Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

Quan điểm thực tiễn của triết học mác lênin và sự vận dụng của đảng cộng sản việt nam vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (148.15 KB, 21 trang )

Mở ĐầU
1. Lý do chọn đề tài
Thực tiễn là điểm xuất phát, là phạm trù trung tâm của hệ thống
triết học Mác. Kể từ khi C.Mác đánh giá đúng vai trò của thực tiễn và
khẳng định nó trong triết học, ông đã vạch ra một ranh giới không thể
vợt qua giữa triết học của mình với toàn bộ hệ thống triết học còn lại,
kể cả chủ nghĩa duy vật lẫn chủ nghĩa duy tâm.
Trong triết học Mác, thực tiễn đợc xem xét từ hai góc độ là góc
độ thế giới quan và nhận thức luận. Từ góc độ thế giới quan, phạm trù
thực tiễn tạo nên thế giới quan duy vật biện chứng, và từ góc độ nhận
thức luận, phạm trù thực tiễn tạo nên nhận thức luận biện chứng duy
vật. Có thể khẳng định, quan điểm thực tiễn hay nguyên tắc thực tiễn
cao hơn lý luận là nguyên tắc phơng pháp luận quan trọng nhất của
triết học Mác - Lênin.
Mặc dù vậy, trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam thời kỳ
trớc đổi mới, không phải khi nào quan điểm thực tiễn cũng đợc tuân
thủ nghiêm túc. Tình trạng xa rời quan điểm thực tiễn đợc thể hiện ở
việc không coi trọng vai trò của hiệu quả kinh tế - xã hội với tính
cách là tiêu chuẩn để kiểm tra tính đúng sai của các chủ trơng, chính
sách kinh tế - xã hội. Nó còn đợc thể hiện ở việc áp dụng máy móc,
giáo điều lý luận về CNXH, về con đờng xây dựng CNXH mà không
xem xét đầy đủ đến hoàn cảnh thực tế của đất nớc. Có thể nói, việc
xa rời những yêu cầu của quan điểm thực tiễn là một nguyên nhân
quan trọng dẫn đến tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội giai đoạn
trớc năm 1986. Chính vì vậy, tại Đại hội lần thứ VI (12/1986), Đảng
đã chỉ ra sự cần thiết phải trở lại thực hiện nghiêm túc yêu cầu của
quan điểm thực tiễn khi đa ra bài học kinh nghiệm quan trọng Đảng
phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật
khách quan và khẳng định Tiêu chuẩn đánh giá sự vận dụng đúng
đắn các quy luật thông qua các chủ trơng, chính sách của Đảng và
Nhà nớc là sản xuất phát triển, lu thông thông suốt, đời sống vật chất


và văn hoá của nhân dân từng bớc đợc ổn định và nâng cao.
Hơn bao giờ hết, thực tiễn trong giai đoạn hiện nay đang đặt ra
rất nhiều vấn đề mới cần đợc lý luận luận giải một cách thoả đáng, có
cơ sở khoa học. Điều đó đòi hỏi chúng ta cần hiểu luận điểm quan
trọng của triết học Mác - Lênin Thực tiễn cao hơn lý luận một
cách sâu sắc từ nguồn gốc, từ bản chất của mối quan hệ giữa thực
1


tiễn và lý luận, cơ sở để các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin đa
ra luận điểm trên. Từ những lý do nói trên, chúng tôi chọn đề tài
Quan điểm thực tiễn của triết học Mác - Lênin và sự vận dụng của
Đảng Cộng sản Việt Nam vào sự nghiệp đổi mới ở nớc ta làm đề tài
cho Luận văn Thạc sỹ khoa học Triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những nội dung cơ bản của triết học Mác - Lênin, phạm
trù thực tiễn và mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận đóng vai trò
quan trọng hàng đầu. Vì vậy, trong những năm gần đây vấn đề này đã
thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu triết học
của Việt Nam. Đặc biệt gần đây có các công trình: CNXH từ lý luận
đến thực tiễn: những bài học kinh nghiệm chủ yếu do Lê Hữu Tầng
chủ biên; Một số vấn đề triết học Mác - Lênin: lý luận và thực tiễn
của Lê Doãn Tá; Vấn đề tiêu chuẩn thực tiễn của chân lý của
Nguyễn Ngọc Hà; Vấn đề tiêu chuẩn chân lý trong lịch sử triết học
của Nguyễn Tấn Hùng; Một số nguyên tắc phơng pháp luận trong
vận dụng quan hệ lý luận và thực tiễn của Lơng Việt Hải.
Trong các công trình kể trên, do mục đích, phạm vi và đối tợng
nghiên cứu quy định, phạm trù thực tiễn thờng chỉ đợc xem dới góc
độ nhận thức luận mà cha đợc nghiên cứu đầy đủ dới góc độ thế giới
quan. Nói cách khác, là vai trò của thực tiễn đối với thế giới quan

triết học của C.Mác và Ph.Ăngghen - cơ sở để các ông tạo ra một
cuộc cách mạng trong lịch sử triết học cha đợc chú ý xem xét đúng
tầm. Mặt khác, hầu nh cha có công trình nghiên cứu nào đề cập tới
cấu trúc vừa có tính phổ biến vừa có tính hiện thực trực tiếp của phạm
trù thực tiễn - cơ sở để V.I.Lênin đa ra luận điểm thực tiễn cao hơn
lý luận - đây là những vấn đề mà chúng tôi sẽ tập trung làm rõ trong
đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
* Mục đích nghiên cứu
+ Làm sáng tỏ quan niệm của C.Mác và V.I.Lênin về thực tiễn, lý
luận và mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và lý luận - cơ sở để
các nhà kinh điểm rút ra quan điểm thực tiễn.
+ Làm rõ quá trình đổi mới đất nớc dới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam mà thực chất bắt đầu bằng việc trở lại thực hiện
nghiêm túc những yêu cầu của quan điểm thực tiễn.
- Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
2


+ Khảo sát những quan điểm của C.Mác về thực tiễn, lý luận.
+ Làm rõ mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, cơ sở để
V.I.Lênin đa ra luận điểm Thực tiễn cao hơn lý luận bằng cách
phân tích tính hiện thực trực tiếp, tính phổ biến của thực tiễn và so
sánh thực tiễn với lý luận.
+ Khảo sát quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam từ năm 1954,
đặc biệt từ năm 1975 cho đến nay dới góc độ của mối quan hệ giữa
thực tiễn và lý luận
4. Phạm vi nghiên cứu của Luận văn
- Quan điểm của C.Mác và Ph. Ăngghen về phạm trù thực tiễn và
mối quan hệ giữa thực tiễn với lý luận trong một số tác phẩm kinh

điển.
- Phân tích luận điểm Thực tiễn cao hơn lý luận của V.I.Lênin.
- Quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam từ 1954 cho năm 2006

