Tải bản đầy đủ (.doc) (131 trang)

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI CÁC TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ CẤP HUYỆN TỈNH THÁI NGUYÊN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.12 MB, 131 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-------***-------

ĐỖ THỊ THÌN

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƯƠNG
TRÌNH GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI CÁC
TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ CẤP
HUYỆN TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Thái Nguyên, năm 2008


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-------***-------

ĐỖ THỊ THÌN

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƯƠNG
TRÌNH GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI CÁC
TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ CẤP
HUYỆN TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý giáo
Mã số: 60.14.05

dục


LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH. NGUYỄN VĂN HỘ

Thái Nguyên, năm 2008


LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng thành kính, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính
trọng tới Ban chủ nhiệm khoa, các thày cô giáo khoa Tâm lý giáo dục
Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên đã quan tâm và
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại
trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Thường vụ Tỉnh uỷ; Ban Tuyên giáo
Tỉnh uỷ; Ban Tuyên giáo và Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện,
thành, thị uỷ tỉnh Thái Nguyên; các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập nâng cao trình độ và nghiên cứu viết
luận văn.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Giáo sư - Tiến sỹ
khoa học Nguyễn Văn Hộ đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn.
Do điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế nên
luận văn chắc chắn sẽ còn những khiếm khuyết. Tôi rất mong nhận được
sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2008
TÁC GIẢ

Đỗ Thị Thìn



2

NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT
TTBDCT

Trung tâm bồi dƣỡng chính trị

LLCT

lý luận chính trị

Quyết định 100-QĐ/TW

Quyết

định

số

100-QĐ/TW

ngày

03/6/1995 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng
Đảng (khoá VII)
CNH - HĐH

công nghiệp hoá - hiện đại hoá


Nxb

Nhà xuất bản

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




3

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

5

1- Lý do lựa chọn đề tài

5

2- Lịch sử vấn đề nghiên cứu

7

3- Mục đích nghiên cứu

8

4- Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu


8

5- Giả thuyết khoa học

8

6- Nhiệm vụ nghiên cứu

8

7- Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

9

8- Phƣơng pháp nghiên cứu

9

9- Những đóng góp mới của đề tài

10

10- Cấu trúc luận văn

10
Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN
CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC LLCT TẠI TTBDCT CẤP HUYỆN


1.1- Một số khái niệm cơ bản

11

1.2- Ý nghiã của việc quản lý thực hiện chƣơng trình giáo
dục LLCT tại các TTBDCT cấp huyện

22

1.3- Đặc điểm của công tác quản lý thực hiện chƣơng
trình giáo dục LLCT tại TTBDCT cấp huyện

31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC LLCT TẠI TTBDCT CẤP HUYỆN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

2.1- Những nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng, hiệu quả
quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT tại các
TTBDCT

35


2.2- Thực trạng quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục
LLCT tại các TTBDCT

45

2.3- Đánh giá tổng quát

62

Chương 3
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG,
HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC LLCT
TẠI TTBDCT CẤP HUYỆN TỈNH THÁI NGUYÊN
TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1- Những quan điểm cơ bản định hƣớng cho việc đề xuất 68
các biện pháp
3.2- Một số biện pháp cụ thể

75

3.3- Mối quan hệ giữa các biện pháp

89

3.4- Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp

92


KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

100

PHẦN PHỤ LỤC

105


MỞ ĐẦU
1- Lý do lựa chọn đề tài
1.1- Công tác giáo dục lý luận chính trị có vai trò hết sức quan trọng
trong công tác xây dựng Đảng. Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ đó lại
càng quan trọng hơn khi đất nƣớc ta đang trên đà phát triển cả về bề rộng lẫn
chiều sâu, chúng ta đang tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại chƣa có tiền lệ
trong lịch sử phát triển của các nƣớc trên thế giới, thuận lợi là cơ bản nhƣng
khó khăn, thách thức cũng rất lớn. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch
ngày càng ráo riết chống phá cách mạng nƣớc ta bằng nhiều thủ đoạn, âm
mƣu thâm độc; nhiều vấn đề mới nảy sinh cần phải có sự thống nhất trong
Đảng, sự đồng thuận trong xã hội. Trong bối cảnh nhƣ vậy, việc quản lý thực
hiện chƣơng trình giáo dục LLCT tại các TTBDCT cấp huyện nhằm nâng cao
bản lĩnh chính trị, nâng cao cảnh giác cách mạng, chống “diễn biến hoà bình”
cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở, đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ mới là nhiệm vụ
rất nặng nề, có ý nghĩa chính trị lớn lao.
1.2- Sau khi có Quyết định 100-QĐ/TW ngày 03 tháng 6 năm 1995 của
Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khoá VII), TTBDCT cấp huyện của các tỉnh

trong cả nƣớc đã lần lƣợt đƣợc ra đời, đi vào hoàn thiện mô hình và hoạt động
từng bƣớc có hiệu quả, đóng góp không nhỏ vào nhiệm vụ đào tạo, bồi dƣỡng
cán bộ cho địa phƣơng, cơ sở. Nhiều chƣơng trình bồi dƣỡng, các chỉ thị, nghị
quyết, các quan điểm, đƣờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nƣớc đƣợc tổ chức thực hiện tại các trung tâm đã góp phần giải quyết kịp thời
những vƣớng mắc ở cơ sở trong công tác xây dựng Đảng. Các TTBDCT đã
trở thành địa chỉ khá tin cậy trong việc phát huy vai trò là cơ sở đào tạo, bồi
dƣỡng cán bộ của cấp uỷ cơ sở.


Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy trong thời kỳ đất nƣớc đổi mới mạnh mẽ,
yêu cầu phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra nhiều vấn đề trong
công tác quản lý, xây dựng, bồi dƣỡng, quy hoạch cán bộ từ Trung ƣơng đến
địa phƣơng, trong đó đội ngũ cán bộ cơ sở có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Mô
hình hoạt động của TTBDCT cấp huyện sau hơn 10 năm hoạt động đã bộc lộ
những tồn tại, hạn chế, chƣa phát huy tốt vai trò của mình; chất lƣợng hoạt
động, sức thu hút của Trung tâm với ngƣời học chƣa cao; có chƣơng trình còn
lạc hậu so với thực tiễn, trùng lắp, chƣa phù hợp với đối tƣợng, chƣa theo kịp
trình độ nhân thức chung của xã hội; tính liên thông giữa các chƣơng trình và
tính pháp lý chƣa đƣợc coi trọng; chất lƣợng đội ngũ giảng viên và giảng viên
kiêm chức chƣa đáp ứng yêu cầu; quá trình chuyển hoá về LLCT cho cán bộ,
đảng viên vào hoạt động thực tiễn ở cơ sở chƣa đƣợc nhiều; tính định hƣớng,
tính chiến đấu, tính thuyết phục và hiệu quả quản lý thực hiện chƣơng trình
giáo dục LLCT chƣa cao; cơ sở vật chất còn thiếu thốn, chắp vá,... Những yếu
kém này đòi hỏi phải sớm đƣợc khắc phục để các TTBDCT cấp huyện có thể
đảm nhiệm tốt nhiệm vụ của mình trong giai đoạn cách mạng mới.
1.3- Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện có 09 TTBDCT cấp huyện với
số lƣợng cán bộ công chức là 41 ngƣời, trong đó cán bộ quản lý là 18 ngƣời;
số cán bộ hợp đồng là 06 ngƣời (theo số liệu báo cáo tính đến 31/12/2007).
Nhìn chung đội ngũ cán bộ quản lý tại các TTBDCT trong tỉnh đều đƣợc quan

tâm đào tạo, bồi dƣỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; có phẩm chất đạo đức tốt,
phát huy đƣợc năng lực trong công tác, hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao. Mặc
dù vậy, công tác quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT tại các
TTBDCT cấp huyện trong tỉnh vẫn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và thống
nhất; công tác quy hoạch cán bộ làm lãnh đạo, quản lý các trung tâm chƣa
đƣợc rõ nét, chƣa thực sự đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn cách mạng mới.
Để làm tốt hơn nữa công tác giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên và
quần chúng nhân dân ở cơ sở đáp ứng nhu cầu của thời kỳ mới, chúng ta cần


nghiên cứu và đề xuất những biện pháp khả thi để quản lý thực hiện chƣơng
trình giáo dục LLCT tại các TTBDCT cấp huyện trong tỉnh.
2- Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đổi mới, nâng cao chất lƣợng, hiệu quả quản lý thực hiện chƣơng trình
giáo dục LLCT tại TTBDCT cấp huyện là một vấn đề lớn và khó, đƣợc đặt ra
trong quá trình hình thành và phát triển của các Trung tâm. Trong quá trình đó,
việc nghiên cứu, tổng kết và giải quyết các vấn đề đặt ra của các Trung tâm
thƣờng đƣợc thực hiện thông qua báo cáo hàng năm của Ban Tuyên giáo Tỉnh
uỷ các địa phƣơng. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng hợp các vƣớng mắc,
tồn tại và kiến nghị từ các địa phƣơng, Ban Tuyên giáo Trung ƣơng phối hợp
với các ngành có liên quan đề xuất hƣớng giải quyết với Đảng và Nhà nƣớc.
Thời gian qua đã có nhiều bài viết đề cập đến vấn đề trên ở những cấp
độ và phạm vi khác nhau. Trong cuốn “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tƣ
tƣởng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở”, tiến sĩ Vũ Ngọc Am đã đề cập đến yêu
cầu khách quan phải tiếp tục đổi mới công tác giáo dục LLCT ở cơ sở trong
giai đoạn hiện nay[1]. Trong cuốn “Công tác tƣ tƣởng - văn hoá ở cấp
huyện”, PGS.TS Đào Duy Quát cũng bàn về công tác giáo dục LLCT ở cấp
huyện và vai trò, nhiệm vụ của TTBDCT cấp huyện[47]. Đồng chí Nguyễn
Khoa Điềm - nguyên uỷ viên Bộ Chính trị, Trƣởng Ban Tƣ tƣởng - Văn hoá
Trung ƣơng đã đề cập đến việc nâng cao chất lƣợng và hiệu quả công tác

tuyên truyền giáo dục LLCT, tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận
trong nhân dân[29, tr.2-4]. Tác giả Đặng Công Minh có bài viết “Đổi mới
quản lý đào tạo ở TTBDCT cấp huyện”[38]. Một số bài viết khác nhƣ:
“Quảng Ninh nâng cao chất lƣợng hoạt động của các TTBDCT cấp
huyện”[55]; “Vấn đề đặt ra sau 10 năm hoạt động của các TTBDCT cấp
huyện ở Quảng Bình”[34]; “Tỉnh Hải Dƣơng xây dựng TTBDCT cấp huyện
đáp ứng yêu cầu tình hình mới”[37];...


