nghị quyết số 02/2000/NQHĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hớng dẫn áp dụng một
số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000
hớng dẫn: Theo quy định tại khoản 2
Điều 63 và Điều 64, khi có ngời yêu cầu
tòa án xác định một ngời nào đó là con
của họ hay không phải là con của họ thì
phải có chứng cứ. Trong trờng hợp cần
thiết thì phải giám định gien. Ngời có yêu
cầu giám định gien phải nộp lệ phí giám định
gien. Điều 21 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP
ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 cũng mới
chỉ dừng lại ở nguyên tắc chung (theo Điều 63
Luật HN&GĐ năm 2000), dựa trên cơ sở hôn
nhân hợp pháp của cha mẹ ngời con: ... 3.
Trong trờng hợp vợ hoặc chồng không
nhận đứa trẻ là con chung của hai ngời
quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này
thì phải có chứng cứ và phải đợc tòa án
xác định.
Nh trên (mục 2) của bài viết này,
chúng tôi đ phân tích: Vấn đề xác định
cha, mẹ, con trong giá thú hay con ngoài
giá thú tùy theo từng trờng hợp mà trong
Tạp chí luật học - 13
nghiên cứu - trao đổi
thực tế, các đơng sự, cơ quan, tổ chức,
viện kiểm sát yêu cầu tòa án xác định có thể
là cha, là mẹ hoặc là con của một ngời nào
đó. Ví dụ, ngời mẹ (không có chồng) yêu
cầu tòa án xác định một ngời đàn ông là
cha của con mình; hoặc một ngời đàn ông
có yêu cầu tòa án xác định đứa trẻ ngoài giá
thú là con của mình; hoặc một ngời phụ nữ
sau khi sinh con ngoài giá thú đ bỏ con,
ngời khác hoặc cơ quan tổ chức có chức
năng đ nuôi dỡng đứa con ngoài giá thú
đó, sau này ngời phụ nữ đó có yêu cầu đòi
lại con của mình; hoặc ngời con ngoài giá
thú khi thành niên có yêu cầu tòa án xác
định một ngời nào đó là cha, mẹ của mình.
Theo nguyên tắc chung, các đơng sự phải
có chứng cứ và phải đợc tòa án xác định
(có thể hiểu là chấp nhận các chứng cứ đó).
Tuy nhiên, nh chúng tôi đ nêu, các chứng
cứ mà đơng sự dựa vào để chứng minh mối
liên hệ cha - con, mẹ - con theo quy định
của pháp luật và đợc tòa án chấp nhận bao
gồm những chứng cứ nào thì vẫn cha đợc
luật và các văn bản hớng dẫn áp dụng luật
dự liệu. Sự cần thiết phải có quy định về các
chứng cứ này trong pháp luật.
Trong x hội hiện đại, khoa học kĩ thuật
phát triển, đặc biệt là về y học; thực tế ở các
nớc và ở nớc ta đ xuất hiện những
trờng hợp thụ thai nhân tạo; có con trong
ống nghiệm; trờng hợp chửa hộ, đẻ
thuê... trong đó có liên quan tới việc xác
định cha, mẹ, con ngoài giá thú cũng cần
đợc luật định, tạo cơ sở pháp lí, bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và
sự ổn định của các quan hệ HN&GĐ trong
x hội. Tại khoản 2 Điều 63 Luật HN&GĐ
14 - Tạp chí luật học
năm 2000 quy định: ... Việc xác định, cha,
mẹ cho con đợc sinh ra theo phơng pháp
khoa học do Chính phủ quy định, chúng
tôi cho rằng Chính phủ cần sớm ban hành
Nghị định quy định chi tiết về vấn đề này,
trong đó có cả các cơ sở pháp lí (chứng cứ)
suy đoán quan hệ, cha, mẹ, con ngoài giá
thú.
4. Tham khảo pháp luật của một số
nớc(5) và hệ thống pháp luật áp dụng ở
nớc ta dới chế độ cũ(6) thờng quy định
về thời kì thai nghén (thời kì thụ thai) của
ngời mẹ và các chứng cứ pháp lí để suy
đoán quan hệ cha - con ngoài giá thú; mặt
khác, pháp luật còn quy định thời hiệu khởi
kiện đợc áp dụng trong các trờng hợp có
yêu cầu xác định cha, mẹ, con.
Chúng tôi cho rằng các văn bản pháp
luật HN&GĐ của Nhà nớc ta cần quy định
cơ sở pháp lí xác định cha, mẹ, con ngoài
giá thú theo hớng: Quy định thời kì thụ
thai của ngời phụ nữ trong pháp luật (dựa
trên cơ sở y học) để có cơ sở suy đoán.