3


5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phơng pháp luận của phép
biện chứng duy vật, đặc biệt là nguyên tắc thống nhất giữa thực tiễn
và lý luận. Trong đó thực tiễn vừa là điểm khởi đầu vừa là điểm kết
thúc của một chu trình nhận thức.
Luận văn sử dụng phơng pháp trừu tợng hoá, phơng pháp so
sánh, phân tích và tổng hợp, phơng pháp đi từ trừu tợng đến cụ thể
cho phép hiện thực hóa đề tài nghiên cứu.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
- Đóng góp về lý luận: Luận văn tiếp tục làm rõ nội hàm của
phạm trù thực tiễn - một trong những phạm trù quan trọng nhất của
triết học Mác - Lênin, góp phần làm sáng tỏ cơ sở khi khẳng định và
vận dụng nguyên tắc Thực tiễn cao hơn lý luận .
- Đóng góp về thực tiễn: Luận văn có thể là tài liệu tham khảo
cho những ngời hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, ngời giảng dạy
và học tập môn triết học.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liêụ tham khảo,
Luận văn gồm 3 chơng và 6 tiết

4



Chơng 1
Quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen về thực tiễn
và mối quan hệ giữa thực tiễn với lý luận
1.1. Quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen về thực tiễn
1.1.1 Thực tiễn - Phơng thức tồn tại đặc trng của loài ngời
Tất cả các trờng phái triết học trong lịch sử đều hớng vào mục
đích là đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi chung nhất nh: Thế giới
là gì? Con ngời là gì và mối quan hệ giữa con ngời và thế giới nh thế
nào? Do đó, bản chất con ngời là một trong những vấn đề trung tâm
và xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử triết học.
Có thể nói triết học Mác là hệ thống triết học đầu tiên đánh giá
đúng bản chất của con ngời. Với việc xác định bản chất của con ngời
một cách đúng đắn, C.Mác mới xây dựng đợc một hệ thống thế giới
quan thực sự khoa học, trong đó ông đã thấy đợc vị trí của con ngời
cũng nh thực chất mối quan hệ giữa con ngời và thế giới. C.Mác
nhiều lần khẳng định, thực tiễn là phơng thức tồn tại đặc trng của con
ngời, là bản chất của con ngời. Ông đã viết Có thể phân biệt con ngời với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái
gì cũng đợc. Bản thân con ngời tự phân biệt với súc vật ngay khi con
ngời bắt đầu sản xuất ra những t liệu sinh hoạt của mìnhsản xuất ra
t liệu sinh hoạt của mình nh thế con ngời đã gián tiếp sản xuất ra
chính đời sống vật chất của mình và sự sản xuất đó là đời sống có
tính loài của tích cực của con ngời ( C.Mác, Ph.Ăngghen Toàn tập,
t42, tr137)
Trong Luận cơng về Phoi-ơ-bắc, C.Mác đã phê phán chủ nghĩa
duy vật nói chung cũng nh chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc đã
không hiểu đúng bản chất của hoạt động thực tiễn, hoạt động có tính
bản chất của con ngời. Do đó, Phoi-ơ-bắc cũng nh những nhà triết
học duy vật cũ không nhận ra đợc bản chất hiện thực của con ngời và
về cơ bản vẫn cha vợt qua khuôn khổ của chủ nghĩa duy vật thế kỷ
18.

Trong nhiều tác phẩm khác, thông qua việc phân tích phơng thức
tồn tại đặc trng của loài ngời, C.Mác, Ph.Ănghen cho rằng, với bản
chất thực tiễn của mình, con ngời không chỉ làm chủ giới tự nhiên mà
hơn nữa còn đóng vai trò là chủ thể của quá trình lịch sử, con ngời
5


bắt đầu tự mình sáng tạo ra lịch sử của chính mình một cách hoàn
toàn tự giác (Toàn tập. T19, tr330)
1.1.2. Thực tiễn - Điểm xuất phát trong triết học Mác - Ănghen
Trong tiết trớc chúng tôi cũng đã đề cập đến vai trò của thực tiễn,
nhng dới góc độ là bản chất của con ngời. Trong tiết này, chúng tôi
tập trung làm rõ chính thực tiễn là điểm xuất phát trong hệ thống triết
học của C.Mác, Ph.Ănghen và cũng chính từ điểm xuất phát này
C.Mác, Ph.Ăngghen đã tạo ra một ranh giới không thể vợt qua giữa
triết học của các ông với tất cả các nhà triết học trớc đó. Trên cơ sở
phạm trù thực tiễn, C.Mác, Ph.Ăngghen đã xây dựng chủ nghĩa duy
vật lịch sử, phát kiến vĩ đại đầu tiên của chủ nghĩa Mác.
Phơng thức tồn tại hay bản chất của con ngời là hoạt động thực
tiễn, tức là hoạt động vật chất, phù hợp và nơng theo những quy luật
của thế giới khách quan mà con ngời đã tích luỹ đợc đến một thời
điểm nhất định. Tuy nhiên, không phải ngay từ đầu, con ngời đã nhận
thức đợc bản chất đó của mình. Do đó, cũng không hiểu thực chất
mối quan hệ của mình với thế giới và vì vậy cũng hiểu thế giới là gì
một cách đúng đắn.
C.Mác là ngời đầu tiên phát hiện ra bản chất thực tiễn của con
ngời và của đời sống xã hội. Phát hiện ấy của các ông cũng chính là
do sự phát triển của đời sống thực tiễn tạo ra. Trên cơ sở đó C.Mác đã
tìm ra một chân lý giản dị xa nay vẫn tồn tại trong đời sống xã hội
nhng vẫn bị các hiện tợng tự nó sinh ra che khuất. Chân lý đó là, sản

xuất vật chất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Trớc C. Mác, toàn bộ quan niệm về lịch sử thế giới xét đến cùng
đều dựa trên quan điểm cho rằng phải tìm nguyên nhân của mọi sự
biến đổi lịch sử ở t tởng luôn thay đổi của con ngời, và cho rằng trong
tất cả những biến động của lịch sử, những chuyển biến chính trị là
quan trọng nhất (hoặc là chuyển biến tôn giáo - nh quan niệm của
L.Phoiơbắc), chi phối toàn bộ lịch sử. Toàn bộ những kiến giải triết
học đó cha đi sâu tìm hiểu xem t tởng của con ngời từ đâu mà ra và
những nguyên nhân nào thúc đẩy những chuyển biến chính trị, tôn
giáo đó.
Trong khi khẳng định đờng lối triết học của riêng mình, C.Mác
đặc biệt nhấn mạnh đến điểm xuất phát. Ông viết Chúng ta không
xuất phát từ những điều mà con ngời nói, tởng tợng, hình dung,
chúng ta cũng không xuất phát từ những con ngời chỉ tồn tại trong lời
nói, trong ý nghĩ, trong tởng tợng của ngời khác để từ đó mà đi tới
6