Tuy nhiên, các tài liệu, bài viết thƣờng chỉ đề cập đến từng lĩnh vực cụ
thể hoặc của từng địa phƣơng, hoặc dừng lại ở tầm khái quát. Vấn đề đổi mới,
nâng cao hiệu quả quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT tại các
TTBDCT cấp huyện đến nay chƣa có một công trình khoa học cụ thể nào đề
cập một cách có hệ thống, toàn diện.
3- Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT
tại TTBDCT cấp huyện trong tỉnh nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục LLCT
cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở cơ sở.
4- Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1- Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động quản lý hệ thống giáo dục LLCT tại TTBDCT cấp huyện.
4.2- Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT tại các
TTBDCT cấp huyện trong tỉnh.
5- Giả thuyết khoa học
Chất lƣợng hoạt động giáo dục LLCT tại TTBDCT cấp huyện trên địa
bàn tỉnh sẽ đƣợc nâng cao nếu có đƣợc một hệ thống các biện pháp quản lý
thực hiện chƣơng trình thống nhất và đồng bộ.
6 -Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận của hoạt động quản lý thực hiện

chƣơng trình giáo dục LLCT tại TTBDCT cấp huyện.
6.2- Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động quản lý thực hiện
chƣơng trình giáo dục LLCT tại các TTBDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh
trong hơn 10 năm qua (1995-2007).
6.3- Đề xuất các biện pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lƣợng quản lý
thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT tại TTBDCT cấp huyện trên địa bàn


tỉnh trong thời gian tới và khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp trong
hoạt động thực tiễn.
7- Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
7.1- Giới hạn khách thể:
Khách thể khảo sát là hoạt động quản lý thực hiện chƣơng trình giáo
dục LLCT tại TTBDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
7.2- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp
nhằm tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lƣợng quản lý thực hiện chƣơng trình
giáo dục LLCT tại TTBDCT cấp huyện tỉnh Thái Nguyên đáp ứng nhu cầu
của thời kỳ cách mạng mới.
8- Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Sử dụng các phƣơng pháp nhƣ phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái
quát hoá lý luận để xác định các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý
thuyết cho đề tài.
8.2- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phƣơng pháp điều tra: Sử dụng phƣơng pháp này nhằm trƣng cầu ý
kiến của các đối tƣợng thông qua phiếu điều tra. Các nội dung cần trƣng cầu ý
kiến là các vấn đề có liên quan đến thực trạng cần nghiên cứu.
- Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm của
TTBDCT cấp huyện trên địa bàn toàn tỉnh về hoạt động quản lý thực hiện

chƣơng trình giáo dục LLCT.
- Phƣơng pháp chuyên gia: Trƣng cầu ý kiến chuyên gia về các nội
dung nhƣ đánh giá thực trạng nghiên cứu, đánh giá về tính khả thi và ý nghĩa
của các biện pháp đƣợc đề xuất.
8.3- Nhóm phương pháp dự báo:


Sứ dụng phƣơng pháp này để dự báo về quy mô phát triển của
TTBDCT cấp huyện trong tỉnh thời gian tới, từ đó đề ra các biện pháp quản lý
thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT tại các TTBDCT cho phù hợp.
8.4- Nhóm phương pháp thống kê:
Sứ dụng phƣơng pháp này để xử lý các số liệu thu thập đƣợc do các
phƣơng pháp khác đem lại, phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài.
9- Những đóng góp mới của đề tài
Trên cơ sở lý luận khoa học, quan điểm, đƣờng lối của Đảng về công
tác giáo dục LLCT và thực tiễn quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục
LLCT tại TTBDCT cấp huyện trong tỉnh đề ra một số biện pháp quản lý thực
hiện chƣơng trình giáo dục LLCT mang tính khả thi, phù hợp với điều kiện và
hoàn cảnh cụ thể của địa phƣơng, nhằm góp phần nâng cao hơn nữa chất
lƣợng và hiệu quả công tác giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên và quần
chúng nhân dân ở cơ sở.
10- Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các đề xuất, khuyến nghị, danh mục tài
liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý thực hiện chƣơng trình
giáo dục LLCT tại TTBDCT cấp huyện
Chương II: Thực trạng quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT
tại TTBDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay
Chương III: Một số biện pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lƣợng quản
lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT tại TTBDCT cấp huyện tỉnh Thái

Nguyên trong thời gian tới


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC LLCT TẠI TTBDCT CẤP HUYỆN
1.1- Một số khái niệm cơ bản
1.1.1- Chương trình giáo dục và quản lý chương trình giáo dục:
"Chƣơng trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống kế hoạch tổng thể
các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các
mục tiêu học tập mà ngƣời học cần đạt đƣợc, đồng thời xác định rõ phạm vi,
mức độ, nội dung học tập, các phƣơng pháp, phƣơng tiện, cách thức tổ chức
học tập, các cách thức đánh giá kết quả học tập... nhằm đạt đƣợc mục tiêu học
tập đã đề ra (Nguyễn Hữu Chí, Viện Khoa học giáo dục, 2002)"[20, tr.14].
"Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tƣợng
quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hƣớng dẫn các quá trình xã hội và hành vi
của cá nhân hƣớng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật
khách quan"[60, tr.40].
Quản lý chƣơng trình giáo dục là quản lý xây dựng chƣơng trình giáo
dục, quản lý quá trình thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện chƣơng trình
giáo dục nhằm đạt đƣợc mục tiêu mong muốn của nhà quản lý. Quản lý
chƣơng trình giáo dục bao gồm những công việc cơ bản: Phân cấp quản lý từ
mô hình tổ chức, danh mục các ngành đào tạo, khung chƣơng trình giảng dạy,
chƣơng trình chi tiết môn học cốt lõi, môn học bắt buộc, môn học tự chọn;
điều chỉnh, xây dựng và thông qua chƣơng trình giáo dục; thực hiện chƣơng
trình giáo dục; kiểm tra và thanh tra chƣơng trình giáo dục.