Trong thời kì ngời phụ nữ có khả năng thụ
thai đứa con, một ngời đàn ông nào đó đ
thừa nhận có quan hệ sinh lí (hoặc có cơ sở
chứng tỏ đ có quan hệ sinh lí) với ngời
mẹ của đứa trẻ đó (nếu khhông có chứng cứ
họ không thể là cha của đứa trẻ) thì sẽ đợc
suy đoán là cha của đứa trẻ đó. Một số
chứng cứ đợc hớng dẫn tại Thông t số
15-DS ngày 27/9/1974 của TANDTC trớc
đây cần đợc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung
cho phù hợp với sự phát triển của y học và
thực tiễn x hội.
- Khoản 2 Điều 21 của Nghị định số
70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của
nghiên cứu - trao đổi
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật
HN&GĐ năm 2000 đ quy định: Con sinh
ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày ngời
chồng chết hoặc kể từ ngày bản án của tòa
án xử cho vợ chồng li hôn có hiệu lực pháp
luật thì đợc xác định là con chung của hai
ngời. Nh vậy, quy định này đ khẳng
định thời kì mang thai dài nhất của ngời
phụ nữ không quá 300 ngày, kể từ ngày thụ
thai (trớc đây, tại Điều 3, Điều 4 Sắc lệnh
số 97/SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số
quy lệ và chế định trong dân luật cũng đ
dự liệu theo hớng này khi quy định hạn
chế quyền kết hôn của ngời vợ khi ngời
chồng chết hoặc li hôn với chồng).
Tuy nhiên, đối với trờng hợp suy đoán
xác định cha cho con ngoài giá thú thì cần
phải quy định thời kì thụ thai của ngời
phụ nữ. Thời kì có khả năng thụ thai của
ngời phụ nữ, dựa trên cơ sở y học đợc xác
định trong khoảng từ 180 ngày đến 300
ngày trớc ngày sinh con. Nếu ngời đàn
ông đợc khai là cha của đứa trẻ ngoài giá
thú đ có quan hệ sinh lí (hoặc có cơ sở để
xác định là đ có quan hệ sinh lí) với ngời
mẹ của đứa trẻ đúng vào thời kì có khả
năng thụ thai của ngời mẹ thì ngời đàn
ông đó sẽ đợc suy đoán (xác định) là cha
của đứa trẻ ngoài giá thú đó (nếu không có
chứng cứ về mặt y học họ không thể là cha
của đứa trẻ).
- Về vấn đề yêu cầu thẩm định gien khi
giải quyết loại án kiện này, Nghị quyết số
02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao hớng dẫn: Trong trờng hợp cần thiết
thì phải giám định gien, ngời có yêu cầu
giám định gien phải nộp lệ phí giám định
gien.
Hiện nay vấn đề giám định gien cha
phổ biến trong x hội, chi phí cho một lần
giám định còn quá cao, rất khó khăn cho
đơng sự khi phải chứng minh có quan hệ
cha - con. Theo quan điểm của chúng tôi,
trên nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của bà mẹ
và trẻ em, trờng hợp ngời mẹ sinh con
ngoài giá thú, yêu cầu xác định một ngời
đàn ông là cha của con mình, nếu có đủ cơ
sở pháp lí đợc dự liệu trong luật, tòa án
có quyền suy đoán (xác định) ngời đàn
ông đó là cha của đứa con ngoài giá thú.
Nếu họ cho rằng mình bị oan ức, không
thừa nhận con ngoài giá thú, họ phải yêu
cầu giám định gien, giữa họ và đứa trẻ đó
và chi phí giám định gien họ phải chịu. Nh
vậy, mới bảo đảm quyền đợc làm mẹ và
quyền của ngời mẹ sinh con ngoài giá thú
yêu cầu tòa án xác định cha cho con mình
trong thực tế./.
(1). Từ điển giải thích thuật ngữ luật học về chuyên
ngành luật dân sự, luật HN&GĐ, luật tố tụng dân sự
của Trờng đại học luật Hà Nội đ sử dụng thuật
ngữ con ngoài hôn nhân, tr.142.
(2).Xem: Điều 168 BLDS Bắc Kì 1931; Điều 99
Luật gia đình 2/1/1959 dới chế độ Ngô Đình Diệm;
Điều 116 Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964; Điều 239
Bộ luật dân sự 1972 Nguỵ quyền Sài Gòn.
(3).Xem: Điều 3 Luật HN&GĐ 1986.
(4).Xem: Điều 31, 32, 33 Luật HN&GĐ 1986, Điều
64, 65, 66 Luật HN&GĐ năm 2000.
(5).Xem: Điều 340 BLDS Cộng hòa Pháp, Điều
1.555 BLDS và thơng mại Thái Lan.
(6).Xem: Điều 106 Luật gia đình 2/1/159 dới chế
độ Ngô Đình Diệm, Điều 124 Sắc luật 15/64 ngày
23/7/1964, Điều 229, Điều 237 Bộ dân luật 1972.
Tạp chí luật học - 15