những con ngời bằng xơng bằng thịt; không chúng ta xuất phát từ
những con ngời đang hành động hiện thực[24,37-38].
Theo các ông muốn biến đổi hiện thực thì đấu tranh lý luận là
cha đủ, vấn đề quan trọng là phải tiến hành hoạt động phê phán thực
tiễn, bởi chỉ trong hoạt động thực tiễn con ngời mới có thể làm thay
đổi thế giới khách quan. C.Mác viết: T tởng không bao giờ làm cho
chúng ta vợt quá trật tự cũ của thế giớinói chung t tởng không thể
thực hiện đợc bất kể cái gì cả. Muốn thực hiện, những t tởng cần phải
có những ngời vận dụng một lực lợng thực tiễn.
Trên cơ sở xuất phát từ bản thân đời sống thực tiễn của con ngời,
C.Mác đa ra tuyên ngôn triết học của mình: Các nhà triết học trớc
kia chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khácnhau, song vấn đề là ở

chỗ cải tạo thế giới.
1.2. Quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa
thực tiễn và lý luận
1.2.1. Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích trực tiếp của lý luận
Thực tiễn là cơ sở của lý luận bởi vì chính trong quá trình hoạt
động thực tiễn, con ngời nhận thức hiện thực khách quan, không có
thực tiễn thì cũng không có quá trình nhận thức. Lý luận - với t cách
là kết quả cao nhất của nhận thức đợc hình thành không phải là quá
trình thu nhận thụ động những thuộc tính do thế giới khách quan tự
bộc lộ, mà chủ yếu thông qua hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới.
Thực tiễn là cơ sở của lý luận còn thể hiện ở chỗ, nó là cơ sở để
điều chỉnh, bổ sung những lý luận đã đợc khái quát. Hơn nữa, chính
trong quá trình cải tạo thế giới khách quan bằng hoạt động thực tiễn,
con ngời cũng biến đổi luôn cả bản thân mình với t cách là chủ thể
nhận thức.
Lý luận không có mục đích tự thân, nó ra đời chính vì và chỉ vì
nó cần thiết cho hoạt động thực tiễn. Chính trong quá trình hoạt động
thực tiễn mà ý thức nói chung và lý luận mới đợc hình thành và phát
triển. Mục đích cuối cùng và cao nhất của lý luận là nâng cao năng
lực hoạt động thực tiễn của con ngời, đa lại lợi ích thoả mãn nhu cầu
ngày càng phát triển của xã hội.
Do đó, không có thực tiễn thì không có nhận thức, lý luận. Mọi
tri thức đều bắt nguồn từ thực tiễn.
1.2.2 Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
Tiêu chuẩn của chân lý có nghĩa là căn cứ vào đâu để xác định
xem một t tởng, một luận điểm lý luận nào đó là đúng hay sai. Trong
7


lịch sử triết học có rất nhiều quan điểm khác nhau về tiêu chuẩn của

chân lý.
Có thể nói C.Mác, Ph.Ăngghen là ngời đầu tiên nhìn nhận và
khẳng định thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức lý luận. C.Mác đã
viết: Vấn đề tìm hiểu xem t duy của con ngời có thể đạt tới chân lý
khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là
một vấn đề thực tiễn. (Mác Toàn tập T3,9)
Ph.Ăngghen cũng có quan điểm tơng tự nh vậy: Có thể chứng
minh đợc tính chính xác của quan điểm của chúng ta về một hiện tợng tự nhiên nào đó bằng cách tự chúng ta làm ra hiện tợng ấy từ
những điều kiện của nó, hơn nữa bắt nó phục vụ mục đích của chúng
ta (Mác Toàn tập, t 24, 406)
Mặc dù khẳng định thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, nhng Ph.
Ăngghen cũng đã nêu ra t tởng về tính tơng đối của tiêu chuẩn thực
tiễn. Ông viết Nếu chúng ta đạt đợc mục đích của chúng ta, nếu
chúng ta nhận thấy rằng vật ấy phù hợp với quan niệm của chúng ta
về nó, rằng nó đem lại cái kết quả mà chúng ta mong muốn sử dụng
nó, thì đó là bằng chứng xác thực chỉ ra rằng trong phạm vi đó, cảm
giác của chúng ta về vật ấy và về thuộc tính của nó là ăn khớp với
hiện thực ở bên ngoài chúng ta[21, 434]. Theo logic t tởng, thì rõ
ràng Ph.Ăngghen cho rằng chỉ trong phạm vi đó tiêu chuẩn thực
tiễn mới hoàn toàn xác định để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức lý
luận của con ngời. Còn ngoài phạm vi đó tiêu chuẩn thực tiễn sẽ
trở nên tơng đối.
Chơng 2
Luận điểm Thực tiễn cao hơn lý luận
của V.I.Lênin - Sự kế thừa và phát triển quan
niệm về thực tiễn của C.Mác, Ph.Ăngghen
2.1. Quan niệm của V.I.Lênin về thực tiễn và lý luận - Cơ sở
của luận điểm Thực tiễn cao hơn lý luận
2.1.1 Tính hiện thực trực tiếp và tính phổ biến của thực tiễn
Theo V.I.Lênin, bất kỳ hoạt động nào của con ngời đợc coi là

thực tiễn (hoặc có tính thực tiễn) thì bao giờ cũng phải đồng thời
mang hai thuộc tính: Nó vừa phải là hoạt động hiện thực trực tiếp,
vừa phải có tính phổ biến. Đây chính là cấu trúc nội tại của thực tiễn
8