Trong lịch sử nghiên cứu phát triển giáo dục, có ba cách tiếp cận khác

nhau khi xây dựng chƣơng trình giáo dục. Đó là cách tiếp cận nội dung, cách
tiếp cận mục tiêu và cách tiếp cận quá trình (hay còn gọi là cách tiếp cận phát
triển). Tƣơng ứng với 3 cách tiếp cận này là các phƣơng pháp quản lý chƣơng
trình giáo dục.
* Với cách tiếp cận nội dung:
Đây là cách tiếp cận truyền thống trong xây dựng chƣơng trình đào tạo.
Cách tiếp cận này đã và đang đƣợc nhiều giáo viên và các nhà làm công tác
xây dựng chƣơng trình sử dụng. Nội dung khối lƣợng kiến thức chƣơng trình
thƣờng ngắn gọn, chắt lọc, đảm bảo nguyên lý giáo dục và mang tính thời sự;
theo khuôn mẫu định sẵn; nhƣng thƣờng là một chiều, mang tính áp đặt, giáo
viên không có cơ hội để bổ sung tài liệu hoặc thay đổi hình thức dạy học,
ngƣời học thụ động.
Quản lý chƣơng trình giáo dục theo cách tiếp cận này chủ yếu là quản
lý nội dung, khối lƣợng công việc giáo viên hoàn thành trong một quỹ thời
gian đã định trƣớc. Với phƣơng pháp quản lý này, về cơ bản ngƣời quản lý
nhìn vào khối lƣợng công việc hoàn thành để đánh giá chất lƣợng công việc;
khó có thể kích thích đƣợc sự năng động, sáng tạo của ngƣời học khi thực
hiện chƣơng trình nên hiệu quả không cao. Cách tiếp cận này hiện nay đã trở
nên lạc hậu, nhiều quốc gia cũng nhƣ các trƣờng học khác nhau trên thế giới
không còn sử dụng để xây dựng chƣơng trình giáo dục hoặc đã có những cải
tiến đáng kể.
* Với cách tiếp cận mục tiêu:
Theo cách tiếp cận này thì xuất phát điểm của việc xây dựng chƣơng
trình giáo dục phải là mục tiêu giáo dục. Mục tiêu giáo dục tạo đƣợc thể hiện
dƣới dạng mục tiêu đầu ra, thể hiện qua những hành vi của ngƣời học (theo
một khuôn mẫu nhất định).


Quản lý chƣơng trình giáo dục ở đây là quản lý sản phẩm đào tạo, quản
lý kết quả cuối cùng của một chƣơng trình đào tạo; ngƣời ta quan tâm đến

việc ngƣời học sau khi học xong có khả năng "làm" đƣợc những việc gì hay
thực hiện đƣợc những gì về mặt nhận thức, kỹ năng cũng nhƣ tình cảm và thái
độ; không quản lý quá trình đạt đến mục đích, mục tiêu.
Khi yếu tố mục tiêu đƣợc xác định rõ ràng, cụ thể ở các cấp độ khác
nhau (dài hạn và ngắn hạn), ngƣời dạy có thể căn cứ vào đó để lựa chọn nội
dung, phƣơng pháp, cách đánh giá và đặc biệt là tài liệu để giảng dạy. Ngƣời
học có thể không cần lên lớp nghe giảng, chỉ cần phát tài liệu, hƣớng dẫn đọc
tài liệu, sau đó làm bài thu hoạch đạt yêu cầu là đƣợc.
Cách tiếp cận này vẫn xem ngƣời học là bị động, không thể giúp phát
triển các năng lực tiềm ẩn ở mỗi cá nhân ngƣời học, tất cả ngƣời học đều phải
chịu sự rèn giũa theo một khuôn mẫu cứng nhắc đã đƣợc xác định trƣớc; khó
có thể áp dụng cho các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cũng nhƣ trong
các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Cách thức tổ chức quản lý chƣơng trình giáo
dục dễ dẫn đến bệnh hình thức và máy móc.
Đối với quản lý chƣơng trình giáo dục LLCT, phƣơng pháp quản lý này
không phù hợp. Tuy nhiên chúng ta cần nghiên cứu để sử dụng hợp lý,
khuyến khích các mặt tích cực của phƣơng pháp quản lý này.
* Với cách tiếp cận quá trình (tiếp cận phát triển):
Đây là cách tiếp cận đang đƣợc sử dụng ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Cách tiếp cận này xem chƣơng trình đào tạo là quá trình, còn giáo dục là sự
phát triển. Giáo dục là sự phát triển với nghĩa là phát triển con ngƣời, phát
triển một cách tối đa mọi tiềm năng tiềm ẩn trong mỗi con ngƣời, làm cho con
ngƣời có khả năng làm chủ tình huống, đƣơng đầu đƣợc với những thách thức
mà mình sẽ gặp phải trong đời một cách chủ động và sáng tạo. Giáo dục là
quá trình diễn ra liên tục, suốt đời, do vậy mục đích cuối cùng không phải là


thuộc tính của nó. Cách tiếp cận này mang tính toàn diện, chú trọng nhiều đến
khía cạnh nhân văn.
Bản chất của quản lý chƣơng trình giáo dục theo cách tiếp cận quá trình

là quản lý sự phát triển con ngƣời, sự hình thành và phát triển nhân cách; chủ
thể quản lý nắm bắt đƣợc những diễn biến, quá trình phát triển của đối tƣợng
quản lý.
Khi chƣơng trình giáo dục đƣợc xây dựng theo kiểu quá trình, ngƣời
học đƣợc coi là trung tâm, ngƣời thầy trở thành ngƣời cố vấn cung cấp thông
tin, hƣớng dẫn ngƣời học tìm kiếm và thu thập thông tin, gợi mở giải quyết
vấn đề. Những nội dung và phƣơng thức giáo dục đào tạo thƣờng xuyên đạt
đƣợc nhu cầu và trình độ của ngƣời học. Ngƣời thầy đánh giá ngƣời học qua
một quá trình làm việc chứ không phải kết quả cuối cùng. Quản lý theo cách
tiếp cận này huy động đƣợc mọi nguồn lực tham gia vào quá trình quản lý,
trong đó ngƣời học phải là ngƣời chủ động, tích cực tham gia vào quá trình
dạy và học.
1.1.2- Lý luận và lý luận chính trị:
Lý luận là hệ thống những tri thức đã đƣợc khái quát, tạo ra một quan
niệm hoàn chỉnh về các quy luật và về mối liên hệ cơ bản của hiện thực. Lý
luận là sự phản ánh và tái hiện hiện thực khách quan. Mọi Lý luận đều quy
định bởi hoàn cảnh lịch sử, đƣợc hình thành từ điều kiện cụ thể của lịch sử
sản xuất, kỹ thuật và thực nghiệm. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng
kết những kinh nghiệm của loài ngƣời, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên
và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”[42, tr.487].
Theo nghĩa rộng, Lý luận là một dạng hoạt động của con ngƣời nhằm
thu nhận tri thức về hiện thực tự nhiên, xã hội và cùng với thực tiễn tạo thành
hoạt động tổng thể của xã hội. Thuật ngữ Lý luận đồng nghĩa với các hình
thức có tổ chức cao và phát triển nhất của ý thức xã hội. Với tƣ cách là sản
phẩm cao nhất của tƣ duy có tổ chức, Lý luận biểu hiện quan hệ gián tiếp của


con ngƣời đối với hiện thực và là điều kiện cho sự cải biến thực sự có ý thức
hiện thực.
Theo nghĩa hẹp, Lý luận là một dạng tri thức khoa học đáng tin cậy về

một tổng thể các khách thể nào đó. Nó là hệ thống các luận điểm gắn bó chặt
chẽ với nhau về mặt lô gíc và phản ánh bản chất, các quy luật hoạt động, phát
triển của khách thể để nghiên cứu.
Lý luận cách mạng tạo nên nền tảng tƣ tƣởng của đảng. Đảng ra đời
trên nền tảng tƣ tƣởng đó, tức là có lý luận một cách cơ bản nhất; những
ngƣời giác ngộ, tiên tiến cùng nhau xây dựng tổ chức đảng theo lý luận đó.
Khi đảng ra đời, cƣơng lĩnh hành động, đƣờng lối chiến lƣợc, sách lƣợc do
đảng đề ra cũng dựa trên nền tảng tƣ tƣởng đó.
Chính trị là một lĩnh vực đặc biệt rất phức tạp, nó liên quan đến lợi ích
trực tiếp của các giai cấp và các lực lƣợng xã hội nên có nhiều cách tiếp cận
và nhìn nhận khác nhau.
Trong Từ điển Triết học giản yếu của Việt Nam, nhà xuất bản Đại học
và Trung học chuyên nghiệp, xuất bản năm 1987, cho rằng: Chính trị là lĩnh
vực hoạt động gắn liền với mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và các
tập đoàn xã hội khác nhau, mà hạt nhân là vấn đề giành, giữ và sử dụng chính
quyền nhà nƣớc.
Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Việt Nam, Nhà xuất bản
khoa học xã hội xuất bản năm 1994, cho rằng: Chính trị là những vấn đề
thuộc về tổ chức điều khiển bộ máy nhà nƣớc trong nội bộ một nƣớc và quan
hệ quốc tế về mặt nhà nƣớc giữa các nƣớc với nhau...
Những quan điểm nêu trên đã nêu lên bản chất của Chính trị là tính giai
cấp, mối quan hệ và mục tiêu của các giai cấp, các lực lƣợng chính trị trong
việc giành quyền điều khiển nhà nƣớc. Để đánh giá sự tiến bộ của xã hội
thông qua việc thực hiện dân chủ mà dân chủ cao nhất, đầy đủ nhất, triệt để
nhất là quyền làm chủ của nhân dân đối với nhà nƣớc, V.I. Lênin cho rằng:


Chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nƣớc; “... chính
trị phải là việc của nhân dân, việc của giai cấp vô sản”[59, tr.482]. Khi xem
xét nguồn gốc, bản chất chính trị về mặt lợi ích, V.I. Lênin lại cho rằng:

Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế.
Khi tiếp cận Chính trị với tƣ cách hình thức hoạt động nhằm duy trì
quyền lực chính trị có thể thấy: Chính trị là những hoạt động tổ chức, điều
hành, quan hệ của bộ máy đảng, nhà nƣớc. Vì vậy, Chính trị có thể hiểu là
những hoạt động của một số cá nhân, một giai cấp, một chính đảng, một tập
đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành bộ máy nhà nƣớc,
giành quyền lực chính trị.
Nhƣ vậy, có thể thấy Chính trị là vấn đề đa dạng, phức tạp, nhiều
mối quan hệ, nhiều lĩnh vực nghiên cứu xem xét và sử dụng theo mục đích,
yêu cầu riêng của từng môn khoa học. Song, điều quan trọng của tất cả các vấn
đề liên quan đến Chính trị, thực hiện đƣợc mục đích của chính trị, tức là
giành đƣợc quyền lực chính trị của giai cấp này hoặc giai cấp khác đối với toàn
xã hội.
Từ đó, có thể hiểu Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng
đồng xã hội trong vấn đề chính quyền nhà nƣớc; là sự tham gia của nhân dân
vào các công việc của nhà nƣớc; là tổng hợp những phƣơng thức, phƣơng
pháp, những hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái để giành, giữ
và điều khiển hoạt động của nhà nƣớc nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp mình.
Qua thực tiễn của cách mạng Việt Nam, trong phạm vi đề tài này,
chúng ta tiếp cận đến Chính trị với tƣ cách là những hoạt động của Đảng
Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội
tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam nhằm giác ngộ,
nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân. Trong đó, cán bộ, đảng viên cơ
sở là lực lƣợng nòng cốt để lãnh đạo, tổ chức quần chúng nhân dân thực hiện
mục đích của Đảng là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa.