Thực tiễn có tính hiện thực trực tiếp, bởi vì một mặt thực tiễn
chính là quá trình tác động qua lại khách quan, trực tiếp giữa khách
thể (bao gồm tự nhiên và xã hội) với chủ thể là con ngời trong quá
trình cải tạo thế giới khách quan và chính bản thân mình. Mặt khác,
chính trong quá trình thực tiễn, sự vật, hiện tợng đã đợc nhận thức tức là cái cụ thể trong t duy - đợc vật chất hoá, trở thành cái cụ thể
cảm tính, thành sự vật, hiện tợng khách quan.
Tất cả các trờng phái duy vật trớc Mác nhiều nhất chỉ nhìn thấy
thực tiễn dới góc độ là một hoạt động hiện thực trực tiếp mà không
thấy tính phổ biến của nó. Do không nắm đợc bản chất của hoạt động
thực tiễn nên các nhà triết học duy vật trớc Mác cũng không thấy đợc
bản chất đích thực của con ngời. Chủ nghĩa duy vật của họ chỉ dừng
lại ở lĩnh vực tự nhiên, chỉ duy vật ở nửa dới, còn thì trong lĩnh vực
xã hội, họ vẫn là những ngời có quan điểm duy tâm.
Con ngời khác với con vật vì hoạt động của con ngời có tính phổ
biến. Trong hoạt động thực tiễn, con ngời đã dựa vào các bản chất và
quy luật nắm bắt đợc từ thế giới khách quan để làm cho các đối tợng
trong thế giới khách quan biến đổi theo ý muốn, mục đích của mình.
Với hoạt động thực tiễn con ngời đã thiết lập và thực hiện các hoạt
động phù hợp với quy luật vốn có của thế giới khách quan.
Nh vậy, hoạt động thực tiễn của con ngời với t cách là một dạng
vận động đặc biệt của thế giới vật chất, lại bao gồm trong nó mọi
dạng tồn tại của thế giới đó, với các cấp độ quy luật vận động ngày
càng sâu về bản chất của thế giới vật chất. Nói cách khác, hoạt động
thực tiễn chính là quá trình hiện thực hoá những quy luật, bản chất

của thế giới mà con ngời đã nắm bắt đợc trong một giai đoạn lịch sử
nhất định. Đây là cơ sở làm nên tính phổ biến, tức là tính phù hợp
với quy luật của hoạt động thực tiễn của con ngời.
Trong tiết này, thực tiễn còn đợc chúng tôi xem xét từ hai phơng
diện: Mặt tự nhiên và mặt xã hội của thực tiễn.
- Mặt tự nhiên của thực tiễn đợc thể hiện ở quan hệ của con ngời đối với giới tự nhiên bao quanh con ngời. Đó là hoạt động của con
ngời đợc gắn với các bộ phận của thế giới tự nhiên trên cơ sở con ngời nắm đợc các quy luật vận động của tự nhiên có ở bộ phận thế giới
đó.
- Mặt xã hội của thực tiễn chính là mối quan hệ giữa con ngời
với con ngời bắt nguồn từ bản chất của con ngời là hoạt động cải biến
9


-> Sự phát triển về phơng diện tự nhiên của thực tiễn đợc biểu
hiện tập trung ở hiệu quả năng suất lao động lại quyết định hình
thức xã hội của thực tiễn, tức là quyết định một tình trạng tơng
ứng của đời sống xã hội. Khi nội dung tự nhiên ấy phát triển đến
một trình độ cao, tự nó bộ lộ ra dới hình thức trực tiếp sẽ đem lại
sự giải phóng của hoạt động lao động, đó là một tất yếu khách
quan.
2.1.2. Tính phổ biến của lý luận
Theo V.I.Lênin, nhận thức là một qúa trình mà khởi điểm của nó
là trực quan sinh động trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con ngời.
Trong giai đoạn này, con ngời ghi nhận những thuộc tính, những mối
liên hệ mà thông qua hoạt động thực tiễn, con ngời đã làm cho thế
giới hiện thực khách quan bộc lộ ra. Bằng khả năng tinh thần, trong
đó có hệ thống các phạm trù, khái niệm, quy luật đã tích luỹ từ trớc
mà các giả thuyết, lý thuyết đợc xây dựng. Vòng khâu thứ ba trong
quá trình hoạt động tinh thần của chủ thể là khảo sát tính đúng đắn
hay sai lầm của hình ảnh chủ quan, của lý thuyết lý luận trong hoạt

động thực tiễn. ở đây, sản phẩm tinh thần hoặc là bị gạt bỏ hoặc bị
điều chỉnh, bổ sung, hoàn chỉnh để cuối cùng hình ảnh đó phù hợp
với các thuộc tính, quy luật vốn có của thế giới khách quan. Trong
toàn bộ quá trình nhận thức của con ngời ở trình độ t duy trừu tợng
(trình độ lý luận), cái mà ý thức tiếp thu, sáng tạo và khảo nghiệm
đều là những thuộc tính phổ biến ở những cấp độ khác nhau. Nh vậy,
về mặt bản chất, lý luận là quá trình trong đó ý thức của con ngời
nắm lấy những thuộc tính phổ biến mà thế giới khách quan bộc lộ
qua hoạt động thực tiễn của con ngời, nhờ khả năng tái sản xuất tinh
thần mà tạo ra các mối liên hệ phổ biến dới dạng các hình ảnh chủ
quan và cuối cùng khảo nghiệm nó trong thực tiễn. Do đó, V.I.Lênin
đã viết: Đặc tính đầu tiên của khái niệm: tính phổ biến(Lênin Tập
29, tr185). Xét về hình thức, đây cũng quan niệm của Hêghen. Nhng
xét về nội dung quan niệm về tính phổ biến của lý luận của Hêghen
và V.I.Lênin là hoàn toàn khác nhau.
- Đối với Hêghen, khái niệm (lý luận) có tính phổ biến, nhng đó
là tính phổ biến cụ thể, tức là cái phổ biến định nghĩa bản chất của
hiện tợng, chứa bên trong mình cái phong phú của cái đơn nhất. Nói
cách khác, trong quá trình vận động của mình, khái niệm đẻ ra cái
đơn nhất. Tính phổ biến là cái vốn có của bản thân khái niệm và khái
niệm có tính tuyệt đối.
10


- Trong quan quan niệm của V.I.Lênin, khái niệm nói riêng và lý
luận nói chung là sự phản ánh trừu tợng, khái quát thuộc tính phổ
biến của sự vật, hiện tợng tồn tại khách quan đối với con ngời. Khái
niệm phản ánh cái phổ biến, cái bản chất, song cái phổ biến, bản chất
lại không tồn tại tách rời những sự vật, hiện tợng riêng lẻ mang cái
phổ biến ấy. Rõ ràng khi xét về nguồn gốc, về nội dung thì khái niệm