Đảng Cộng sản đặc biệt quan tâm tới vấn đề LLCT. Chỉ dựa trên nền
tảng lý luận Mác - Lênin, Đảng mới có thể nhận thức sâu sắc đƣợc những quy

luật khách quan của sự phát triển xã hội và vận dụng chúng vào sự nghiệp
cách mạng cao cả. LLCT của chủ nghĩa cộng sản khoa học không chỉ giải
thích thế giới một cách khoa học, bóc trần sự bất công tồn tại trong các xã hội
có giai cấp đối kháng mà còn chỉ rõ căn nguyên của những áp bức, bất công
đó, đồng thời vạch ra con đƣờng, phƣơng thức đấu tranh nhằm xoá bỏ chế độ
bất bình đẳng, xây dựng xã hội mới văn minh, tiến bộ.
LLCT của chủ nghĩa cộng sản khoa học hƣớng dẫn các đảng Cộng sản
xác định đƣợc nhiệm vụ chủ yếu. Lênin đã viết; “Lý luận đó đã chỉ rõ nhiệm
vụ thật sự của một đảng xã hội chủ nghĩa cách mạng không phải là đặt ra
những kế hoạch cải tạo xã hội, không phải là khuyên nhủ bọn tƣ bản và tôi tớ
của chúng cải thiện đời sống cho công nhân, không phải là sắp đặt những
cuộc âm mƣu, mà là tổ chức cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và
lãnh đạo cuộc đấu tranh đó mà mục đích cuối cùng là giai cấp vô sản giành
lấy chính quyền và tổ chức xã hội xã hội chủ nghĩa”[57, tr.231]. Vì vậy,
LLCT luôn là nền tảng tƣ tƣởng, kim chỉ nam cho hành động của một đảng.
1.1.3- Quản lý thực hiện chương trình giáo dục LLCT tại các
TTBDCT chính trị cấp huyện:
Giáo dục LLCT là một bộ phận cơ bản trong công tác tƣ tƣởng của
Đảng; là quá trình phổ biến, truyền bá có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin, Tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh, Cƣơng lĩnh, đƣờng lối, quan điểm của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nƣớc cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giáo dục LLCT
đƣợc thực hiện theo các chƣơng trình quy định, nhằm xây dựng thế giới quan,
phƣơng pháp luận khoa học, nhân sinh quan cộng sản, tạo nên bản lĩnh chính
trị, niềm tin có cơ sở khoa học, vững chắc vào mục tiêu, lý tƣởng xã hội chủ
nghĩa; nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, giáo dục đạo đức, lối sống, tinh


thần tự giác và tính cực trong các hoạt động xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân
đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ phát triển đất nƣớc.
Để đạt đƣợc mục đích và yêu cầu đó, đòi hỏi việc quản lý thực hiện

chƣơng trình giáo dục LLCT cần có một thiết chế tổ chức với những hình
thức và phƣơng pháp tiên tiến, phù hợp với những đặc trƣng riêng của nó.
Nghĩa là khi tiến hành thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT đòi hỏi phải
tuân theo những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học và phƣơng pháp dạy
học tiên tiến nhƣ: Hệ thống chƣơng trình, hệ thống tổ chức chỉ đạo và thực
hiện, giáo trình, sách giáo khoa, đội ngũ cán bộ giảng dạy (giảng viên), cơ sở
vật chất (trƣờng, lớp, phấn, bảng,... và các phƣơng tiện kỹ thuật khác để phục
vụ cho quá trình dạy và học).
Trong hệ thống đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng
sản Việt Nam, chƣơng trình giáo dục LLCT có nhiều cấp độ khác nhau nhƣ:
Cử nhân, cao cấp, trung cấp, sơ cấp, bồi dƣỡng ngắn hạn,... Ngoài ra còn có
các chƣơng trình giáo dục lý luận chuyên đề; chƣơng trình học tập, quán triệt
các nghị quyết Đại hội Đảng, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ƣơng và
Bộ Chính trị, Ban Bí thƣ; kế hoạch tự học theo hƣớng dẫn của cơ quan
phụ trách;…
Quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT bao gồm các khâu: Từ
phân cấp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện; xây dựng lịch trình thực hiện;
lựa chọn phƣơng pháp thực hiện đến tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập của học viên. Trong phạm vi Luận văn này, tác giả xin phép đƣợc
tập trung nghiên cứu về quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT tại các
TTBDCT cấp huyện tỉnh Thái Nguyên.
* Sự ra đời của TTBDCT cấp huyện:
Vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa
xã hội ở Liên Xô và các nƣớc Đông Âu đi từ khủng hoảng đến sụp đổ, phong
trào cách mạng thế giới lâm vào thoái trào đã ảnh hƣởng rất lớn đến Việt


Nam. Từ đó gây nên những khó khăn không nhỏ trong công tác giáo dục
LLCT, trƣớc hết là những vấn đề cơ bản nhƣ: Khẳng định giá trị bền vững
của Học thuyết Mác - Lênin, định hƣớng xây dựng chủ nghĩa xã hội, vai trò

lãnh đạo của Đảng,... Trong khi đó, tình hình kinh tế - xã hội nƣớc ta chƣa ra
khỏi khủng hoảng. Cán bộ, đảng viên có biểu hiện ngại học LLCT, hệ thống
trƣờng Đảng huyện không duy trì đƣợc. Trƣớc tình hình đó, Đảng ta đã thực
hiện đƣờng lối đổi mới phát triển đất nƣớc. Sau gần 10 năm thực hiện, chúng
ta đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể. Lòng tin của cán bộ, đảng viên và
nhân dân vào chủ nghĩa Mác - Lênin, vào con đƣờng mà Đảng và Bác Hồ đã
lựa chọn, vào sự lãnh đạo của Đảng đƣợc nâng lên.
Trong thời gian này, nhu cầu về giáo dục LLCT trong Đảng và trong xã
hội đƣợc nâng dần lên. Các cấp ủy coi trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho
việc học tập LLCT. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi để khôi phục công tác
giáo dục LLCT trên địa bàn huyện. Mặt khác, thực tiễn đòi hỏi cần phải có
một tổ chức phù hợp, có chức năng đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ đáp ứng yêu
cầu của thời kỳ cách mạng mới ở địa phƣơng, cơ sở, đặc biệt là cố gắng đáp
ứng nhu cầu học tập, phổ biến quan điểm, chủ trƣơng, chính sách của Đảng,
Nhà nƣớc cho các đối tƣợng cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.
Trƣớc tình hình đó, ngày 03 tháng 6 năm 1995 Ban Bí thƣ Trung ƣơng
Đảng (khóa VII) đã ban hành Quyết định 100-QĐ/TW về việc thành lập
TTBDCT cấp huyện trong cả nƣớc.
Quyết định nêu rõ nhiệm vụ của TTBDCT cấp huyện là:
- Tổ chức bồi dƣỡng về LLCT; nội dung các nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc cho cán bộ trên địa bàn cấp huyện
không thuộc đối tƣợng đào tạo, bồi dƣỡng của Trƣờng Chính trị tỉnh, trƣớc
hết là bí thƣ chi bộ, trƣởng thôn, trƣởng bản, các đối tƣợng phát triển đảng
viên, đảng viên mới,...


- Tổ chức thông tin khoa học, thời sự, chính sách cho đội ngũ báo cáo
viên ở cơ sở để qua đó thông tin cho cán bộ, đảng viên trên địa bàn huyện.
- Thực hiện một số nhiệm vụ bồi dƣỡng khác xuất phát từ nhu cầu thực
tế của địa phƣơng, do cấp ủy quy định.

Nhƣ vậy, sau nhiều năm lúng túng, khó khăn, chúng ta đã lập lại đƣợc
một tổ chức bồi dƣỡng LLCT trên địa bàn cấp huyện thống nhất trong cả nƣớc
vốn đã bỏ trống nhiều năm. Đây là công cụ sắc bén, quan trọng của cấp ủy để
bồi dƣỡng LLCT thƣờng xuyên cho nhiều đối tƣợng đảng viên, quần chúng ở
cơ sở, đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị từ cơ sở; nâng cao giác ngộ
LLCT cho đảng viên và quần chúng; thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính
trị ở cơ sở, góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới của đất nƣớc.
Việc ra đời TTBDCT cấp huyện ở thời điểm đó là kết quả sau nhiều
năm tìm tòi, bổ xung và kế thừa các loại hình đã có từ trƣớc, đồng thời có tính
đến đặc điểm của đất nƣớc trong giai đoạn mới. Quyết định 100-QĐ/TW ra
đời đã đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tế ở cơ sở, đƣợc các địa phƣơng rất hoan
nghênh và tích cực thực hiện. Thực tiễn cũng cho thấy Quyết định này của
Ban Bí thƣ vừa đúng, vừa trúng và đã đi nhanh vào cuộc sống, đóng góp to
lớn vào sự phát triển của từng địa phƣơng, cơ sở cũng nhƣ sự phát triển chung
của đất nƣớc trong suốt thời gian qua.
* Nội dung chương trình giáo dục LLCT tại các trung tâm:
Chƣơng trình giáo dục LLCT tại các TTBDCT do Ban Tuyên giáo
Trung ƣơng (trƣớc đây là Ban Tƣ tƣởng - Văn hóa Trung ƣơng) biên soạn,
phát hành và hƣớng dẫn thực hiện. Các trung tâm triển khai thực hiện dƣới sự
lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Ban Tuyên giáo huyện ủy, cấp ủy cấp huyện.
Có thể hiểu tóm tắt hệ thống quản lý thực hiện nội dung chƣơng trình
giáo dục LLCT tại TTBDCT cấp huyện theo sơ đồ sau:


Hiện nay, TTBDCT cấp huyện đang thực hiện các chƣơng trình giáo
dục LLCT cụ thể do Ban Tuyên giáo Trung ƣơng ban hành nhƣ:
- Chƣơng trình học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; thời sự, chính
sách;
- Chƣơng trình học tập chính trị cho học viên lớp bồi dƣỡng kết nạp
Đảng;

- Chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT dành cho đảng viên mới;
- Chƣơng trình bồi dƣỡng nghiệp vụ công tác Đảng cho bí thƣ chi bộ và
cấp uỷ viên cơ sở;
- Chƣơng trình sơ cấp LLCT;
- Chƣơng trình bồi dƣỡng nghiệp vụ công tác tuyên giáo ở cơ sở;
- Các chƣơng trình chuyên đề: Giáo dục đạo đức cách mạng; Chủ nghĩa
yêu nƣớc truyền thống Việt Nam; Dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng ta;
Tôn giáo và công tác tôn giáo ở cơ sở; Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế.
- Các chƣơng trình ban hành có sự phối hợp giữa Ban Tuyên giáo
Trung ƣơng và các đoàn thể nhƣ: Chƣơng trình bồi dƣỡng 6 bài LLCT cho
thanh niên; chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT cho cán bộ hội cựu chiến binh cơ
sở; chƣơng trình bồi dƣỡng tổ trƣởng dân phố, trƣởng thôn, trƣởng bản;
chƣơng trình bồi dƣỡng LLCT cho công nhân và ngƣời lao động;...