mang tính khách quan.
Nh vậy, hoàn toàn khác với quan niệm của Hêghen, V.I.Lênin
cho rằng khái niệm là phổ biến nhng tính phổ biến của nó là do thế
giới khách quan quy định thông qua hoạt động thực tiễn của con ngời, ông viết Hoạt động thực tiễn của con ngời đã phải làm cho ý thức
của con ngời lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần những cách logic khác
nhau, đặng làm cho những cách này có thể có đợc ý nghĩa của những
công lý [52, 202-203]
2.2. Thực tiễn cao hơn lý luận bởi nó không chỉ có u điểm của
tính phổ biến mà nó còn có u điểm của tính hiện thực trực tiếp.
Thực tiễn cao hơn lý luận vì thực tiễn là quá trình hiện thực hoá
lý luận. Nhng quan trọng hơn, thực tiễn cao hơn lý luận còn thể hiện
ở chỗ, nó là nhân tố khách quan duy nhất có quyền phán xét tính
đúng sai của lý luận, là tiêu chuẩn khách quan duy nhất của chân lý.
2.2.1. Thực tiễn hiện thực hoá lý luận
Theo quan niệm của V.I.Lênin, thực tiễn là cái tồn tại cụ thể và
cảm tính, đồng thời hàm chứa tính quy luật ở bên trong do con ngời
nắm bắt và lợi dụng đợc. Trong hoạt động thực tiễn, tính hợp quy
luật, hay cụ thể hơn là các quy luật của thế giới khách quan đợc con
ngời nắm bắt không chỉ tồn tại trong ý thức mà còn chứng tỏ sự nắm
bắt đó trong việc cải biến thế giới tự nhiên cũng nh xã hội, bằng việc
tạo ra những sự vật, hiện tợng, những quá trình có thật trong hiện
thực không thể chối cãi. Có thể khẳng định, hoạt động thực tiễn của
con ngời là hiện thân của các quy luật vốn có trong thế giới khách
quan dới dạng các tồn tại vật chất cụ thể cảm tính.
Trong khi thực tiễn có cả đặc trng của tính phổ biến và của tính
hiện thực trực tiếp, thì hoạt động lý luận chỉ có u điểm của tính phổ
biến. Hoạt động lý luận chỉ dựa trên các thuộc tính, tức là những đặc
điểm chung tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tợng cụ thể. Hình ảnh sáng
tạo - kết quả mà lý luận sản xuất ra cũng chỉ bao gồm các thuộc tính.
Thuộc tính là tính chất chung, thuộc các cấp độ phổ biến khác nhau

11


tuỳ ở chỗ nó tồn tại ở nhiều hay ít các sự vật, hiện tợng. Những hình
ảnh tinh thần đó chỉ có thể đợc hiện thực hoá thông qua hoạt động
thực tiễn. Đơng nhiên điều này chỉ xảy ra nếu nó phản ánh đúng
những quy luật của thế giới khách quan mà thông thờng những hình
ảnh tinh thần này phải đợc chỉnh sửa, bổ sung nhiều hay ít trong quá
trình hiện thực hoá nó.
Nh vậy, thực tiễn bao giờ cũng là sự vật chất hoá các ý niệm, là
phơng thức chuyển cái ý niệm thành cái vật chất. Có thể nói, thực
tiễn là hình thức liên hệ thực tại khách quan, nhờ đó mà chủ thể tự
đối tợng hoá bản thân, các ý định và mục đích của mình của mình
trong khách thể. Ngoài thực tiễn, con ngời không còn một phơng thức
nào khác để chuyển từ bức tranh lý tởng về thế giới sang việc thực
hiện nó trong thế giới.

12


2.2.2. Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định tính khách quan của tri
thức của con ngời đợc luận chứng bằng cách đem kiểm nghiệm trong
thực tiễn. Tri thức nào đợc thực tiễn kiểm nghiệm, xác nhận, tức là
nội dung của nó phù hợp với thực tại khách quan thì nó là chân lý.
Điều đó cũng có nghĩa thực tiễn tiêu chuẩn khách quan của chân lý.
Trong thời đại của mình, C.Mác đã nhiều lần đấu tranh với các trờng
phái triết học khác nhau, đặc biệt là thuyết bất khả tri của Cantơ để
bảo vệ và chứng minh tiêu chuẩn thực tiễn của chân lý. Đến lợt mình,
để bảo vệ quan điểm này, V.I.Lênin đã đấu tranh gay gắt, không

khoan nhợng với chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa kinh nghiệm phê
phán, đặc biệt là Makhơ với âm mu tách rời lý luận với thực tiễn.
V.I.Lênin đã khẳng định ý nghĩa quan trọng của quan điểm thực tiễn
đối với chủ nghĩa duy vật, ông viết Quan điểm về đời sống, về thực
tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức. Sở
dĩ quan điểm thực tiễn có ý nghĩa cơ bản hàng đầu đối với lý luận
nhận thức vì rằng nếu lấy tiêu chuẩn thực làm cơ sở cho lý luận
nhận thực thì nhất định chúng ta đi đến chủ nghĩa duy vật.
Chủ nghĩa Kinh nghiệm phê phán cho rằng thành công là tất cả
những gì mà tôi cần đến trong thực tiễn, mà thực tiễn thì có thể đ ợc
xem xét một cách tách rời lý luận về nhận thức. Trái ngợc với quan
điểm trên, V.I.Lênin khẳng định Đối với ngời duy vật, thành công
của thực tiễn của con ngời chứng minh sự phù hợp của các biểu tợng
của chúng ta với bản tính khách quan của các vật đợc cảm biết.
Vì sao thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất của chân lý?
Nh chúng ta đều biết, u điểm của kinh nghiệm là tính hiện thực trực
tiếp, nhng khuyết điểm cơ bản của nó là tính hạn hẹp, tơng đối. Trong
khi đó, lý luận khắc phục đợc tính hạn hẹp của kinh nghiệm bởi u
điểm của nó là tính phổ biến, nhng nó lại có nhợc điểm là tính gián
tiếp, nó là sản phẩm tinh thần. Thực tiễn vừa có tính phổ biến, vừa có
tính hiện thực trực tiếp, do đó nó cao hơn cả kinh nghiệm, lý luận và
trở thành tiêu chuẩn khách quan duy nhất của chân lý. Chính vì vậy
mà V.I.Lênin khẳng định Thực tiễn cao hơn lý luận bởi nó không
chỉ có u điểm của tính phổ biến mà còn có tính hiện thực trực tiếp.
Lý luận đóng vai trò là sự phản ánh của chủ thể đối với khách thể, chỉ
có thông qua rất nhiều khách thể trong thực tiễn mới có thể chứng
minh đợc tính chân lý, tính hiện thực của nó. Nếu chỉ bằng lý luận
thuần tuý để chứng minh tính khách quan của tri thức thì có nghĩa đã
13



lấy tiêu chuẩn có tính chất chủ quan làm thớc đo chân lý. Trong khi
đó, chân lý bao giờ cũng là chân lý khách quan, tức là nội dung của
nó là khách quan, độc lập với chủ thể nhận thức
Mặc dù khẳng định thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất
của chân lý, nhng V.I.Lênin cũng cho rằng tiêu chuẩn ấy vừa có tính
tuyệt đối vừa có tính tơng đối. Việc lần đầu tiên đa ra luận điểm về
tính tơng đối của tiêu chuẩn thực tiễn là một sự bổ sung, phát triển
đặc biệt quan trọng của V.I.Lênin đối với lý luận nhận thức duy vật
biện chứng của triết học Mác. Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và
chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, V.I.Lênin đã viết Dĩ nhiên không
nên quên rằng tiêu chuẩn thực tiễn xét về thực chất, không bao giờ có
thể xác nhận hoặc bác bỏ một cách hoàn toàn một biểu tợng nào đó
của con ngời, dù biểu tợng ấy là thế nào chăng nữa. Tiêu chuẩn đó
cũng khá không xác định để cho phép các hiểu biết của con ngời
trở thành cái tuyệt đối; đồng thời nó cũng khá xác định để có thể
tiến hành đấu tranh quyết liệt chống tất cả các thứ chủ nghĩa duy tâm
và bất khả tri.
Vậy vì sao tiêu chuẩn thực tiễn có tính tơng đối? Trớc hết, đó là
vì bản thân thực tiễn không bất biến, ngng đọng mà cũng vận động,
phát triển không ngừng. Do sự vận động, phát triển không ngừng của
thực tiễn nên xuất hiện tình trạng là cái hôm qua đợc thực tiễn xác
nhận là chân lý thì hôm nay có thể là sai lầm. Thực tiễn là một quá
trình phát triển vô hạn, do đó trong một giai đoạn lịch sử nhất định nó
không đạt đợc trình độ phổ biến tuyệt đối, mà bao giờ cũng bị giới
hạn bởi một trình độ nhất định. Và ở trình độ có hạn đó, thực tiễn
trong nhiều trờng hợp cha thể xác định những luận điểm lý luận khác
nhau, trái ngợc nhau cái nào là chân lý.
Mặt khác, thực tiễn của một phạm vi, một lĩnh vực nào đó chỉ là
tiêu chuẩn khách quan cho chân lý ở lĩnh vực, phạm vi đó. Do đó,

không thể dùng thực tiễn ở phạm vi này để chứng minh cho chân lý ở
phạm vi khác.
Ngoài ý nghĩa về tính lịch sử, về phạm vi, tính tơng đối của tiêu
chuẩn thực tiễn còn do tính phong phú, đa dạng của thực tiễn, do tính
phức tạp của việc áp dụng tiêu chuẩn thực tiễn tạo nên.
Chơng 3

14


Sự VậN DụNG LUậN ĐIểM THựC TIễN CAO HƠN
Lý LUậN CủA ĐảNG CộNG SảN VIệT NAM
VàO CÔNG CUộC ĐổI MớI ĐấT NƯớC
3.1.Tách rời lý luận với thực tiễn là một trong những nguyên
nhân quan trọng gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội
giai đoạn 1975 - 1986
3.1.1. Tình trạng tách rời lý luận với thực tiễn và những
nguyên nhân của nó
Có thể nói sự nghiệp xây dựng CNXH ở nớc ta là quá trình hiện
thực hoá lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH và con đờng đi
lên CNXH. Lý luận ở đây đợc thể hiện thông qua đờng lối, chủ trơng,
chính sách của Đảng trong việc xác định mục tiêu, bớc đi và con đờng xây dựng CNXH ở nớc ta. Có thể nói, chính tình trạng tách rời lý
luận với thực tiễn là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra
khủng hoảng kinh tế - xã hội giai đoạn trớc năm 1986 ở nớc ta.
Tình trạng lý luận tách rời với thực tiễn mà thể hiện cụ thể là tình
trạng đờng lối, chủ trơng của Đảng không phù hợp với thực tiễn đất
nớc, theo chúng tôi xảy ra ở cả 3 trờng hợp sau:
+ Nó không thể hiện đúng thực chất lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, hoặc áp dụng giáo điều một luận điểm nào đó của chủ nghĩa
Mác - Lênin.
+ Những luận điểm lý luận mới đợc bổ sung không phản ánh

đúng điều kiện khách quan, những quy luật khách quan của đất nớc.
+ Không coi trọng vai trò của hiệu quả kinh tế - xã hội với t cách
là tiêu chuẩn để kiểm tra tính đúng sai của các chủ trơng, chính sách
kinh tế - xã hội.
Biểu hiện bao trùm và quan trọng nhất của tình trạng lý luận tách
rời thực tiễn là việc thay thế quan điểm quá độ dần dần bằng quan
điểm quá độ trực tiếp lên CNXH đợc đa ra từ Hội nghị Trung ơng 13,
Khoá II (12/1957) và thể hiện tập trung trong Đờng lối chung tiến
hành cách mạng xã hội chủ nghĩa đợc trình bày tại Đại hội III (1960).
Theo chúng tôi, quan điểm cho rằng quan hệ sản xuất tiên tiến sẽ
kéo lực lợng sản xuất phát triển theo và quan điểm phơng pháp luận
trong việc giải quyết mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ ở nớc ta
- theo đó khi giải quyết mâu thuẫn phải tìm cách thủ tiêu cho đợc một
trong hai mặt đối lập, là hai cơ sở lý luận đóng vai trò đặc biệt quan
15


trọng trong việc hoạch định đờng lối chung tiến hành cách mạng xã
hội chủ nghĩa của Đảng. Cũng do xuất phát từ hai cơ sở lý luận mang
tính chất vừa giáo điều, vừa chủ quan, duy ý chí này mà mặc dù
khẳng định phải tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng nhng trong
thực tế cách mạng quan hệ sản xuất bao giờ cũng đợc đa lên hàng
đầu.
Những nguyên nhân cơ bản của tình trạng lý luận tách rời
thực tiễn:
Nguyên nhân đầu tiên là t tởng chủ quan, nóng vội, mong muốn
nhanh chóng xây dựng CNXH sau mấy chục năm chiến tranh gian
khổ. Do chủ quan áp dụng quy luật của chiến tranh vào xây dựng
CNXH, không tính tới hiệu quả kinh tế. Do chịu ảnh hởng nặng nề t
tởng của hệ thống các nớc XHCN, đặc biệt là Liên Xô. Do t tởng

sùng bái cá nhân, thêm vào đó là trình độ nhận thức lý luận còn hạn
chế.
3.1.2. Hậu quả của tình trạng tách rời lý luận với thực tiễn.
Đến giữa thập niên 80 của thế kỷ 20, đất nớc rơi vào tình trạng
khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, kéo theo là khủng hoảng xã hội.
Sản xuất đình đốn, hàng hoá khan hiếm, lạm phát đạt tới 774,7%, đời
sống của nhân dân khó khăn, cơ cực (Xem Phụ lục 1, 2 và 3). Thêm
vào đó là nạn tham nhũng quan liêu lộng hành, tình trạng thiếu dân
chủ không đợc xử lý kịp thời, đúng mức gây ra tâm lý hoang mang
dao động, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân vào
Đảng và Nhà nớc.
3.2.Thực tiễn cao hơn lý luận - ý nghĩa phơng pháp luận của
nó đối với công cuộc đổi mới đất nớc giai đoạn 1986 - 2006
3.2.1. Thực tiễn xây dựng CNXH giai đoạn 1975 -1986 dẫn đến
nhu cầu đổi mới t duy lý luận.
- Trong tiểu tiết này, chúng tôi tập trung làm rõ chính những
thành công và thất bại về mặt thực tiễn của quá trình xây dựng
CNXH giai đoạn trớc năm 1986 đã đặt ra nhu cầu bức thiết phải đổi
mới, trớc hết là phải đổi mới t duy lý luận, đúng nh Tổng bí th Trờng
Chinh vào thời điểm đó đã khẳng định: Đối với nớc ta, đổi mới càng
là yêu cầu bức thiết, là vấn đề có tầm quan trọng sống còn
- Đổi mới t duy lý luận còn bắt nguồn từ chính thực tiễn sinh
động của cuộc sống, từ những tìm tòi sáng tạo của quần chúng nhân
dân. Đảng đã khẳng định: Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng
16


kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đờng lối của Đảng (Văn
kiện ĐH VIII, tr73)
3.2.2. Đổi mới t duy lý luận và những thành tựu đã đạt đợc của

sự nghiệp đổi mới đất nớc giai đoạn 1986 - 2006
Thực tiễn xây dựng đất, đặc biệt hậu quả của những chủ trơng,
chính sách sai lầm là minh chứng rõ ràng cho thấy những luận điểm
lý luận mà chúng ta đã đề xuất và áp dụng giai đoạn trớc 1986 là
không phù hợp, thực tiễn đó cũng đặt ra yêu cầu bức thiết là phải đổi
mới t duy lý luận. Đại hội VI của Đảng đã thực hiện sứ mệnh lịch sử
đó khi đề ra đờng lối đổi mới toàn diện, trớc hết là đổi mới t duy lý
luận, đặc biệt là t duy kinh tế. Để định hớng cho quá trình đổi mới,
Đại hội VI đã rút ra bốn bài học lớn, trong đó bài học thứ nhất và thứ
hai có ý nghĩa phơng pháp luận sâu sắc, quán triệt quan điểm thực
tiễn, đó là Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt
t tởng lấy dân làm gốc và Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực
tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.[4, 35-36]. Nh
vậy, Đại hội VI đã khẳng định sự cần thiết phải quay trở lại thực hiện
nghiêm túc yêu quan điểm thực tiễn, coi xuất phát từ thực tiễn, tôn
trọng và hành động theo quy luật khách quan là yêu cầu số một của
công cuộc đổi mới.
Thực hiện yêu cầu do Đại hội VI đề ra, căn cứ vào thực tiễn đất
nớc, Đảng từng bớc đổi mới t duy trên các lĩnh vực:
- Đổi mới quan niệm về thời kỳ quá độ đi lên CNXH.
- Đổi mới quan niệm về CNXH.
- Đổi mới mô hình và các chính sách kinh tế.
Những thành tựu về mặt lý luận và thực tiễn sau hai mơi
năm đổi mới
Qua 20 năm đổi mới, từ những t duy mới đợc đề xuất tại Đại hội
VI, do luôn xuất phát từ thực tiễn, thờng xuyên tổng kết thực tiễn và
kiểm nghiệm qua thực tiễn, t duy lý luận của đã có những bớc phát
triển căn bản, trên nhiều vấn đề quan trọng. Thành quả quan trọng và
có ý nghĩa nhất của công cuộc đổi mới t duy là Đảng ta đã từng bớc
và ngày càng xác định rõ hơn con đờng đi lên CNXH ở nớc ta với

những chủ trơng, chính sách phù hợp với thực tiễn của đất nớc.
Dới ánh sáng của đờng lối đổi mới của Đảng, sự nghiệp xây dựng
đất nớc trong hơn hai thập kỷ qua đã từng bớc đạt đợc những thành
tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Đúng nh Đại hội Đảng lần thứ
17


X (2006) đã nhận định: Đất nớc đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã
hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trởng khá nhanh,
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa đợc đẩy mạnh. Đời sống nhân dân đợc
cải thiện rõ rệtVị thế của nớc ta trên trờng quốc tế không ngừng
nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên nhiều, tạo ra
thế và lực mới cho đất nớc tiếp tục tiến lên với triển vọng tốt đẹp.
(Xem Phụ lục 4, 5)

18


Kết luận
Thực tiễn là hoạt động mang tính bản chất của con ngời, là phơng
thức tồn tại đặc trng của loài ngời. Nó là hoạt động sản xuất ra đời
sống con ngời trên cơ sở tự nhiên, nhờ nắm bắt đợc những quy luật và
bản chất của các sự vật, hiện tợng trong thế giới khách quan. Chính vì
vậy, nó vừa mang tính hiện thực trực tiếp, vừa mang tính phổ biến.
Thực tiễn và lý luận có quan hệ biện chứng với nhau, trong mối quan
hệ này thực tiễn bao giờ cũng cao hơn lý luận. Trớc hết vì thực tiễn là
cơ sở, là động lực, mục đích để lý luận ra đời và phát triển, hơn nữa
nó là nhân tố khách quan duy nhất thẩm định tính chân lý của lý
luận. Mối quan hệ này có đợc xuất phát từ bản chất nội tại của thực

tiễn và lý luận. Lý luận mang tính phổ biến, nó là kết quả của sự phản
ánh những bản chất và quy luật của thế giới khách quan, cho dù có
năng động, sáng tạo thì sự phản ánh đó vẫn thuần túy là tinh thần.
Trong khi đó, thực tiễn không chỉ có tính phổ biến mà còn có tính
hiện thực trực tiếp, không thể bác bỏ đợc. Chính vì vậy có thể nói,
nếu thực tiễn là phơng thức sống, là bản chất của con ngời thì lý
luận chỉ là một đặc trng của phơng thức đó và chỉ thuần túy là đặc
trng đó thôi. Xét đến cùng nó không thể tồn tại độc lập, tách rời
thực tiễn.
Mặt khác, lý luận mang tính phổ biến nhng tính phổ biến của lý
luận bao giờ cũng có xu hớng bị bó hẹp, bị quy vào một hệ thống
nhất định. Mức độ phổ biến của lý luận bao giờ cũng phụ thuộc vào
những điều kiện nhất định. Những điều kiện này vừa do những yếu tố
khách quan quy định vừa mang tính chủ quan nh khả năng t duy của
chủ thể. Tuy nhiên, khi đã đến một trình độ phổ biến nhất định, lý
luận thờng hay có ảo tởng về tính phổ biến tuyệt đối của mình. Cho
dù lý luận và thực tiễn có gắn bó với nhau nh là hình với bóng thì
trong những điều kiện nhất định lý luận luôn là không phù hợp hoàn
toàn với thực tiễn. Bởi vì, lý luận bao giờ cũng phản ánh thực tiễn dới
dạng thuần khiết nhất, khái quát nhất, còn thực tiễn lại vô cùng đa
dạng, phong phú và không ngừng biến đổi. Thực tiễn có thể bị lý luận
quy định, khuôn theo lý luận, nhng điều đó là có điều kiện, tới một
giai đoạn phát triển nhất định, thực tiễn sẽ vợt qua lý luận và bẻ gãy
lý luận hiện thời. Nói cách khác là trong khi thực tiễn là quá trình
liên tục thì lý luận lại là quá trình đứt đoạn. Nó ổn định hơn và do đó
nó cũng luôn có xu hớng bảo thủ hơn thực tiễn. Chính vì vậy, khi vận
dụng lý luận chúng ta không bao giờ đợc tuyệt đối hoá nó. Từ thực
19