Ngoài ra, các trung tâm còn thực hiện những nhiệm vụ khác do cấp ủy
huyện chỉ đạo.
Với nhiệm vụ, chức năng của TTBDCT cấp huyện nêu trên, chúng ta
nhận thấy:
Nội dung cơ bản của giáo dục LLCT ở cơ sở là những vấn đề cơ bản,
thiết thực về nền tảng tƣ tƣởng, Cƣơng lĩnh, đƣờng lối, quan điểm của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc,... theo tài liệu và hƣớng dẫn của Ban
Tuyên giáo Trung ƣơng.
Tổ chức lực lƣợng làm công tác giáo dục LLCT ở cơ sở bao gồm
những lực lƣợng chủ yếu sau: Ban Tuyên giáo và TTBDCT cấp huyện; Ban
Tuyên giáo cấp xã; lãnh đạo các đoàn thể nhân dân; giáo viên của hệ thống
trƣờng học ở cơ sở;...
Nhƣ vậy, trên cơ sở những khái niệm về chƣơng trình và quản lý
chƣơng trình, lý luận và LLCT đã nêu ở phần trên, chúng ta có thể hiểu quản

lý thực hiện chƣơng trình giáo dục LLCT tại các TTBDCT cấp huyện là sự
tác động của chủ thể quản lý (những tập thể và cá nhân đƣợc giao nhiệm vụ)
lên mọi thành viên ở cơ sở, trƣớc hết là cán bộ, đảng viên và đội ngũ cán bộ
trong hệ thống chính trị của cơ sở ngoài diện đào tạo, bồi dƣỡng do hệ thống
trƣờng Chính trị tỉnh, thành phố phụ trách, các thành viên của các đoàn thể
nhân dân ở cơ sở nhằm nâng cao nhận thức và bản lĩnh chính trị, tạo ra sự
nhất trí cao đối với chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng từ cơ sở, đáp ứng yêu cầu
của giai đoạn cách mạng mới.
1.2- Ý nghiã của việc quản lý thực hiện chƣơng trình giáo dục
LLCT tại các TTBDCT cấp huyện
Giáo dục LLCT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng
Đảng, trong sự nghiệp cách mạng của đất nƣớc.
Các Mác đã chỉ rõ: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay
thế đƣợc sự phê phán của vũ khí, lực lƣợng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ


bằng lực lƣợng vật chất; nhƣng lý luận cũng sẽ trở thành lực lƣợng vật chất,
một khi nó thâm nhập vào quần chúng”[19, tr.580].
Phát triển quan điểm của Mác và Ănghen về vai trò của lý luận cách
mạng, V. I. Lênin khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không
thể có phong trào cách mạng”... “Chỉ đảng nào đƣợc một lý luận tiên phong
hƣớng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sỹ tiên phong”[58,
tr.30,32]. Đồng thời Lênin cũng đã nêu ra một cách cụ thể, sinh động những
biện pháp tổ chức để tiến hành công tác tƣ tƣởng, lý luận phải phù hợp với tình
hình kinh tế - xã hội của đất nƣớc, thậm chí của từng ngành, địa phƣơng, từng
dân tộc, phù hợp với từng đối tƣợng khác nhau về lứa tuổi, giới tính, nghề
nghiệp,... Ngoài ra, muốn xây dựng một chính đảng cách mạng của giai cấp
công nhân cũng đòi hỏi phải thƣờng xuyên củng cố, bổ xung, phát triển lý luận
cách mạng của đảng cầm quyền trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, làm
cho các quan điểm, tƣ tƣởng đó thấm sâu vào nhận thức của cán bộ, đảng viên

và nhân dân. Có nhƣ vậy, cán bộ đảng viên mới đủ trình độ nhận thức LLCT
để thực hiện các đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc, đồng
thời lãnh đạo quần chúng thực hiện những nhiệm vụ đó.
V.I. Lênin cũng đã làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng, hữu cơ giữa
công tác lý luận và hoạt động thực tiễn. Nếu không tiến hành công tác lý luận
sẽ không có lý luận khoa học, cách mạng để chỉ đƣờng, vạch lối cho hoạt
động thực tiễn. Nếu không tiến hành hoạt động thực tiễn sẽ không có chất liệu
bồi đắp cho lý luận; lý luận sẽ mất sức sống, sẽ không còn lý do tồn tại và
phát triển. Mặt khác, nếu không tiến hành công tác giáo dục lý luận thì sẽ
không đƣa đƣợc lý luận vào quần chúng, biến thành tri thức, tình cảm, lý trí,
nghị lực của họ và sẽ không biến lý luận thành sức mạnh vật chất trong hoạt
động thực tiễn để cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, phục vụ cho con ngƣời ngày
càng tốt hơn. Công tác lý luận, hoạt động thực tiễn là một hệ thống đồng bộ,
chúng tạo cơ sở, điều kiện hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển.


×