tiễn đến lý luận, rồi lại quay trở về thực tiễn là những vòng khâu liên
tục đan xen nhau, không có điểm đầu và cũng không có điểm cuối.
Lý luận khi đợc hình thành, trong quá trình hiện thực hoá lại tiếp tục
đợc điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với sự vận động của thực tiễn.
Cả thực tiễn và lý luận đều đòi hỏi sự sáng tạo, tích cực của chủ thể
trong quá trình vận dụng nguyên lý lý luận vào cuộc sống. Nhng dù
lý luận có năng động, sáng tạo đến đâu và trong bất kỳ trờng hợp
nào, thì thực tiễn cuộc sống cũng là cơ sở, mục đích, động lực của sự
thay đổi của lý luận, là tiêu chuẩn duy nhất và cuối cùng để đánh giá
tính chân lý của lý luận.
Chúng ta cũng cần phải hiểu thực tiễn với t cách là tiêu chuẩn của
chân lý một cách biện chứng. Bởi tiêu chuẩn thực tiễn vừa có tính
tuyệt đối, vừa có tính tơng đối, hay tính không xác định. Tính tơng
đối của thực tiễn thể hiện ở chỗ, thực tiễn có nhiều trình độ khác
nhau, mức độ rộng hẹp, mức độ phổ biến không giống nhau.
Trong khi khẳng định vai trò quyết định của thực tiễn, chúng ta
phải thấy rõ vai trò quan trọng của lý luận. Nói một cách giản dị,
không có hoạt động ý thức này thì hoạt động của con ngời không thể
trở thành hoạt động thực tiễn, hoạt động có mục đích đợc. Tất cả
những thành quả mà hoạt động thực tiễn của con ngời đạt đợc cho
đến ngày nay dù cho có vĩ đại đến đâu thì trớc khi nó tồn tại một
cách hiện thực, cảm tính, nó đã phải là mô hình, hình ảnh tinh thần
trong đầu óc của con ngời, nói cách khác nó là sản phẩm của hoạt
động sáng tạo tinh thần, của lý luận. Lý luận không chỉ là kết quả của
sự phản ánh thuần túy thực tiễn, là cái theo sau thực tiễn mà trong
điều kiện nhất định lý luận còn vợt lên trớc thực tiễn, định hớng thực
tiễn theo những quy luật khách quan. Nếu lý luận lạc hậu, trì trệ thì
cũng không thể có thực tiễn phát triển đợc. Chính vì vậy, khi Đảng ta
xác định cần phải đối mới toàn diện đất nớc, thì trớc hết là phải đổi
mới về t duy.

Những thành công và thất bại trong quá trình xây dựng CNXH
suốt mấy thập kỷ qua ở nớc ta là một minh chứng rõ ràng những luận
điểm đã nói ở trên. Thực tế quá trình đó cho thấy, bất cứ khi nào và ở
đâu chúng ta tuyệt đối hoá lý luận, xa rời những yêu cầu của quan
điểm thực tiễn thì chúng ta đều phải gánh chịu những hậu quả, khó
khăn, thậm chí khủng hoảng.
Sự nghiệp đổi mới đất nớc hơn hai thập kỷ qua đã đạt đợc những
thành tựu quan trọng trên cả lĩnh vực thực tiễn cũng nh lý luận. Nhng
20


những gì mà chúng ta đạt đợc hôm nay cha phải là hoàn thiện, là nhất
thành bất biến. Thực tiễn đời sống không ngừng vận động và biến đổi
và do đó một chủ trơng, chính sách có thể đúng trong một giai đoạn
nhất định nhng ở thời điểm lịch sử khác khi điều kiện khách quan đã
thay đổi thì nó có thể trở nên lỗi thời, không phù hợp hoàn toàn hoặc
phải sửa đổi, bổ sung một phần. Do đó không đợc tuyệt đối hoá bất
kỳ chủ trơng, chính sách nào cho dù nó đã từng đúng đắn. Và trong
mọi trờng hợp thì việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện và sáng tạo lý
luận cũng đòi hỏi chủ thể phải thờng xuyên xuất phát, căn cứ vào
thực tiễn. Nhấn mạnh yêu cầu này của quan điểm thực tiễn, tránh tình
trạng chủ quan, thoả mãn với những kết quả đã đạt đợc làm cho lý
luận lạc hậu và xa rời thực tiễn, Đại hội VII của Đảng đã nhấn mạnh:
Đơng nhiên, những gì mà nhận thức chúng ta đạt đợc hôm nay sẽ
còn đợc bổ sung, phát triển cùng với sự phát triển sau này của thực
tiễn và của t duy lý luận mặc dù Đại hội vẫn khẳng định Song, ở
thời điểm hiện nay, đó là những quan niệm đúng (Văn kiện ĐH VII,
tr110)
Công cuộc xây dựng đất nớc hiện nay đang tiếp tục đặt ra rất
nhiều vấn đề mới mẻ về mặt lý luận cũng nh thực tiễn. Nền kinh tế

thị trờng định hớng XHCN là một sự sáng tạo trong quá trình xây
dựng CNXH nói chung. Xã hội mà chúng ta đang hớng tới để xây
dựng không có sẵn một mô hình. Do đó, mỗi bớc đi của thực tiễn cần
phải đợc lý luận tổng kết, đánh gía sâu sắc, từ đó rút ra những kết
luận mới, kịp thời điều chỉnh thực tiễn. Trong quá trình này chúng ta
phải căn cứ vào thực tiễn cuộc sống để kiểm định các chủ trơng,
chính sách là đúng hay sai. Một đờng lối, chủ trơng, chính sách chỉ
đợc coi là đúng đắn khi việc thực hiện nó trong thực tế thực sự mang
lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Điều này cũng đồng nghĩa với việc chỉ
nên thực hiện một chủ trơng chính sách nào đó một cách rộng rãi sau
khi đã tiến hành thử nghiệm và kết quả thử nghiệm thực sự cho thấy
có hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn. Đây cũng là yêu cầu cơ bản của
quan điểm thực tiễn trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nớc hiện
nay.

21



×